1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths.CTH-Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh hiện nay

103 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Là Người Dân Tộc Khmer Ở Huyện Trà Cú Tỉnh Trà Vinh Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Thành phố Trà Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 340,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trà Cú là một huyện vùng sâu có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, nằm cách trung tâm tỉnh Trà Vinh 34 km về hướng Tây nam trên tuyến quốc lộ 53 và 54. Phía Đông tiếp giáp huyện Cầu Ngang, phía Nam giáp huyện Duyên Hải, phía Bắc giáp huyện Tiểu Cần và Châu Thành, phía Tây giáp sông Hậu. Đây là tuyến vận tải hàng hóa quốc tế qua cửa biển Định An. Toàn huyện có 15 xã và 02 thị trấn gồm: thị trấn Trà Cú, thị trấn Định An, xã Phước Hưng, Tập Sơn, Tân Sơn, An Quảng Hữu, Lưu Nghiệp Anh, Ngãi Xuyên, Thanh Sơn, Kim Sơn, Hàm Giang, Hàm Tân, Đại An, Định An, Ngọc Biên, Long Hiệp, Tân Hiệp; diện tích tự nhiên 31.752,8 ha; dân số 155.147 nhân khẩu (dân tộc Khmer chiếm 62,69%). Huyện có 66 chi đảng bộ cơ sở có 4.625 đảng viên chiếm 2,98% dân số. Trong đó có 1.220 đảng viên nữ, 2059 là đảng viên người dân tộc Khmer. Khi bước vào công cuộc đổi mới, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, quan tâm đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng và đạt được những thành tựu đáng kể cả về đời sống vật chất, tinh thần và trình độ dân trí của đồng bào Khmer được nâng lên. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh còn nhiều bất cập: số lượng cán bộ chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng; chất lượng cán bộ chưa đồng đều, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; mặt khác, lợi dụng chính sách dân tộc của Đảng, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” chống phá cách mạng Việt Nam, ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh các thế lực thù địch kích động đồng bào Khmer chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân, gây bạo loạn… Đồng thời sự thành bại của mọi sự nghiệp hay sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt quan trọng là cán bộ chủ chốt. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Và cũng chính đội ngũ cán bộ này đã góp phần quyết định thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thành công. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh trong tình hình hiện nay phải được bố trí sắp xếp và đào tạo có căn cơ về tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng trong điều kiện hiện nay. Với tất cả những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh hiện nay” làm Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trà Cú là một huyện vùng sâu có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống,nằm cách trung tâm tỉnh Trà Vinh 34 km về hướng Tây nam trên tuyến quốc lộ 53

và 54 Phía Đông tiếp giáp huyện Cầu Ngang, phía Nam giáp huyện Duyên Hải,phía Bắc giáp huyện Tiểu Cần và Châu Thành, phía Tây giáp sông Hậu Đây làtuyến vận tải hàng hóa quốc tế qua cửa biển Định An Toàn huyện có 15 xã và 02thị trấn gồm: thị trấn Trà Cú, thị trấn Định An, xã Phước Hưng, Tập Sơn, Tân Sơn,

An Quảng Hữu, Lưu Nghiệp Anh, Ngãi Xuyên, Thanh Sơn, Kim Sơn, Hàm Giang,Hàm Tân, Đại An, Định An, Ngọc Biên, Long Hiệp, Tân Hiệp; diện tích tự nhiên31.752,8 ha; dân số 155.147 nhân khẩu (dân tộc Khmer chiếm 62,69%) Huyện có

66 chi đảng bộ cơ sở có 4.625 đảng viên chiếm 2,98% dân số Trong đó có 1.220đảng viên nữ, 2059 là đảng viên người dân tộc Khmer Khi bước vào công cuộc đổimới, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, quan tâm đầu tư, xây dựng kết cấu

hạ tầng và đạt được những thành tựu đáng kể cả về đời sống vật chất, tinh thần vàtrình độ dân trí của đồng bào Khmer được nâng lên

Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong công cuộc đổi mới đất nướchiện nay, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệthống chính trị ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh còn nhiều bất cập: số lượng cán bộchưa đáp ứng nhu cầu sử dụng; chất lượng cán bộ chưa đồng đều, hiệu quả thựchiện nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; mặt khác, lợi dụng chính sáchdân tộc của Đảng, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoàbình”, “bạo loạn lật đổ” chống phá cách mạng Việt Nam, ở huyện Trà Cú tỉnh TràVinh các thế lực thù địch kích động đồng bào Khmer chia rẽ khối đại đoàn kết dântộc, đoàn kết toàn dân, gây bạo loạn… Đồng thời sự thành bại của mọi sự nghiệphay sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất nhiều vào độingũ cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt quan trọng là cán bộ chủ chốt

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Muôn việc thành công hay thấtbại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã

Trang 2

quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” Và cũng chính đội ngũcán bộ này đã góp phần quyết định thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám vàkháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thành công Do đó, yêu cầu đặt ra đối với độingũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện Trà

Cú, tỉnh Trà Vinh trong tình hình hiện nay phải được bố trí sắp xếp và đào tạo cócăn cơ về tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng trong điều kiện hiện nay

Với tất cả những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh hiện nay” làm

Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ chủchốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nói riêng đã có nhiều đềtài, công trình nghiên cứu Trong đó liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đáng chú ý làcác công trình đã được công bố dưới các dạng sau:

* Các sách, báo, tạp chí, đề tài khoa học:

- Cư Hoà Vần (2001),“Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và

đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới” [99]

- Nguyễn Minh Hiển (2001), “Đánh giá về sự phát triển của công tác giáo

dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay” [48]

- Trịnh Quang Cảnh (2005), “Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộcthiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay”[16]

- Ksor Phước “Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006” [79]

- Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm(2003), Luận cứ khoa học cho việcnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước [96]

- Nông Đức Mạnh (2001), “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX” [77]

- Hoàng Chí Bảo (Chủ biên 2007): Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tácgiữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay [11]

- Lê Chi Mai (2002) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - vấn đề

và giải pháp, Tạp chí Cộng sản, số 20, [76]

Trang 3

- Lê Thị Vân Hạnh (2004) Đào tạo, bồi dưỡng công chức để nâng cao nănglực thực thi, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 103 [45]

- Huỳnh Thị Gấm (Chủ biên), (2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốttrong hệ thống chính trị cấp huyện ở Đồng bằng sông Cửu Long, [44]

- Huỳnh Văn Long (2007) “Phương hướng và giải pháp đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, xã người Khmer ở hai tỉnh Trà Vinh và SócTrăng hiện nay” [67]

- Nguyễn Thái Hòa (2008), Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộngười Khmer ở xã, phường, thị trấn khu vực Tây Nam Bộ [47]

- Hoàng Văn Việt (2013), “Thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vàluận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách cán bộ dân tộc thiểu số ở Đồngbằng sông Cửu Long” [102]

* Các luận văn, luận án có liên quan đến đề tài:

- Hồ Bá Thâm (1994) “Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay”, [92]

- Nguyễn Mậu Dựng (1996) “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay” [18]

- Phạm Công Khâm (2002) “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” [64].

- Trần Thanh Nam (2002), “Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dântộc Khmer Nam Bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay” [75]

- Vy Văn Vũ (2000) “Vấn đề quy hoạch đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ,công chức quản lý kinh tế của tỉnh Đồng Nai”[104]

- Phạm Quốc Tế (2001) “Đổi mới tổ chức và hoạt động chính quyền xã hiện

Trang 4

- Nguyễn Sỹ Đệ (2005) “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng ở vùng có đông người Khmer trong giai đoạn hiện nay”, [19]

- Lâm Văn Rạng (2005) “Xây dựng đội ngũ đảng viên ở các xã có đông đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh giai đoạn hiện nay” [89].

- Lê Thị Thu Hiền (2006) “Phát huy vai trò giáo dục pháp luật cho đồng bàoKhmer của chính quyền cấp xã của tỉnh Trà Vinh hiện nay” [60]

- Trần Thị Chính (2006) “Phát triển đảng viên trong đồng bào Khmer của cácđảng bộ xã ở tỉnh Trà Vinh giai đoạn hiện nay” [13]

Qua khảo cứu cho thấy, các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góprất lớn về mặt khoa học xoay quanh vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt làngười dân tộc Khmer, mỗi công trình đều có sự khai thác ở những bình diện, cấp độkhác nhau Tuy nhiên, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộcKhmer nói chung và ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh nói riêng chưa có công trình nào

đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích: Đề xuất các giải pháp thiết thực để xây dựng đội ngũ cán bộ

chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ:

Thứ nhất, Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú

Thứ hai, Khái quát những yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ

cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh Khảo sát,đánh giá đúng thực trạng quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dântộc Khmer trên địa bàn Huyện

Thứ ba, Đề xuất phương hướng, giải pháp phù hợp để xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú từ nay đến năm 2025

Trang 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh.

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung nghiên cứu: Dưới góc độ Chính trị học, Luận văn tập trung

nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Trà Vinh vận dụng đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước để lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là ngườidân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú

- Về không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu ở địa bàn 01

huyện vùng sâu có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống nhất của tỉnh Trà Vinh(huyện Trà Cú)

- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng vấn đề

này trong khoảng thời gian từ năm 1992 (thời điểm tách Tỉnh) đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành vàliên ngành, như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử, lôgíc;phương pháp thống kê; phương pháp so sánh; phương pháp điều tra, khảo sát, tổngkết thực tiễn; phương pháp tham vấn chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

6.1 Về phương diện lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng

tỏ thêm về mặt lý luận vấn đề về lĩnh vực xây dựng nguồn nhân lực với đối tượng

cụ thể là cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyệnTrà Cú tỉnh Trà Vinh

6.2 Về phương diện thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể

dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triểnnguồn nhân lực đặc thù ở các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer khu vực TâyNam Bộ như: Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang…

7 Kết cấu của Luận văn

Trang 6

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của Luận văn được kết cấu trong 3 chương và 12 tiết.

Trang 7

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ” có nghĩa là:

+ Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước

+ Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụtrong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [100, tr.249]

Theo Điều 4 - Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm được hiểu nhưsau:

- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung

là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủyban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xãhội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danhchuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu “cán bộ” là khái niệm dùng để chỉnhững người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn thànhnhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công Như vậy, có nhiều quan niệm

về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cách hiểu cơ bản:

Trang 8

Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc

trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhànước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở

Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ

chức để phân biệt với người không có chức vụ Từ những khái niệm về cán bộ nêutrên cho thấy, người cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản:

+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong

hệ thống chính trị lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động

+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của hệthống chính trị

+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoànthành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử

+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung, chấtlượng hoạt động và thời gian công tác của họ Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất,cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học haycông chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ cácnguồn khác Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốtnghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa rađịnh nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu Theo Người: “Cán bộ làngười đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thihành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ đểđặt chính sách cho đúng” [71, tr.267]

1.1.1.2 Khái niệm “cán bộ chủ chốt”

Theo Từ điển tiếng Việt, “chủ chốt” nghĩa là “quan trọng nhất, có tác dụnglàm nòng cốt; là cốt lõi, mấu chốt, then chốt” [98, tr.227]

Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu “cán bộ chủ chốt” là người

có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổchức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đươngcác nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức

Trang 9

năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vựccông tác được giao Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:

+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trongviệc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định

và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra,giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnhkịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn

để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, cán bộ công chức còn là người giữ vaitrò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chínhtrị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh

+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủyếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng,chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịutrách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vịhoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận Từ nhận thức đó, đặc biệt theo quan điểmcủa Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thốngchính trị ở cơ sở; Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế

độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những ngườihoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định 29/2013/NĐ-CP sửa đổi Nghịđịnh 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, chế độ, chính sách đối với cán bộ,công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ởcấp xã; Nghị định 110/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 21/2010/NĐ-CP về quản lýbiên chế công chức; Nghị định 93/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 24/2010/NĐ-CPquy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định 56/2015/NĐ-CP

về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định 204/2004/NĐ-CP

về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;Nghị định 76/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiềnlương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Nghị định117/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối vớicán bộ, công, viên chức và lực lượng vũ trang; Thông tư liên tịch 03/2010/TTLT-

Trang 10

BNV-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 92/2009/NĐ-CP chức danh, số lượng,chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những ngườihoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Thông tư 07/2010/TT-BNV hướng dẫnQuy định tại Nghị định 21/2010/NĐ-CP về quản lý biên chế công chức; Thông tư05/2012/TT-BNV sửa đổi Thông tư 13/2010/TT-BNV hướng dẫn tuyển dụng vànâng ngạch công chức của Nghị định 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển, sử dụng

và quản lý công chức; Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ

về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định 04/2004/QĐ-BNV ngày16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn đối với cán bộ công chức xã,phường, thị trấn;

1.1.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh

Theo quy định hiện hành của Đảng và Nhà nước ta, đội ngũ cán bộ chủ chốtcủa huyện hiện nay bao gồm: Bí thư huyện uỷ, các phó Bí thư huyện uỷ; Chủ tịchHội đồng nhân dân huyện; các phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện; Chủ tịch Ủyban nhân dân huyện; các phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; Trưởng Công anhuyện; Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà toà án nhân dân huyện; Chỉ huytrưởng Ban chỉ huy quân sự huyện; Trưởng ban Tổ chức huyện uỷ; Trưởng banTuyên giáo huyện uỷ, Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ; Trưởng ban Dân vậnhuyện uỷ; Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện; Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện;

Bí thư huyện Đoàn; Chủ tịch Hội Nông dân huyện; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữhuyện; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện

Đối với cấp xã, đội ngũ cán bộ chủ chốt gồm: Bí thư, các Phó Bí thư Đảng

ủy cấp xã; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã; Chủ tịch, các PhóChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; Chủtịch Công đoàn cơ sở; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã; Chủ tịch Hội Cựuchiến binh cấp xã; Bí thư Đoàn Thanh niên cấp xã; Chủ tịch Hội Nông dân cấp xã

Những chức danh trên là những chức danh đứng đầu cơ quang Đảng, chínhquyền và các ban ngành đoàn thể thường được cơ cấu là cấp ủy, là Thường vụ

Trang 11

huyện ủy, Đảng ủy cấp xã, do vậy Xét về mặt Đảng những người giữ chức danhnêu trên thì họ là những người giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt.

Luận văn đề cập đến đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer của hệthống chính trị ở huyện Trà Cú bao gồm các chức danh: Bí thư, các Phó Bí thưHuyện ủy và Đảng ủy cấp xã; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân huyện

và cấp xã; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện và cấp xã; Chủ tịch

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và cấp xã; Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện vàChủ tịch Công đoàn cơ sở; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện và cấp xã; Chủtịch Hội Cựu chiến binh huyện và cấp xã; Bí thư Đoàn Thanh niên huyện và cấp xã;Chủ tịch Hội Nông dân huyện và cấp xã

1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH

Đội ngũ cán bộ chính là “cầu nối”, là khâu trung gian giữa Đảng, Nhà nướcvới người dân Xét về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ nói chung, sinh thời Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [71, tr.269] “Cán

bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ

dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là người đem chính sách của Chínhphủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũngkhông thể thực hiện được” [71, tr.54-55] Và Người kết luận: “Muôn việc thànhcông hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém” [71, tr.273] Như vậy, xét một cáchtổng thể, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ được thể hiện trong bốn mối quan hệ chủyếu: cán bộ với đường lối chính sách, cán bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công

việc và cán bộ với quần chúng

Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong Chiến lược cán bộ thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thànhbại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [31, tr.66] Theo quan điểm củaĐảng, trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đáp ứng với yêu

Trang 12

cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở Như vậy, bất kỳ lúc nào và ởđâu, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cũng rất quan trọng đối với sự nghiệp cáchmạng Trong hành trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh, Đảng ta xác định rõ các nhiệm vụ chiến lược: Phát triển kinh tế là nhiệm vụtrọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hóa - nền tảng tinhthần của xã hội Điều đó cũng có nghĩa là công tác cán bộ chính là khâu then chốtcủa nhiệm vụ then chốt đó và việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là cáicốt lõi của các vấn đề then chốt

Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị cơ

sở là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống bộ máy Đảng, chínhquyền, lực lượng vũ trang, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương,

có tác dụng chính, chi phối việc chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện cácnhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn mà họ phụ trách

Trên cơ sở vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt nói chung, cán bộchủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh cũng có những vaitrò, đặc điểm sau:

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị ở huyện giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở huyện nơi có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống Bởi vì nó diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống

của dân, nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt làngười dân tộc Khmer nói riêng sống và làm việc hàng ngày cùng với dân, có điềukiện gần gũi trực tiếp và thường xuyên với dân Vì lẽ đó, cán bộ chủ chốt ở huyệnTrà Cú hơn ai hết là người hiểu biết rõ nhất tình hình đang diễn ra tại địa phươngmình, thấy được nhu cầu, nguyện vọng của dân, những đòi hỏi bức thiết mà cuộcsống của người dân đang đặt ra Quần chúng nhân dân ở huyện Trà Cú qua nhữngbiến đổi thực tế về công ăn, việc làm, đời sống vật chất, tinh thần và các quan hệ xã

Trang 13

hội; qua thái độ và hành vi của cán bộ, đảng viên đối với dân mà cảm nhận và đánhgiá sự phù hợp hay không về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước Phẩm chất đạo đức, năng lực của cán bộ chủ chốt là người dân tộcKhmer có ảnh hưởng rất hệ trọng đến tình cảm, thái độ và niềm tin của đồng bàoKhmer đối với Đảng, Nhà nước và với chế độ nói chung Những phản ứng, bất bìnhcủa dân, tình trạng dân chúng đi khiếu kiện đông người, kéo dài và vượt cấp trongnhững năm gần đây và hiện nay cho thấy những yếu kém, bất cập trong công táclãnh đạo, quản lý ở cơ sở, mà vai trò, trách nhiệm trước nhất là ở đội ngũ cán bộchủ chốt.

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của Đảng, Nhà nước; của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của hệ thống chính trị cơ sở Khâu đầu

tiên trong việc lĩnh hội mọi quyết định nói trên phải nói đến đội ngũ này và thôngqua đội ngũ này, mọi quyết định của cấp trên và cùng cấp sẽ đến được với ngườidân nói chung, đồng bào Khmer nói riêng Xuất phát từ đặc điểm đồng bào Khmer

và đặc điểm tâm lý của người dân tộc Khmer, kinh tế - xã hội phát triển chậm, trình

độ dân trí còn thấp, khả năng am hiểu tiếng phổ thông (tiếng Việt) rất hạn chế, cábiệt có những phum, sóc người dân tộc Khmer không hiểu và không nói được tiếngKinh Ở những nơi đó muốn đưa mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, ngoài đội ngũ cán bộ này ra, khó có thểđưa đến một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất Do vậy, tính thiết thực và hiệu quảcủa các quyết định nói trên đến với đồng bào Khmer phụ thuộc rất lớn ở khả nănglĩnh hội và truyền đạt các quyết định đó của cán bộ chủ chốt là người dân tộcKhmer của địa phương

- Cán bộ chủ chốt ở huyện Trà Cú là người dân tộc Khmer là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng với đồng bào Khmer Sự lãnh đạo của Đảng đối với đồng bào

Khmer ở huyện Trà Cú, hiệu quả nhất thông qua cán bộ chủ chốt là người dân tộcKhmer Bởi vì, đội ngũ cán bộ này là những người tiêu biểu, tích cực nhất trongđồng bào Khmer; thay mặt cho Đảng đem mọi đường lối, chủ truơng, chính sách

Trang 14

của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho đồng bào hiểu rõ một cách cặn kẽ

và tự giác thực hiện, chấp hành nghiêm túc Họ nắm rất chắc về đặc điểm văn hoá,tâm lý, phong tục tập quán của dân tộc mình - cán bộ chủ chốt là người dân tộcKhmer dễ dàng tiếp cận, đi sâu nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng bào để kịpthời phản ánh cho Đảng và Nhà nước, gần hơn là cơ sở, địa phương để đặt đườnglối, chủ trương, pháp luật sát hợp với thực tiễn Trong quá trình quán triệt, tổ chứcthực hiện mọi quyết định của cấp uỷ đảng, tổ chức chính quyền cấp trên đến vớiđồng bào Khmer, đội ngũ cán bộ này là người trực tiếp nắm rõ thực tiễn đời sốngcủa đồng bào, nắm mọi tâm tư nguyện vọng chính đáng của đồng bào, hơn ai hết họbiết rõ tính đúng đắn, phù hợp của mọi quyết định của cấp trên, kể cả những điểmchưa phù hợp của những quyết định đó đối với đồng bào Khmer, phản ánh với cấptrên để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng sâu rộng ở nông thôn phum, sóc Trong phong trào đó đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc

Khmer chính là những hạt nhân của phong trào, là bộ phận tiên phong trong phongtrào, chi phối và quyết định tính chất của phong trào Họ là những người giác ngộ lýtưởng cách mạng, có lập trường chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnhđạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Họ lôi cuốn, thúc đẩy đồng bàodân tộc Khmer tham gia vào tiến trình chung của cách mạng, góp phần thực hiệncông cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nông thônmới, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,thực hiện chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, đặcbiệt là đấu tranh chống lại đói nghèo, lạc hậu trong đồng bào Khmer

Xuất phát từ điều kiện lịch sử và địa lí, từ lâu đời huyện Trà Cú đã hình thành

sự xen kẽ của cộng đồng dân cư các dân tộc (chủ yếu là người Kinh, Khmer vàHoa) Tuy mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, nhưng đều mang một điểm chung

là giàu lòng yêu nước, cần cù, sáng tạo trong lao động; kiên cường, bất khuất trongđấu tranh chống ngoại xâm Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược, nhiều thanh niên, phụ nữ người Khmer, người Hoa đã sớm giác

Trang 15

ngộ cách mạng, tích cực tham gia kháng chiến, kề vai sát cánh cùng đồng bào Kinhchịu đựng gian khổ, hy sinh, xả thân vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong

số đó, nhiều người đã trở thành cốt cán trong phong trào đấu tranh của quần chúng;những cán bộ nằm vùng kiên trung, đi đầu, những chỉ huy mưu trí, dũng cảm tronglực lượng vũ trang nhân dân Sau khi giang sơn thu về một mối, cả nước cùng đi lênChủ nghĩa xã hội, nhiều đồng chí tham gia lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quê hương,đất nước, đóng góp quan trọng vào tiến trình đổi mới, đưa huyện Trà Cú phát triểnđến ngày nay Một số đồng chí được đào tạo, phát triển trở thành cán bộ cao cấp củaĐảng, Nhà nước Có được như vậy, một phần quan trọng là cấp ủy, chính quyềnhuyện Trà Cú qua các thời kỳ luôn nắm vững đường lối, quan điểm công tác cán bộcủa Đảng; tích cực, chủ động, có nhiều biện pháp kiện toàn, phát triển đội ngũ cán

bộ nói chung, cán bộ là người dân tộc Khmer nói riêng, phù hợp với sự phát triểncủa cách mạng

1.3 NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT LÀ DÂN TỘC KHMER TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH

1.3.1 Xác định nguồn cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer

Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer của huyện Trà Cú cần đượcxây dựng một cách cơ bản, chính quy và có hệ thống trên cơ sở phát triển sự nghiệpgiáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ dân trí trong đồng bào Khmer sinh sống.Đồng thời, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân ở

cơ sở, để giáo dục, rèn luyện, đào tạo, đánh giá, sàng lọc, tuyển chọn đội ngũ cán bộchủ chốt của huyện là người dân tộc Khmer Trong việc xác định và tạo nguồn cán

bộ cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer chohuyện Trà Cú cần thống nhất một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần chú ý đối tượng cán bộ là người dân tộc Khmer đương chức ở

các xã, thị trấn bao gồm cả cán bộ chuyên trách, công chức, cán bộ không chuyêntrách cấp xã, thị trấn và toàn thể cán bộ công nhân viên chức của huyện Đội ngũnày sớm đã được giác ngộ lý tưởng cách mạng, phần lớn là đã được kết nạp vàoĐảng, có quá trình công tác thực tế, tham gia tích cực vào các phong trào cáchmạng quần chúng ở xã, thị trấn Đặc biệt, chú ý đến đội ngũ cấp phó là người dân

Trang 16

tộc Khmer của các chức danh chủ chốt, đội ngũ này khi được đào tạo cơ bản quacác trường đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước sẽ là những nguồn quan trọng để

có thể bố trí vào các chức danh chủ chốt sau này

Thứ hai, đối tượng là những con em người Khmer đã hoàn thành nghĩa vụ

trong các lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong Nguồn này, nếu biết khai tháctốt sẽ là nguồn rất phong phú, góp phần cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

là người dân tộc Khmer của huyện sau này Đối tượng này đã được rèn luyện rất kỹtrong môi trường kỷ luật sắt của lực lượng vũ trang, được trang bị về lập trườngchính trị chủ nghĩa xã hội, trong quá trình phục vụ tại ngũ họ là những người yêunước và trung thành với Tổ quốc

Thứ ba, đối tượng là học sinh, sinh viên người dân tộc Khmer đang theo học

ở các trường phổ thông trung học và trường dân tộc nội trú, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng và đại học đang cư trú tại địa phương Đội ngũ này phần đông làrất trẻ, năng động, sáng tạo, nhảy cảm với cái mới và khả năng tiếp thu nhanhnhững tiến bộ khoa học - kỹ thuật; nếu biết chăm lo bồi dưỡng và có chính sách

đúng đắn thì sẽ là “hạt giống đỏ” cho phong trào cách mạng ở cơ sở.

Thứ tư, đối tượng là tu sĩ, À Chal của Phật giáo Nam tông trong cộng đồng

đồng bào Khmer đang tu ở các điểm chùa trong tỉnh, đội ngũ này rất đông và đa dạng,phần lớn đội ngũ này được nhà phật rèn luyện về đạo đức, phẩm chất lối sống mộtcách trung thực và được đông đảo đồng bào Khmer tín nhiệm và tôn trọng, nếu ta biếtchăm lo bồi dưỡng tốt cho đối tượng này giác ngộ về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh chính là đội ngũ cán chủ chốt là người dân tộc Khmer của huyện saunày

1.3.2 Phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng, đề bạt, cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer

Hiện nay đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer đã phát triển lớn mạnh Hầuhết người dân tộc Khmer đã có cán bộ và nhân viên công tác hoạt động chuyênnghiệp; số này chiếm 37% tổng số cán bộ trong huyện, như vậy là còn ít Đi sâuphân tích thêm ở nhiều xã, thị trấn và các ban ngành của huyện, số cán bộ là ngườidân tộc Khmer chiếm một tỷ lệ quá thấp so với tổng số cán bộ trong toàn huyện

Trang 17

Tình hình trên đây đòi hỏi các cấp, các ngành trong huyện phải ra sức đẩymạnh hơn nữa công tác phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ người dân tộc Khmer,không những chỉ nhằm đáp ứng các yêu cầu trước mắt, mà còn tạo cho huyện xâydựng lâu dài, phát triển cách mạng ở huyện Trà Cú Sự nghiệp xây dựng bồi dưỡng,đào tạo cán bộ là sự nghiệp chung của Đảng ta Cả nước đều có trách nhiệm, đềuphải chung sức cùng nhân dân các dân tộc ra sức phát triển kinh tế, văn hoá và mọimặt đời sống của Nhân dân Tuy nhiên, dân tộc Khmer có trách nhiệm rất quantrọng trong việc xây dựng đời sống ở địa phương mình, vừa là lợi ích của bản thânđịa phương mình, dân tộc mình, vừa là tích cực góp phần vào sự nghiệp cách mạng

và xây dựng chung của cả nước, dân tộc Khmer phải có một đội ngũ cán bộ đôngđảo, bao gồm nhiều ngành, nhiều mặt để cùng đảm đương sự nghiệp phát triển kinh

tế, văn hoá, quản lý hành chính và cũng cố quốc phòng - an ninh Đó là quan điểmđúng đắn của Đảng ta về chính sách dân tộc Đó cũng là nguyên lý của chủ nghĩaMác - Lênin “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”

Do vậy, muốn vận động đồng bào Khmer làm cách mạng, phải có cán bộ,đảng viên là người dân tộc Khmer Họ là sợi dây liên hệ giữa Đảng và đồng bàoKhmer; giữa họ và đồng bào Khmer có mối liên hệ ruột thịt với nhau, do đó họ cóđiều kiện thuận lợi đoàn kết và động viên đồng bào Khmer phát triển sự nghiệpcách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội Việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ người dântộc Khmer còn là sự thực hiện mối quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc, vì các dântộc phải được giúp đỡ để phát triển đồng đều, và một trong những mặt phát triển đó

là đội ngũ cán bộ, những người đại diện cho tinh hoa và trí tuệ của quần chúng

Tất nhiên, không nên quan niệm dân tộc Khmer, dù rất ít người, cũng phải có

đủ tất cả các loại cán bộ thuộc tất cả các ngành hoạt động và các môn khoa học kỹthuật Nhưng cũng phải có cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý của huyện Vì khôngnhận thức sâu sắc những điểm trên, một số xã, thị trấn và các ban ngành của huyệnchưa tích cực chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ người dân tộc Khmer trong thờigian qua Vì vậy, để làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc Khmer,trước hết phải phê phán những nhận thức tư tưởng sai trái, xây dựng lập trường,quan điểm đúng đắn của Đảng, làm cơ sở cho việc xây dựng quyết tâm và các biện

Trang 18

pháp thực hiện tích cực

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc Khmer cũng như các cán bộkhác, không thể tách khỏi đường lối cách mạng cán bộ của Đảng Đi đôi với việcchú trọng rèn luyện, giáo dục tư tưởng và nắm vững tư tưởng cán bộ, cần phải quántriệt sâu sắc phương hướng giai cấp Thực tế nhiều năm qua cho thấy trong nhậnthức và việc làm của các cấp ngành liên quan ở địa phương còn có biểu hiện chưathông suốt, chưa vững vàng Trong khi Đảng nhấn mạnh phải chú trọng tăng cườngđào tạo, bồi dưỡng đề bạt cán bộ thuộc thành phần bần nông, trung nông và dân tộcthiểu số Hướng vào họ, lựa chọn những người ưu tú nhất, bồi dưỡng, đào tạo trởthành cán bộ và đưa những cán bộ tốt vốn thuộc thành phần này tăng cường cho cơquan lãnh đạo chủ chốt thì rõ ràng các công tác cách mạng phát triển thuận lợi;ngược lại thì gặp khó khăn Trên cơ sở đó, phát hiện những người ưu tú, bồi dưỡng,đào tạo họ trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý kinh tế hoặc chuyên môn, kỹthuật, tăng cường cho các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan quản lý kinh tế,quản lý kỹ thuật Trong việc thực hiện phương hướng giai cấp về công tác cán bộ ởhuyện Trà Cú, còn có vấn đề phải vận dụng đúng đắn là thái độ đối với những cán

bộ xuất thân từ thành phần tầng lớp trên và con em họ Được Đảng giúp đỡ, giáodục và rèn luyện, một số người thuộc thành phần lớp trên có liên hệ với quần chúng,

đã kiên trì đi theo Đảng và có tiến bộ; họ tham gia công tác và là cán bộ của Đảng,của Nhà nước Điều này thể hiện cụ thể một trong nhiều thắng lợi của Đảng ta trongviệc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Chính sách đúng đắn của Đảng là đoànkết lâu dài và giúp đỡ họ không ngừng tiến bộ, nếu họ tiếp tục công tác, kiên trìtheo Đảng Cần đối xử với họ như những cán bộ khác, không thành kiến hoặc xemthường, ngược lại thành thật công tác, hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ tiến

bộ, làm cho họ dần dần xa lìa hẳn lập trường giai cấp cũ của mình, ra sức phục vụlợi ích của quần chúng nhân dân lao động các dân tộc Đối với con em họ, cũng nhưcon em các cán bộ khác, cần được chú ý giúp đỡ đưa vào các trường học tập, đàotạo trở thành cán bộ Tất nhiên, phải căn cứ vào từng người và sự tiến bộ của con

em họ mà đào tạo, bồi dưỡng trở thành những cán bộ chuyên môn, kỹ thuật thuộccác ngành thích hợp Việc chú ý đến vấn đề học tập, trưởng thành của các con em

Trang 19

cán bộ thuộc tầng lớp trên, chính cũng là việc chú ý giúp đỡ cho những người nàytiến bộ không ngừng

Hiện nay, nhìn chung đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer trong đội ngũ cán

bộ chung ở huyện Trà Cú đã tăng hơn trước rất nhiều, song, còn nhiều nhược điểm,hạn chế, bất cập Cán bộ lãnh đạo và chỉ đạo ở cấp huyện còn ít, nhất là những cán

bộ chủ chốt Phần lớn các chức vụ phụ trách các ngành ở huyện và các đồng chílãnh đạo chủ chốt của Đảng ở huyện vẫn do cán bộ người Kinh đảm nhiệm nhiều.Trong đội ngũ cán bộ chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, trừ các ngành y tế, giáo dụctương đối có nhiều cán bộ dân tộc hơn, còn các ngành khác, anh chị em người dântộc Khmer tham gia vẫn ít

Do vậy trong giai đoạn hiện nay, công tác đào tạo cán bộ là người dân tộcKhmer ở huyện Trà Cú phải nhằm khắc phục các nhược điểm trên Phải tăng cườngđào tạo, bồi dưỡng các cán bộ lãnh đạo và chỉ đạo các xã, thị trấn và các ban, ngànhhuyện Trong một thời gian nhất định (dài ngắn tuỳ theo từng địa phương), phải có

kế hoạch, chuẩn bị và cố gắng về mọi mặt để tiến tới thực hiện được mục tiêu làmcho các cán bộ người dân tộc Khmer đảm nhiệm tốt được phần quan trọng các chức

vụ lãnh đạo chủ chốt của huyện, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các ngành chuyênmôn, xã, thị trấn ở huyện Vấn đề này không phải giản đơn, không thể nóng vội,không được máy móc, hình thức Phải có ý thức chủ động, tích cực, quyết tâm,nhưng phải có quá trình chuẩn bị lâu dài và cố gắng về mọi mặt Khi chưa đủ điềukiện thì không nên gượng ép, và phải chống các khuynh hướng lệch lạc, làm phátsinh tư tưởng dân tộc hẹp hòi, hoặc bi quan tiêu cực; đồng thời chống thái độ buôngtrôi, tự phát

Việc đào tạo cán bộ là người dân tộc Khmer phải được đặc biệt quan tâm Sở

dĩ số cán bộ này hiện nay còn quá ít, là do nhiều địa phương chưa chú ý đầy đủ,chưa có nhận thức sâu sắc và quan điểm đúng đắn, thể hiện sự thiếu nhiệt tình đốivới sự nghiệp phát triển cách mạng của người dân tộc Khmer, vốn đã chậm pháttriển do chính sách áp bức dân tộc của thực dân, phong kiến gây ra; vì vậy chưaquyết tâm khắc phục các khó khăn khách quan và chủ quan, chưa kiên trì các biệnpháp tích cực và kế hoạch chủ động nhằm tăng dần số cán bộ này

Trang 20

Muốn có cán bộ dân tộc Khmer, và ngày càng có nhiều hơn, phải tốn nhiềucông phu đào tạo, bồi dưỡng, phải chịu tốn tiền, tốn sức, phải có kế hoạch rất tíchcực và chủ động, đồng thời chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch Về biện pháp,chính sách, cần phải mạnh bạo, kiên quyết, không nên tự bó mình trong các khuônkhổ, nền nếp cũ thường làm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc Khmerphải như “ươm hạt giống quý” Có hiểu như thế ta mới thấy cần thiết phải bỏ vốn,

bỏ công sức và người để đặc biệt chăm lo giải quyết tốt

Đối với người dân tộc Khmer, cần thiết phải bỏ vốn đào tạo, bồi dưỡng các

em từ một học sinh cấp một học tập lên thành một cán bộ tốt nghiệp đại học hoặctrung học chuyên nghiệp Đối với những xã vùng sâu, vùng xa, dân cư phân tán,nhà ở quá xa nhau, phải tổ chức trú xá gần trường, tiện cho các em học tập vàkhông nên áp dụng nhà trường dân lập ở những vùng này Ở những nơi cần thiết, cóthể bán lương thực cho các em vì thiếu lương thực mà không theo học được hoặc hỗtrợ miễn phí sách giáo khoa, học cụ, v.v Việc làm này thể hiện tình thương yêugiai cấp, mà cũng là thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, giúp đỡ những dân tộccòn có nhiều khó khăn về đời sống, trình độ mọi mặt phát triển thấp kém, nay cầnthiết phải nâng cao để tiến kịp các dân tộc khác

Những năm gần đây, mặc dù các cấp ngành, địa phương trong tỉnh Trà Vinh

đã tổ chức xây dựng được các trường dân tộc nội trú, nhưng số lượng còn ít, điềukiện lấy người vào học các trường này còn rất hạn chế, và một số nơi vẫn chưa cótrường, hoặc có rồi lại giải thể Cần xây dựng, duy trì và phát triển các trường này,cải tiến tổ chức giảng dạy học tập, phương hướng chiêu sinh, nhằm thu hút con em

là người dân tộc Khmer vào học, đào tạo trở thành những cán bộ chính trị, chuyênmôn, kỹ thuật của đồng bào dân tộc Khmer

Biện pháp mở rộng biên chế của các cơ quan, đưa những thanh niên nam, nữthuộc người dân tộc Khmer vào tập sự, để từ trong thực tế công tác, dìu dắt họtrưởng thành dần, hoặc đưa các thanh niên trên tham gia vào bộ đội để được học tậprèn luyện, là những biện pháp tốt, thiết thực, cần duy trì và phát triển

Để đẩy mạnh việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc Khmer, cònphải quan tâm đến việc phát triển Đảng, kết nạp đảng viên mới, nhất là ở những

Trang 21

vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống, những nơi cơ sở đảngcòn mỏng, đảng viên người dân tộc Khmer ít Ngay trong một xã, cũng thường cónhiều dân tộc ở xen kẽ nhau, và thường là người dân tộc Khmer có rất ít đảng viên.Đẩy mạnh việc phát triển Đảng vào những nơi này là tạo điều kiện thuận lợi choviệc mở rộng và tăng cường đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer Ở những nơi

cơ sở đảng đã tương đối phát triển, cũng cần phải tích cực bồi dưỡng, đào tạo, lựachọn, kết nạp thêm nhiều đảng viên mới trẻ tuổi, hăng say và đi đầu trong cuộc cáchmạng, khoa học, kỷ thuật, phát triển sản xuất Có như vậy mới tạo điều kiện làmtăng thêm sức trẻ, sức vươn lên của đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer mà hiệnnay ở đôi nơi có hiện tượng trì trệ, một phần do có nhiều người tuổi cao, sức yếu,năng lực bị hạn chế

Sử dụng, bố trí và đề bạt tốt cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer hiện làvấn đề có quan hệ rất mật thiết với nhau Bố trí, đề bạt tốt thì hiệu quả sử dụng cao.Ngược lại sử dụng tốt thì sẽ phát huy đầy đủ kết quả của việc bố trí, đề bạt Sử dụngđúng thì cán bộ phát huy được tài năng, đạo đức, vươn lên không ngừng, trở thànhnhững cán bộ giỏi, phụ trách những công tác ngày càng lớn hơn, cao hơn, cống hiếnđược nhiều hơn Trong khi sử dụng, bố trí, đề bạt cán bộ vẫn tiếp tục được bồidưỡng, đào tạo Hơn nữa, quá trình làm công tác của Đảng giao cho là quá trình cán

bộ tự rèn luyện mình, trưởng thành trong thực tiễn cách mạng Vì vậy, nói đến sửdụng, bố trí, đề bạt họ gắn với đào tạo bồi dưỡng Sử dụng, bố trí, đề bạt là quátrình nối tiếp của việc đào tạo, bồi dưỡng và về mặt nào đó cũng có ý nghĩa là đàotạo, bồi dưỡng

Trong việc bố trí sử dụng đề bạt cán bộ chủ chốt của huyện là người dân tộcKhmer, nói riêng và căn bản địa phương đã làm tốt Có rất nhiều gương mẫu về mặtnày Do đó đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer đã ngày càng trưởngthành và dần dần đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp phát triển cách mạng ởhuyện Trà Cú Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nhược điểm và khuyết điểm cần phải khắcphục Những hiện tượng một số cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer khi được

bố trí sử dụng, đề bạt vào chức danh chủ chốt của huyện thì ít phát huy được tácdụng, chậm phát triển, chậm tiến bộ, hoặc thiếu phấn khởi công tác, thậm chí chán

Trang 22

nản, bỏ công tác về nhà, chính là vì việc bố trí sử dụng đề bạt chưa được tốt

Nhiều thiếu sót, sai lầm về việc bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ là người dântộc Khmer chứng tỏ rằng tư tưởng hẹp hòi, nhìn nhận không đúng đắn về cán bộdân tộc, biểu hiện của một lập trường, quan điểm trái với lập trường, quan điểm củaĐảng về vấn đề dân tộc, vẫn đang tồn tại Có trường hợp tư tưởng này thể hiện mộtcách công khai rõ ràng như: có cán bộ lãnh đạo ngành chuyên môn, kỹ thuật khôngmuốn nhận cán bộ là người dân tộc Khmer vào làm, vì sợ họ kém, không hoànthành được nhiệm vụ, lại phải vất vả dìu dắt, giúp đỡ họ; ngược lại, chỉ muốn nhậncán bộ người Kinh, lanh lẹ, tháo vát hơn…

Trường hợp khác, nó thể hiện dưới thái độ: khi xem xét việc đề bạt cán bộ làngười dân tộc Khmer, đã không chú ý thích đáng đến yêu cầu dìu dắt, đào tạonhững đối tượng này, mà chỉ một chiều nhấn mạnh về tiêu chuẩn, và trong tiêuchuẩn đã không biết vận dụng đúng đắn vào thực tế tình hình cán bộ là người dântộc Khmer hiện nay và nhiều trường hợp bố trí, sử dụng cán bộ là người dân tộcKhmer đã không biết phát huy những ưu điểm sẵn có của họ, trái lại, chỉ chê tráchnhững nhược điểm của họ, và đòi hỏi ở họ thì nhiều nhưng lại thiếu chú ý giúp đỡ,bồi dưỡng cho họ Những trường hợp này không phải là mặt căn bản của tình hình

bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ là người dân tộc Khmer song cần phải được chú ýkhắc phục triệt để Vì vậy, để bố trí, sử dụng, đề bạt tốt cán bộ là người dân tộcKhmer, về mặt tư tưởng, phải chống khuynh hướng hẹp hòi, xây dựng quan điểmđúng đắn với việc nhìn nhận và đánh giá cán bộ là người dân tộc Khmer, mạnh dạn

bố trí, sử dụng, đề bạt và tích cực bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc Khmer

Nói chung, cán bộ là người dân tộc Khmer có nhiều ưu điểm trong việc vậnđộng đồng bào dân tộc Khmer, trong việc phát triển mọi mặt công tác ở vùng cóđông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống Không chỉ riêng cán bộ chính trị, cán bộlàm công tác vận động quần chúng, mà cán bộ chuyên môn, kỹ thuật và nhất là cán

bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer đều có ưu điểm này Đó là vì họ sinh ra và lớnlên ở tại địa phương, thích nghi và am hiểu tình hình địa phương, am hiểu dân tộc

họ hơn ai hết, dễ dàng liên hệ với đồng bào Khmer, và có sự hiểu biết nhất định vềlịch sử, xã hội, về tự nhiên, về kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu, ở vùng dân tộc

Trang 23

họ sống, do đó dễ dàng phát triển công tác chuyên môn của mình hơn bất kỳ mộtcán bộ nào Nếu được bồi dưỡng và phát huy những ưu điểm trên đây, đồng thờiđược bồi dưỡng về chính trị, quân sự, về khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ

và quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, thì nhất định họ sẽ hoàn thành nhiệm vụ củamình một cách thuận lợi Nhìn bề ngoài, một số người có thể không lanh lẹ, tháovát, nói năng, diễn đạt, tổng hợp kém, và có khi do thói quen sinh hoạt của dân tộc,chưa thích ứng ngay được với sinh hoạt cách mạng, đôi khi còn có khuyết điểm vềmặt này, v.v Nhưng đó không phải là mặt căn bản Hơn nữa, những nhược điểm

về mặt này, thật ra không có gì đáng chê trách, trái lại còn cần phải được thông cảmđầy đủ, vì đây chủ yếu là do hậu quả chính sách áp bức dân tộc của thực dân phongkiến để lại Trong quá trình phát triển của đồng bào Khmer và sự trưởng thành củangười cán bộ, chúng sẽ được dần dần khắc phục

Mặt khác, cách mạng ở mỗi địa phương trước hết là sự nghiệp của các dântộc, do quần chúng các dân tộc và cán bộ của họ đảm nhiệm, người khác không thểđến để làm thay được Không mạnh dạn bố trí, sử dụng đề bạt, cất nhắc cán bộ làngười dân tộc Khmer và từ trong công tác mà bồi dưỡng, dìu dắt họ trưởng thành,thì không thể đào tạo được một đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer trưởngthành về mọi mặt, dần dần đảm nhiệm lấy phần chủ yếu các công tác ở huyện

Mạnh dạn bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ là người dân tộc Khmer không cónghĩa là cứ cất nhắc, đưa bừa họ lên, không căn cứ vào điều kiện trưởng thành vàkhả năng hoàn thành nhiệm vụ của từng người cán bộ là người dân tộc Khmer Kinhnghiệm cho biết, muốn bố trí, sử dụng, đề bạt tốt cán bộ chủ chốt là người dân tộcKhmer, phải có chuẩn bị và bồi dưỡng trước, phải đưa dần từ thấp đến cao và phảisắp xếp, bố trí đúng việc, hợp với từng người, nhằm phát huy ưu điểm, hạn chếnhược điểm của người đó; sau khi giao việc, hoặc đề bạt, phải tiếp tục và kiên trìbồi dưỡng, dìu dắt họ Làm như vậy, cán bộ dễ phát triển, mau trưởng thành, hoànthành tốt nhiệm vụ, ngược lại thì gây nhiều khó khăn cho họ, họ dễ sinh ra bi quan,chán nản, tiêu cực, thậm chí bỏ công tác

Để sử dụng đúng cán bộ là người dân tộc Khmer, còn phải có sự nhận thức

và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đức tài trong khi xem xét, đánh giá các cán bộ đó

Trang 24

Đức tài là tiêu chuẩn áp dụng chung đối với tất cả mọi cán bộ Song đối với từngloại cán bộ, cần phải có sự vận dụng cụ thể, thích hợp, đúng đắn Trong khi vậndụng tiêu chuẩn đức tài để xem xét cán bộ là người dân tộc Khmer, cần phải chú ý

hai điểm quan trọng: Một là, phải đi sâu tìm hiểu bản chất của cán bộ, chống khuynh hướng hình thức, nhận xét hời hợt bên ngoài; Hai là, phải có quan điểm

thực tiễn, xuất phát từ thực tế yêu cầu của việc phát triển công tác cách mạng ởhuyện và sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer hiện nay,chống khuynh hướng đơn giản, máy móc thoát ly thực tế

Do hoàn cảnh xã hội và điều kiện tự nhiên ở vùng sâu, vùng xa, cán bộ làngười dân tộc Khmer nói riêng thường ít nói, chất phác thật thà, và do trình độ vănhoá còn thấp nên viết lách, tổng hợp, diễn đạt thường khó khăn, lúng túng Nếu chỉnhìn vào các mặt này mà xem xét, đánh giá, thì không thể hiểu đúng được cán bộ làngười dân tộc Khmer Vấn đề là phải đi sâu vào xem xét công tác và hành động cụthể, thái độ và năng lực của họ trong việc tổ chức, động viên đồng bào dân tộcKhmer hoàn thành nhiệm vụ, và những kết quả thu được; phải xem thái độ, chủtrương công tác và việc làm của họ đối với việc thực hiện đường lối, chính sách,nghị quyết của Đảng, như thế mới thấy rõ bản chất của họ Nhiều cán bộ là ngườidân tộc Khmer khi phát biểu ở hội nghị, trình bày vấn đề thì lúng túng, không rõràng, gãy gọn, nhưng khi xuống quần chúng bàn bạc và tổ chức cho quần chúng làmthì đạt kết quả rất tốt Đó là vì nhiều cán bộ là người dân tộc Khmer chưa thạo tiếngphổ thông, trình độ văn hoá thấp, hiểu nhưng nói được cho ra lý lẽ, cho thànhnguyên tắc, đường lối, quan điểm, v.v , thì khó, nên diễn đạt không hết ý mình hiểu

và điều mình muốn nói Trái lại, trước đồng bào mình và bằng tiếng dân tộc mìnhthì họ nói rất hay, dùng hình ảnh và cách nói theo lối dân tộc họ đầy sức thuyếtphục, vừa có lý, lại có tình, hợp với trình độ hiểu biết của quần chúng, họ đượcquần chúng hoan nghênh, mến phục và làm theo

Ở Trà Cú, đội ngũ cán bộ thường bao gồm các cán bộ người Kinh, các cán bộ

là người dân tộc Khmer và người Hoa, trong đó số người cán bộ người Kinh đônghơn cả Do vậy, khi đánh giá đức tài của một cán bộ, tất nhiên phải xem xét, so sánhtương quan chung của cả đội ngũ cán bộ của Đảng, nhưng không thể tách khỏi trình

Trang 25

độ trưởng thành của đội ngũ cán bộ ở địa phương và từng ngành của địa phương Ởtừng địa phương, cũng không thể chỉ lấy số cán bộ người Kinh làm căn cứ so sánh,

mà phải căn cứ vào trình độ trưởng thành chung của tất cả cán bộ thuộc cán bộ làngười dân tộc dân tộc Khmer Từ đó mới thấy rõ được điều kiện cụ thể về đức tàicủa một cán bộ trên mỗi cương vị nhất định ở trong địa phương là phải như thếnào… Ngoài ra, còn phải căn cứ vào yêu cầu công tác, nếu loại công tác nào đó đòihỏi phải có cán bộ thuộc dân tộc Khmer, thì không thể không đáp ứng bằng cách lựachọn trong đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer đó người tương đối khá hơn về tàiđức để giao công tác Đó là sự vận dụng tiêu chuẩn sử dụng cán bộ phù hợp vớithực tiễn của huyện Trà Cú

1.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Trà Cú là một huyện duyên hải cách thành phố Trà Vinh 33km trên tuyếnquốc lộ 53 và 54 Phía Đông giáp huyện Cầu Ngang, phía tây giáp dòng sông Hậuvới cửa biển Định An, phía Nam giáp huyện Duyên Hải, phía Bắc giáp huyện TiểuCần và Châu Thành Địa hình có nhiều giồng cát có hình cánh cung song song với

bờ biển, độ cao trung bình từ 0,4m đến 0,8m chủ yếu ở các xã Đại An, Định An,Ngọc Biên Vì vậy có thể dễ dàng tìm gặp các địa danh mang tên cát bắt đầu bằng

từ giồng như Giồng Tranh, Giồng Lớn, Giồng Giữa, Giồng Xoài.v.v… Nằm trongvùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 24,9 đến 28,5 độ C, lượngmưa trung bình năm đạt 1,900mm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Địa hìnhcập theo sông Hậu 20 km với cửa biển Định An, thuận tiện cho giao thông đườngthủy nội địa và phát triển nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy hải sản Trà Cú còn làđịa bàn có nhiều sông rạch cũng như hệ thống thủy lợi, chế độ thủy triều chịu ảnhhưởng của chế độ bán nhất triều của Biển Đông, mỗi ngày nước sẽ lên xuống hailần và mỗi tháng sẽ có hai đợt triều cường vào ngày 01 và 15 âm lịch Huyện còn bịxâm nhập mặn rất lớn từ các cửa biển như Nam Rạch Trà Cú, Kênh Tổng Long vàVàm Ray Đất nông nghiệp toàn huyện là 31.261,7 ha chiếm 84,51% đất tự nhiên,đất trồng cây hàng năm là 23.986,81 ha chiếm 76,73 % đất nông nghiệp, đất chưa

Trang 26

sản xuất là 21,9 ha, sông rạch 3.043,24 ha Về tài nguyên, Trà Cú theo khảo sát cómột mỏ sét lớn tại xã Phước Hưng đã được khai thác để sản xuất gạch, tuy nhiênchất lượng gạch không tốt lắm Ngoài ra, Trà Cú còn có nguồn tài nguyên nướcngầm rất phong phú Trà Cú với điều kiện tự nhiên thiên nhiên ưu đãi, nhiều tiềmnăng phát triển kinh tế - xã hội, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, trước hết và quan trọng làđội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer là người bản địa có trách nhiệm khai thác,phát huy Vì vậy, Đảng bộ Trà Cú có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng đội ngũcán bộ là người dân tộc Khmer, có thể học hỏi kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán

bộ là người dân tộc Khmer ở các tỉnh bạn như Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, v.v Tuy nhiên, với địa hình đa dạng và phức tạp, thường xuyên bị xâm ngập mặn cùngvới giao thông đi lại khó khăn, là một trở ngại trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội, củng cố hệ thống chính trị nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộcKhmer của huyện nói riêng

1.4.2 Yếu tố về kinh tế

Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, đến nay Trà Cú vẫn là mộthuyện nghèo thuộc chương trình Nghị quyết 30a của chính phủ, còn nhiều khókhăn: Kinh tế phát triển chậm, trình độ sản xuất còn thấp kém, một số vùng vẫnmang nặng tính tự cung tự cấp Thế mạnh về cây lúa nước, chăn nuôi chưa đượckhai thác tốt Công nghiệp chưa phát triển, chỉ chiếm 14% giá trị tổng sản phẩm xãhội Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với mức bình quân trong tỉnh TràVinh, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Nhiều bộ phận dân cư còn sống ởmức nghèo khổ, điển hình là 62,69% đồng bào Khmer đang sinh sống trên địa bànhuyện Thực tế cuộc sống của đồng bào dân tộc Khmer còn khó khăn và thiếu thốncũng ảnh hưởng lớn đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dântộc Khmer ở địa phương

Trà Cú đã có những thành tựu nhất định trong xoá đói giảm nghèo Tuynhiên, tỉ lệ hộ nghèo vẫn cao so với mặt bằng chung của tỉnh Trà Vinh Bên cạnh

đó, do những thành tựu xoá đói, giảm nghèo đã đạt được còn thiếu tính bền vững,nguy cơ tái nghèo còn cao Trong khi hầu hết đồng bào dân tộc Khmer đều làmnghề nông Khi nói tới dân tộc Khmer, chúng ta thường nghĩ ngay tới vùng sâu,

Trang 27

vùng xa, chăn nuôi, cày, cấy Điều này đã in sâu vào trong suy nghĩ và tiềm thức vềcông việc của đồng bào Khmer Vì vậy, việc giúp bà con dân tộc Khmer thoátnghèo, phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lượcphát triển kinh tế của huyện Nhưng nếu chỉ có chính sách hỗ trợ mà không có sự cốgắng của chính đối tượng được trợ giúp thì chính sách đó cũng không thể đạt đượchiệu quả như mong muốn

Nhiều năm qua, Đảng bộ huyện Trà Cú cũng đã có những định hướng nghề,

mở các lớp dạy nghề cho đồng bào dân tộc Khmer Điều đáng lưu ý là có rất nhiều

hộ gia đình đồng bào Khmer mong muốn cho con cái được làm cán bộ Hầu hếtđồng bào đều suy nghĩ theo lối mòn là cứ làm việc trong Nhà nước hay các tổ chứcđều gọi là cán bộ mà không có sự phân biệt về ngành nghề hay công việc Mongmuốn cuối cùng là “thoát nghèo”, “ly nông” Đồng bào dân tộc Khmer rất hạn chếtrong hiểu biết về các công việc và ngành nghề Bên cạnh đó, đại đa số đồng bàodân tộc Khmer không có kiến thức phổ thông, thậm chí nhiều người còn chưa biếtchữ; các trường dạy nghề đa phần nằm xa ấp, khóm, đi lại khó khăn cũng là nhữngtrở ngại không nhỏ trong công tác đào tạo nghề ở đồng bào dân tộc Khmer dẫnđến người lao động muốn có công việc, để ổn định cuộc sống, trong khi tay nghềkhông có, là rất khó khăn

Trà Cú cũng đã có một số dự án các khu công nghiệp như công ty giày da

Mỹ Phong được mở ra, khuyến khích sử dụng lao động tại chỗ, đặc biệt là ưu tiêncon em đồng bào dân tộc Khmer Nhưng bản thân họ không đáp ứng được nhữngyêu cầu của công việc Nhiều công việc tuy đòi hỏi chuyên môn không cao, nhưnglại có những quy định và kỷ luật lao động công nghiệp, khiến lao động là người dântộc Khmer không đáp ứng được, thời giang nghỉ lễ hội của đồng Khmer nhiều làmảnh hưởng đến giây chuyền sản xuất của công ty

Việc di cư cũng là điều rất hạn chế với người dân tộc Khmer Suy nghĩ bámđất bám quê ăn sâu vào tiềm thức của họ Nên dù có nghèo khổ họ cũng khôngmuốn bỏ quê để tìm tới một cơ hội mới; việc kinh doanh buôn bán tại chỗ vô cùngnhỏ lẻ và kém phát triển Điều đó là nguyên nhân của những dự án di dân tái định

cư ở huyện Trà Cú không đạt được hiệu quả

Trang 28

Đặc điểm này gây những khó khăn, trở ngại trong xây dựng đội ngũ cán bộnói chung, cán bộ là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú nói riêng; đồng thời, đòihỏi Đảng bộ phải luôn chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũcán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer của huyện.

1.4.3 Yếu tố về văn hóa

Bản sắc văn hóa là một vốn quý giá nhưng trước làn sóng đô thị hoá, trongđiều kiện mở cửa và giao thương phát triển mạnh, một số bà con dân tộc Khmer bịgia nhập văn hoá mới nên bản sắc văn hóa các dân tộc người Khmer có nguy cơ bịmai một nhanh chóng Trong điều kiện hội nhập phát triển mạnh như hiện nay, mộtvấn đề đặt ra là phải bảo tồn di sản văn hóa nói chung và bảo tồn di sản văn hóa dântộc Khmer trên địa bàn huyện Trà Cú nói riêng Nhưng muốn bảo tồn được các disản văn hóa đòi hỏi phải thay đổi về mặt nhận thức, có quan điểm chỉ đạo mang tínhkhoa học, đồng bộ của các cấp uỷ đảng và chính quyền Trong quá trình giao lưu,hội nhập với quốc tế, Trà Cú cũng đứng trước những thách thức đặt ra và điều cầnthiết là cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa người dân tộc Khmer trong giao lưu

và hội nhập Trong quá trình tiếp biến văn hóa, có nhiều thay đổi như về tiếng nói,cách ăn mặc, lối sống và văn hóa tộc người Riêng về tiếng nói và chữ viết, hiệnđang phổ cập ở các điểm chùa Nam tông Khmer do các vị sư À Chal dạy cho đồngbào dân tộc Khmer, đồng thời duy trì ngôn ngữ của đồng bào Khmer Người dân sẽ

học chữ quốc ngữ song song cùng với chữ viết của dân tộc mình Đây cũng là một

biện pháp thiết thực nhằm bảo tồn nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmertrước sự hội nhập quốc tế không ngừng gia tăng Không chỉ duy trì những nét vănhóa trong cộng đồng người dân mà ngay cả các cán bộ quản lý trong huyện là ngườidân tộc Khmer sinh sống học và làm quen với tiếng nói và chữ viết của dân tộcmình Đây là một điều rất cần thiết và thiết thực với công tác quản lý bởi có hiểuđược người dân thì mới có thể đề ra các biện pháp và cách thức quản lý đúng đắn vàphù hợp Vì vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer rấtquan trọng trong việc bảo tồn và phát triển cũng như phòng chống các biểu hiện tiêucực trong tập tục của đồng bào dân tộc Khmer

1.4.4 Yếu tố về xã hội và dân cư

Trang 29

Trà Cú là địa bàn quần cư của ba dân tộc anh em sinh sống từ bao đời nay:Kinh, Hoa, Khmer Những dân tộc có dân số đông là dân tộc Khmer Các dân tộcsống xen kẽ với nhau rất đoàn kết và hòa thuận.

Theo điều tra dân số năm 2016, Trà Cú có 155.400 người, mật độ dân sốtrung bình khoảng 489 người/km2 Phần đông đồng bào sống tập trung ở vùng triềncát vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa thớt hơn

Với đặc điểm sống cách xa nhau về mặt địa lý, là những bất lợi cho việc xâydựng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer Để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đồngbào tham gia vào hệ thống chính trị của huyện là một điều hết sức khó khăn Hơnnữa, do nền kinh tế chuyển đổi và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vớitốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, có tính chất liên tục trong thời gian dài dẫntới việc phân tầng xã hội ngày càng gia tăng Chính điều này đã tác động không nhỏđến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer Đa số đồngbào Khmer là những người nghèo thuộc giai cấp nông dân Cơ hội để phát triển của

họ là không nhiều Những điều kiện này đặt ra yêu cầu đối với huyện Trà Cú là phảiđào tạo nghề cho người lao động cho đồng bào dân tộc Khmer thông qua các chươngtrình, dự án Chính vì thế, đồng bào Khmer thường dễ bị tổn thương và hay phảiđứng trước những rủi ro khi có những biến động về kinh tế, chính trị và xã hội, cơhội di động xã hội của họ không cao, do đó, nguy cơ tụt hậu hơn nữa là điều rất cóthể xảy ra

Đồng bào dân tộc Khmer thường sống quây quần theo triền, giồng cát thànhcác ấp, khóm Tính cộng đồng trong đồng bào Khmer rất cao Họ nhất nhất nghetheo người đứng đầu là À Chal - Sư cả của phái Phật giáo Nam tông Điều này có lợinhưng cũng là một điểm yếu để những “thế lực thù địch” lợi dụng chống lại đườnglối chủ trương của Đảng và Nhà nước Sư cả À Chal là những người có uy tín đượcđồng bào bầu để quản lý và truyền đạo cho con cháu trong phum, sóc Đây không chỉ

là một yêu cầu của cuộc sống mà còn là phong tục tốt đẹp, là nét văn hóa riêng củangười dân tộc Khmer đã hình thành và tồn tại từ rất lâu đời trong lịch sử Trong điềukiện hiện nay, họ đang thực sự là nòng cốt, là cầu nối giữa dân với Đảng, với chínhquyền, Mặt trận Tổ quốc; họ có những đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền, vận

Trang 30

động bà con đồng bào Khmer và các thành viên trong cộng đồng dân cư thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ yên gia đình, phum,sóc.

Đồng bào dân tộc Khmer sống đan xen Vì thế đoàn kết dân tộc sẽ thúc đẩy

sự giao lưu học hỏi lẫn nhau, làm cho tri thức chung ngày càng mở rộng, và như thếquá trình xây dựng cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer sẽ có những bướcchuyển biến mới và có khả năng nâng cao tri thức một cách rõ ràng

1.4.5 Yếu tố quốc tế

Hiện nay Việt Nam đang có quan hệ với khoảng 650 tổ chức phi Chính phủnước ngoài, trong đó có trên 500 tổ chức hoạt động thường xuyên và cam kết dàihạn Nguồn viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ chủ yếu tập trung vào các ngành

y tế, giáo dục; giải quyết các vấn đề xã hội cũng như phát triển kinh tế (nhất là dulịch) Đặc biệt các nguồn vốn này sẽ được ưu tiên nhiều hơn tới các vùng nôngthôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh kinh

tế khó khăn, môi trường xã hội còn nhiều hạn chế Những chương trình, dự án củacác tổ chức quốc tế đem tới Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc xoá đói, giảmnghèo cũng như nâng cao đời sống và năng lực của người dân tại các vùng dự án

Khả năng giao lưu quốc tế được mở rộng cho phép đồng bào Khmer có nhiều

cơ hội tiếp xúc với nhau Các phần tử xấu cũng lợi dụng chính sách mở cửa của ViệtNam để thâm nhập, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chủnghĩa ly khai

Như vậy, xét về yếu tố môi trường tự nhiên, đồng bào dân tộc Khmer sốngrải rác, xen kẽ nhau Về kinh tế, văn hóa - xã hội, văn hóa dân tộc người Khmer cótrình độ phát triển không đều nhau Tuy cùng chia sẻ một số giá trị văn hóa chung,nhưng mỗi dân tộc lại có những giá trị và sắc thái riêng Tất cả những yếu tố trên đã

có những tác động và là một thách thức không nhỏ đối với Đảng bộ huyện Trà Cútrong công tác lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chủ chốt là người dân tộcKhmer của huyện Trà Cú

1.5 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH

Trang 31

Tiêu chí về nhận thức của cấp uỷ đảng, nhất là cấp uỷ cơ sở nơi có đông

đồng bào Khmer sinh sống trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là ngườidân tộc Khmer ở huyện Trà Cú Trong các cấp uỷ đảng cũng như những người đứngđầu các tổ chức trong hệ thống chính trị trong huyện cần phải có nhận thức đúngđắn và phải xuất phát từ thực tế khách quan của đơn vị Xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp huyện là người dân tộc Khmer ở huyện Trà Cú có 62,69% đồng bàodân tộc Khmer, xuất phát từ vai trò lãnh đạo của Đảng cần có những cầu nối giúpcho sự lãnh đạo toàn diện, từ yêu cầu của thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết toàndân, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

ở vùng đồng bào dân tộc Khmer Từ nhận thức đó, các cấp uỷ đảng và người đứngđầu các tổ chức trong hệ thống chính trị sẽ có sự chủ động trong việc lựa chọnnguồn, quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ này vừa đồng

bộ về cơ cấu vừa đảm bảo được năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạngtrong giai đoạn mới

Tiêu chí về thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp uỷ đảng của

huyện trong công tác cán bộ, đặc biệt là cấp uỷ cơ sở Nhiệm vụ, quyền hạn củađảng bộ cơ sở trong công tác cán bộ là xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng,

kỷ luật, đãi ngộ đối với cán bộ thuộc quyền, đề xuất ý kiến trong việc lựa chọn, giớithiệu cán bộ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thểnhân dân ở cấp trên và cán bộ chủ chốt ở cơ sở do cấp trên quản lý Cán bộ chínhquyền, đoàn thể đa số là cán bộ bầu cử, cấp uỷ Đảng ở cơ sở chỉ thực hiện quyềngiới thiệu người đủ tiêu chuẩn trong tổ chức đảng và nhân dân để bầu là chính, cácquyền khác chỉ thực hiện được với một số chức danh công chức chuyên môn

Tiêu chí về thực hiện đúng tiêu chuẩn cán bộ nêu trong nghị quyết Trung

ương ba khoá VIII của Đảng (cả tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn của từng loại cánbộ) Đồng thời, các cấp uỷ đảng và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thốngchính trị phải vận dụng thêm tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh cán bộ do cấp cóthẩm quyền ban hành để lựa chọn cán bộ là người dân tộc Khmer vào diện quyhoạch cho phù hợp

Trang 32

Trong điều kiện hiện nay, tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực của người cán

bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt của huyện là người dântộc Khmer nói riêng phải được xét ở những yếu tố cơ bản sau:

- Năng lực thực tiễn, thể hiện ở kết quả và hiệu quả công việc, tinh thần chủđộng, sáng tạo, mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; khả năng đoànkết, tập hợp, quy tụ cán bộ; năng lực tổ chức, điều hành để thúc đẩy sự phát triểncủa lĩnh vực công tác được phân công phụ trách

- Đạo đức, lối sống trong sạch, không tham nhũng, lãng phí và kiên quyếtđấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân; bản thân cán bộ vàgia đình phải gương mẫu chấp hành đúng pháp luật, không lợi dụng chức quyền đểmưu cầu lợi ích riêng

- Ham học hỏi, cầu tiến bộ, qua thực tế cho thấy là cán bộ có triển vọng vươnlên đảm nhận nhiệm vụ cao hơn; năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu tráchnhiệm, gần gũi với quần chúng và được quần chúng tín nhiệm

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chính trị của đơn vị, và đặc điểm của huyện

ta là có đông đồng bào Khmer sinh sống, ngoài những tiêu chuẩn chung nêu trên,đối với cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị của huyệnphải thực sự là người tiêu biểu, đại diện trong phum, sóc, là người gần gũi với đồngbào, am hiểu về phong tục tập quán của dân tộc mình (đối với cán bộ chủ chốt làngười dân tộc Khmer nhất thiết phải biết đọc, biết viết chữ Khmer vì còn liên quanđến văn bản và giao tiếp ngôn ngữ, thuật ngữ chính trị trong quan hệ làm việt vớiđồng bào Khmer, nhằm chuyển tải chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước

đi vào cuộc sống của đồng bào Khmer đang làm ăn và sinh sống)

Nhận thức về những tiêu chuẩn như trên cấp uỷ đảng và người đứng đầu các

tổ chức trong hệ thống chính trị có sự chủ động trong việc xây dựng quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn phong phú cho việc bố trí, sử dụng sau này,khắc phục dần tình trạng bố trí chỉ vì cơ cấu, và hẫng hụt cán bộ người dân tộcKhmer ở huyện Trà Cú sau này

Tiêu chí về nắm chắc thực trạng đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer ở

trong huyện Đây là một trong những tiêu chí hết sức quan trọng, giúp cấp uỷ đảng

Trang 33

và người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị của huyện có hướng quy hoạch,đào tạo bồi dưỡng, tạo ra một đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer có phẩm chấtđạo đức và năng lực lãnh đạo quản lý, sẵn sàng cho việc bố trí theo cơ cấu và yêucầu nhiệm vụ chính trị của huyện Tiêu chí này là biểu hiện đầy đủ và tập trung nhấtcủa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer sau này, vì

nó được xem xét với tư cách là kết quả của quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủchốt của huyện nói chung và đối với cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer nóiriêng, trong đó cần lưu ý đến số lượng, chất lượng, cơ cấu, phẩm chất chính trị,năng lực công tác, phong cách làm việc, uy tín, ảnh hưởng và khả năng quy tụ, tậphợp và lôi cuốn đồng bào Khmer tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương

Tiểu kết chương 1

Từ năm 1992 đến năm 2015 Đảng bộ huyện Trà Cú đã quán triệt và vận dụngquan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc, nhất là chínhsách đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer,vào thực tế địa phương khá linh hoạt và sáng tạo Huyện ủy đã chỉ đạo các xã, thịtrấn bám sát đặc điểm, yêu cầu của địa phương, chủ động đề ra biện pháp xây dựngđội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trị với các nội

dung trọng tâm: Chỉ đạo xây dựng quy hoạch, tạo nguồn cán bộ; Chỉ đạo công tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Chỉ đạo về việc tiếp nhận tuyển dụng và thực hiện chế

độ chính sách đối với cán bộ, nhằm tạo nguồn cán bộ chủ chốt cho huyện

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, quá trình lãnh đạoxây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer trong hệ thống chính trịcủa huyện và việc tổ chức thực thi chủ trương, đường lối chiến lược của Đảng vàNhà nước về công tác này của huyện còn nhiều hạn chế, bất cập: hạn chế trong chỉđạo quy hoạch cán bộ; hạn chế về trình độ của đội ngũ cán bộ, bất cập trong côngtác đào tạo cán bộ, bất cập trong cơ cấu cán bộ… Yêu cầu đặt ra đối với huyện từnay đến năm 2025 cần tiếp tục phát huy những ưu điểm đạt được, khắc phục nhữnghạn chế tồn tại để tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc

Trang 34

Khmer trong hệ thống chính trị ngày càng phát triển, đáp ứng được yêu cầu nhiệm

vụ cách mạng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT

LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH 2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH

Việt Nam là một nước nông nghiệp, có khoảng 76% cư dân sống ở nông thônvới khoảng hơn 70 triệu nông dân trong tổng số hơn 94.970.597 người của cả nước

Từ bao đời nay cộng đồng dân cư sinh sống, gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh

tế, dòng tộc và văn hoá Các đơn vị làng xã, huyện có tầm quan trọng đặc biệt, tồntại như một môi trường, một không gian - xã hội, một đơn vị hành chính - lãnh thổvới những đặc điểm khác nhau về địa lý, dân cư, kinh tế, văn hoá, v.v Cấp huyệnđược xác định là cấp cơ sở trong hệ thống chính trị bốn cấp quản lý hành chính Nhànước ở nước ta hiện nay, gồm: cấp Trung ương, cấp tỉnh (gồm tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương), cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) vàcấp xã (xã, phường, thị trấn)

Cấp huyện là cấp thứ ba trong hệ thống chính trị của Việt Nam, nơi lãnh đạothực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầunối trực tiếp giữa huyện với xã, thị trấn Mối quan hệ công tác của hệ thống chínhtrị cấp huyện thể hiện trong cơ chế tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động: tổchức đảng có vai trò hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị ở huyện; Uỷ ban nhândân huyện có vai trò quản lý nhà nước; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viênbao gồm Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nôngdân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Cựu chiến binh, v.v có vai trò đoàn kết, tập hợpquần chúng tham gia vào các hoạt động xây dựng và phát triển đất nước, thực hiệndân chủ ở cơ sở

Tổ chức Đảng cấp huyện là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở huyện,

là tế bào đầu tiên, trực tiếp liên kết các Chi bộ, Đảng bộ lại với nhau thành tổ chức.Với mạng lưới tổ chức của mình, là điểm tựa của Đảng để tiến hành công tác tuyêntruyền, động viên và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng trong quần chúng, là sợidây nối liền Đảng với quần chúng Thông qua phong trào cách mạng của quần

Trang 36

chúng ở địa phương, cán bộ chủ chốt của Đảng nắm được tâm tư, nguyện vọng củanhân dân, tổng kết sáng kiến của quần chúng, đóng góp cho Đảng và Nhà nước để

bổ sung, phát triển đường lối, chính sách

Chính quyền cấp huyện bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.Trong đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở huyện và là cơ quanđại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong huyện Ủy ban nhân dân là cơquan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước cấphuyện, đảm bảo dân chủ mà còn là chủ thể tổ chức các hoạt động của cộng đồngtrên địa bàn như các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, v.v

Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở huyện, chủ yếu là Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc, Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanhniên, Hội Cựu chiến binh Các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị củachính quyền nhân dân, thống nhất, phối hợp hoạt động của các tầng lớp nhân dânnhằm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giám sátviệc thực thi dân chủ; bảo vệ, chăm lo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân;tham gia củng cố hệ thống chính trị, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, giữ vững an ninh quốc phòng của huyện Các hoạt động của các tổ chức đoànthể nhân dân là nhằm thực hiện quyền làm chủ và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cáchội viên và nhân dân lao động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội

Đối với huyện Trà Cú - nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, ngoài nhữngđặc điểm của huyện nói trên còn nổi lên một số đặc điểm cơ bản như sau:

Một là, người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi; sống tập trung ở các phum, sóc; trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá còn thấp; cuộc sống sinh hoạt văn hoá của người dân thường gắn với chùa chiền, Phật giáo Nam tông (Tiểu thừa).

Ngôi Chùa đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của ngườiKhmer Nếu như “Cây đa - Giếng nước - Sân đình” được coi là biểu tượng của làngquê, nơi tập trung sinh hoạt cộng đồng ở miền Bắc thì hệ thống chùa chiền lại làtrung tâm sinh hoạt cộng đồng của người Khmer tại các phum, sóc ở huyện Trà Cú.Trong tâm thức của đồng bào Khmer Chùa như là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và

Trang 37

tương lai, là điểm tựa tinh thần vững chắc của người dân Khmer, là nơi lưu giữ, bảotồn các giá trị văn hoá của dân tộc Khmer và là nơi sinh hoạt tôn giáo của tín đồphật tử Cho đến nay, các ngôi Chùa vẫn luôn là sợi dây gắn kết cộng đồng bềnchặt Tôn giáo và bản sắc dân tộc của đồng bào Khmer đan xen, hoà nhập vào nhau.Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính thống của phật tử tín đồ trong cộng đồng dântộc Khmer Văn hoá của Phật giáo ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần và trởthành yếu tố chi phối tư tưởng, tình cảm của cộng đồng dân cư với mục đích xâydựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn Đại bộ phận sư sãi là con em nhân dân laođộng, gắn bó với gia đình, phum, sóc Tính mở và vai trò quan trọng của chùaKhmer và bộ phận sư sãi tạo nên những đặc thù trong công tác vận động, xây dựngkhối đại đoàn kết ở nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống Toàn huyện Trà Cúhiện có 44 chùa Phật giáo Nam tông Khmer nằm rải khắp các xã, thị trấn có đôngđồng bào Khmer sinh sống, và hầu như xã, thị trấn nào cũng có ít nhất một chùa.

Hai là, sự giao thoa văn hoá, gắn bó máu thịt tình làng nghĩa xóm giữa ba

dân tộc Kinh, Khmer và Hoa rất bền chặt.

Các dân tộc Kinh, Khmer và Hoa trên địa bàn huyện đã có lịch sử gắn bó lâuđời trong quá trình dựng nước và giữ nước; trong chiến tranh cũng như trong xâydựng chủ nghĩa xã hội Cả ba dân tộc đều sống xen kẽ nhau trong các thôn, làng, ấp,phum, sóc; cùng giao lưu, hợp tác, chia sẻ, học hỏi lẫn nhau những giá trị xã hội,giá trị văn hóa, cộng đồng để cùng ổn định và phát triển Giữa các dân tộc trên địabàn hầu như chưa xảy ra xung đột nghiêm trọng nào

Ngoài ra, hệ thống chính trị ở huyện Trà Cú tuy đã được các cấp uỷ đảngquan tâm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động nhưng hiệu quả chưa cao, trình

độ cán bộ không đồng đều Chính từ những đặc điểm nổi bật nêu trên, các cấp uỷđảng và chính quyền địa phương trong huyện luôn xác định rõ nhu cầu và quan tâmxây dựng bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là quan tâm đếnvấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer có đủ năng lực vàphẩm chất đạo đức cách mạng, nắm chắc đặc điểm chung của huyện để tổ chức thựchiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo bước

Trang 38

phát triển rõ nét ở nông thôn, tổ chức cuộc sống ổn định cho người dân trong đó cóđồng bào dân tộc Khmer.

2.2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT LÀ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH

Kết quả xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer ở huyệnTrà Cú tỉnh Trà Vinh được phản ánh tập trung qua kết quả các kỳ Đại hội Đảng bộhuyện từ năm 1992 đến nay và trên các phương diện chủ yếu sau:

* Đảng bộ huyện Trà Cú nhiệm kỳ 1990 - 1995:

Nghị quyết ngày 26 tháng 12 năm 1991 của Quốc hội, tỉnh Cửu Long táchthành tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, huyện Trà Cú thuộc tỉnh Trà Vinh Năm

1992, Đảng bộ huyện Trà Cú tổ chức đại hội Đảng bộ huyện giữa nhiệm kỳ

1992-1995 Tại đại hội đã bầu bổ sung Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú gồm 33đồng chí Trong đó: dân tộc Kinh gồm 25 đồng chí, chiếm 75,76%; dân tộc Khmergồm 08 đồng chí, chiếm 24,24%

Dân số huyện Trà Cú tại thời điểm năm 1992 khoản 140.465 người Trongđó: dân tộc Khmer khoản 85.683 người, chiếm 60,99%; dân tộc Kinh khoản 53.581người, chiếm 38,14%; còn lại là dân tộc khác chiếm 0,87%

Nhìn chung, cán bộ chủ chốt Trà Cú thời kỳ chia tách tỉnh còn thiếu nhiềucán bộ dân tộc Khmer; một phần do cán bộ người Khmer tham gia hoạt động cáchmạng còn ít, một phần chưa hội tụ đủ phẩm chất đảo đức cách mạng, chưa đủ khảnăng đảm nhận các vị trí chủ chốt trong Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú

* Đảng bộ huyện Trà Cú nhiệm kỳ 1995 - 2000

Năm 1995, Đảng bộ huyện Trà Cú tổ chức đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ

1995 - 2000 Tại đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú gồm 34đồng chí Trong đó: dân tộc Kinh gồm 25 đồng chí, chiếm 73,53%; dân tộc Khmergồm 09 đồng chí, chiếm 26,47%

Dân số huyện Trà Cú tại thời điểm năm 1996 khoản 168.558 người Trongđó: dân tộc Khmer khoản 99.449 người, chiếm 58,99%; dân tộc Kinh khoản 68.751người, chiếm 40,79%; còn lại là dân tộc khác chiếm 0,22%

Trang 39

Nhìn chung, cán bộ chủ chốt của huyện Trà Cú thời kỳ năm 1995 còn thiếunhiều cán bộ dân tộc Khmer, chưa có định hướng quy hoạch, đào tạo bổ sung; mộtphần do cán bộ người Khmer tham gia hoạt động cách mạng còn ít, một phần chưahội tụ đủ phẩm chất đảo đức cách mạng, chưa đủ khả năng đảm nhận các vị trí chủchốt trong Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú.

* Đảng bộ huyện Trà Cú nhiệm kỳ 2000 - 2005

Năm 2000, Đảng bộ huyện Trà Cú tổ chức đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ

2000 - 2005 Tại đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú gồm 33đồng chí Trong đó: dân tộc Kinh gồm 28 đồng chí, chiếm 84,85%; dân tộc Khmergồm 05 đồng chí, chiếm 15,15%

Dân số huyện Trà Cú tại thời điểm năm 2001 khoản 163.057 người Trongđó: dân tộc Khmer khoản 96.236 người, chiếm 59,02%; dân tộc Kinh khoảng66.527 người, chiếm 40,8%; còn lại là dân tộc khác chiếm 0,18%

Nhìn chung, cán bộ chủ chốt của huyện Trà Cú thời kỳ năm 2001 còn thiếunhiều cán bộ dân tộc Khmer, chưa có định hướng quy hoạch, đào tạo bổ sung; mộtphần do cán bộ người Khmer tham gia hoạt động cách mạng còn ít, một phần chưahội tụ đủ phẩm chất đảo đức cách mạng, chưa đủ khả năng đảm nhận các vị trí chủchốt trong Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú

* Đảng bộ huyện Trà Cú nhiệm kỳ 2005 - 2010

Năm 2006, Đảng bộ huyện Trà Cú tổ chức đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ2006-2010 Tại đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú gồm 39đồng chí Trong đó: dân tộc Kinh gồm 30 đồng chí, chiếm 76,92%; dân tộc Khmergồm 09 đồng chí, chiếm 23,07%

Dân số huyện Trà Cú tại thời điểm năm 2006 khoản 165.519 người Trongđó: dân tộc Khmer khoảng 99.427 người, chiếm 60,98%; dân tộc Kinh khoảng65.142 người, chiếm 38,38%; còn lại là dân tộc khác chiếm 0,64%

Nhìn chung, cán bộ chủ chốt của huyện Trà Cú thời kỳ năm 2006 còn thiếunhiều cán bộ dân tộc Khmer, chưa có định hướng quy hoạch, đào tạo bổ sung; mộtphần do cán bộ người Khmer tham gia hoạt động cách mạng còn ít, một phần chưa

Trang 40

hội tụ đủ phẩm chất đảo đức cách mạng, chưa đủ khả năng đảm nhận các vị trí chủchốt trong Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú.

* Đảng bộ huyện Trà Cú nhiệm kỳ 2010 - 2015

- Cơ cấu Ban Chấp hành và dân số trên địa bàn huyện

Năm 2010, Đảng bộ huyện Trà Cú tổ chức đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ

2010 - 2015 Tại đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Trà Cú gồm 45đồng chí Trong đó: dân tộc Kinh gồm 30 đồng chí, chiếm 66,67%; dân tộc Khmergồm 15 đồng chí, chiếm 33,33%

Dân số huyện Trà Cú tại thời điểm năm 2010 khoản 176.256 người Trongđó: dân tộc Khmer khoản 109.024 người, chiếm 61,97%; dân tộc Kinh khoản65.982 người, chiếm 37,35%; còn lại là dân tộc khác chiếm 0,69%

Nhìn chung, cán bộ chủ chốt của huyện Trà Cú thời kỳ năm 2010 đã cóhướng phát triển cán bộ dân tộc Khmer, có định hướng quy hoạch, đào tạo bổ sung

- Về độ tuổi cán bộ chủ chốt

Hình 2.1: Cơ cấu độ tuổi cán bộ chủ chốt huyện Trà Cú nhiệm kỳ 2010 - 2015

Với cơ cấu như trên, đội ngũ cán bộ chủ chốt của huyện hiện có là tươngđối lớn tuổi là 28 đồng chí, chiếm 62,22% Còn độ tuổi trẻ tương đối ít với 15 đồngchí, chiếm 33,33%, cần rà soát bổ sung cho phù hợp với nhiệm kỳ tiếp

Về lập trường chính trị và phẩm chất đạo đức cách mạng, hầu hết đội ngũ cán

bộ chủ chốt của huyện là người đã có kinh nghiệm, trải qua nhiều vị trí chủ chốt ởcấp xã và ban ngành đoàn thể huyện, tham gia hoạt động cách mạng và trưởng thành

từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân; là những người có uy tín trong

Ngày đăng: 06/02/2022, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2008), Tình hình nghiên cứu các dân tộc ở Nam Bộ. Kỷ yếu Hội thảo khoa học lần I “Lịch sử nghiên cứu và phương pháp tiếp cận”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nghiên cứu các dân tộc ở Nam Bộ". Kỷ yếu Hội thảokhoa học lần I "“Lịch sử nghiên cứu và phương pháp tiếp cận”
Tác giả: Phan An
Năm: 2008
2. Aristotle (2011), Chính trị luận, (Nông Duy Trường dịch & Chú giải), Nxb.Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị luận
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: Nxb.Thế giới
Năm: 2011
4. Ban Chấp hành Trung ương - Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Quyết định số 68- QĐ/TW ngày 04/7/2007 ban hành Quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết địnhsố 68- QĐ/TW ngày 04/7/2007 ban hành Quy chế bổ nhiệm cán bộ vàgiới thiệu cán bộ ứng cử
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương - Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
5. Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh, Báo cáo tìn hình dân tộc và công tác dân tộc các năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tìn hình dân tộc và công tác dân tộc
6. Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Hướng dẫn số 11-HD/TCTW thực hiện quy định về phân cấp quản lý cán bộ, quy chế đánh giá cán bộ, quy chế bổ nhiệm cán bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số11-HD/TCTW thực hiện quy định về phân cấp quản lý cán bộ, quy chếđánh giá cán bộ, quy chế bổ nhiệm cán bộ
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
7. Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 06-HD/TCTW của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫnthực hiện Nghị quyết số 06-HD/TCTW của Bộ Chính trị về luân chuyểncán bộ lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
8. Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Hướng dẫn số 11- HD/TCTW bổ sung thực hiện quyc hế đánh giá cán bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số11- HD/TCTW bổ sung thực hiện quyc hế đánh giá cán bộ
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
9. Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Hướng dẫn số 47-HD/BTCTW thực hiện Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số47-HD/BTCTW thực hiện Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị vềcông tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Hoàng Chí Bảo (2005), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiệnnay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2005
11. Hoàng Chí Bảo (Chủ biên 2007): Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tácgiữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay
12. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 11/NQ-TW về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11/NQ-TW về luân chuyển cán bộ lãnhđạo và quản lý
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
13. Trần Thị Chính (2006) “Phát triển đảng viên trong đồng bào Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Trà Vinh giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đảng viên trong đồng bào Khmer của cácđảng bộ xã ở tỉnh Trà Vinh giai đoạn hiện nay
14. Chi cục Thống kê huyện Trà Cú (2016), Niên giám thống kê 2012 -2016, Trà Cú Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2012 -2016
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Trà Cú
Năm: 2016
15. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sáchđối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
16. Trịnh Quang Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộcthiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay
Tác giả: Trịnh Quang Cảnh
Nhà XB: NXB Chính trịquốc gia
Năm: 2005
18. Nguyễn Mậu Dựng (1996) “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận án tiến sĩ, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt củađảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay
19. Nguyễn Sỹ Đệ (2005) “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng ở vùng có đông người Khmer trong giai đoạn hiện nay ”, Luận văn thạc, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởngcủa Đảng ở vùng có đông người Khmer trong giai đoạn hiện nay
20. Đảng bộ huyện Trà Cú (1990), Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VI nhiệm kỳ 1990 – 1995, Trà Cú Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VInhiệm kỳ 1990 – 1995
Tác giả: Đảng bộ huyện Trà Cú
Năm: 1990
21. Đảng bộ huyện Trà Cú (1995), Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VII nhiệm kỳ 1995 – 2000, Trà Cú Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VIInhiệm kỳ 1995 – 2000
Tác giả: Đảng bộ huyện Trà Cú
Năm: 1995
22. Đảng bộ huyện Trà Cú (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII nhiệm kỳ 2000 – 2005, Trà Cú Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VIIInhiệm kỳ 2000 – 2005
Tác giả: Đảng bộ huyện Trà Cú
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w