HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI: Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử kết thúc thắng lợi buộc thưc dân Phá
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử kết thúc thắng lợi buộc thưc dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương Ý nghĩa lịch sử và giá trị thực tiễn của Hiệp Định
Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Hồng Thúy
Sinh viên thực hiện : Trần Văn Tuấn
Mã sinh viên : 23A4010709
Nhóm tín chỉ : PLT10A.30
Mã đề : 12
Hà Nội, tháng 10 năm 2021
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 1
Nội dung 3
I Phần lý luận 3
1.1 Chiến dịch Điện Biên Phủ 3
1.2 Hiệp định Giơnevơ 6
II Phần thực tiễn 9
2.1 Ý nghĩa lịch sử 9
2.2 Giá trị thực tiễn 10
Kết luận 12
Tài liệu tham khảo 13
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” – chiến thắng đã mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên hòa bình, độc lập
và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa gắn với đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ (1954), khôi phục hòa bìnhở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa to lớn,
là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó, quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng có vai to lớn trong công cuộc này: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng, củng cố giữ vững ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội Không ngừng chăm lo củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, làm hạt nhân lãnh đạo ở các đơn
vị Tổ chức chỉ huy, đội ngũ cán bộ, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chiến đấu liên tục
Đường lối lãnh đạo của Đảng thật đúng đắn, việc nghiên cứu đề tài này rất thiết thực Nhất là trong thời kỳ đổi mới trước những diễn biến phức tạp của thế giới thì vai trò của Đảng rất quan trọng Đề tài có ý nghĩa thực tiễn, cho ta nhiều bài học trong việc xây dựng và củng cố đất nước Đồng thời gia tăng niềm tự hào, tự tôn của mình về một dân tộc hòa bình, độc lập, tự chủ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này giúp ta hiểu rõ hơn về đường lối lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tinh thần dân tộc từ đó giúp giáo dục phẩm chất chính trị, giáo dục đạo đức cánh mạng, thôi thúc lòng yêu nước của từng người
Trang 4Để đạt được mục đích đó ta cần nghiên cứu về chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử từ đó giải quyết nội dung hiệp định Giơnevơ và đưa ra giá trị thực tiễn của hiệp định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về quá trình dành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)
do Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; đưa ra nội dung và tác động của hiệp định Giơnevơ đến thực tiễn
Phạm vi nghiên cứu là chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam năm 1954 và hiệp định Giơnevơ chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Đường lối chính trị, hoạt động của Đảng là sự biểu hiện cụ thể lý luận đó trong hoàn cảnh Việt Nam với tất cả đặc điểm vốn có của nó
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, nghiên cứu, phương pháp vận dụng lý luận vào thực tiễn
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu góp phần tái hiện vài nét lịch sử cuộc thắng lợi to lớn của nhân dân ta từ đó thấy được đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; làm nổi bật tác động to lớn của hiệp định Giơnevơ đến nền hòa bình của Đông Dương nói chung và của Việt Nam nói riêng
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về lịch sử nước nhà, những chiến công vẻ vang, tài lãnh đạo của cha ông chúng ta Ta càng tự hào hơn về truyền thống yêu nước, giữ nước của dân tộc đồng thời nhận thức được trách nhiệm của bản thân đối với công cuộc xây dựng nước nhà trong thời hiện đại
Trang 5Nội dung
I Phần lý luận
1.1 Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử
a Hoàn cảnh:
* Thế giới:
Tại Đông Âu, các nước theo XHCN dần ổn định Nhà nước CHND Trung Hoa – ngay sát Việt Nam được thành lập năm 1949 Đặc biệt quan trọng thời điểm 1950 -1951 vấn đề ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thừa nhận, những giúp đỡ về quân sự chiến lược được tiến hành
Pháp dần phụ thuộc vào Mỹ do những hậu quả về người và của hết sức nặng nề để lại sau thế chiến thứ hai Chúng xây dựng Điện Biên Phủ thành một “pháo đài trang nghiêm không thể công phá” Từ đây, Điện Biên Phủ trở thành trung tâm trong kế hoạch của Pháp được xây dựng kiên cố với 49 cứ điểm, 2 sân bay và 3 phân khu
* Về phía địch
Vì kế hoạch Na-va không thực hiện được theo dự kiến, Pháp quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với lực lượng lúc cao nhất lên đến 16.200 quân, được bố trí thành một
hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49 căn cứ điểm
Pháp và Mỹ đều đưa Điện Biên Phủ là “Pháo đài bất khả xâm phạm” Điện Biên Phủ trở thành địa điểm trung tâm của kế hoạch Nava
* Về phía ta:
Từ tháng 11-1953 đến tháng 2- 1954, bộ đội ta liên tục mở các cuộc tiến công ở Tây Bắc, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào và các chiến
Trang 6trường phối hợp khác Chiến thắng đó đã làm cho kế hoạch Na-va của địch đứng trước nguy cơ bị phá sản
Đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng giải phóng đã mở rộng, hậu phương đã lớn mạnh, quân đội ta đã trưởng thành, có
đủ tinh thần và lực lượng đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh
Ta đã huy động đại bộ phận lực lượng chủ lực tham gia chiến dịch gồm
4 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải, quân y,…thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương và các cấp để đảm bảo chi viện cho tiền tuyến, trong một thời gian ngắn có khoảng 55 nghìn quân, hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, 27 nghìn tấn gạo… được đưa ra mặt trận Như vậy, Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược của quân dân Việt Nam
b Diễn biến:
Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị họp bàn, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch
Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ đội ta đã ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh” Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang
“đánh chắc, tiến chắc”
Trang 7Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã diễn ra 3 đợt:
Đợt 1: Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã mưu trí dũng cảm tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 01 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh; đại tá Pirốt, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ, bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát
Đợt 2: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các
cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian Na-va hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào Đặc biệt, tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ
Đợt 3: Từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Đêm ngày 06/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm Tên chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch Ngay trong đêm đó, quân ta
Trang 8tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh
c Kết quả:
Dù quân Pháp đã phải gia tăng quân số lên đến 16.000 người, họ đã không thể nào lật ngược được thế cờ Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh
Về không quân, Pháp bị tổn thất 59 phi cơ bị phá hủy (38 chiếc bị bắn rơi, 21 chiếc bị phá hủy khi đậu trên sân bay), trong đó có 3 máy bay khác bị phá hủy trước ngày 13 tháng 3 năm 1954, ngoài ra còn có 2 trực thăng cũng bị phá hủy
Thiệt hại về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam theo hồ sơ quân y của Việt Nam là 4.020 người chết, 9.691 người bị thương và 792 mất tích
Với chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, kế hoạch Na Va của Pháp bị đập tan Bàn đàm phán giữa Pháp – Mỹ – Việt Nam diễn ra sau đó buộc Pháp rút quân khỏi nước ta
1.2 Hiệp định Giơnevơ
a Hoàn cảnh:
* Về mặt quốc tế:
Nguyện vọng của nhân dân toàn thế giới là hoà bình Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), thực chất là một cuộc đọ sức giữa hai phe, đi đến kết thúc mà không phân thắng bại Xu thế hoà hoãn đã bắt đầu xuất hiện trong quan hệ quốc tế Vào tháng 1-1954, Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước Liên Xô,
Mĩ, Anh và Pháp ở Béclin thoả thuận việc triệu tập một Hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề chia cắt ở Triều Tiên và chấm dứt chiến tranh, lập lại nền hoà bình ở Đông Dương
Trang 9Căn cứ vào điều kiện của cuộc kháng chiến cũng như so sánh lực lượng giữa ta với thực dân Pháp và xu thế chung của thế giới là giải quyết các vấn
đề tranh chấp bằng hòa bình, Việt Nam đã ký kết hiệp định Giơnevơ ngày 21/7/1954
* Về phía địch:
Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương trở thành gánh nặng kinh tế và
xã hội đối với nước Pháp Họ muốn dẫn tới một giải pháp thương lượng trên thế mạnh, vì vậy đã quyết định tranh thủ viện trợ từ phia Mỹ nhằm thực hiện
kế hoạch quân sự Nava với hy vọng tìm lối thoát trong danh dự Nhưng nỗ lực cuối cùng này cũng bị thất bại sau khi thất thủ ở Điện Biên Phủ (7-5-1954)
* Về phía ta:
Thắng lợi của quân dân ta trong cuộc tiến công chiến lược đông – xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) đã đập tan cố gắng quân sự cao nhất và cũng là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và sự giúp sức của
đế quốc Mỹ Thắng lợi đó giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến
b Nội dung cơ bản của hiệp định:
* Nội dung cơ bản:
Các nước tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia; không can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước Các bên tham chiến ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn đông Dương
Thực hiện di chuyển, tập kết quân đội ở hai vùng:
Ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 (dọc theo sông Bến Hải – Quảng Trị) làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới
Trang 10Ở Lào, tập kết ở Sầm Nưa và Phong Xalì
Ở Campuchia, lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, không có vùng tập kết
Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào đông Dương, không được đặt căn cứ quân sự ở đông Dương Các nước đông Dương không được tham gia liên minh quân sự và không để cho nước khác dùng lãnh thổ vào việc gây chiến tranh hoặc xâm lược
Việt Nam tiến tới thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7/1956 dưới sự kiểm soát của một Ủy ban quốc tế do Ấn độ làm Chủ tịch
Trách nhiệm thi hành Hiệp định thuộc về những người ký Hiệp định và những người kế tục họ
Việc kí kết Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954), Việt Nam đã thu được thắng lợi lớn: Chính phủ Pháp đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, thừa nhận quân đội Pháp sẽ rút khỏi nước ta… Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam mặc dù chưa kết thúc nhưng nó đã đặt một tiền đề pháp lý là Hiệp định Giơnevơ và một hiện thực rất quan trọng là miền Bắc nước ta được giải phóng làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam sau này Kinh nghiệm kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp đã được quân và dân ta vận dụng triệt để trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước về sau Bên cạnh đó hiệp định cũng công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước; đình chỉ chiến sự trên toàn cõi Đông Dương
Trang 11II Phần thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lịch sử
Hiệp định là văn bản pháp lí quốc tế, ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương và được các cường quốc cùng các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng
Việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc Việt Nam, và đặt cơ sở pháp lý cho việc thống nhất nước Việt Nam là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, hòa bình và dân chủ trên thế giới Nó phản ánh tình hình lực lượng so sánh ở Đông Dương và trên thế giới lúc bấy giờ
Hiệp định đã đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chống Pháp của nhân dân ta Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội về nước Song chưa trọn vẹn vì mới giải phóng được miền Bắc và chuyển sang giai đoạn xã hội chủ nghĩa trở thành hậu phương vững mạnh cho nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc về sau
Với hiệp định Giơnevơ, Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt ách đô hộ kéo dài hàng ngàn thế kỷ, rút hết quân đội về nước Đế quốc Mỹ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hóa chiến tranh xâm lược đông Dương
2.2 Giá trị thực tiễn
a Đối với đất nước
Hiệp định Giơnevơ có vai trò vô cùng to lớn đối với dân tộc ta từ xưa và cho đến bây giờ vẫn để lại nhiều dấu ấn:
Hiệp định đã đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, đặt nên tảng cho nền hòa bình nước Việt Nam cho đến ngày nay Nó đã nâng vị thế của một nước nhỏ bé ở Đông Dương như Việt Nam không bị lệ thuộc vào