1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[KLTN] THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

150 378 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 8,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (DỰA VÀO CHỈ SỐ TRONG BỘ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM NĂM TUỔI)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(DỰA VÀO CHỈ SỐ TRONG BỘ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ

EM NĂM TUỔI)

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(DỰA VÀO CHỈ SỐ TRONG BỘ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ

EM NĂM TUỔI)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (dựa vào chỉ số trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi” là do tôi thực hiện Số liệu của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Người cam đoan

Nguyễn Bảo Hân

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý thầy cô giảng dạy tôi trong suốt 4 năm Đại học

Tác giả cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Trần Thị Thanh Tuyền, người cô đã nhiệt tình giúp đỡ hướng dẫn, góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Và Ban Giám hiệu, giáo viên mầm non của các trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giáo viên lớp thử nghiệm đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc thử nghiệm đề tài

Cũng cảm ơn đến ba mẹ, người thân và bạn bè những người đã ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình viết khóa luận

Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế, chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, chưa đầy đủ trong khóa luận này Kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của quý Thầy Cô trong Hội đồng bảo vệ để khóa luận này hoàn thiện hơn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 5

8 Đóng góp của đề tài 5

9 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 7

Trang 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.2.1 Bài tập 9

1.2.2 Bài tập đánh giá trẻ 10

1.2.3 Thiết kế bài tập đánh giá trẻ 10

1.2.4 Đánh giá trẻ mầm non 10

1.3 Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi 11

1.3.1 Khái niệm về nhận thức 11

1.3.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi 11

1.4 Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 14

1.4.1 Chuẩn phát triển trẻ em 14

1.4.2 Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 14

1.4.3 Cấu trúc Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 14

1.4.4 Mục đích ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 15

1.4.5 Các nguyên tắc khi sử dụng Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi để đánh giá trẻ 15

1.4.6 Nội dung Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 15

1.5 Nội dung đánh giá lĩnh vực nhận thức theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 16

1.6 Thiết kế bài tập đánh giá trẻ 18

1.6.1 Mục đích của bài tập trong đánh giá trẻ 18

1.6.2 Các loại bài tập đánh giá trẻ 18

1.6.3 Các bước thiết kế bài tập đánh giá trẻ 19

Trang 8

Tiểu kết chương 1 21

CHƯƠNG 2 22

THỰC TRẠNG THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 22

2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 22

2.2 Phương pháp tìm hiểu thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 23

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2.2 Đôi nét về địa bàn nghiên cứu 23

2.2.3 Phương pháp lấy số liệu 25

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26

2.2.5 Phân tích kết quả điều tra 26

2.2.5.1 Nhận thức của CBQL và GVMN đối với việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi 26

2.2.5.2 Thực trạng về cách xác định mục đích đánh giá, mức độ chất lượng của bài tập, thời điểm, hình thức đánh giá khi thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi 32

2.2.5.3 Các yếu tố tạo nên chất lượng bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi 38

2.2.5.4 Những thuận lợi và khó khăn của GVMN trong quá trình thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi 43

Tiểu kết chương 2 49

Trang 9

CHƯƠNG 3 50

THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 50

3.1 Thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 50

3.1.1 Một số chỉ số thuộc lĩnh vực nhận thức trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi 50

3.1.2 Lý do chọn chỉ số trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi để thiết kế bài tập đánh giá trẻ 51

3.1.3 Thiết kế một số bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 53

3.2 Tổ chức thử nghiệm bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 95

3.2.1 Mục đích tổ chức thử nghiệm 95

3.2.2 Bối cảnh trường và lớp thử nghiệm 95

3.2.3 Các bước tiến hành thử nghiệm 96

3.2.4 Tổ chức thử nghiệm 96

3.2.5 Kết quả thử nghiệm 97

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

1 Kết luận 102

2 Kiến nghị 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 11

kế bài tập và sử dụng kết quả bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Bảng 2.4: Chuẩn xác định mục đích khi thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Bảng 2.5: Mức độ chất lượng bài tập thường được sử dụng trong quá trình thiết

kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Bảng 2.6: Thời điểm trong ngày giáo viên tiến hành đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi bằng bài tập đánh giá

Bảng 2.7: Thời điểm trong năm học giáo viên tiến hành đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi bằng bài tập đánh giá

Bảng 2.8: Các hình thức sử dụng bài tập để đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Nhận thức của CBQL và GVMN về tầm quan trọng của việc thiết

kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.2: CBQL đánh giá mức độ hiểu biết của GVMN về quy trình thiết kế bài tập và sử dụng kết quả bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi Biểu đồ 2.3: GVMN tự đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân về quy trình thiết

kế bài tập và sử dụng kết quả bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.4: Mức độ chất lượng bài tập thường được sử dụng trong quá trình thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.5: Các hình thức sử dụng bài tập để đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.6: CBQL đánh giá mức độ các yếu tố tạo nên chất lượng bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.7: GVMN đánh giá mức độ các yếu tố tạo nên chất lượng bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.8: Ý kiến của CBQL về những thuận lợi và khó khăn của GVMN trong quá trình thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biểu đồ 2.9: Những thuận lợi và khó khăn của GVMN trong quá trình thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, mỗi đứa trẻ luôn có sự phong phú về mặt tính cách, nhận thức, cảm xúc,… được định hướng dưới những phương pháp giảng dạy khác nhau trong lĩnh vực nuôi – dạy trẻ Trong sự đa dạng đó, làm sao để có một sự gắn kết phù hợp giữa trẻ và phương pháp giảng dạy là một trong những vấn đề cơ bản nhất của ngành giáo dục mầm non Mà trong đó, trẻ là đối tượng chính cần hướng đến Vì lẽ đó, chúng ta cần phải hiểu biết nhiều hơn nữa về trẻ, phải có được những thông tin xuất phát từ trẻ Điều đó giúp giáo viên có cơ sở để đề ra các biện pháp giáo dục phù hợp Thông qua việc đánh giá sẽ giúp chúng ta giải quyết được một phần nào đó của vấn đề trên Đánh giá là để phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu của từng trẻ, từ đó điều chỉnh các biện pháp chăm sóc, giáo dục phù hợp với từng cá nhân nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đứa trẻ, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp Một [8] Có rất nhiều cách để đánh giá trẻ, một trong những cách được đề cập ở đây là sử dụng các bài tập đánh giá

Đối với trẻ em, nhận thức là yếu tố chính, quan trọng nhất giúp trẻ phát triển từng ngày và kể cả khi trưởng thành Cuộc sống của trẻ có tốt hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của trẻ về bản thân và thế giới xung quanh Chính vì vậy, đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ là mục tiêu cần đạt được Hơn nữa sự phát triển toàn diện của trẻ nói chung và nhận thức của trẻ nói riêng được biểu hiện thông qua sự biến đổi, tác động đối với các sự vật, sự việc, hiện tượng bên ngoài Điều này diễn ra trong môi trường sống, hoạt động sinh hoạt hằng ngày của trẻ Từ đó nếu chúng ta biết lựa chọn những hoạt động cụ thể, kết hợp với những đối tượng thích hợp để cho trẻ tiếp cận, chúng ta sẽ thu được những biểu hiện của sự phát triển

Tuy nhiên, các phương pháp được cho là dùng để đánh giá hiện nay vẫn chưa đa dạng, phong phú Một số phương pháp thì quá cứng nhắc, một số phương

Trang 14

nhận thức của trẻ hiện nay, dẫn đến không thu được những kết quả xác thực Do

đó, cần phải tạo ra những bài tập mới dành cho trẻ

Để hỗ trợ thực hiện chương trình Giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ năm tuổi bước vào lớp 1, ngày 22/07/2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT

“Quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi”

Có nhiều phương pháp đánh giá chỉ số trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Trong đó phương pháp sử dụng bài tập để đánh giá lĩnh vực nhận thức cho trẻ 5 – 6 tuổi là cách làm tự nhiên và phù hợp nhất vì mỗi bài tập được thiết kế một cách cụ thể, rõ ràng cho một khía cạnh cụ thể cần đánh giá Vì vậy mà kết quả thu được sẽ xác đáng, có độ tin cậy cao Bên cạnh đó, giáo viên có thể sử dụng những bài tập đánh giá với những cá nhân trẻ mà giáo viên còn phân vân

về mức độ nắm vững những kiến thức, kỹ năng Tuy nhiên, hiện nay không có sẵn các phương pháp và bài tập để đánh giá mọi vấn đề của từng lớp học và từng trẻ Nếu có thì một số bài tập vẫn còn quá đơn giản so với khả năng của trẻ, một

số bài tập vẫn chưa phong phú, đa dạng

Từ đó, chúng tôi mới tiến hành thực hiện đề tài “Thiết kế bài tập đánh giá

lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (dựa vào chỉ số trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi)”

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về phương pháp bài tập đánh giá nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi Từ đó thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 15

3.2 Đối tượng nhiên cứu

Bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu thiết kế một số bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi một cách có hệ thống, phù hợp với nhận thức trẻ thì sẽ góp phần giúp giáo viên nâng cao hiệu quả đánh giá quá trình học tập của trẻ và có định hướng trong việc lập kế hoạch giáo dục ở giai đoạn tiếp theo, giúp trẻ phát triển toàn diện

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

5.3 Thiết kế và thử nghiệm bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại,

hệ thống hóa tài liệu và các tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu và quá trình điều tra thực tiễn

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm

Tiến hành quan sát quá trình đánh giá lĩnh vực nhận thức trẻ 5 – 6 tuổi của giáo viên nói chung cũng như sử dụng các bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non nói riêng, nhằm bổ sung tư liệu, thông tin cho vấn đề nghiên cứu

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 16

Mục đích: Điều tra, đánh giá thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung:

 Khảo sát nhận thức của CBQL và GVMN đối với việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

 Khảo sát thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ

5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

 Khảo sát những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Đối tượng: 3 CBQL, 4 GVMN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Mục đích: Bổ sung thêm thông tin và độ tin cậy cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Nội dung: Tìm hiểu sâu về thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

6.2.4 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ

Thu thập và phân tích bài tập do giáo viên thiết kế để có minh chứng

cụ thể hơn về thực trạng đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

6.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu thu thập được từ phiếu hỏi Phân tích kết quả số liệu và đưa ra nhận xét với sự hỗ trợ của Microsoft Excel 2016

7 Phạm vi nghiên cứu

Thử nghiệm một số bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

là một vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian và cần được thử nghiệm trên diện rộng, thì mới có cách đánh giá chuẩn xác nhất về phương pháp này Tuy nhiên,

do sự hạn chế về thời gian và quy mô nhỏ của một khóa luận tốt nghiệp nên chúng tôi chỉ thử nghiệm với trẻ 5 – 6 tuổi ở 1 lớp Lá, trường mầm non X, thành phố

9 Cấu trúc của đề tài

Đề tài được trình bày theo 5 phần với nội dung chính gồm 3 chương:

Mở đầu

Nội dung

Trang 18

Chương 1: Cơ sở lý luận về thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN

THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới, sử dụng bài tập để đánh giá tư duy nói riêng hay đánh giá nhận thức nói chung luôn là một trong những điểm quan trọng trong việc nghiên cứu và phát triển con người Nhiều nhà khoa học, giáo dục học và tâm lý học của các nước trên thế giới đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về sử dụng bài tập trong đánh giá tư duy trẻ và chính sự quan tâm này đã mang lại sự đa chiều về cái nhìn trong vấn đề này

Phó Tiến sĩ khoa học giáo dục Liên Xô M.Crugiắc trong cuốn “Phát triển tư duy

học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục Hà Nội, 1976 đã chỉ rõ việc sử dụng bài tập có

vai trò và ý nghĩa to lớn đối với phát triển tư duy học sinh Ông đã khẳng định phương pháp sử dụng bài tập là phương pháp tốt nhất đem lại sự phát triển tư duy cho học sinh [2]

Tiến sĩ giáo dục Liên Xô I.F.Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học

tập của học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1979, đã nhấn mạnh “Lời nói

sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan và bài tập có hiệu quả to lớn trong việc dạy học,… Nó còn góp phần rèn luyện tư duy, phân tích tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩn sau các hình thức và biểu hiện về ngoài, kích thích ham hiểu biết của các em” [2]

Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm”, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999,

GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học có sử dụng bài tập hợp lí sẽ tạo ra trong óc trẻ một biểu tượng bền vững Đặc điểm của phương pháp này là cung cấp cho học sinh, trong phạm vi có thể có những kiến thức quan trọng, cần khắc sâu, ghi nhớ [2]

Trang 20

Cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả”, năm 2011, của tác giả

Robert.J.Marzano-Debra J.Pikering-Jane E.Pollock, người dịch Nguyễn Hồng Vân, gồm 13 chương được đưa ra với mục đích phát huy cao độ khả năng học tập của học sinh Trong đó nhân tố quan trọng là giáo viên cần có tầm nhìn trong việc lựa chọn, áp dụng phương pháp dạy học thích hợp và tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp tạo và kiểm định các giả thuyết đề ra những giải pháp khác nhau nhằm giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn [2]

Cuốn “Tám đổi mới để trở thành giáo viên giỏi”, năm 2011, của

Gieslleo.Martin-Kniep, người dịch Lê Văn Canh khẳng định muốn trở thành người giáo viên giỏi cần phải có các biện pháp đổi mới, trong đó tập trung nhất vào các câu hỏi, bài tập cốt lõi, buộc học sinh tự đi khám phá vấn đề theo chiều sâu, giúp học sinh rèn luyện năng lực cần thiết, đặc biệt là năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề [2]

Cuốn “Lí luận dạy học hiện đại”, năm 2014, của Bernd Meier, người dịch

Nguyễn Văn Cương đề cập đến bài tập định hướng năng lực, trong đó nhấn mạnh đến các đặc điểm quan trọng của bài tập định hướng năng lực, xây dựng bài tập định hướng năng lực,… [2]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Cuốn “Lí luận dạy học hiện đại” của Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường đã dành

cả 9 chương viết về bài tập định hướng năng lực Theo tác giả “định hướng năng lực là văn hóa bài tập mới”, chỉ ra những khiếm khuyết của văn hóa bài tập truyền thống, ưu điểm của bài tập định hướng năng lực Cũng theo tác giả “Hệ thống bài tập định hướng năng lực chính là công cụ để học sinh luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ

để các giáo viên và các nhà quản lí kiểm tra, đánh giá được năng lực của học sinh, biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học.” [2]

Ngoài ra, các nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam có một số công trình như sau:

Bài viết “Cơ sở xây dựng bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu

giáo năm tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh dựa trên bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

Trang 21

Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Anh trên Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số

54 năm 2014, đã đưa ra tỉ lệ lựa chọn công cụ theo lĩnh vực của Bộ chuẩn phát triển trẻ

em năm tuổi Trong đó, có 8/29 chỉ số có tỉ lệ chọn công cụ “bài tập” cao nhất để đánh giá các lĩnh vực phát triển nhận thức của trẻ [9]

Bài viết “Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh các tỉnh miền núi Tây Bắc thông qua dạy học dự án trong môn hóa học”

của tác giả Nguyễn Ngọc Duy trên Tạp chí Giáo dục, số 443 (Kì 1 – 12/2018), tr 47 –

53 đã đi sâu về vấn đề thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết giải quyết vấn

đề và sáng tạo cho học sinh các tỉnh miền núi Tây Bắc, song đều có liên quan đến vấn

đề thiết kế bài tập theo định hướng phát triển năng lực để kiểm tra, đánh giá [7]

Luận án tiến sĩ giáo dục “Bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Trần Quốc Tuấn, luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp nâng cao năng lực tự học cho học

sinh lớp 12 qua dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 – 1975” của Vũ Ánh Tuyết, “Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 trường THPT chuyên Lạng Sơn” của Đinh Tường Linh,… cũng đề cập đến các khía cạnh khác của việc thiết

kế bài tập và sử dụng bài tập đánh giá năng lực học sinh [2]

Tất cả các nghiên cứu trên đều cho rằng thiết kế và sử dụng bài tập đánh giá nhận thức mang lại nhiều hữu ích và cần thiết trong giáo dục Việt Nam Thiết kế và sử dụng bài tập đánh giá cần được ứng dụng rộng rãi, không chỉ ở bậc THCS, THPT, CĐ và ĐH

Trang 22

1.2.2 Bài tập đánh giá trẻ

Giáo viên tự thiết kế ra những bài tập để đánh giá trẻ, thu thập được những thông tin cần thiết về nhu cầu, hiểu biết và khả năng của trẻ Từ đó, giáo viên có thể đưa ra

những quyết định, những cách thức hướng dẫn phù hợp với khả năng của trẻ

Bài tập đánh giá trẻ là những nhiệm vụ học tập, những tình huống trong cuộc sống hay những bài tập đơn giản do giáo viên đưa ra trong quá trình dạy trẻ [8]

1.2.3 Thiết kế bài tập đánh giá trẻ

Theo tác giả, thiết kế bài tập đánh giá trẻ là việc tạo ra những nhiệm vụ dựa trên

sự sáng tạo và đổi mới để đánh giá, thu thập những thông tin cần thiết về nhu cầu, hiểu biết và khả năng của trẻ

đó để lập kế hoạch cho các hoạt động giáo dục ở mức độ mà đứa trẻ có thể hiểu và có thể học hỏi Đánh giá là một phần quan trọng của một chương trình mầm non chất lượng cao Khi các nhà giáo dục thực hiện đánh giá, họ quan sát một đứa trẻ để có được thông tin về những gì trẻ biết và những gì trẻ có thể làm Việc quan sát và ghi lại thành tích và công việc của một đứa trẻ trong suốt một năm cho phép nhà giáo dục tích lũy hồ sơ về

sự tăng trưởng và phát triển của đứa trẻ Với thông tin này, các nhà giáo dục có thể bắt đầu hoạch định chương trình giảng dạy phù hợp và hướng dẫn hiệu quả cho từng trẻ Hồ

Trang 23

sơ đánh giá này cũng là một công cụ tuyệt vời để chia sẻ với phụ huynh để họ có thể theo dõi sự tiến bộ của con mình ở trường, hiểu những điểm mạnh và thách thức của con

họ, và lập kế hoạch làm thế nào chúng có thể giúp kéo dài việc học tập tại nhà của chúng

Qua đó, ta có thể định nghĩa được khái niệm như sau: “Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tích và đối chiếu với mục tiêu Giáo dục mầm non làm cơ sở điều chỉnh kế hoạch, biện pháp chăm sóc, giáo dục nhằm đảm bảo sự phát triển của trẻ phù hợp với mục tiêu giáo dục [8]”

Có 2 hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo trong quá trình chăm sóc – giáo dục: đánh giá trẻ hằng ngày và đánh giá trẻ theo giai đoạn (đánh giá cuối chủ đề

và đánh giá cuối độ tuổi)

1.3 Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

1.3.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

❖ Hoạt động nhận cảm (bao gồm cả 2 quá trình cảm giác và tri giác):

Lứa tuổi mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi cùng với sự hoàn thiện của các giác quan thì hoạt động nhận cảm của trẻ tiếp tục được hoàn thiện, độ nhạy cảm của các giác quan

Trang 24

quả hơn trước Trẻ bắt đầu phân tích và mô tả đối tượng có trình tự tỉ mỉ hơn Khi cầm

đồ vật lên tay, trẻ xoay trở mọi phía, ngắm nhìn, sờ mó cẩn thận và chú ý đến những đặc điểm nổi bật của nó Cảm giác, tri giác của trẻ cũng phát triển mạnh Chính độ nhạy cảm cao của các giác quan, cũng như sự phối hợp hoạt động hài hòa, linh hoạt, mềm dẻo của chúng giúp cho các quá trình nhận thức của trẻ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả

Khi phạm vi tiếp xúc với thế giới xung quanh ngày càng được mở rộng thì vốn hiểu biết của trẻ càng được phong phú và sâu sắc hơn dẫn tới nhu cầu nhận thức ngày càng cao hơn Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi không thỏa mãn với những hiểu biết về bên ngoài của các sự vật hiện tượng xung quanh mà chúng bắt đầu muốn khám phá, muốn tìm kiếm những dấu hiệu, bản chất bên trong và mối liên hệ của các sự vật hiện tượng Đây

là một điều kiện thuận lợi để các nhà giáo dục thực hiện nhiệm vụ giáo dục nhận thức cho trẻ [6], [10]

❖ Nhận thức lý tính:

➢ Tư duy:

Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặc rất cơ bản: đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong, tức là chuyển từ kiểu tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng Tư duy trực quan hành tượng phát triển mạnh và chiếm

ưu thế Nhờ kiểu tư duy này, trẻ có thể giải quyết được một số bài toán thực tiễn Nhưng trong thực tế, những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng mà trẻ cần tìm hiểu lại bị che dấu không thể hình dung được bằng hình ảnh Kiểu

tư duy này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ của trẻ mẫu giáo lớn Cho nên, cuối tuổi mẫu giáo lớn xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ Kiểu tư duy này giúp trẻ phản ánh mối liên hệ giữa hình ảnh sự vật

và sự tồn tại khách quan của sự vật trong không gian, tạo cho trẻ khả năng phản ánh mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của trẻ Chính sự phản ánh những mối liên hệ khách quan này

là điều kiện cần thiết để trẻ lĩnh hội tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc

Trang 25

tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ để đạt tới tri thức khái quát Tư duy trực quan sơ

đồ giúp trẻ lĩnh hội những tri thức mang tính khái quát, từ đó hiểu được bản chất của sự việc, nhưng kiểu tư duy này vẫn nằm trong phạm vi của kiểu tư duy trực quan hình tượng nói chung Tóm lại đây chính là một bước phát triển đáng kể trong tư duy [6], [10]

➢ Tưởng tượng:

Cuối tuổi mẫu giáo, tưởng tượng có chủ định mới được hình thành rõ nét thông qua các hoạt động mang tính sáng tạo như tạo hình, xây dựng,…; cho phép trẻ điều chỉnh hành động bằng ngôn ngữ trong các hoạt động này Chính vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo cũng chính là làm tăng tính chủ định trong hoạt động tâm lí, đặc biệt là phát triển trí tưởng tượng có chủ định [6], [10]

❖ Trí nhớ:

Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu hình thành trí nhớ có chủ định Trẻ ghi nhớ cái gì

đó có ý nghĩa tốt hơn những cái không có ý nghĩa Đến giai đoạn này thì trí nhớ có chủ định được phát triển trên nền tảng vững chắc hơn Từ chỗ trẻ chưa biết đặt một nhiệm

vụ ghi nhớ nào cả, dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định, có mục đích Đây là loại trí nhớ rất cần cho việc học tập ở trường phổ thông sau này [6], [10]

❖ Chú ý:

Cuối tuổi mẫu giáo, chú ý có chủ định được phát triển Nó gắn liền với hành động

có mục đích và được kích thích bởi ngôn ngữ nói tác động từ bên ngoài Người lớn chỉ dẫn, nhắc nhở trẻ cần hành động như thế nào để đạt tới mục đích, sau đó trẻ tự nói lên thành lời những điều cần chú ý Tự biểu đạt những điều cần làm bằng lời giúp cho tính chủ định của chú ý ngày càng dễ phát triển

Việc rèn luyện chú ý có chủ định giúp trẻ chú ý vào những vấn đề trẻ không thật

sự hứng thú sẽ rất cần thiết cho sự tiếp thu kiến thức của trẻ Nếu không chú ý có chủ định, trẻ sẽ không đặt cho mình nhiệm vụ chú ý cụ thể, trẻ sẽ gặp khó khăn trong việc

Trang 26

1.4 Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

1.4.2 Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi là những mong đợi về những gì trẻ năm tuổi nên biết và có thể làm được dưới tác động của giáo dục

1.4.3 Cấu trúc Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi gồm 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi được trình bày theo cấu trúc sau:

Lĩnh vực phát triển bao gồm các chuẩn

 Chuẩn bao gồm các chỉ số

Chỉ số là những hành vi hay kỹ năng có thể quan sát được mà ta mong muốn trẻ đạt tới trong chuẩn Mỗi chỉ số được đánh giá thông qua các minh chứng – biểu hiện cụ

thể của một chỉ số

Trang 27

1.4.4 Mục đích ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

1 Hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em năm tuổi vào lớp 1

a Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi là cơ sở để cụ thể hóa mục tiêu, nội dung chăm sóc, giáo dục, lựa chọn và điều chỉnh hoạt động chăm sóc, giáo dục cho phù hợp với trẻ mẫu giáo năm tuổi

b Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi là cơ sở để xây dựng bộ công cụ theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo năm tuổi

2 Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi là căn cứ để xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em năm tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em Trên

cơ sở đó, tạo sự thống nhất trong chăm sóc, giáo dục trẻ giữa nhà trường, gia đình

và xã hội

1.4.5 Các nguyên tắc khi sử dụng Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi để đánh giá trẻ

- Nguyên tắc 1: Đánh giá trẻ trong mối quan hệ và liên hệ

- Nguyên tắc 2: Đánh giá trẻ trong môi trường gần với môi trường sống của trẻ

- Nguyên tắc 3: Đánh giá trẻ trong hoạt động

- Nguyên tắc 4: Đánh giá trẻ trong sự phát triển

- Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính khách quan, nhất quán, kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng

1.4.6 Nội dung Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi gồm 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số (Thông

tư số 23/2010/TT-BGDĐT ngày 22/07/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

- Lĩnh vực phát triển thế chất: gồm 6 chuẩn, 26 chỉ số

- Lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội: gồm 7 chuẩn, 34 chỉ số

- Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp: gồm 6 chuẩn, 31 chỉ số

Trang 28

Bốn lĩnh vực thể hiện được sự phát triển toàn diện của trẻ dựa trên cơ sở của các nghiên cứu khoa học Trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, 4 lĩnh vực được thể hiện tách biệt nhau, nhưng trong thực tế, chúng liên quan chặt chẽ với nhau, sự phát triển ở lĩnh vực này ảnh hưởng và phụ thuộc vào sự phát triển ở những lĩnh vực khác và không có lĩnh vực nào quan trọng hơn lĩnh vực nào

1.5 Nội dung đánh giá lĩnh vực nhận thức theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi

1 Chuẩn 20 Trẻ thể hiện một số hiểu biết về môi trường tự nhiên

a) Chỉ số 92 Gọi tên nhóm cây cối, con vật theo đặc điểm chung;

b) Chỉ số 93 Nhận ra sự thay đổi trong quá trình phát triển của cây, con vật

và một số hiện tượng tự nhiên;

c) Chỉ số 94 Nói được một số đặc điểm nổi bật của các mùa trong năm nơi trẻ sống;

d) Chỉ số 95 Dự đoán một số hiện tượng tự nhiên đơn giản sắp xảy ra

2 Chuẩn 21 Trẻ thể hiện một số hiểu biết về môi trường xã hội

a) Chỉ số 96 Phân loại được một số đồ dùng thông thường theo chất liệu và công dụng;

b) Chỉ số 97 Kể được một số địa điểm công cộng gần gũi nơi trẻ sống;c) Chỉ số 98 Kể được một số nghề phổ biến nơi trẻ sống

3 Chuẩn 22 Trẻ thể hiện một số hiểu biết về âm nhạc và tạo hình

a) Chỉ số 99 Nhận ra giai điệu (vui, êm dịu, buồn) của bài hát hoặc bản nhạc;

b) Chỉ số 100 Hát đúng giai điệu bài hát trẻ em;

c) Chỉ số 101 Thể hiện cảm xúc và vận động phù hợp với nhịp điệu của bài hát hoặc bản nhạc;

d) Chỉ số 102 Biết sử dụng các vật liệu khác nhau để làm một sản phẩm đơn giản;

đ) Chỉ số 103 Nói được ý tưởng thể hiện trong sản phẩm tạo hình của mình

4 Chuẩn 23 Trẻ có một số hiểu biết về số, số đếm và đo

Trang 29

a) Chỉ số 104 Nhận biết con số phù hợp với số lượng trong phạm vi 10; b) Chỉ số 105 Tách 10 đối tượng thành 2 nhóm bằng ít nhất 2 cách và so sánh số lượng của các nhóm;

c) Chỉ số 106 Biết cách đo độ dài và nói kết quả đo

5 Chuẩn 24 Trẻ nhận biết về một số hình hình học và định hướng trong không gian

a) Chỉ số 107 Chỉ ra được khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật và khối trụ theo yêu cầu;

b) Chỉ số 108 Xác định được vị trí (trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau, phải, trái) của một vật so với một vật khác

6 Chuẩn 25 Trẻ có một số nhận biết ban đầu về thời gian

a) Chỉ số 109 Gọi tên các ngày trong tuần theo thứ tự;

b) Chỉ số 110 Phân biệt được hôm qua, hôm nay, ngày mai qua các sự kiện hàng ngày;

c) Chỉ số 111 Nói được ngày trên lốc lịch và giờ trên đồng hồ

7 Chuẩn 26 Trẻ tò mò và ham hiểu biết

a) Chỉ số 112 Hay đặt câu hỏi;

b) Chỉ số 113 Thích khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh

8 Chuẩn 27 Trẻ thể hiện khả năng suy luận

a) Chỉ số 114 Giải thích được mối quan hệ nguyên nhân – kết quả đơn giản trong cuộc sống hằng ngày;

b) Chỉ số 115 Loại được một đối tượng không cùng nhóm với các đối tượng còn lại;

c) Chỉ số 116 Nhận ra quy tắc sắp xếp đơn giản và tiếp tục thực hiện theo qui tắc

9 Chuẩn 28 Trẻ thể hiện khả năng sáng tạo;

a) Chỉ số 117 Đặt tên mới cho đồ vật, câu chuyện, đặt lời mới cho bài hát;b) Chỉ số 118 Thực hiện một số công việc theo cách riêng của mình;

Trang 30

d) Chỉ số 120 Kể lại câu chuyện quen thuộc theo cách khác.

1.6 Thiết kế bài tập đánh giá trẻ

1.6.1 Mục đích của bài tập trong đánh giá trẻ

Bài tập do giáo viên thiết kế nhằm nhiều mục đích khác nhau:

- Thu thập những thông tin cần thiết, mức độ về kiến thức, kỹ năng ở trẻ

- Xác định những điểm mạnh, điểm yếu của từng trẻ hoặc một nhóm trẻ

- Chuẩn đoán trình độ, nhu cầu, những điểm mạnh, điểm yếu của từng trẻ

- Đánh giá các vấn đề trẻ đã nắm, vấn đền nào cần bổ sung và hướng dẫn thêm cho trẻ

- Xác định sự tiến bộ của trẻ và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch giáo dục ở giai đoạn tiếp theo thông qua việc tiến hành thường xuyên trong năm học [4], [8]

1.6.2 Các loại bài tập đánh giá trẻ

- Căn cứ vào số lượng trẻ:

 Bài tập đánh giá cá nhân trẻ

 Bài tập đánh giá nhóm trẻ

 Bài tập đánh giá cả lớp

- Căn cứ vào cách thực hiện:

 Trong khi dạy, khi trò chuyện với trẻ, giáo viên có thể giao nhiệm vụ hoặc cho trẻ trả lời câu hỏi

 Tranh ảnh, các bộ tranh lô tô, đồ chơi, đồ dùng trong lớp,… có thể được sử dụng để đánh giá trẻ

 Giáo viên có thể sử dụng các item trong những test chuẩn hóa để đánh giá trẻ, điển hình là Test Denver [4], [8]

- Căn cứ vào hình thức bài tập đánh giá:

 Giao nhiệm vụ bằng lời

 Bài tập bằng thao tác tay

 Bài tập trắc nghiệm

Trang 31

1.6.3 Các bước thiết kế bài tập đánh giá trẻ

- Bước 1: Xác định mục đích đánh giá

Bước đầu tiên rất quan trọng Giáo viên cần xác định vấn đề định đánh giá là gì

và đánh giá theo cách nào

- Bước 2: Xác định nội dung kiến thức, kỹ năng, nhu cầu,… cần đánh giá

Giáo viên cần xác định các nội dung đánh giá trẻ là gì, bao gồm kiến thức, kỹ năng,… cụ thể theo hai hoặc ba bậc đầu tiên theo thang tư duy Bloom (mức độ biết, hiểu, vận dụng)

- Bước 3: Xác định mức độ chất lượng của nội dung cần đánh giá

Các nội dung cần đánh giá có thể có nhiều mức độ chất lượng khác nhau

Có khi chỉ cần xác định hai mức độ là đạt, chưa đạt; có khi là ba mức độ: chưa làm được, làm có lúc đúng/có lúc sai và làm luôn luôn đúng; hoặc năm mức độ tuần suất là không bao giờ, rất ít khi, thỉnh thoảng, thường xuyên và luôn luôn

Tùy theo nội dung và thời điểm đánh giá khác nhau mà giáo viên lựa chọn những mức độ chất lượng đánh giá khác nhau Với những đánh giá có tính hình thành được sử dụng trong quá trình dạy nội dung mới thì giáo viên nên chọn thang đo từ ba mức độ trở lên Với những đánh giá mang tính tổng kết, được sử dụng sau khi trẻ đã được học kỹ nội dung nào đó thì giáo viên có thể chọn thang

đo hai mức độ để đánh giá trẻ

- Bước 4: Thiết kế bài tập đánh giá trẻ

Bài tập đánh giá trẻ cần được thiết kế cụ thể, rõ ràng và bao gồm 3 phần:

 Chuẩn bị: nêu những việc cần chuẩn bị để tiến hành bài tập như chuẩn bị đồ chơi, đồ dùng học tập, tranh ảnh,…

 Thực hiện: nêu hướng dẫn và các nhiệm vụ giao cho trẻ để kiểm tra, đo đạc cùng với trình tự tiến hành các việc đó

 Đánh giá: nêu các phương án đánh giá theo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Trong các phương án đánh giá cần quy định rõ: kết quả trẻ đạt như thế nào thì tương ứng với mức độ chất lượng nào mà người thiết kế đề ra [4], [8]

Trang 32

1.6.4 Ưu, nhược điểm khi thiết kế bài tập đánh giá trẻ

 Giáo viên còn thiếu sự đào tạo trong việc thiết kế các bài tập đánh giá trẻ

 Không có sẵn các phương pháp và bài tập để đánh giá mọi vấn đề cụ thể của từng lớp học và từng trẻ [4], [8]

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Sau khi tổng hợp và phân tích các tài liệu lý luận, chúng ta có thể nhận thấy một

số vấn đề khái quát như sau:

Các nhà khoa học, giáo dục học và tâm lý học trong và ngoài nước đã quan tâm đến vấn đề thiết kế và sử dụng bài tập trong đánh giá tư duy học sinh như M.CruGiắc, I.F.Kharlamop, GyuPalmade,…

Ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về thiết kế và sử dụng bài tập đánh giá năng lực học sinh ở bậc học THCS, THPT,… Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào nói về thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Đề tài làm rõ khái niệm về bài tập; bài tập đánh giá trẻ; thiết kế bài tập đánh giá trẻ; đánh giá trẻ mầm non Để tác động giáo dục lên hoạt động nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có hiệu quả, người giáo viên cần nắm rõ các đặc điểm tâm lý nói chung

và khả năng nhận thức nói riêng của trẻ ở độ tuổi này

Để thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi, giáo viên cần hiểu rõ Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, từ đó lựa chọn các chỉ số thuộc chuẩn phát triển nhận thức phù hợp với trẻ, tiến hành thiết kế bài tập đánh giá trẻ, trên cơ sở đó có

sự điều chỉnh kế hoạch tiếp theo phù hợp hơn với trẻ

Đây chính là những cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc khảo sát thực trạng thiết

kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi, trên cơ sở đó để đề xuất và thử nghiệm một số bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi (dựa theo chỉ số trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi)

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THIẾT KẾ BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ LĨNH VỰC NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN

- Những thuận lợi và khó khăn của GVMN trong quá trình thiết kế bài tập đánh

giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Để hoàn thành được các vấn đề đã đề xuất ra ở trên, tôi sẽ tiến hành qua 2 bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu thực trạng theo chiều ngang (mang tính định lượng)

Nghiên cứu sẽ thu thập số liệu trên 103 GVMN và 8 CBQL tại 6 trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng điều tra sẽ bao gồm 2 loại hình trường: công lập và tư thục; từ trình độ Cao đẳng đến Đại học, trên Đại học và từ giáo viên trẻ đến có kinh nghiệm làm việc lâu năm

Trang 35

Bước 2: Tìm hiểu thực trạng theo chiều sâu (mang tính định tính)

Dựa trên kết quả điều tra thu thập được ở bước 1, tôi sẽ tiến hành phỏng vấn sâu

3 CBQL (2 từ trường công lập, 1 từ trường tư thục) và 4 GVMN trực tiếp dạy trẻ 5 – 6 tuổi tại 6 trường mầm non mà tôi tiến hành phát phiếu khảo sát

Dựa vào 2 kết quả trên, tôi thu thập và phân tích hồ sơ có liên quan đến thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Phương pháp tìm hiểu thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Số liệu cho nghiên cứu sẽ được thu thập từ 103 GVMN và 8 CBQL tại 6 trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Đôi nét về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước, và là nơi có mật độ dân số cao nhất nước Do vậy mạng lưới giáo dục thành phố ngày càng phát triển Trong năm học 2018 – 2019, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố chủ động phối hợp với Ủy ban nhân dân 24 quận, huyện và các sở ban ngành thành phố tăng cường đầu tư xây dựng trường học theo hướng tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa phù hợp yêu cầu đổi mới giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh cũng ưu tiên dành quỹ đất cho xây dựng trường học, lập quy hoạch chi tiết các khu quy hoạch dân cư mới có đất giáo dục là trường mầm non, phổ thông đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân địa phương Cạnh đó, ngành Giáo dục thành phố cũng chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo

Trang 36

nhận giữ trẻ ngoài giờ và đẩy mạnh hoạt động các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tại các khu công nghiệp – khu chế xuất nhằm hỗ trợ con em công nhân Năm 2018, toàn thành phố

có 24/24 quận, huyện đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học mức 3 (319/319 phường/xã đạt mức 3) Tỉ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Tỉ lệ trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 98,54% Định mức phòng học/lớp đạt 0,9 và định mức giáo viên/lớp đạt 1.3

Việc tăng cường đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo hướng hiện đại, phát huy tính chủ động, tích cực, tự học, phát triển năng lực học sinh được đẩy mạnh Ngành giáo dục nói chung cũng như ngành giáo dục mầm non nói riêng luôn chú trọng thực hiện chương trình “Lấy trẻ làm trung tâm”, đồng thời dạy học theo hướng tích hợp, vận dụng hình thức dạy học ngoài trời, hoạt động ngoại khóa gắn với nội dung chương trình học

Chất lượng chăm sóc giáo dục ngành giáo dục mầm non ngày càng được nâng cao, thu hút đông học sinh, tạo được uy tín đối với phụ huynh và xã hội Nhiều cơ sở được cải tạo, sửa chữa đảm bảo môi trường thông thoáng, sạch sẽ, đẹp và an toàn Các trường được mua sắm bổ sung các trang thiết bị hiện đại, thuận tiện cho việc sử dụng, giảm tải cường độ lao động cho đội ngũ Đáp ứng nhu cầu gửi trẻ bậc mầm non ngày càng tăng của người dân, đặc biệt là công nhân, thành phố đã chủ động xây thêm 370 phòng học, trong đó mở nhiều trường mầm non gần các khu công nghiệp, khu chế xuất Bên cạnh đó, đối với những hộ giữ trẻ gia đình, nhóm lớp trẻ ngoài công lập không đáp ứng các tiêu chuẩn quy định theo quy chế tổ chức hoạt động đã được nhiều quận, huyện kiểm tra và cho ngưng hoạt động nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ [17], [18]

6 trường mầm non mà chúng tôi nghiên cứu đều thực hiện tốt các chỉ tiêu, yêu cầu của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đề ra 1/6 trường đạt Chuẩn quốc gia mức độ 1 và kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3 1/6 trường đạt Chuẩn quốc gia mức độ 1 và kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2

Trang 37

2.2.3 Phương pháp lấy số liệu

Số liệu sẽ được thu thập với sự kết hợp các phương pháp định tính và định lượng như sau:

Bước 1: Điều tra bằng bảng hỏi

Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu được thiết kế cho 2 nhóm đối tượng CBQL trường mầm non và GVMN Dạng câu hỏi tôi lựa chọn đó là câu hỏi đóng kết hợp với câu hỏi

mở, đối với câu hỏi mức độ thì tôi thiết kế với 5 mức độ lựa chọn Hình thức thể hiện của phiếu có đề cập đến chức vụ hiện tại, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác,…

điều này góp phần quan trọng trong quá trình thống kê và phân tích kết quả khảo sát

Phát phiếu điều tra: Tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho 103 GVMN và 8 CBQL

ở 6 trường mầm non tôi đề cập ở trên

Bước 2: Điều tra chiều sâu

Phương pháp phỏng vấn

Xây dựng phiếu phỏng vấn: Câu hỏi phỏng vấn được xây dựng dưới dạng câu hỏi mở dành cho 2 đối tượng đó là CBQL và GVMN Đối tượng được phỏng vấn là 3 CBQL và 4 GVMN Kết quả phỏng vấn sẽ là nguồn tin hữu ích trong quá trình phân tích kết quả điều tra của tôi, từ đó phản ánh chính xác về thực trạng thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Cách tiến hành phỏng vấn: để buổi phỏng vấn được diễn ra tự nhiên và hiệu quả chúng tôi tiến hành phỏng vấn riêng từng đối tượng và ghi chép kết quả phỏng vấn vào mẫu phiếu

Phương pháp nghiên cứu hồ sơ

Tôi dự tính thu thập hồ sơ có liên quan đến đánh giá trẻ như bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi, kế hoạch giáo dục tiếp theo sau khi sử dụng bài tập

đánh giá

Trang 38

 Đọc dữ liệu và lập cơ sở dữ liệu

 Thiết lập tiêu chuẩn để chọn lọc dữ liệu

 Sắp xếp dữ liệu theo chủ đề

 Đếm dữ liệu ở mỗi chủ đề và tìm kết quả

 Liên hệ kết quả với lý thuyết, phân tích và lý giải kết quả

2.2.5 Phân tích kết quả điều tra

Số liệu và thông tin thu thập được chúng tôi xử lí bằng phương pháp định tính, định lượng và thu được kết quả như sau:

2.2.5.1 Nhận thức của CBQL và GVMN đối với việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

❖ Nhận thức của CBQL và GVMN về tầm quan trọng của việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Bảng 2.1: Nhận thức của CBQL và GVMN về tầm quan trọng của việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 39

Tương đối cần thiết 0 0% 0 0%

và CBQL đã có nhìn nhận rất tốt về tầm quan trọng của việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi Đây là một tín hiệu khả quan trong việc đánh giá nhận thức trẻ 5 – 6 tuổi nói chung tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển toàn diện cho trẻ Phỏng vấn trực tiếp

cô P.T.Y – Phó hiệu trưởng trường cho rằng:

Trang 40

“Trong Chương trình Giáo dục mầm non có lĩnh vực phát triển nhận thức thì bắt

buộc phải có bài tập đánh giá để giáo viên đánh giá được khả năng của trẻ, từ đó điều chỉnh và xây dựng các kế hoạch để tổ chức các hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ Phải có bài tập đánh giá thì mới có cơ sở trong việc đánh giá chính xác năng lực của trẻ, để có nền tảng, hành trang cho trẻ lên lớp Một Bên cạnh đó, khi tổ chức bất kỳ hoạt động nào, đặc biệt là về mặt đánh giá trẻ, nếu không thiết kế bài tập đánh giá thì không thể hiện được tiêu chí, nội dung, mục tiêu đánh giá Do đó, việc thiết kế bài tập đánh giá trẻ là rất cần thiết.”

❖ Mức độ hiểu biết của GVMN về quy trình thiết kế bài tập và sử dụng kết quả bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Bảng 2.2: CBQL đánh giá mức độ hiểu biết của GVMN về quy trình thiết kế bài tập và sử dụng kết quả bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

CBQL (N = 8)

Có hiểu biết đầy đủ

về tầm quan trọng của việc thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 –

6 tuổi

Nắm vững các bước khi thiết kế bài tập đánh giá lĩnh vực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi

Biết sử dụng kết quả bài tập đánh giá để điều chỉnh kế hoạch giáo dục tiếp theo

Ngày đăng: 07/02/2022, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT Quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
2. Chu Thị Dàng (2015), Luận văn thạc sĩ sư phạm lịch sử “Thiết kế và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1954, trường trung học phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiết kế và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1954, trường trung học phổ thông
Tác giả: Chu Thị Dàng
Năm: 2015
3. Cao Thị Thùy Oanh (2014), Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Thực trạng sử dụng “Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi” trong tổ chức hoạt động phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi”, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng “Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi” trong tổ chức hoạt động phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi”
Tác giả: Cao Thị Thùy Oanh
Năm: 2014
4. Đinh Thị Kim Thoa (2008), Đánh giá trong giáo dục mầm non, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục mầm non
Tác giả: Đinh Thị Kim Thoa
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
5. Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy, (2012), Giáo trình Tâm lý học đại cương, Nxb. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
6. Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Giáo trình Sự phát triển tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sự phát triển tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
7. Nguyễn Ngọc Duy (2018), “Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh các tỉnh miền núi Tây Bắc thông qua dạy học dự án trong môn hóa học”, Tạp chí Giáo dục, Số 443, Kì I – 12/2018, tr.47 – 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh các tỉnh miền núi Tây Bắc thông qua dạy học dự án trong môn hóa học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy
Năm: 2018
8. Nguyễn Thị Kim Anh (2015), Đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa – Văn nghệ
Năm: 2015
9. Nguyễn Thị Kim Anh (2014), “Cơ sở xây dựng bộ công cụ, theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh dựa trên bộ chuẩn phát triển trẻ en 5 tuổi Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, Số 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở xây dựng bộ công cụ, theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh dựa trên bộ chuẩn phát triển trẻ en 5 tuổi Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2014
10. Nguyễn Thu Hiền (2013), Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi ở quận Bình Tân Tp. Hồ Chí Minh”, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng việc thực hiện lĩnh vực phát triển nhận thức trong chương trình giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi ở quận Bình Tân Tp. Hồ Chí Minh”
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền
Năm: 2013
11. Nguyễn Nữ Quỳnh Trâm (2014), Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi”, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi”
Tác giả: Nguyễn Nữ Quỳnh Trâm
Năm: 2014
12. Tạ Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thư (2007), Phương pháp đánh giá trẻ trong đổi mới Giáo dục mầm non, Nxb. Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá trẻ trong đổi mới Giáo dục mầm non
Tác giả: Tạ Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thư
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w