Trước lúc đi xa, trong Di chúc bản viết tay tháng 5-1968, Bác Hồ đãcăn dặn: “Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương thành phố, làng, xã cần dựngvườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của dề tài
Để có một xã hội thái bình thịnh vượng như ngày hôm nay, ông cha ta
đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh xâm lược đẫm máu và nước mặt Baonhiêu người đã ngã xuống, bao nhiêu người còn ở lại nhưng thân thể khôngđược lành lặn nữa Họ – những con người đánh đổi cả tuổi trẻ, đánh đổi cảmột người vì sự nghiệp thống nhất đất nước
Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, là kim chỉ nam và là lẽ sống củangười Việt Nam Đạo lý ấy, lẽ sống ấy chính là căn cơ làm nên tâm hồn, sứcmạnh Việt Nam! Không ai có thể quên những người đã ngã xuống trong cáccuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Máu xương đổ xuống, lịch sử cònmãi khắc ghi
Trước lúc đi xa, trong Di chúc (bản viết tay tháng 5-1968), Bác Hồ đãcăn dặn: “Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần dựngvườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đờigiáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”; “Đối với cha mẹ, vợ conthương binh, liệt sĩ mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địaphương phải giúp đỡ họ công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đóirét”; “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu củamình, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ănchốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗingười để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh”
Cùng với tinh thần nhân văn cao cả, tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã hy sinh vì Tổ Quốc, suốt mấy chục năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách , chế độ đối với các đối tượng Người có công và thường xuyên có sự điều chỉnh bổ sung phù hợp với thực tế từng thời kỳ của đất nước Đến nay đã hình thành hệ thống chính sách là
bộ phận không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 2Đó là chủ trương, đúng đắn, là chính sách lớn của Đảng và nhà nước
ta Góp phần làm giảm đi những đau đớn, mất mát thể chất, đồng thời cổ vũ động viên tinh thân giúp người có công và thân nhân của họ vượt lên mất mát đau thương, khắc phục khó khăn cản trở để khẳng định mình tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Song chính sách cho người có công ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế,chính sách cho người có công chỉ đáp ứng được một phần những nhu cầu thiếtyếu vì tình hình kinh tế đất nước còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy tôi
quyết định chọn đề tài“Chính sách xã hội đối với người có công với Cách Mạng và thục trạng thực hiện chính sách tại huyện Ứng Hòa_ Hà Nội” để
nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chínhsách người có công với cách mạng
2 Tình hình nghiên cứu lien quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội trên thế giới
Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới Vào năm 1949, nhà xã hội họcngười Anh Thomas Marshall là người đầu tiên gắn khái niệm an sinh xã hộivới khái niệm quyền công dân và cho rằng quyền được hưởng an sinh (haynói gọn là quyền xã hội) là nhóm quyền thứ ba mà các thành viên của xã hội
đã giành được trong thế kỷ 20, sau nhóm các quyền dân sự (đã giành đượctrong thế kỷ 18) và nhóm các quyền chính trị (giành được trong thế kỷ 19).Marshall nhấn mạnh rằng việc được hưởng các khoản an sinh xã hội hay phúclợi xã hội cần được quan niệm như một loại quyền mang tính pháp lý và tínhphổ quát
Như vậy, quyền có nhà ở, quyền được học hành, quyền được chăm sócsức khỏe là những quyền cơ bản của con người hay nói rộng ra là quyền củamỗi người được hưởng một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm của mình.Nguy cơ của xu hướng “hàng hóa hóa” các dịch vụ phúc lợi xã hội Theo KarlPolanyi, hệ thống an sinh xã hội là một thành tố không thể thiếu trong một hệthống chính sách kinh tế - xã hội quốc gia nhằm giúp cho xã hội có thể “Tự
Trang 3bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một hệ thống thị trường tựđiều tiết” Gosta Esping-Andersen còn nhấn mạnh rằng cần xem xét hệ thống
an sinh xã hội dưới góc độ khả năng “phi hàng hóa hóa” các quyền xã hội.Ông gọi sự phi hàng hóa hóa (de-commodification) là tình trạng trong đó sở
dĩ người ta được hưởng các dịch vụ phúc lợi là do người ta có quyền đượchưởng và người ta có thể duy trì cuộc sống của mình mà không cần dựa trênthị trường Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ giúp xã hội haybảo hiểm xã hội thì điều này không nhất thiết dẫn đến một tình hình “phi hànghóa hóa” thực thụ nếu chúng không thực sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sựphụ thuộc vào thị trường “Tiêu chuẩn nổi bật của các quyền xã hội phải làmức độ mà theo đó chúng cho phép con người có thể xác lập được mức sốngcủa mình mà không phụ thuộc vào các lực lượng của thị trường Chính làtheo ý nghĩa này mà các quyền xã hội có thể làm giảm bớt tư cách “hàng hóa”của các công dân” Hiểu theo nghĩa đó, có thể nói chính hệ thống an sinh xãhội, hiểu theo nghĩa rộng, là một định chế quan trọng giúp cho người dân xáclập được tư thế con người cũng như tư thế công dân của mình một cách đúngđắn trong một xã hội dân chủ và văn minh
1.2 Những nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội cho người có công ở Việt Nam
Chính sách đối với người có công cách mạng được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm, đã được thể hiện một cách cụ thể trong Hiến pháp vàtrong hệ thống các văn bản pháp luật Đây là lĩnh vực được nhiều tác giả quantâm, nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã có điều kiện tiếpcận một số công trình nghiên cứu và bài viết như sau:
- Nguyễn Đình Liêu (1996 , Luận án Phó tiến sĩ khoa học luật học:
“Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam - Lýluận và thực tiễn”
- Đỗ Thị Hồng Hà (2011 , Luận văn thạc sĩ quản lý hành ch nh công:
“Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công ở Việt Nam hiện nay”
Trang 4-Đào Xuân Sâm (2015 , Thực hiện ch nh sách người có công với cách mạng
từ thực tiễn t nh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sĩ Ch nh sách công, Học việnKhoa học xã hội
-Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009 , Hoàn thi n ph p luật u đãi xã hội ở ViệtNam _Luận văn thạc sỹ luật học
-Nguyễn Văn Thành (1994 , Luận án tiến sĩ kinh tế: “Đổi mới ch nhsách kinh tế - xã hội đối với người có công ở Việt Nam”
- Phạm Thị Hải Chuyền (2015 , Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãingười có công với nước hiện nay, định hướng đến năm 2020, Tạp ch Cộngsản, (số 837
- Hồng Vinh (2012 , Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, Tạp chTuyên giáo số 7
- Bùi Sỹ Lợi (2016 , Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc người cócông và hoàn thành xác nhận người có công với cách mạng, Tạp ch cộng sản,(số 885 , tr.89-92
- Nguyễn Duy Kiên (2012 , Ch nh sách đối với người có công- tráchnhiệm của toàn xã hội, Tạp ch Tuyên giáo số 7
- Đỗ Thị Dung (2010 , “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiếnnghị”,
- Hoàng Công Thái (2005 , “Thực hiện ch nh sách ưu đãi xã hội đối vớingười có công”, Tạp ch Quản lý nhà nước, (số 7 , tr 28-31
- Nguyễn Hiền Phương (2004 , “Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xãhội”,
Các công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến nhiều góc độ, khía cạnhkhác nhau với mục đích, quy mô và phạm vi khác nhau, nhưng đa số nhữngcông trình nghiên cứu mang tính tổng quát với phạm vi rộng, quy mô toànquốc; chưa đánh giá sát thực trạng ở từng địa phương; chưa nêu cụ thể đâu lànguyên nhân của những bất cập, tồn tại, hạn chế của quy định ch nh sáchngười có công với cách mạng đang thực hiện Thực tiễn ở mỗi địa phương có
Trang 5những cách tổ chức thực hiện chính sách khác nhau, mang lại hiệu quả khácnhau; nên việc nghiên cứu việc thực hiện chính sách ở địa phương này khôngthể đại diện cho địa phương khác được.
Theo thống kê toàn quốc có 312.000 người hoạt động kháng chiến bịnhiễm chất độc hóa học Gần 1,9 triệu người có công giúp đỡ cách mạng vàhơn 4 triệu người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc được tặng Huân,Huy chương Kháng chiến Ngoài ra, cả nước còn thực hiện chế độ trợ cấp ưuđãi với hàng vạn thanh niên xung phong
Hơn 1,4 triệu người có thành tích tham gia kháng chiến được hưởngchế độ trợ cấp một lần Công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người có côngđược đảm bảo tốt
Việc chăm sóc, tri ân những người có công còn sống luôn được chútrọng Trong 3 năm qua, cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn, đápnghĩa” gần 1.219 tỷ đồng để xây dựng mới và sửa chữa 59.294 căn nhà vàtặng 33.090 số tiết kiệm
Chính phủ đã cấp trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đìnhngười có công để xây dựng, sửa chữa nhà ở
Bên cạnh đó, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốtcòn thiếu thông tin, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sĩcũng được chú trọng.Cả nước hiện có 9.637 công trình ghi công liệt sĩ, trong
đó có 1.750 đài
Những con số trên đã phần nào cho thấy thực trạng chính sách xã hộiđối với người có công ở Việt Nam đang từng bước hoàn thiện và đổi mới,hường tới mục tiêu “ Dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng, văn mình”
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, NỘI DUNG VÀ MỘT SỐ CÁC CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI CHO NGƯỜI CÓ CÔNG
1.2 Chính sách xã hội
Chính sách xã hội bao gồm tập hợp các chính sách cụ thể, là sự thể thếhóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xãhội liên quan đến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợpvới quan điểm, đường lối, của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xãhội và phát triển toàn diện con người
1.3 Người có công vói cách mạng
Người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công vớicách mạng là những người đã có thành tích trong cuộc đấu tranh giành độclập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, người hoạt độngkháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế làngười hoạt động kháng chiến trước ngày 30/4/1975
1.4 Chính sách xã hội cho người có công
Chính sách xã hội đối với người có côngthực chất là đường lối, chủtrương của Đảng và nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối vớinhững người có công với đất nướ, nhằm mục đích ghi nhận công lao đóng
Trang 7góp, hi sinh cao cả của họ đồng thời đền đáp và bù đắp phần nào về đời sốngvật chất và tinh thần đối với những người có công và gia đình của họ
1.5 Đối tượng thụ hưởng của chính sách cho người có công với cách mạng
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngàykhởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
- Liệt sĩ
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,đày;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc vàlàm nghĩa vụ quốc tế;
- Người có công giúp đỡ cách mạng.”
1.2 Vai trò của chính sách cho người có công
Chính sách xã hội cho người có công đứng đầu trong các chính sách xãhội Không chỉ đơn thuần ghi nhận sự biết ơn của Nhà nước, cộng đồng, xãhội đối với người có công và nhận thân gia đình họ, mà còn thể hiện tinh thầncao cả của xã hội, góp phần vào việc ổn định chính trị- xã hội của quốc gia
1.3 Nội dung của chính sách xã hội cho người có công tại Việt Nam
Chính sách ưu đãi người có công được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan
tâm và ngày càng mở rộng đối tượng, mức thụ hưởng với chế độ ưu đãi toàn
diện hơn Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng
Trang 810% dân số, trong đó có khoảng 1,4 triệu người có công và thân nhân đượchưởng trợ cấp thường xuyên, với mục tiêu là bảo đảm mức sống của người cócông bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn Cùngvới chính sách ưu đãi người có công, các đối tượng tham gia các thời kỳkháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (quân nhân, thanh niên xung phong,dân quân du kích, dân công hỏa tuyến,…) tiếp tục được hưởng các chế độ,chính sách và hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng Các thiết chế chăm sócngười có công, tri ân các anh hùng, liệt sĩ ngày càng hoàn thiên và được quantâm đầu tư Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được chú trọng, thể hiệntinh thần “Hiếu nghĩa bác ái”, “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta trongđiều kiện mới.
3.1.1 Pháp lệnh ban hành và một số văn bản quy định về chính sách người có công ở Việt Nam
- Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cóhiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2005
26/2005/PL Pháp lệnh số 35/2007/PL26/2005/PL UBTVQH11 ngày 21 tháng 6 năm 2007 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãingười có công với cách mạng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2007
- Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 của Ủyban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãingười có công với cách mạng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2012
Các văn bản thuộc lĩnh vực chính sách đối với người có công
- Nghị định số 112/2017/NĐ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ quyđịnh về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Namtham gia kháng chiến giai đoạn 1965 – 1975
- Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/07/2017 của Chính phủ về việcthực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng theoQuyết định 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 9- Quyết định số 35/2017/QĐ-TTg ngày 25/07/2017 của Thủ tướngChính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 75/2013/QĐ-TTg ngày 06/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ, chínhsách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm,quy tập hài cốt liệt sĩ.
- Nghị định số 70/2017/NĐ-CP ngày 06/06/2017 của Chính phủ vềviệc quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cáchmạng
- Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 22/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc tiếp tục tăng cường công tác chăm sóc người có công với cách mạng,thiết thực kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/07/1947-27/07/2017)
- Nghị định số 157/2016/NĐ-CP ngày 24/11/2016 của Chính phủ vềviệc sửa đổi, bổ sung Nghị định 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh
- Quyết định 606/QĐ-UBDT ngày 08/11/2016 của Ủy ban Dân tộc vềviệc phê duyệt kinh phí chi hỗ trợ cho các hộ nghèo, người có uy tín và hộ giađình có công với cách mạng là người dân tộc thiểu số trên địa bàn 04 tỉnh SócTrăng, Trà Vinh, An Giang và Bạc Liêu
- Quyết định 1892/QĐ-TTg ngày 03/10/2016 của Thủ tướng Chínhphủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp Nhà nước về xác định hài cốt liệt sĩcòn thiếu thông tin
3.1.2 Một số chính sách tiêu biểu đối với người có công với Cách mạng
a Chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở
Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ người
có công với cách mạng về nhà ở chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày15/6/2013 thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người có công
Trang 10với cách mạng Trong điều kiện nhiều hộ thuộc diện đối tượng chính sáchtrong cả nước còn gặp nhiều khó khăn về nhà ở thì đây là việc làm cụ thể,thiết thực Theo đó, quyết định này quy định cụ thể về nguyên tắc, đối tượng
và điều kiện áp dụng chính sách cũng như mức hỗ trợ cho hộ gia đình người
có công với cách mạng có một hoặc nhiều người có công với cách mạng
Căn cứ Điều 2 của Quyết định này hộ gia đình được hỗ trợ khi có đủcác điều kiện sau:
– Là hộ gia đình có người có công với cách mạng đã được cơ quan cóthẩm quyền công nhận nêu ở trên
– Nhà đang ở là nhà tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng (kể cả các hộ đãđược hỗ trợ theo các chính sách khác trước đây) với mức độ như sau:
+ Phải phá dỡ để xây mới nhà ở
+ Phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở
Theo Điều 3 Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, mức hỗ trợ từ ngân sáchnhà nước (gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) được phân bổnhư sau:
– Hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải phá dỡ để xây mớinhà ở
– Hỗ trợ 20 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải sửa chữa khung,tường và thay mới mái nhà ở
Các hô gia đình nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên có thể chủ độnglàm đơn và gửi hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí về nhà ở tới Ủy ban nhân dâncấp xã Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách hộ người cócông với cách mạng được hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn và phối hợp với các cơquan có thẩm quyền giải quyết hỗ trợ cho các hộ gia đình thuộc diện được hỗtrợ
b Chính sách về giáo dục
Trang 11Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư 36/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn hồ sơ, trình tự thủ tục thực hiện chế độ ưu đãi tronggiáo dục đào tạo đối với người có công với cách mạng và con của họ.
Cụ thể, đối tượng xác lập hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi gồm: anh hùng lựclượng vũ trang nhân dân; anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến; thươngbinh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B; con củaanh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, con của anh hùng lao động trong thời kỳkháng chiến; con của người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945; con củangười hoạt động cách mạng từ ngày 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Támnăm 1945; con của liệt sĩ; con của thương binh; con của bệnh binh; con củangười hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
Chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo được áp dụng đối với học sinh, sinhviên là: con của người có công với cách mạng đang học tại các cơ sở giáo dụcmầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, phổ thông dân tộcnội trú, trường dự bị đại học, trường năng khiếu, trường lớp dành cho người tàntật, khuyết tật thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; người có công với cách mạng
và con của họ theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khóa học từ 1 nămtrở lên hoặc cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Các chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo theo quy định tại Thông tư nàykhông thay thế chế độ học bổng chính sách, chế độ học bổng khuyến khích họctập và rèn luyện theo quy định hiện hành
Chế độ ưu đãi gồm: Chế độ trợ cấp ưu đãi hàng năm và hàng tháng Cácmức trợ cấp được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2015/NĐ-CP củaChính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cáchmạng.Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12-11-2015
c Chính sách về y tế
Theo quy định của nhà nước, những người phục vụ, người có côngvới cách mạng sẽ được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí
Trang 12Căn cứ theo quy định của Thông tư liên tịch 41/2014/TTLT-BYT-BTC(tại điểm O khoản 3 Điều 1) thì những đối tượng sau được gọi là người phục
vụ, người có công với cách mạng và được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm
y tế:Người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình, Người phục
vụ bệnh binh, thương binh đã suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lênsống ở gia đình, Người phục vụ người bị nhiễm chất độc hóa học và bị suygiảm khả năng lao động từ 81% trở lên sống ở gia đình
Nếu thuộc một trong các trường hợp trên sẽ được cấp thẻ bảo hiểm y tếmiễn phí, Như vậy, nếu bạn được cấp thẻ bảo hiểm y tế của người phục vụngười có công với cách mạng mã PV thì quyền lợi bảo hiểm y tế của bạnlà: được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh thuộcphạm vi chi trả bảo hiểm y tế và 100% chi phí khám chữa bệnh tại tuyến xã
và chi phí cho một lần khám chữa bệnh thấp hơn 15% tháng lương cơ sở.Lương cơ sở hiện nay là 1.150.000 đồng và từ ngày 1/5/2016 là 1.210.000đồng
d Chính sách nâng mức phụ cấp cho người có công với cách mạng
Ngày 12/7/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2018/NĐ-CP quy địnhmức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng
Nghị định gồm 4 Điều và 3 Phụ lục kèm theo; quy định cụ thể về mứcchuẩn để xác định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công vớicách mạng và mức trợ cấp, phụ cấp; kinh phí thực hiện; hiệu lực và tráchnhiệm thi hành
Theo đó, kể từ ngày 01/7/2018, mức chuẩn để xác định các mức trợcấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định là1.515.000 đồng
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 27/8/2018 và thay thế Nghịđịnh số 70/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ quy định mức trợ cấp,phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng
Trang 13e Chế độ điều dưỡng
BP - Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa banhành Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thựchiện chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụchỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân; quản lý cáccông trình ghi công liệt sĩ
Người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945; người hoạt độngcách mạng từ ngày 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; cha
đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ có haicon là liệt sĩ trở lên; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, người hưởngchính sách như thương binh và thương binh loại B (sau đây gọi chung làthương binh), bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật,bệnh tật từ 81% trở lên; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóahọc có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do ảnh hưởng của chất độc hóa học
từ 81% trở lên; người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng kỷniệm chương Tổ quốc ghi công hoặc bằng Có công với nước Được điềudưỡng phục hồi sức khỏe mỗi năm một lần
Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
vợ hoặc chồng của liệt sĩ; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệtnặng; anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động trong thời kỳkháng chiến; thương binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dothương tật, bệnh tật dưới 81%; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chấtđộc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do ảnh hưởng của chất độchóa học dưới 81%; người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến
bị địch bắt tù, đày; người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến đanghưởng trợ cấp hàng tháng Được điều dưỡng phục hồi sức khỏe mỗi năm hailần
Theo thông tư, các đối tượng trên nếu điều dưỡng tại nhà sẽ đượchưởng chế độ 1.110.000 đồng/người/lần và được chi trực tiếp Nếu điều
Trang 14dưỡng tập trung thì mức chi là 2.220.000 đồng/người/lần, gồm: Tiền ăn sáng
và 2 bữa chính; thuốc bổ và thuốc chữa bệnh thông thường; quà tặng đốitượng và các khoản chi khác không quá 320.000 đồng như khăn mặt, xàphòng, bàn chải, kem đánh răng, tham quan, chụp ảnh, báo, tạp chí và một sốvật phẩm khác Kinh phí thực hiện điều dưỡng tập trung được giao cho SởLao động - Thương binh và Xã hội để thực hiện rút dự toán thanh toán cho cơ
sở điều dưỡng theo số lượng đối tượng được điều dưỡng thực tế từng đợt
Thời gian một đợt điều dưỡng từ 5 đến 10 ngày, không kể thời gian đi
và về Thời gian điều dưỡng cụ thể do Giám đốc Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội quyết định bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.Trong đợt điều dưỡng tập trung, vì lý do khách quan, đối tượng ở dưới 30%thời gian một đợt điều dưỡng thì Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xãhội xem xét, quyết định đi điều dưỡng vào đợt kế tiếp; trường hợp ở từ 30%thời gian trở lên trong một đợt điều dưỡng thì không được thanh toán số tiềnđiều dưỡng còn lại; số kinh phí còn lại, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
sẽ thu hồi nộp ngân sách nhà nước
Trang 15Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
CHO NGƯỜI CÓ CÔNG
2.1 Thực trạng
Nếu tính mốc từ năm 1947, năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnhlương hưu thương tật đối với thương binh và chế độ tuất đối với liệt sĩ, là nămkhởi điểm của chính sách ưu đãi người có công bắt đầu với 2 chính sách chothương binh và liệt sĩ với 3 đối tượng được thụ hưởng thì đến nay chính sách
ưu đãi người có công đã mở rộng tới 10 nhóm chính sách ưu đãi với 13 diệnđối tượng được hưởng Tính chất ưu đãi cũng thay đổi theo điều kiện kinh tếcủa đất nước, từ định tính sang định lượng, từ những phong trào mang tínhvận động sang thể chế hóa một cách cụ thể
Nếu ở thời kỳ chống Pháp, chế độ đối với thương binh và gia đình tử sĩchỉ mang tính trợ cấp khó khăn, đến giai đoạn 1954 - 1964, chế độ đối vớithuơng binh được bổ sung thêm, ngoài chế độ trợ cấp, tùy theo điều kiệnthương binh về gia đình hay ở trại nuôi dưỡng còn được bổ sung thêm chế độphụ cấp sản xuất, miễn giảm thuế nhà nước, được hưởng chế độ tuyển dụng,
ưu tiên đi học
Năm 1964, Chính phủ ban hành Điều lệ ưu đãi đối với quân nhân khi bị
ốm đau, bị thương, bị mất sức lao động, về hưu hoặc chết Quân nhân dự bị,dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc bị chết khi làm nhiện vụ quân sự đềuđược hưởng chế độ Từ năm 1966, chế độ ưu đãi đã mở rộng đối với lựclượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước và dân công hỏa tuyếnphục vụ các chiến trường, lực lượng vận tải bốc xếp, sơ tán hàng hóa, cán bộchủ chốt xã, cán bộ y tế cấp cứu hàng không Những đối tượng trên khi làmnhiệm vụ bị thương hoặc hy sinh được xác nhận là người được hưởng chínhsách như thương binh và liệt sĩ