MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ HÌNH THỨC, VĂN HÓA, TÂM LÝ VÀ TÍNH CÁCH DÂN TỘC ĐƯỢC PHẢN ẢNH TRONG TỤC NGỮ ANH VÀ TỤC NGỮ VIỆT NAM A ĐẶT VẤN ĐỀ Với sự hội nhập toàn cầu hoá, quá trình trao
Trang 1ĐẠI HỌC HUÊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
============
NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ HÌNH THỨC, VĂN HÓA, TÂM
LÝ VÀ TÍNH CÁCH DÂN TỘC ĐƯỢC PHẢN ẢNH TRONG TỤC NGỮ ANH VÀ TỤC NGỮ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: ThS Ngô Thị Khai Nguyên
Sinh viên thực hiện: Nhóm INNOVATION
1 Hồ Thị Dung 16F7511019
2 Trần Thị Hồng Đào 16F7511029
3 Ngô Thị Ngọc Hà 16F7511036
4 Đoàn Nam Nhật Quang 16F7511189
5 Phạm Thị Kim Qui 16F7511190
6 Nguyễn Hà Vy 16F7511254
Huế, tháng 12/2019
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B NỘI DUNG 1
I Hình thức của tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam 1
1 Tính ngắn gọn, súc tích 1
2 Tính cân xứng và nhịp điệu 3
3 Vần điệu 5
II Nội dung tư tưởng và cách thức thể hiện trong tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam 7
1 Hình ảnh, hình tượng được sử dụng trong tục ngữ 7
2 Nét văn hóa của tín ngưỡng, tôn giáo trong tục ngữ 9
3 Tính cách dân tộc thể hiện trong tục ngữ 11
C KẾT LUẬN 12
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ HÌNH THỨC, VĂN HÓA, TÂM LÝ VÀ TÍNH CÁCH DÂN TỘC ĐƯỢC PHẢN ẢNH TRONG TỤC NGỮ ANH VÀ TỤC NGỮ
VIỆT NAM
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Với sự hội nhập toàn cầu hoá, quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc đang diễn ra mạnh mẽ, mà ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của sự trao đổi đó Quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc có thể diễn ra theo nhiều con đường khác nhau
Đó có thể là sự trao đổi trực tiếp giữa những người thuộc dân tộc khác nhau hoặc thông qua các phương tiện giao tiếp đại chúng (báo chí, đài phát thanh, truyền hình, điện ảnh) Quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc còn có thể diễn ra qua việc dịch những tác phẩm văn học nghệ thuật, những nghiên cứu văn hoá, lịch sử…từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác do ngôn ngữ giữ một vai trò quan trọng trong sự duy trì tồn tại và phát triển của loài người trong từng giai đoạn
Tục ngữ - với tư cách là phương tiện giao tiếp của con người và là một phân nhánh của ngôn ngữ, do tác động của quy luật vận động và phát triển, các yếu tố tác động lên chúng cũng được phản ánh chân thực môi trường tự nhiên và xã hội của thời kỳ mà chúng xuất hiện Nó thể hiện hết sức đậm đặc và rõ nét dấu ấn của văn hoá, cách sống, lối nhận thức và tính cách của mỗi dân tộc Cũng như các nghiên cứu ngôn ngữ khác, việc nghiên cứu tục ngữ đã và sẽ mang lại nhiều hiểu biết sâu sắc về văn hoá và tính cách dân tộc Cũng vì lẽ đó, việc so sánh đối chiếu tục ngữ của các ngôn ngữ khác nhau
để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa chúng, từ đó rút ra những sự giống nhau và khác nhau về văn hoá, về tư duy là một công việc cần thiết Trong khi so sánh tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi đã nhận thấy nhiều đặc điểm thú vị giữa hai thứ tiếng này Tuy nhiên, ngoài những điểm giống nhau dễ nhận thấy thì sự khác biệt cơ bản giữa tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt chính là ở cách thức thể hiện nội dung tư tưởng
Vì vậy trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi sâu và phân tích một số yếu văn hóa, tâm lý và tính cách dân tộc ảnh hưởng đến tục ngữ Việt – Anh để làm rõ vấn đề này
B NỘI DUNG
I Hình thức của tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam
1 Tính ngắn gọn, súc tích
Trang 4Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau , song khi định nghĩa tục ngữ, các tác
giả đều có nhận định chung : tục ngữ là câu nói ngắn gọn, súc tích, diễn đạt đầy đủ một
ý Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê và nhóm tác giả (1997) giải thích: “Tục ngữ là
thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt” ví dụ như:
‘Một câu nhịn, chín câu lành’, ‘Tốt gỗ hơn tốt nước sơn’ Theo Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca, “Tục ngữ là một câu tự nó diễn tả trọn vẹn một ý, ý đó có thể là một
nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán’’ Ví dụ: ‘‘Đói cho sạch, rách cho thơm’’, ‘‘Ác giả, ác báo’’
Trong tiếng Anh, tục ngữ dù có cách thể hiện nội dung khác với tiếng Việt trên phương diện văn hóa, tôn giáo… nhưng vẫn thể hiện được tính súc tích, hình thức ngắn
gọn Theo từ điển The New Webster’s Dictionary of the English Language định nghĩa:
“Proverb is a short pithy saying in general use, stating a general truth or piece of advice”( Tục ngữ là một câu nói ngắn gọn trong cách sử dụng chung, nói lên một sự thật chung hoặc một lời khuyên) Ví dụ: “The less said the best” (Ăn bớt bát, nói bớt lời.), “Think twice before you speak once” (Nghĩ hai lần trước khi nói)
Tương tự, theo Cambridge Dictionary: “A proverb is a short sentence that people
often quote, which gives advice or tells you something about life” (Câu tục ngữ là một câu ngắn mà mọi người thường trích dẫn để đưa ra lời khuyên hoặc cho bạn biết điều gì
đó về cuộc sống) Ví dụ: “He knows much, who speaks least” (Chim khôn chưa bắt đã bay, người khôn ít nói ít hay trả lời), “A honey tongue, a heart of gall” (Miệng mật, lòng dao) Hơn nữa, tính ngắn gọn, súc tích trong tục ngữ tiếng Anh còn được thể hiện trong nội dung Trong nói năng ứng xử, người Anh luôn đề cao sự kiệm lời, tập trung vào vấn
đề chính Những câu tục ngữ: “Least said, soonest mended” (Nói ít, sửa nhanh.), hay
“He knows much who knows how to hold his tongue” (Chim khôn tiếc lông, người ngoan tiếc lời.) là những ví dụ khuyên con người nên kiệm lời và tôn trọng nhau trong nói năng
Theo những nhận định và ví dụ trên ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng đặc điểm cơ bản về hình thức của tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam là tính ngắn gọn, đơn giản, giúp cho chúng dễ nhớ, dễ thuộc nên được lưu truyền, sử dụng rộng rãi, linh hoạt trong lời nói hàng ngày của nhân dân
Trang 52 Tính cân xứng và nhịp điệu
Kho tàng tục ngữ Việt Nam và tục ngữ Anh đều rất phong phú và có nhiều điểm tương đồng kể cả tính cân xứng hay nhịp điệu Hình thức cấu trúc đặc trưng của câu tục ngữ là cấu trúc đối xứng Câu đối xứng là câu có sự tương ứng đều đặn của các thành phần trong câu Điều này biểu hiện qua số từ trong mỗi câu tục ngữ (Anh hay Việt), các
từ trong câu có xu hướng tương đương hoặc đối nhau, như một số ví dụ dưới đây:
- Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi
Spare the rod, spoil the child
- Every Jack has his Jill
Nồi nào úp vung nấy
- Out of sight, out of mind
Xa mặt cách lòng
Có rất nhiều tục ngữ Việt Nam hay tiếng Anh có cùng số âm tiết, số từ trong hai
vế (ở tiếng Việt thì nhiều hơn) Tuy nhiên, trong tiếng Anh, cấu trúc cân xứng không phải là đặc trưng trong các câu tục ngữ, dù vậy vẫn có một số ví dụ khá điển hình:
- He that mischief hatches mischief catches
Gieo gió gặt bão
- No pain, no gain
Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ
- United we stand, divided we fall Nhiều người thì sống, mống người thì chết
- Waste not, want not
Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện
Tuy nhiên, nhịp điệu là một thủ pháp nghệ thuật cơ bản của tục ngữ Anh Về ngữ
âm, trong tiếng anh, từ đa tiết có trọng âm từ (word stress) nhưng khi hoạt động trong câu thì chỉ những từ trọng yếu, mang thông tin ngữ nghĩa chính của câu mới có trọng
âm câu (sentence stress – và tất nhiên trọng âm câu này trùng với trọng âm từ nếu từ đó
là từ đa tiết) Mỗi đoạn tiết điệu chỉ chứa một âm tiết mang trọng âm câu, còn số lượng các âm tiết không mang trọng âm câu trong đoạn tiết điệu đó có thể là từ 0 đến vài ba
âm tiết Ví dụ:
Trang 6Open/ the door// please!
∙ ⎯ / ⎯ ∙ // ∙ (1)
Độ dài của các đoạn tiết điệu là tương đối bằng nhau, tạo nên nhịp điệu của câu nói Còn trong thi ca anh, các nhịp điệu iambic “∙ ⎯” (âm tiết mang trọng âm đi trước một âm tiết không mang trọng âm), trochee “⎯ ∙” (âm tiết mang trọng âm đi sau một âm tiết không mang trọng âm) và anapest “⎯ ⎯ ∙” (âm tiết mang trọng âm đi sau hai âm tiết không mang trọng âm) được sử dụng Tục ngữ anh cũng sử dụng các nhịp điệu này với những kiểu kết hợp và biến thể khá đa dạng, ví dụ:
- A man / is known // by the company / he keeps
⎯ ∙ / ⎯ ∙ // ⎯ ⎯ ∙ ⎯ ⎯ / ⎯ ∙
(1) Dấu ⎯ chỉ âm tiết không mang trọng âm, còn dấu ∙ chỉ âm tiết mang trọng âm Dấu / chỉ chỗ ngững hơi ngắn, dấu // chỉ chỗ ngừng hơi dài hơn
Về nhịp điệu, cả tiếng Anh và tiếng Việt đều giàu âm điệu, tuy cách biểu hiện của mỗi thứ tiếng không giống nhau Trong tiếng Anh, nhịp điệu thường biểu hiện qua lặp
âm tiết:
- A friend in need is a friend indeed
- An apple a day keeps the doctor away
- Man proposes but god disposes
- Many a little makes a mickle
- By hook or by crook
Trong tiếng Việt, âm điệu thường được biểu hiện ở gần cuối mỗi vế của câu tục ngữ đó:
- Hớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa
- Trăng mờ, tốt lúa nỏ; trăng tỏ, tốt lúa sâu
- Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão
- Nhai kỹ no lâu, cày sâu lúa tốt
Mặc dù có một số tính chất và hình thức khác nhau nhưng về cơ bản, âm điệu và đối xứng của tục ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt đều không chỉ làm cho câu đậm chất thơ, dễ nhớ, dễ thuộc và đi sâu vào lòng người mà còn khiến cho câu tục ngữ có tính nhịp nhàng; nó có sự tương tác với yếu tố vần và góp phần tạo ra sự hài hòa về âm thanh
Trang 7cho câu tục ngữ, góp phần tạo ra sự cân đối, qua đó biểu đạt sắc thái quan hệ lôgic giữa các vế của câu tục ngữ
3 Vần điệu
Nhịp điệu “một phương diện quan trọng của thơ ca nói chung và tục ngữ nói riêng
để cấu tạo hình thức nghệ thuật trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố có quan hệ tương đồng Cùng với sự kết hợp với vần điệu, thanh điệu đã tạo nên những câu tục ngữ mang đầy tính nhịp điệu cũng như sự hài hòa về âm thanh từ đó gây tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm cho người nghe, người đọc Nhiều người nước ngoài khi nghe tiếng Việt đã nhận xét rằng “Tiếng Việt vô cùng gợi thanh và nổi bật” Tục ngữ không chỉ thể hiện mặt ý nghĩa của nội dung mà còn biểu hiện được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc qua cách phát huy những ưu điểm của tiếng Việt về vần điệu
Có thể thấy rằng, cách gieo vần trong tục ngữ Việt Nam khá đa dạng, linh hoạt và không tùy tiện cốt lấy sự “xuôi tai, vần vè”
Hai âm tiết đứng cạnh nhau và hiệp vần với nhau (vần liền):
- Tay làm hàm nhai
- Ăn cây nào, rào cây ấy
- Đầu năm buôn muối, cuối năm buôn vôi
Hai âm tiết đứng cách nhau dựa trên cách gieo vần phụ thuộc vào chức năng
của vần (vần cách):
- Gái có chồng như gông đeo cổ
- Tiền lĩnh quần chị, không bằng tiền chỉ quần em
- Sống về mồ mả, không sống về cả bát cơm
Cách gieo vần tuân theo quy luật vần điệu của thể thơ lục bát
- Sông sâu còn có kẻ dò Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng
- Trông mặt mà bắt hình dong Con lợn có béo thì lòng mới ngon
Ngược lại, việc gieo vần điệu trong tục ngữ Anh lại không phong phú như tục ngữ Việt Nam Phần lớn tục ngữ anh thường dựa trên cách dịch nghĩa gốc thay vì tạo nhịp điệu Chỉ có một kiểu phân bố là hai âm tiết cuối cùng của các đoạn tiết điệu, hoặc hai
Trang 8âm tiết cuối cùng của hai dòng hiệp vần với nhau, giống như một số thể loại thơ Anh trước đây:
- Honesty is the best policy Thật thà là thượng sách
- A friend in need is a friend indeed Hoạn nạn mới biết bạn hiền
- Man propose, god dispose Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên
Bên cạnh đó, tục ngữ tiếng Anh còn có một loại vần mà tiêng Việt không có, đó
là vần mắt (eye-rhyme) Vần mắt hay còn được gọi là vần thị giác, là một loại vần trong
đó hai từ thoạt nhìn đánh vần giống nhau nhưng phát âm lại khác nhau Điều này xuất phát từ việc không có sự thống nhất hoàn toàn giữa chính tả và phát âm nên trong tiếng Anh và kiểu vần này có thể tìm thấy trong một số câu tục ngữ như:
- A clean fast is better than a dirty breakfast
Đói cho sạch , rách cho thơm:
- Haste makes waste Dục tốc bất đạt
Ngoài ra, trong văn học Anhthủ pháp điệp phụ âm đầu (alliteration) xuất hiện và được
sử dụng trong thi ca khá phổ biến Thủ pháp này cũng được áp dụng vào các câu tục ngữ:
/s/ - Safe and sound- bình an vô sự
/f/ - Far from eye, far from heart
Xa mặt cách lòng /m/ - Money make the mare go
Có tiền mua tiên cũng được
Nếu như điệp âm đầu là một lối chơi chữ riêng biệt trong thi ca, tục ngữ tiếng Anh thì Tiếng Việt lại tự hào về sự phong phú của thanh điệu – một đặc trưng riêng biệt của mình Tiếng Việt là một thứ tiếng có 6 thanh điệu, khá nhiều so với các ngôn ngữ nước ngoài ( một số ngôn ngữ chỉ có 3 hoặc 4 thanh điệu) Chính sự đa dạng này đã tạo nên
vẻ đẹp vô cùng đặc sắc, sự giàu nhạc tính, nhịp nhàng cho tiếng Việt nói chung cũng như tục ngữ nói riêng
Trang 9II Nội dung tư tưởng và cách thức thể hiện trong tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam
Tục ngữ từ lâu được xem là một trong những viên ngọc quý của kho tàng văn hóa dân gian của mỗi dân tộc Tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam đều được sáng tạo ra từ trong cuộc sống lao động sản xuất hàng ngày chính vì vậy những kinh nghiệm về lời ăn tiếng nói được đúc kết trong tục ngữ có sức thuyết phục và được dùng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày Ẩn chứa sau mỗi câu tục ngữ, sau những hình ảnh, hình tượng là bản sắc văn hoá, phong cách sống, lối nói, lối nghĩ của dân tộc
Có thể nói rằng, tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam đều có những nét tương đồng khi diễn tả những nội dung tư tưởng, luân thường đạo lí hay chuẩn mực đạo đức của xã hội Dân tộc nào cũng yêu chuộng cái hay, lẽ phải và lên án những hành vi tiêu cực, cái
ác hay những thói hư tật xấu cũng như ca ngợi những cái thiện, những đức tính cao đẹp của con người Ngôn ngữ được sử dụng chung để giao tiếp nhưng mỗi cộng đồng người lại có cách thể hiện riêng Chính điều này tạo nên sự đa dạng, phong phú và không kém phần sinh động trong quá trình biến đổi của ngôn ngữ Điều đó sẽ được minh chứng thông qua một số ví dụ hết sức thú vị, độc đáo dưới đây
1 Hình ảnh, hình tượng được sử dụng trong tục ngữ
Từ xa xưa, cây lúa đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Việt Lúa không chỉ là nguồn thức dưỡng nuôi sống con người mà còn trở thành biểu tượng của làng quê yên bình, là nét văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam Hay những thứ gần gũi đối với người nông dân Việt Nam như hình ảnh cây đa, giếng nước, con trâu, cái cày, v.v đã trở thành những biểu tượng riêng cho dân tộc Ngược lại, người nông dân Anh thường trồng lúa mì và chăn nuôi bò, cừu để lấy sữa, thịt và len Những hình ảnh này được sử dụng trong tục ngữ để thể hiện tư tưởng cũng như cuộc sống và hoạt động lao động sản xuất của họ Mặc dù công nghiệp đã bao trùm cuộc sống hiện đại, người dân ở đây vẫn coi nông nghiệp có tác động đáng kể đến văn hóa của họ, đặc biệt là ngôn ngữ Ví dụ, người Việt sử dụng hình ảnh cây lúa, bát cơm hay những hoạt động liên quan đến nền nông nghiệp lúa nước truyền tải trong những câu tục ngữ như
- Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa
- Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không nhạc
- Cấy bằng mặt, gặt bằng đầu
Trang 10- Sáng tai họ, điếc tai cày
Trong khi đó người Anh lại sử dụng hình ảnh bánh mỳ trong những câu tục ngữ như:
- Dry bread at home is better than roast meat abroad (Bánh mỳ khô ở nhà còn hơn thịt quay xứ người)
- Eaten bread is soon forgotten
( Ăn cháo đá bát)
- Do not quarrel with your bread and butter
( Ăn cây nào rào cây ấy)
Hay người Việt thì sử dụng hình ảnh con trâu, giếng nước, cây đa, cái ao trong
- Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
- Ao có bờ sông có bến
- Đàn gảy tai trâu
- Trâu buộc ghét trâu ăn
thì người Anh cũng sử dụng hình ảnh con cừu để phản ánh nội dung tư tưởng của họ như:
- Every family has a black sheep
(Nhà nào cũng có một con cừu đen)
- A lamb is as dear to a poor man as an ox to the rich
(Một con cừu là thân thương với một người đàn ông nghèo như một con bò cho người giàu)
Trong nét văn hóa và tâm linh của một số dân tộc, “con chó” là động vật thân thiết gắn bó với con người với những đức tính được tôn vinh như thông minh, quan tâm đến chủ Chúng cũng là một trong những hình ảnh được sử dụng rất nhiều trong những câu tục ngữ trong tiếng Anh và cả tiếng Việt tuy nhiên về mặt ý nghĩa lại có nét khác nhau Trong kho tàng tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, có ít nhất 70 câu xuất hiện hình ảnh con chó Ở Việt Nam mặc dù chó là một loài vật trung thành và có ích trong nhà nhưng hình ảnh con chó lại thường mang ý nghĩa tiêu cực
- Nhờn với chó, chó liếm mặt
- Có keo kiệt mới có, có phũ như chó mới giàu
- Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”
- Chó càn cắn giậu