BHTN xét về mặt xã hội là biện pháp có tính thụ động,nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhân người lao động khi bị thất nghiệp,giúp được họ có một khoản thu nhập bù đắp lại mứ
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài………3
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 7
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu: 4.1 Đối tượng nghiên cứu: 8
5 Phương pháp nghiên cứu: 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn: 9
7 Kết cấu đề tài nghiên cứu: 9
B NỘI DUNG 11
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 11
1 Thao tác hóa khái niệm: 11
2 Cơ sở lý luận: 14
3 Cở sở thực tiễn: 15
Chương II: CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 16
1 Các văn bảo quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp: 16
2 Thực trạng triển khai Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam: 20
3 Đánh giá tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp 27
Chương III: BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 31
1 Bảo Hiểm thất nghiệp tại Đức: 31
2 Bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ: 33
3 Bảo hiểm thất nghiệp ở ChiLe: 35
4 Bảo hiểm thất nghiệp tại Trung Quốc: 37
5 Bảo hiểm thất nghiệp tại Hàn Quốc: 38
Chương IV: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI TỪ THỰC TIỄN KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 40
1 Nhận xét chung: 40
2 Một số gợi định hướng thay đổi cho Việt Nam: 41
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Từ xưa tới nay, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất
và lớn nhất của con người nhằm đáp ứng quá trình phát triển xã hội Nhà lý luận chínhtrị hay còn là một triết gia, một nhà khoa học người Đức thế kỷ 19, Ph.Ăng Ghen đãkhẳng định “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn đời sống con người, đếnmột mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: lao động đã tạo ra chínhbản thân con người” Nhu cầu “lao động” tưởng chừng đơn giản, song trong điều kiệnkinh tế thị trường không phải ai cũng được đáp ứng và đáp ứng một cách đầy đủ Muốnđược lao động, người lao động phải làm việc để từ đó tạo ra của cải vật chất và tạo rathu nhập nuôi sống mình và gia đình Nhưng để có được việc làm phù hợp với nănglực, trình độ và ngành nghề đào tạo của mình thì không phải người lao động nào cũng
dễ tìm kiếm Bởi vì, nguồn lao động xã hội thường tăng nhanh hơn cơ hội việc làm, do
đó luôn có một bộ phận người lao động thiếu hoặc không có việc làm Những ngườikhông có việc làm thực chất họ đang bị thất nghiệp
Thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, vấn đề này không loại trừ một quốcgia nào cho dù quốc gia đó là nước đang phát triển hay nước công nghiệp phát triển.Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm, nó không chỉ ảnh hưởng đến chính thu nhập và đờisống của người lao động mà nghiêm trọng hơn là còn ảnh hưởng đến hầu hết các mặtkinh tế- chính trị- xã hội của mỗi quốc gia Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hộikhông ổn định; hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyềnsống… tăng lên: hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lêm như trộm cắp, cờbạc, nghiện hút, mại dâm…; Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyềncũng bị suy giảm… Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đên biếnđộng về chính trị
Quan trọng hơn, ở các nước có nền kinh tế thị trường như nước ta, thu nhập chủyếu của người lao động thường gắn với việc làm Khi không còn việc làm, thu nhậpđương nhiên cũng không còn Khi đó người lao động và gia đình họ có nguy cơ rơi vàocảnh túng quẫn, bị bần cùng hoá Để khắc phục tình cảnh này, bản thân người lao độngphải tích cực tìm chỗ làm việc mới Đây là biện pháp khá năng động, có tính cá nhân.Tuy nhiên, không phải ai và lúc nào cũng có thể tìm được việc làm ngay, vì thất nghiệpthường song hành với thời kỳ nền kinh tế bị suy thoái, doanh nghiệp đang gặp nhiềukhó khăn trong sản xuất kinh doanh, nên khó tạo ra chỗ làm việc mới cho người laođộng Một biện pháp khác có tính xã hội cao, là nhà nước tổ chức bảo hiểm thất nghiệp
Trang 3(BHTN) cho người lao động BHTN xét về mặt xã hội là biện pháp có tính thụ động,nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhân người lao động khi bị thất nghiệp,giúp được họ có một khoản thu nhập bù đắp lại mức thu nhập đã bị mất do bị mất việclàm; tạo điều kiện cho họ sớm quay trở lại thị trường lao động, tránh không bị rơi vàotình cảnh túng quẫn.
Hiện nay, Đảng và nhà nước ta cũng xây dựng chính sách về Bảo hiểm thấtnghiệp ( BHTN), và chính thức có hiệu lực vào 01/01/2009, và cũng được bổ sung,chỉnh sửa qua từng năm thực hiện với những thành công nhất định, tác động tích cựctới các lĩnh vực trong đời sống xã hội Tuy nhiên, chính sách đó vẫn còn đang gặpnhiều bất cập và khó khăn trong quá trình thực hiện Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu : “Bảo hiểm thất nghiệp, những kinh nghiệm và tham chiếu cho Việt Nam từ thực tế một
số nước phát triển trên thế giới” được nghiên cứu với mong muốn góp phần giải quyếtnhững yêu cầu trong thực tế, tiếp thu kinh nghiệm từ các nước đi trước để góp phầnhoàn thiện hơn việc xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Các công trình nghiên cứu ngoài nước về BHTN thường tiếp cận theo các hướngphân tích, giải quyết sâu những mặt BHTN chịu ảnh hưởng hay tác động tới như: phảnánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp trong những giaiđoạn nhất định, ở các nước, khu vực cụ thể, chứ chưa có nhiều nghiên cứu về tổngquan các mô hình BHTN của các nước tiên tiến trên thế giới, cách xây dựng cũng nhưnhững đăc trưng, tác động của nó tới cuộc sống Và hầu hết những nghiên cứu trên liênquan tới vấn đề kinh tế- xã hội đặc thù của từng quốc gia nên những nghiên cứu đó chỉ
có thể tham khảo trong quá trình xây dựng chính sách BHTN tại Việt Nam
Đề cập đến thất nghiệp- vấn đề báo động trên toàn cầu, Tổ chức Lao động Quốc
tế (ILO) ngay sau khi thành lập đã phê chuẩn công ước thất nghiệp và những vấn đề cóliên quan đến thất nghiệp, nguyên nhân, những tác động của nó đến đời sống xã hội
Trang 4con người,… Có hai loại chính sách mà nhiều nước đã hoạch định và tổ chức thực hiện
đó là: chính sách BHTN và chính sách Bảo hiểm xã hội ( trong đó có chế độ trợ cấpthất nghiệp) Để hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách này là hoàn toàn phụthuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội từng nước Tuy nhiên có một số nhàkhoa học đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến BHTN vàtrợ cấp thất nghiệp, điển hình như: tại Cộng hòa Liên bang Đức có Schimd; tại Liênbang Mỹ có Wernev và Wayne Nafziger; ở Anh có David và Pearce; ở Nga có V.Paplốp;…
Trong cuốn sách “Các Chương trình bảo đảm xã hội các nước trên thế giới” do
Cơ quan Quản lý Bảo đảm xã hội Mỹ xuất bản đã đề cập các vấn đề về:
- Khoản Trợ cấp thất nghiệp như là một hình thức “đền bù sự mất mát thu nhập do kếtquả của tình trạng thất nghiệp bắt buộc” tạo ra Các chương trình trợ cấp thất nghiệpthường được áp dụng ở các nước công nghiệp phát triển như đã nêu ở trên và đượcthực hiện dưới hình thức bắt buộc ở hầu hết các nước Có một vài nước áp dụngphương thức trợ cấp thất nghiệp thông qua hình thức trợ cấp khó khăn, thanh toán mộtlần do cơ quan đại diện của Chính phủ hoặc chủ sử dụng lao động chi trả và chủ sửdụng lao động thường chi một lần khoản tiền đền bù khi sa thải người lao động Nói dễhiểu hơn đây chính là sự trợ giúp cho người thất nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống của
họ trong thời gian mất việc làm từ nguồn quỹ được hình thành do sự đóng góp củangười lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước, của toàn xã hội
Về bản chất, trợ cấp thất nghiệp cũng như các chế độ trợ cấp khác cùng xuất phát từquan hệ lao động, cùng bù đắp rủi ro cho người lao động nhưng lại có những đặc điểmriêng khác biệt về đối tượng, mục đích và cách thức giải quyết Tuy nhiên, trợ cấp thấtnghiệp được phân tích trong cuốn sách này cũng còn nhiều hạn chế vì đối tượng trợcấp thất nghiệp chủ yếu là người lao động trong độ tuổi lao động, có sức lao độngnhưng bị mất việc làm và có nhu cầu đi làm việc
TS Lê Hồng Giang trong trong công trình nghiên cứu: “BHTN, lỡ cơ hội thayđổi” đăng trên “ Sài Gòn tiếp thị” vào ngày 01/12/2009 đã đề cập kết quả nghiên cứucủa Ngân hàng thế giới (WB) về mô hình hỗn hợp bảo hiểm nhà nước và tư nhân đượctổng kết rằng: “Ở các nước phát triển, bên cạnh hệ thống BHTN của nhà nước, khu vực
tư nhân cũng cung cấp nhiều hình thức BHTN khác giành cho các đối tượng có thunhập cao, tuy nhiên những người lao động có mức lương thấp ít quan tâm đến BHTN
do khu vực tư nhân triển khai” Đối với người nghèo có mức thu nhập thấp, BHTNđược xem là một dạng của An sinh xã hội (social safety net) Vì vậy, một số nước đãgộp chung loại hình bảo hiểm này vào Quỹ BHXH vào Quỹ An sinh xã hội Nghiên
Trang 5cứu của WB nói lên ciệc tối ưu hóa BHTN theo mô hình hỗn hợp giữa nhà nước và tưnhân, điển hình như Úc, là một gợi mở rất đáng để nghiên cứu, học hỏi.
Tóm lại, các nghiên cứu nước ngoài mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh củaBHTN và trợ cấp thất nghiệp với những con số, phân tích lỹ giải mà vẫn chưa khai thácBHTN – những điều kiện, phương tiện cần và đủ để xây dựng nó một cách tối ưu nhấttrong điều kiện một khu vực, quốc gai cụ thể
2.2 Tại Việt Nam:
Trong những năm gần đây, thất nghiệp là tình trạng đáng báo động Theo
“Thông cáo báo chí về tình hình Lao động và việc làm quý I năm 2018” của Tổng cụThống kê Việt nam: Số người thất nghiệp trong quý I năm 2018 là 1,1 triệu người Tỷ
lệ thất nghiệp chung của toàn quốc quý I năm 2018 ước là 2,01 Số thanh niên (người
từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm 2018 ước khoảng 547 nghìn người,chiếm 49,4% tổng số người thất nghiệp” Và BHTN cũng đã đưa vào các chính sáchcủa Việt Nam đến thời điểm năm 2018 hiện nay là gần 10 năm nhưng những nghiêncứu về chính sách BHTN còn hạn chế, chưa được quan tâm, chú ý nhiều Nói vềBHTN chủ yếu được đề cập trên các trang mạng ghiên cứu luật như “luatvietnam”,
“nhaluatminhkhue”,… thường đề cập đến những đề án đổi mới chính sách BHTN,những văn bản quy định BHTN qua các năm để người dân nắm bắt được rõ nhất Bêncạnh đó thì cũng có các bài báo nghiên cứu, nhắc tới BHTN trên các trang báo mạngnhư “Dân trí”, “ Lao động”, “ Vn Express’,… trên các tạp chí khoa học như: tác giảNguyễn Thị Thúy Vân, "Vấn đề lao động mất việc làm và chính sách bảo hiểm thấtnghiệp ở nước ta hiện nay", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 174, 2010; TS Lê Thị HoàiThu, "Vấn đề xây dựng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam", Tạp chí Nhànước và Pháp luật, số 11, 2002 nội dung nhằm lý giải những thắc mắc của bạn đọcnói riêng, người dân nói chung về chính sách BHTN
Ngoài ra trong cuốn “Tăng Lương Năm 2018 Và Các Chính Sách Về Bảo Hiểm
Xã Hội, Bảo Hiểm Thất Nghiệp, Bảo Hiểm Y Tế” của tác giả Quý Lâm xuất bản tháng1/2018 thuộc nhà xuất bản Lao động cũng đề cập đến BHTN tại Việt Nam Hay sách
“Hướng dẫn thi hành luật bảo hiểm xã hội – luật bảo hiểm y tế- bảo hiểm thất nghiệp”mới ra vào tháng 6/2018 của tác giả Vũ Thị Tươi
Những tác phẩm sách trên chỉ đề cập BHTN trên phương diện chính sách tức làgồm có những đối tượng hướng đến, cách thực hiện, quyền lợi,… với mục đích phổbiến nội dung BHTN đến người dân
Trang 6Công trình nghiên cứu của TS Trịnh Thị Hoa -Trung tâm Nghiên cứu khoa học,BHXH Việt Nam với tiêu đề “Những lý luận cơ bản về BHTN hiện đại” Công trìnhnày đã đề cập các vấn đề chính về: - Hiện tượng thất nghiệp Thất nghiệp là hiện tượngkhông mong muốn của người lao động và Chính phủ, nhưng lại thường xuyên xảy ratrong nền kinh tế thị trường Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, bảo đảm an toàncuộc sống cho họ Chính phủ cần triển khai chương trình Trợ cấp thất nghiệp và chỉthực hiện đối với những người bị thất nghiệp bắt buộc (không mong muốn) Một trongnhững giải pháp tích cực đối với chống thất nghiệp là đầu tư tạo ra chỗ làm việc mới.Nghiên cứu cũng đưa ra các số liệu thống kê về các nước thực hiện BHTN Cụ thể,theo thống kê chính thức của ILO, đến năm 1999 đã có 172 nước thiết lập hệ thốngASXH, trong đó 69 nước thiết lập được chế độ BHTN và 1/2 trong số này đã thực hiệnBHTN bắt buộc như một nhánh của hệ thống BHXH BHTN không đơn giản, thậm chímột số nước đã hình thành rồi lại phải huỷ bỏ vì không bảo đảm thực hiện như quyđịnh (ví dụ như Ấn Độ, Thái Lan) Từ đó gợi ý cho Việt Nam, tác giả đã cho rằng,trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc thiết lập chế độ BHTN là cần thiết, đáp ứngyêu cầu bảo vệ người lao động, nhưng cần có những bước đi thận trọng, tiếp thu kinhnghiệm của các nước.
Công trình nghiên cứu về “Lý luận về BHTN” của PGS.TS Mạc Văn Tiến đã đềcập những vấn đề về sau:
Thứ nhất, bản chất của thất nghiệp.Theo ông, thất nghiệp được coi là hiện tượngtất yếu của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức
xã hội nên vấn đề thất nghiệp, đặc biệt là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp được cácnhà kinh tế lý giải rất khác nhau
Thứ 2, các loại hình thất nghiệp Tác giả tiếp cận cách phân loại thất nghiệp củaNhà kinh tế học Samuelson dựa trên lý luận về cung - cầu lao động để phân loại thấtnghiệp bao gồm: Thất nghiệp tự nguyện: Là những NLĐ có nhu cầu làm việc nhưng lạikhông muốn làm việc với mức lương thịnh hành trên thị trường lúc đó; Thất nghiệpkhông tự nguyện là những người không có việc làm, muốn làm việc với mức lươngđang thịnh hành nhưng không thể tìm được việc làm do cầu về lao động thấp; Thấtnghiệp tạm thời là dạng thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của conngười giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống; Thấtnghiệp có tính cơ cấu là dạng thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầulao động Trong một nền kinh tế biến động, cầu về một loại lao động nào đó tăng lên,trong khi mức cầu về một loại lao động khác lại giảm đi, nhưng mức cung lao động lại
Trang 7không được điều chỉnh đồng thời nên xảy ra tình trạng thất nghiệp cơ cấu; Thất nghiệpchu kỳ là dạng thất nghiệp xảy ra khi mức cầu chung về lao động thấp, khi tổng mứcchi và sản lượng giảm, thất nghiệp sẽ tăng lên ở khắp mọi nơi trong toàn bộ nền kinh
tế Thất nghiệp chu kỳ phản ánh sự rệu rã, suy thoái kinh tế Ngoài ra ông còn phântích các giải pháp về vấn đề này theo tầm nhìn khá sâu rộng
Nhìn chung các nghiên cứu về BHTN tại nước ta chủ yếu chỉ bao hàm đầy đủnội dung chính sách, phân tích thêm thực trạng thất nghiệp tại nước ta, những côngtrình nghiên cứu chuyên sâu như hai công trình trên còn ít, chưa được phổ biến rộngrãi, và đa phần còn mang tính hàn lâm, khoa học, ít mở rộng sâu, tham chiếu các môhình chính sách với nhau để chỉ ra được ưu điểm, nhược điểm của chính sách tạo nềntảng xây dựng chính sách tối ưu hóa, linh hoạt hóa hơn trong thực tiễn đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý thyết cho việc nghiên cứu chính sách BHXH tại Việt Nam hiệnnay
- Tìm hiểu về chính sách BHTN tại một số nước phát triển trên thế giới như: Mỹ, Đức,
- Tham chiếu chính sách BHTN tại Việt Nam với những nước đã tìm hiểu, từ đó rút rakinh nghiệm, những ưu điểm chính sách của nước ta cần phát huy và những nhượcđiểm cần khắc phục từ kinh nghiệm của các nước đi trước Qua đó nêu ra một số biệnpháp nhằm hoàn thiện hơn chính sách BHTN của Việt Nam
3.3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Những điều cần biết về chính sách BHTN tại Việt Nam?
- Chính sách BHTN của các nước trên thế giới được thực hiện ra sao?
- Chính sách BHTN tại Việt Nam cần có những thay đổi gì để đạt hiệu quả hơn nữa?
Trang 84 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chính sách BHTN tại Việt Nam và ở một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: trong nước, trong khu vực và trên thế giới
- Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2018 đến tháng 12/2018
+ Nghiên cứu tập trung tìm hiểu nội dung chính sách BHTN tại Việt Nam theo những
số liệu mới nhất tính đến thời điểm tháng 11/2018.+ Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách BHTN tại nước ta + Tìm hiểu thêm về chính sách BHTN tại Đức, Mỹ, Chile, Trung Quốc, Hàn Quốc Từ
đó nêu những định hướng nhằm hoàn thiện hơn về chính sách tại nước ta
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận: Quan điểm của Đảng, nhà nước ta về thực hiện chính sách BHTN đối
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp chuyên ngành của Chính trị học như phântích cấu trúc, chức năng, phân tích chính sách,… và một số phương pháp liên ngànhkhác như: tổng hợp, so sánh, thống kê,đối chiếu, diễn giải, quy nạp,…
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phân tích tài liệu, như phân tích:
+ Nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ : “Quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp” và một số
+ Một số luận văn, luận án về “ chính sách bảo hiểm thất nghiệp”.+ Một số bài viết trên tạp chí của ngành, báo điện tử, báo có liên quan
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
6.1 Ý nghĩa lý luận:
- Trên phương diện khoa học, đứng từ góc độ xã hội, việc tìm hiểu chế độ bảo hiểm
thất nghiệp của Việt Nam cũng như các nước trên thế giới giúp chúng ta hiểu các khíacạnh của đời sống xã hội, thấy được vai trò và ảnh hưởng của bảo hiểm thất nghiệp đốivới các đối tượng thụ hưởng và hệ thống an sinh xã hội Nắm bắt được nội dung, cácđặc trưng của chính sách, tình hình thực hiện chính sách hiện thời của nước ta Đồngthời, hiểu được mối liên hệ giữa thất nghiệp và việc làm, sự chi phối của thất nghiệp vàviệc làm đối với bảo hiểm thất nghiệp, sự tác động trở lại của bảo hiểm thất nghiệp đốivới cuộc sống người lao động, cũng như sự ảnh hưởng của nó trong việc duy trì bình
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Đối với phát triển và ổn định xã hội:Nghiên cứu bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam, các nước trên thế giới và đưa ranhững tham chiếu, gợi mở chính sách đối với phát triển BHTN ở Việt Nam nhằm gópphần hạn chế và đẩy lùi những vấn đề xã hội và mâu thuẫn xã hội do thất nghiệp gây
ra, tạo môi trường xã hội ổn định và phát triển…
- Đối với việc xây dựng đường lối chính sách và pháp luật:
Đề tài mong muốn có thể cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chínhsách phát triển BHTN ở Việt Nam, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao độngtrong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
- Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu:
Giúp cho các cơ quan và bộ ngành chức năng có các căn cứ về lý luận và thực tiễntrong việc đề ra phương hướng, chính sách, biện pháp nhằm xây dựng và hoàn thiệnchính sách BHTN, phát huy tối đa vai trò và chức năng của BHTN đối với đời sốngngười lao động nói riêng và đối với xã hội nói chung
- Kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng giảng dạy trong một số trường đại họcnhư: Hoc viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính sách và phát triển, Đại họcKhoa học xã hội và nhân văn, Đại học Lao động Xã hội,…
7 Kết cấu đề tài nghiên cứu:
- Gồm 4 chương:
+ Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Trang 10+ Chương II: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam.
+ Chương III: Bảo hiểm thất nghiệp tại một số nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
+ Chương IV: Định hướng phát triển chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Việt Namtrong tương lai từ thực tiễn kinh nghiệm các nước trên thế giới
Trang 11B N I DUNG ỘI DUNG
Ch ương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ng I: C S LÝ LU N VÀ C S TH C TI N Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Ở LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Ở LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ỰC TIỄN ỄN
1 Thao tác hóa khái ni m: ệm:
1.1 Chính sách:
- Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách
là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiệntrong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung vàphương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chínhtrị, kinh tế, văn hóa…”
- Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theođuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để g ngải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
1.2 Thất nghiệp:
- Theo nghĩa rộng, thất nghiệp là một trạng thái người lao động tách khỏi tư liệu sảnxuất, khi đó tính năng động chủ quan và tiềm năng của người lao động không đượcphát huy, gây ảnh hưởng xấu tới phát triển kinh tế xã hội Theo nghĩa hẹp, thất nghiệp
là chỉ hiện tượng xã hội mà những người lao động có năng lực làm việc, nằm trong độtuổi lao động theo quy định, có mong muốn được làm việc, bị mất việc hoặc chưa tìmđược việc làm có thù lao
- Khái niệm thất nghiệp đã được bàn đến trên thế giới trong suốt thế kỷ XX Ngay saukhi thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “Thất nghiệp là việc ngừng thu nhập dokhông có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khảnăng làm việc và sẵn sàng làm việc” Ba mươi năm sau, ILO lại đưa ra khái niệm về
“người thất nghiệp” và khái niệm này đã được đón nhận rộng rãi ở cộng đồng quốc tế:
“Người thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tuổi làm việc theo quy định trongthời gian điều tra, có khả năng làm việc, nhưng không có việc làm và vẫn đang đi tìm
Từ 2 định nghĩa trên về khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp của ILO, chúng tathấy rõ bốn tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp” đó là:
Người trong độ tuổi lao động
Người có khả năng lao động
Đang không có việc làm
Trang 12 Người đó vẫn đang tích cực đi tìm việc làm.
Đây là các tiêu chí chung, mang tính khái quát cao, đã được nhiều chính phủ tán thànhủng hộ và lấy làm cơ sở để vận dụng xem xét khái niệm “người thất nghiệp” và tính tỷ
lệ thất nghiệp tại quốc gia mình
Có rất nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp.Trong luật BHTN của cộng hòaliên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệlao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”
Tại Pháp người ta cho rằng,thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc,đang đi tìm việc làm
Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không có việc làm,muốn làm việc, có năng lực làm việc”
Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi laođộng (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm,đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”
Do các điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) khác nhau, nên quan niệm về người thấtnghiệp có thể còn khác nhau và thực tế vấn đề thất nghiệp cũng được các chính phủxem xét theo những cách khác nhau Tuy nhiên, quan điểm mang tính khái quát caocủa ILO đã góp phần đưa ra một cái nhìn toàn diện về vấn nạn thất nghiệp như mộttrong những vấn đề của quyền con người trước nhu cầu vươn tới một cuộc sống no đủ,
có ích, được đảm bảo an ninh thu nhập và không ngừng nâng cao năng lực phát triểncủa mọi thành viên xã hội, dù họ sống ở quốc gia nào
- Ở Việt Nam, thuật ngữ “thất nghiệp” đã được đề cập trong những văn kiện quan trọngcủa Đảng và Nhà nước trong suốt mấy kỳ đại hội gần đây, thể hiện như một cảnh báo
xã hội trong các Chiến lược phát triển KT XH các giai đoạn 2001 2010 và 2010
-2020 Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” ở Việt Nam đã được luật hóa và trởthành một thuật ngữ pháp lý tại Khoản 4, Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) là:
“người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồnglao động, nhưng chưa tìm được việc làm” Như vậy, Luật BHXH chỉ tính người thấtnghiệp trong phạm vi những lao động đóng BHXH bắt buộc, thì ở Việt Nam các chỉbáo về “người thất nghiệp” sẽ chỉ thể hiện được một phần lực lượng lao động hiệnkhông có việc làm Vì vậy, ở Việt Nam 2 khái niệm “người không có việc làm” và
“người thất nghiệp” luôn song song tồn tại nhưng không hoàn toàn trùng khớp vớinhau
Như vậy ở nghiên cứu này, chúng ta sử dụng khái niệm thất nghiệp khi nghiên cứu vềchính sách BHTN theo quan điểm Chính phủ nước ta “Thất nghiệp là những người
Trang 13trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việclàm, với điều kiện người này có tham gia BHTN”
1.3 Bảo hiểm thất nghiệp:
- Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp,nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việclàm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới
- Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việcđóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mấtviệc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc
1.4 Chính sách BHTN:
- Chính sách BHTN là sự tác động của nhà nước tới các đối tượng tham gia BHTN thông qua các biện pháp, công cụ chính sách nhằm mục tiêu an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế
- Cần phải hiểu rõ 3 vấn đề của chính sách BHTN:Thứ nhất, chính sách BHTN là một chính sách công
Thứ hai, đối tượng của chính sách là những người lao động tham gia đóng BHTN vàchủ sử dụng lao động Chỉ những người lao động tham gia đóng BHTN bị thất nghiệpmới được hưởng lợi từ chính sách Chủ sử dụng lao động được coi là đối tượng củachính sách BHTN khi họ phải tuân thủ những quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đónggóp tài chính hỗ trợ cho người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp
Thứ ba, các biện pháp, công cụ chính sách được Nhà nước sử dụng bao gồm các quyđịnh về quyền lợi và nghĩa vụ trác nhiệm của những người tham gia BHTN, chủ sửdụng lao động, quy định về nguồn tài chính, chế độ BHTN,…
Chính sách BHTN không chỉ bao hàm chế độ BHTN ( những quy định về mức đốitượng, điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗtrợ tư vấn tìm việc làm, đào tạo nghề và bảo hiểm y tế) mà còn có cả các quy định vềđối tượng tham gia nguồn hình thành quỹ và các tổ chức chịu trách nhiệm triển khaithực hiện chính sách BHTN
Trang 14Đối với người lao động, BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làmthông qua việc trả TCTN vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường laođộng Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việclàm.
– Đối với người sử dụng lao động, gánh nặng tài chính của họ sẽ được san sẻ khinhững người lao động tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra mộtkhoản chi lớn để giải quyết chế độ cho người lao động Đặc biệt, trong những thời kỳkhó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất, nhiều người lao động thất nghiệp
– Đối với nhà nước, ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp giatăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo sự chủ động về tài chính cho nhà nước
1.4.3 Đặc điểm của BHTN
2 C s lý lu n: ơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ở lý luận: ận:
2.1 Lý thuyết phương Tây
- BHTN khởi nguồn từ phương Tây nên những lý thuyết về bảo hiểm thất nghiệp cũngbắt nguồn từ các dòng tư tưởng phương Tây
Lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp từ góc độ kinh tế học, bao gồm lý thuyếtkinh tế học phúc lợi, lý thuyết về “quản lý nhu cầu”, lý thuyết kinh tế ansinh xã hội, lý thuyết “con đường thứ ba”
Lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp từ góc độ xã hội học bao gồm lý luận chủ nghĩa lịch sử mới hay còn gọi là học phái lịch sử mới của Đức, học thuyết
của Các- Mác, học thuyết quyền lợi công dân
Tóm lại, từ quá trình phát triển về lý thuyết kinh tế và thực tiễn chế độ của bảo hiểm
thất nghiệp ở phương Tây lúc bấy giờ có thể thấy, quan niệm về chế độ bảo hiểm thấtnghiệp được hình thành trên cơ sở của công bằng xã hội, bảo đảm nhân quyền, bảođảm kinh tế và thúc đẩy việc làm Sự phát triển của các lý thuyết này mang đặc điểm:
Một là, các lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp đa phần đề cập tới hai nội dung triết học cơ bản là công bằng xã hội và phát triển kinh tế Hai là, các lý thuyết từng bước được mở rộng và hệ thống hoá Ba là, lý thuyết bảo hiểm thất nghiệp của phương Tây đã gợi mở
xây dựng mô hình bảo hiểm thất nghiệp
2.2 Lý thuyết tại Việt Nam
- Trải qua hàng loạt các cuộc chiến tranh, Việt Nam giành lại được độc lập, chủ quyền,
tự do dân tộc và bắt đầu bước vào thời kỳ lao động, sản xuất khôi phục nền kinh tế,nâng cao chất lượng đời sống nhân dân Trong quá trình này Đảng và nhà nước ta đãnhận thức được những vấn đề, hệ lụy mà thất nghiệp mang lại, nên việc xây dựngchính sách BHTN ở Việt Nam là một điều hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 15- Từ trước đến nay, theo quan niệm của Bác Hồ, của Đảng cộng sản Việt Nam, củanhân dân Việt Nam mục tiêu, đích đến của xây dựng, phát triển đất nước ta nhằm tạođược xã hội “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Yếu tố “ dân chủ,công bằng” trong mục tiêu xây dựng đất nước được coi là tư tưởng, đặc trưng quantrọng để xây dựng cũng như phát triển chính sách BHTN
3 Cở sở thực tiễn
Lịch sử xã hội loài người là tiến trình phấn đấu liên tục cho một cuộc sống đầy
đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần Trong lịch sử thế giới,nhiều triều đại đã đặt mụctiêu trở thành nước mạnh để xưng bá, xưng hùng với xung quanh,do đó đã thực hiệncác cuộc chiến tranh đẫm máu và phi nghĩa Ngược lại, để trở thành một nước mạnh,nhiều nhà cầm quyền đã quan tâm đến đời sống của người dân, quan tâm đến việc làmcho dân ngày một giàu có hơn vì người ta hiểu rằng “đẩy thuyền là dân mà lật thuyềncũng là dân” Nhìn chung, khát vọng giàu hơn, mạnh hơn, công bằng hơn, dân chủ hơn,văn minh hơn là khát vọng của nhân loại.Cũng vì nó, ở mọi nơi, người ta đã đấu tranh,phấn đấu liên tục từ thế hệ này đến thế hệ khác
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử phấn đấu không mệt mỏi cho
Trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước ta luôn đề ra những đường lối,chính sách nhằm đổi mới bộ mặt đất nước, phát triển đồng bộ kinh tế, văn hóa xã hội,
cố gắng cải thiện cuộc sống của người dân ngày càng cao hơn Một trong số những vấn
đề nan giải hiện nay chính là thất nghiệp Theo thống kê của Bộ lao động thương binh
và xã hội: tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động ước tính ở quý 3/2018
là 2,2%, cao hơn quý 2/2018 là 0,3 % Trong khi đó, lực lượng lao động đạt 55,2 triệungười, tăng 581.500 người so với cùng kỳ năm trước
Cuộc sống của người lao động sẽ ra sao khi thất nghiệp? Làm sao để họ có thể tiếp tụcsống và trau dồi kỹ năng để tìm kiếm việc làm trong tương lai với thực tế không việclàm, không tiền lương Từ thực tế đó, chính sách BHTN đã ra đời để hạ thấp tỉ lệ thấtnghiệp và giúp đỡ người mất việc làm ổn định cuộc sống, giảm ảnh hưởng tiêu cực củathất nghiệp đến đời sống kinh tế xã hội, Việt Nam đã lựa chọn cách thức xây dựngchính sách bảo hiểm thất nghiệp Chính sách dựa trên nguyên tắc hoạt động vì quyềnlợi xã hội của công dân, kết hợp hữu cơ giữa bảo đảm đời sống cơ bản và thúc đẩy tạoviệc làm cho người thất nghiệp, kết hợp giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội,phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của người lao động trong việc sáng nghiệp, thểhiện trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động và vai trò hỗ trợ của nhànước
Trang 16Chương II: CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
1 Các văn bảo quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp:
- Ngoài ra, còn một số văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến bảo hiểm thấtnghiệp như: Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8 /2013 của Chính phủ quy định xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số 88/2015/NĐ-CP củaChính phủ ngày 7/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-
CP ngày 22/8/ 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàitheo hợp đồng; Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27/11/2015 của Thủ tướng Chínhphủ về cơ chế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thấtnghiệp và chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Thông
tư số 20/2016/TT-BTC ngày 03/02/2016 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện cơchế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và chiphí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Thông tư số139/2015/TT-BQP ngày 16/12/2015 của Bộ Quốc phòngvề hướng dẫn thực hiện một
số điều của Nghị định số28/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/3/2015 quy định chitiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp trong Bộ Quốcphòng;
1.1 Đối tượng tham gia BHTN ( dựa theo khoản 3, điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội)
Trang 17- Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng laođộng hoặc hợp đồng làm việc như sau:
Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn
Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn
Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn
từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng
- Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng laođộng quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợpđồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp
- Trường hợp người đang giúp việc gia đình, hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức laođộng hằng tháng có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụnglao động quy định tại Điều 3 Nghị định này theo các loại hợp đồng quy định tại khoản
1 điều này không thuộc đối tượng tham gia BHTN.
1.2 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội:
- Là người sử dụng lao động có sử dụng từ mười 10 người lao động trở lên tại các cơquan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp: đơn vị Nhà nước; tổ chức chính trị xã hội; doanhnghiệp thành lập theo luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư; các hợp tác xã thành lập theoluật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể; các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trểnlãnh thổ Việt nam có sử dụng lao động là người Việt Nam
1.3 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp:
Được quy định tại điều 15 chương III, căn cứ theo Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội, điềukiện được hưởng BHTN: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lêntrong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng laođộng; Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng laođộng hoặc hợp đồng làm việc; Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngàyđăng ký với cơ quan lao động
1.4.Điều kiện hưởng, mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp:
*Điều kiện hưởng:
- So với các chế độ bảo hiểm khác, thì điều kiện để được hưởng BHTN sẽ chặt chẽ,phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Phải tham gia đóng BHTN trong một thời gian tối thiểu là 24 tháng
Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động
Phải đăng kí thất nghiệp tại cơ quan lao động
Phải sẵn sàng làm việc
Người thất nghiệp sẽ mất quyền hưởng BHTN trong các trường hợp sau:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Trang 18 Bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động.
Từ chối không đi làm ( có thể là 3 lần) do cơ quan lao động giới thiệu việc làm.Những công việc này có thể phù hợp với trình độ chuyên môn nghề nghiệp đượcđào tạo, phù hợp với sức khỏe Trong thời gian đầu thất nghiệp những công việc
có mức tiền công bằng 80% tiền lương tiền công dùng làm cơ sở để trả tiền thấtnghiệp
*Mức hưởng
- Kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, phải sau một thời gian nhất định người thấtnghiệp không thể tìm được việc làm mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp Quy địnhnày nhằm tiết kiệm tài chính đối với những trường hợp thất nghiệp ngắn ngày và táidiễn gần nhau và đây cũng là thời gian để người lao động đang đi tìm việc làm và hyvọng cơ quan môi giới có thể tìm được việc cho người đăng ký Thời gian thích hợp ởnước ta là 30 ngày, vì với thời gian người thất nghiệp có thể tìm được một công việc cụthể
- Mức hưởng phải phụ thuộc và mức đóng và thời gian hưởng, đồng thời đóng và thờigian hưởng BHTN cũng phụ thuộc vào mức hưởng
- Để xác định được mức hưởng tương đối hợp lý phải:
Căn cứ vào sự tương quan giữa các loại bảo hiểm trong nước
Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội, khả năng đóng góp của người lao động,người sử dụng lao động
- Quy định tại điều 16 chương III:
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền côngtháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặcchấm dứt hợp đồng lao động
*Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc cóđóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thời gian được hưởng trợ cấpthất nghiệp hằng tháng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Bảohiểm xã hội : 03 tháng, nếu có từ đủ 12 đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 06 tháng, nếu
có từ đủ 36 đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 09 tháng, nếu có từ đủ 72 đến dưới 144tháng đóng BHTN; 12 tháng, nếu có từ đủ một 144 tháng đóng BHTN trở lên
1.5 Hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm:
Theo Điều 17, Chương III, việc tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề cho người lao độngđang hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các cơ sở dạynghề Mức hỗ trợ học nghề bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định củapháp luật về dạy nghề Thời gian được hỗ trợ học nghề không quá 6 tháng tính từ ngàyngười lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng
Trang 19Điều 18, Chương III quy định, việc tổ chức thực hiện hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làmmiễn phí cho người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thựchiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giớithiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng
và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp theo quy địnhtại khoản 2 Điều 82 của Luật BHXH
1.6 Thời điểm hưởng và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp:
Điều 20,chương III quy định, Người lao động khi có đủ điều kiện hưởng BHTN thìđược hưởng các chế độ bảo BHTN tính từ ngày thứ 16 kể từ ngày đăng ký
Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp quy định trong Nghị định này để xét hưởng bảohiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp được cộngdồn từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động bị mất việclàm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấmdứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức mà chưahưởng trợ cấp thất nghiệp
1.7 Quy định tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp:
Theo điều 22, chương III, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng
sẽ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo hằng tháng với cơ quanlao động về việc tìm kiếm việc làm hoặc đang bị tạm giam
Việc tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng sẽ được thực hiện vào tháng tiếptheo khi người lao động vẫn trong khoảng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp và tiếptục thực hiện thông báo hằng tháng với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làmhoặc sau thời gian tạm giam, người lao động vẫn trong khoảng thời gian hưởng trợ cấpthất nghiệp
1.8.Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp:
Điều 23, Chương III, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấpthất nghiệp trong các trường hợp sau: hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; có việclàm; thực hiện nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu; sau hai lần từ chối nhận việc làm
do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng; không thông báo
về tình hình việc làm với tổ chức BHXH trong ba tháng liên tục; ra nước ngoài để địnhcư; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng
án treo; bị chết
1.9 Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp:
Theo điều 25, Chương IV, Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp do: Người laođộng đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN, người sử dụng lao động
Trang 20đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao độngtham gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền côngtháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN và mỗi năm chuyển mộtlần.
Ngoài ra quỹ BHTN còn từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn thuhợp pháp khác
1.10.Việc đăng ký và thông báo về tìm việc làm với cơ quan lao động:
Theo điều 34, chương IV, Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày bị mất việc làmhoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động phải đến cơquan lao động để đăng ký Trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng,người thất nghiệp phải đến thông báo với cơ quan lao động về việc tìm kiếm việc làm.Ngoài ra nghị định còn nêu rõ về: Các chế độ BHTN; Thủ tục thực hiện BHTN; Khiếunại tố cáo về BHTN; Các điều khoản thi hành
2 Thực trạng triển khai Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam:
2.1 Tình hình tham giai và thu bảo hiểm thất nghiệp:
- Năm 2009, khi chính sách mới có hiệu lực, cả nước chỉ có 5,9 triệu người tham giabảo hiểm thất nghiệp thì tới năm 2015 (khi Luật Việc làm có hiệu lực thi hành), con sốnày đã tăng lên 10,3 triệu người, tăng 173% so với năm 2009 Năm 2017, số ngườitham gia bảo hiểm thất nghiệp là 11,7 triệu người, với số thu là 13.517 tỷ đồng Do sốngười tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng nên số người được hưởng trợ cấp cũng có xuhướng tăng qua từng năm Thống kê, tính đến cuối năm 2017, cả nước có khoảng 3,6triệu người được hưởng trợ cấp thất nghiệp Trong đó, một số địa phương có số ngườihưởng trợ cấp thất nghiệp cao là TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội, Đồng Nai,Long An
- Qua 8 năm triển khai thực hiện, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được nhiều kết quảđáng khích lệ, được người lao động và người sử dụng lao động đón nhận một cách tíchcực và được dư luận xã hội đánh giá cao
- Số lượng người tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp năm sau đều cao hơn nămtrước và đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cụ thể như sau:
Biểu 1: Tình hình tham gia và thu bảo hiểm thất nghiệp
Đơn vị tính: người, tỷ đồng
Trang 21Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
7.968.231
8.269.552
8.691.392
9.219.753
10.310.210
11.061.562
11.700.000
(Nguồn: báo cáo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
- Kể từ ngày 01/01/2015 (khi Luật Việc làm có hiệu lực), do mở rộng đối tượng thamgia bảo hiểm thất nghiệp nên số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp năm 2015 đãtăng 11,8% so với năm 2014; năm 2016 tăng 7,3% so với năm 2015 và vẫn có xuhướng tăng nhưng tỷ lệ tăng không cao ở những năm tiếp theo
- Theo quy định tại Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn thì Ngân sách Nhà nước
hỗ trợ cho Qũy bảo hiểm thất nghiệp tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểmthất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi kết dưQũy bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn 2 lần tổng chi bảo hiểm thất nghiệp của năm trướcliền kề Hiện nay, do kết dư của Qũy bảo hiểm thất nghiệp lớn nên năm 2015, năm
2016 và một số năm tiếp theo, Qũy bảo hiểm thất nghiệp không có sự hỗ trợ từ Ngânsách Nhà nước mà tổng thu bảo hiểm thất nghiệp trong năm chỉ bao gồm phần đóngcủa người lao động và người sử dụng lao động theo quy định
2.2 Tiếp nhận và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp
Trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương được giao nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ hưởng các chế độ bảohiểm thất nghiệp, xem xét và thực hiện các thủ tục giải quyết các chế độ bảo hiểm thấtnghiệp đối với người lao động Tổng hợp tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp từnăm 2010 đến năm 2016 như sau:
Trang 22Đơn vị tính: người
T
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
1
Số người được tư vấn
giới thiệu việc làm
125.562
215.498
342.145
397.338
457.273
463.859
910.448
1.147.000
Số người được GTVL 17.240 70.656 106.60
0
125.736
115.199
Số người không thuộc
diện hưởng TCTN được
295.416
432.356
464.573
516.483
527.332
592.440
3.608.000
4 Số người có Quyết định
hưởng trợ cấp thất nghiệp
156.765
289.181
421.048
454.839
514.853
526.309
586.254
3.600.000
(Nguồn: tổng hợp số liệu tình hình thực hiện BHTN của các địa phương)
- Số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và số người có quyết định hưởng trợcấp thất nghiệp tăng kéo theo chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp có xu hướng tăngnăm sau đều cao hơn năm trước do số người tham gia bảo hiểm thất nghiệpngày càngtăng Đồng thời, tình hình kinh tế tuy đã ổn định nhưng còn nhiều khó khăn, tại cácdoanh nghiệp tình trạng thu hẹp quy mô sản xuất vẫn tiếp diễn kéo theo việc cắt giảmlao động nên số người thất nghiệp tăng theo
2.3 Tình hình tư vấn, giới thiệu việc làm:
- Số lượt người được tư vấn chiếm tỷ lệ khá cao so với số người có quyết định hưởngtrợ cấp thất nghiệp, tuy nhiên, tỷ lệ được giới thiệu việc làm vẫn còn thấp Việc tư vấn,giới thiệu việc làm tại các địa phương được chia thành 2 loại như sau: