Kể từ năm 1978 chính quyền Trung Quốc đã cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường trong khi vẫn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KINH TẾ CHÍNH TRỊ VỀ CÁC NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI
Câu hỏi thảo luận:
NỘI DUNG CHUYỂN ĐỔI NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC
Giảng viên : PGS.TS Phạm Văn Dũng Nhóm thực hiện : Nhóm 4
Trang 2Hà Nội, năm 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KINH TẾ CHÍNH TRỊ VỀ CÁC NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI
Trang 3NỘI DUNG CHUYỂN ĐỔI NỀN KINH
TẾ TRUNG QUỐC
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC
Kinh tế Trung Quốc đại lục là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ) nếu tính theo tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa và đứng thứ nhất nếu tính theo sức mua tương đương (PPP)
• GDP Trung Quốc năm 2013 là 9 nghìn tỷ USD
• GDP bình quân đầu người danh nghĩa năm 2016 là 10.160 USD (15.095 USD nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), ở mức trung bình cao so với các nền kinh tế khác trên thế giới (xếp thứ 89 trên thế giới vào năm 2016)
• Trong những năm gần đây, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao Trong hầu hết thời gian trong hơn 2.000 năm lịch sử các triều đại phong kiến, kinh tế Trung Quốc được xem là nền kinh tế lớn và phức tạp nhất trên thế giới, với những lúc thì hưng thịnh, khi thì suy thoái
Kể từ năm 1978 chính quyền Trung Quốc đã cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường trong khi vẫn duy trì thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo Chế độ này được gọi bằng tên "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc", là một loại kinh tế hỗn hợp
Các cải cách quyết liệt từ những năm 1978 đã giúp hàng triệu người thoát nghèo, đưa tỷ lệ nghèo từ 53% dân số năm 1981 xuống còn 8% vào năm 2001
II NỘI DUNG CHUYỂN ĐỔI
Hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) quyết định chuyển sang trọng tâm công tác của toàn Đảng từ "lấy đấu tranh giai cấp là chính" sang "lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm" và tiến hành cải cách mở cửa Điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu lý luận Trung Quốc nỗ lực tìm tòi xây dựng thể chế kinh tế mới nhằm thúc đẩy sức sản xuất phát triển
1 Giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1991)
Trang 4Ở thời kỳ đầu của cải cách, đứng trước nền kinh tế suy sụp sau Cách mạng Văn hóa, nhiều nhà kinh tế học đề xuất những luận điểm mới
a Quan điểm kết hợp kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết thị trường là phụ
- Đưa ra quan điểm "kết hợp giữa điều tiết kế hoạch và điều tiết thị trường, lấy kinh tế kế hoạch làm chính, đồng thời hết sức coi trọng vai trò bổ trợ của điều tiết thị trường" Với quan điểm này, các nhà kinh tế đã nhận thức được quy luật phát triển theo kế hoạch và quy luật giá trị cùng đóng vai trò điều tiết, cho nên cần thực hiện phương châm kết hợp giữa điều tiết kế hoạch và điều tiết thị trường
- Kết hợp kinh tế kế hoạch làm chủ thể, kinh tế thị trường là sự bổ sung quan trọng chứ không phải là sự bổ sung thứ yếu: đây là điểm chuyển tiếp thảo luận
từ vấn đề vai trò của quy luật giá trị sang vấn đề kinh tế thị trường, là điểm chuyển tiếp từ thể chế kinh tế kế hoạch sang thể chế kinh tế thị trường"
=> Như vậy, ngay từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thấy được lực lượng thị trường, có thể kết hợp bổ sung nó trong khuôn khổ kế hoạch của nhà nước đối với việc bố trí nguồn lực kinh tế Đây là sự tiến bộ rất lớn so với những quan niệm về thể chế kinh tế trước
đó Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng nó đã phá vỡ thể chế kinh tế kế hoạch
b Quan điểm kinh tế XHCN là kinh tế hàng hóa có kế hoạch
- Bài trừ quan điểm “kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết thị trường là phụ”, cần phải thay bằng “xây dựng kinh tế hàng hóa XHCN”
- Trong văn kiện “Ý kiến bước đầu về cải cách thể chế kinh tế” do Văn phòng cải cách thể chế Quốc vụ viện đưa ra tháng 9 – 1980 chỉ rõ: “Nền kinh tế XHCN của nước ta giai đoạn hiện nay là nền kinh tế hàng hóa, trong đó chế độ công hữu tư liệu sản xuất chiếm ưu thế, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại” => Văn kiện quan trọng này đã đánh dấu sự phát triển trong nhận thức của các nhà lãnh đạo Trung Quốc
- Hội nghị Trung ương 3 khóa XII đã thông qua Nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế Nghị quyết chỉ rõ: “Nền kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hóa là giai đoạn không thể bỏ qua của sự phát
Trang 5triển kinh tế xã hội, là điều kiện tất yếu để thực hiện hiện đại hóa Trung Quốc ” Đây là một đột phá quan trọng về lý luận Lần đầu tiên Trung Quốc khẳng định
rõ ràng kinh tế XHCN là kinh tế hàng hóa Nó đánh dấu sự nhảy vọt về nhận thức đối với kinh tế XHCN
- Đặc biệt sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, những người này nêu ra vấn
đề kế hoạch và thị trường là XHCN hay TBCN? Họ đánh đồng kinh tế kế hoạch với CNXH, đánh đồng kinh tế thị trường với CNTB
=> Như vậy, cho tới cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, mọi người đều nhận thức được vai trò của việc phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng cơ chế thị trường, nhưng vẫn hoài nghi về kinh tế thị trường, mặc dù Trung Quốc đã có sự đột phá tương đối lớn đối với quan niệm truyền thống
c Quan điểm kinh tế XHCN là kinh tế hàng hóa có kế hoạch
- Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ở Trung Quốc đã xuất hiện một trận Đại luận chiến về vấn đề cải cách thất bại hay thành công? Họ vẫn luôn băn khoăn bởi vấn đề kinh tế thị trường mang tính chất XHCN hay TBCN?
- Ông Đặng Tiểu Bình trực tiếp gặp gỡ quần chúng, trình bày quan điểm của mình về kế hoạch và thị trường, nó mới thực sự có tác dụng Ông nói dứt khoát rằng: "Kế hoạch nhiều hơn một chút hay thị trường nhiều hơn một chút không phải là sự khác biệt bản chất giữa CNXH và CNTB Kinh tế kế hoạch không đồng nghĩa với CNXH, CNTB cũng có kế hoạch Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với CNTB, CNXH cũng có thị trường Kế hoạch và thị trường đều là các biện pháp kinh tế"
Tuy nhiên vấn đề di theo con đường Chủ nghĩa Xã hội hay Chủ nghĩa Tư bản vẫn là 1 phần băn khoăn của nhân dân
2 Giai đoạn hình thành khung cơ bản của thể chế kinh tế thị trường XHCN (1991-2001)
- Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô giải thể, đảng cộng sản ở các nước Đông Âu mất địa vị cầm quyền Chiến tranh lạnh kết thúc,
Trang 6nhiều nước tiến hành điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại
- Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương gác lại các cuộc tranh luận, tiến hành “Ba điều có lợi” (có lợi cho phát triển sức sản xuất xã hội chủ nghĩa, có lợi cho đất nước, có lợi cho đời sống nhân dân), mạnh dạn xông pha vào thực tiễn
và lấy thực tiễn để kiểm nghiệm
- Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) nêu mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh mở cửa Đây được coi là cuộc giải phóng tư tưởng lần thứ hai, là mốc qụan trọng trong tiến trình cải cách,
mở cửa ở Trung Quốc
- Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV (năm 1993) thông qua “Quyết định về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ rõ: “lấy chế độ công hữu làm chủ thể, nhiều thành phần kinh tế khác cùng phát triển, xây dựng chế
độ phân phối thu nhập, lấy phân phối theo lao động làm chính, ưu tiên hiệu quả, quan tâm tới công bằng, khuyến khích một số vùng, một số người giàu có lên trước, đi con đường cùng giàu có’’
- Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1997) đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa
3 Đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cải cách theo chiều sâu (2002- 2012)
- Năm 2001 Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Sự kiện này đánh dấu tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Trung Quốc
- Từ Đại hội XVI (năm 2002) Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã nêu ra quan điểm phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy phát triển toàn diện hài hòa và bền vững kinh tế - xã hội Đại hội XVI tiếp tục nhấn mạnh “tiếp tục điều chỉnh
bố cục và cơ cấu kinh tế quốc hữu, cải cách thể chế quản lý vốn quốc hữu là nhiệm vụ trọng đại để đưa cải cách thể chế kinh tế vào chiều sâu, xem “kinh tế tập thể là bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế công hữu, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện cùng giàu có”
Trang 7- Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2007) nêu chủ trương từ
“tam vị nhất thể” bao gồm kinh tế, chính trị và văn hoá sang “tứ vị nhất thể” -bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội
- Bước sang thế kỷ XXI, Trung Quốc đã xây dựng được cục diện cải cách, mở cửa toàn phương vị, đa tầng nấc; hình thành các cực tăng trưởng,
- Từ năm 1984, Trung Quốc tiến hành mở cửa 14 thành phố ven biển, ven sông, ven biên giới Từ năm 1990, Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng Phố Đông, coi đây là “đầu tàu” lôi kéo và kết nối các điểm tăng trưởng hạ lưu sông Trường Giang và ven biển Đông Hải Sự ra đời của Phố Đông (Thượng Hải) đánh dấu
sự xuất hiện cực tăng trưởng thứ hai của Trung Quốc
- Ngày 6-6-2006, Chính phủ Trung Quốc đã công bố “Ý kiến về mấy vấn đề thúc đẩy mở cửa phát triển Khu mới Tân Hải Thiên Tân”, đánh dấu việc chủ trương đưa Thiên Tân vươn lên trở thành cực tăng trưởng thứ ba của Trung Quốc, gắn liền các điểm tăng trưởng xoay quanh vịnh Bột Hải Tiếp đó, vùng Thành Đô - Trùng Khánh (Xuyên Du), Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ (Quảng Tây), Khu kinh tế bờ Tây (Phúc Kiến) cũng phấn đấu trở thành cực tăng trưởng tiếp theo ở Trung Quốc Năm 2008, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn “Cương yếu quy hoạch Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ”, thể hiện quyết tâm của Trung Quốc trong xây dựng cực tăng trưởng mới - cực tăng trưởng kết nối giữa Trung Quốc
và ASEAN
4 Cải cách toàn diện và sâu rộng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN (từ 2012 đến nay)
*Trước 2013:
- Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã tác động xấu đến hầu hết các nước trên thế giới và không ngoại trừ Trung Quốc Để đối phó lại với những tác động xấu của khủng hoảng này, Trung Quốc đã đưa ra các chính sách, với sự can thiệp mạnh vào thị trường tài chính, tiền tệ Chính sách tiền tệ của Trung Quốc đã được nới lỏng Tổng số tiền cho vay của các ngân hàng Trung Quốc tăng từ 9.000 tỷ USD năm 2008 lên 23.000 tỷ USD vào cuối năm 2012 Các khoản vay này đã đẩy chênh lệch giữa tỷ lệ tín dụng và tỷ lệ GDP danh nghĩa lên hai con số và giữ ở mức trên 14%
Trang 8- Năm 2012, sau khi bơm 4.000 tỷ NDT vào nền kinh tế nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế lại bất ngờ sụt giảm, Chính phủ Trung Quốc đã chủ trương không cần dựa vào chính sách kích cầu hoặc tăng các khoản đầu tư của Chính phủ, mà xác định động lực chủ yếu của nền kinh tế phải là các cơ chế và các lực lượng thị trường Theo đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã đưa ra biện pháp ngăn chặn “bong bóng“ tín dụng trên thị trường liên ngân nhằm giảm các khoản cho vay, giảm mức tăng cung tiền và nợ xấu, giảm thiểu nguy cơ rủi ro tài chính trong tương lai
- Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phục hồi chậm, nhu cầu tiêu dùng cũng mạnh, chủ nghĩa bảo hộ thương mại bắt đầu xuất hiện trở lại đã tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc Trong khi đó, nền kinh tế Trung Quốc quá phụ thuộc vào xuất khẩu, với hơn 1/4 các hoạt động kinh tế quốc dân liên quan đến xuất khẩu Năm 2012, tỷ lệ đóng góp từ xuất khẩu vào nền kinh tế Trung Quốc là âm 2,2% Điều này đã kéo theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế, đầu
tư - tiêu dùng tiếp tục suy giảm
- Theo Cục Thống kê Trung Quốc, nguyên nhân khiến tăng trưởng GDP của Trung Quốc suy giảm là do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, một số nước phát triển trên thế giới bước vào giai đoạn điều chỉnh, nền kinh tế cũng xuất hiện hiện tượng suy giảm năng suất, tốc độ tăng trưởng; Nhu cầu tiêu dùng bên ngoài đối với hàng hóa Trung Quốc còn yếu; Các dòng tiền “nóng” rút khỏi các nền kinh tế mới nổi (trong đó có Trung Quốc) Trong khi đó, tại Trung Quốc, tiền công lao động tăng cao khiến xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh
đó, kết cấu kinh tế mất cân đối về đầu tư - tiêu dùng chưa được giải quyết, thậm chí còn tăng thêm
- Ba động lực lớn lôi kéo kinh tế tăng trưởng là đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu ròng (cỗ xe tam mã) trong năm 2012 và 2013 (xem bảng 1) đều cho thấy những bất ổn Tỷ lệ đóng góp của đầu tư trong GDP đã tăng lên từ 50,4% (2012) lên 54,4% trong năm 2013; Tỷ lệ đóng góp của tiêu dùng lại giảm từ 51,8% (2012) xuống còn 50%; Tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu ròng là -2,2% giảm xuống -4,4%
* Từ 2013 tới nay:
Trang 9- Năm 2013, Trung Quốc đã triển khai hàng loạt biện pháp nhằm “ổn định tăng trưởng, điều chỉnh kết cấu, thúc đẩy cải cách” Điển hình như “gói kích thích mini” được thực hiện trên 3 phương diện:
+ Thứ nhất, tạm miễn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiêp cho khoảng 6 triệu doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có doanh thu hàng tháng không quá 20.000 nhân dân tệ; Mở rộng phạm vi thí điểm trưng thu thuế giá trị gia tăng thay cho thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Thứ hai, đẩy mạnh các biện pháp xúc tiến thương mại thúc đẩy sự phát triển
ổn định của xuất nhập khẩu;
+ Thứ ba, triển khai cải cách thể chế đầu tư, tài chính vào đường sắt, mở cửa toàn diện thị trường xây dựng đường sắt, mở rộng quyền sở hữu và quyền kinh doanh trong xây dựng đường sắt nói chung và ở miền Trung, miền Tây và khu vực nghèo đói nói riêng Nhờ vậy, kinh tế Trung Quốc đã phục hồi, đạt mức tăng trưởng 7,7% trong năm 2013
- Từ Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII thông qua Nghị quyết về cải cách toàn diện và sâu rộng, thực hiện “giấc mộng Trung Quốc”, “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”
- Tổng Bí thư Tập Cận Bình với tư cách là “hạt nhân lãnh đạo” đã kế thừa, phát huy và hoàn thiện cương lĩnh, đường lối phát triển của Trung Quốc, hình thành nên “Bố cục tổng thể”: phát triển “5 trong 1” (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường) và bố cục chiến lược “Bốn toàn diện” Kinh tế bước vào giai đoạn “trạng thái bình thường mới”, “Made in China 2025” tìm kiếm chuyển đổi phương thức tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và động lực phát triển mới Sáng kiến “Vành đai, Con đường” được xem là giải pháp chiến lược, vừa thúc đẩy cải cách trong nước, vừa phát huy vai trò đối ngoại
III.KẾT LUẬN
Qua bốn mươi năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho các mô hình chuyển đổi
Trang 10Thứ nhất, giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị Cải cách, mở cửa trước hết
phải giải phóng tư tưởng, đổi mới tư duy Chuyển từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” là bước đột phá về giải phóng tư tưởng, đổi mới tư duy; “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý”, lấy cải cách kinh tế làm trọng tâm, phát triển miền duyên hải phía Đông giàu có lên trước; đó còn là nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội, nhận thức về thời đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Thứ hai, cải cách theo định hướng thị trường: Cải cách, mở cửa là quá trình
thay đổi nhận thức và hành động cải cách theo định hướng thị trường; phát huy được các nguồn lực trong xã hội Qua 40 năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã gây dựng được các loại thị trường của các loại hàng hóa, ngành, nghề; xây dựng các chuỗi giá trị theo các ngành nghề, hàng hóa; các nguồn vốn xã hội được huy động và phát huy Kinh tế dân doanh trở thành lực lượng quan trọng Năm 2017, Trung Quốc có 65,79 triệu hộ công thương cá thể, có hơn 27,2 triệu doanh nghiệp công thương dân doanh, đóng góp thuế vượt 50% tổng thuế thu; đóng góp cho GDP và đầu tư ra nước ngoài đều vượt 60%, chiếm hơn 70% doanh nghiệp kỹ thuật cao mới(8)
Thứ ba, tiến trình cải cách, mở cửa là tiến trình xử lý các cặp quan hệ giữa cải
cách - phát triển và ổn định, giữa nhà nước với thị trường và xã hội, giữa kinh tế với chính trị và xã hội Cải cách ở Trung Quốc tiến hành theo phương thức tiệm tiến, lấy cải cách kinh tế làm trọng tâm; thí điểm trước, nhân rộng sau
Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, dự báo Trung Quốc về cơ bản giữ được ổn định xã hội, kinh tế giữ tốc độ tăng trưởng trung bình, song những mâu thuẫn lớn có khả năng phát sinh từ nửa cuối thập niên thứ ba thế kỷ XXI Chúng
ta trông chờ Trung Quốc tiếp tục phát triển phồn vinh, đóng góp tích cực cho hòa bình và phát triển trong khu vực và trên thế giới