1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thực tiễn tại tỉnh lâm đồng

49 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 709,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

    • 1. Tính cấp thiết của đề tài:

    • 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:

    • 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu:

    • 4. Phương pháp nghiên cứu:

    • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

    • 6. Bố cục của đề tài:

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

    • 1.1. Khái niệm của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

      • 1.1.1. Nhận nuôi con nuôi

      • 1.1.2. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

      • 1.1.3. Yếu tố nước ngoài:

      • 1.1.4. Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

    • 1.2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.

      • 1.2.1. Giai đoạn trước thời kì đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

        • 1.2.1.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945

        • 1.2.1.2. Giai đoạn từ 1945 – 1986

      • 1.2.2. Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

        • 1.2.2.1. Giai đoạn từ 1986 – 2000

        • 1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2010

        • 1.2.2.3. Từ năm 2010 đến nay

    • 1.3. Nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

      • 1.3.1. Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

      • 1.3.2. Điều kiện nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

        • 1.3.2.1. Đối với người nhận con nuôi

        • 1.3.2.2. Đối với người được nhận làm con nuôi

      • 1.3.3. Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

        • 1.3.3.1. Xung đột pháp luật về thẩm quyền áp dụng pháp luật.

        • 1.3.3.2. Nguyên tắc giải quyết xung đột về thẩm quyền áp dụng luật.

      • 1.3.4. Trình tự, thủ tục đăng kí nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

        • 1.3.4.1. Thủ tục nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh

        • 1.3.4.2. Thủ tục nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài không đích danh

        • 1.3.4.3. Nuôi con nuôi ở khu vực biên giới

      • 1.3.5. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

        • 1.3.5.1. Quan hệ giữa người được nhận nuôi với người nhận nuôi và gia đình gốc.

        • 1.3.5.2. Quan hệ giữa người được nhận nuôi với gia đình gốc

        • 1.3.5.3. Quyền xác định dân tộc, thay đổi họ tên của người được nhận nuôi.

      • 1.3.6. Những Hiệp định tương trợ tư pháp, Công ước về nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

        • 1.3.6.1. Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam – Hoa kỳ (2005).

        • 1.3.6.2. Công ước Lahay.

  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG

    • 2.1 Giới thiệu về đơn vị thực tập

      • 2.1.1. Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng

      • 2.1.2. Phòng Hành chính Tư pháp tỉnh Lâm Đồng

      • Căn cứ quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Sở Tư pháp đã thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của Luật Nuôi con nuôi, sau khi nhận được thông báo của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp trình UBND tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi...

    • 2.2. Thực trạng giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

      • 2.2.1. Tình hình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

      • Về công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi: Phòng đã tham mưu lãnh đạo Sở ký Tờ trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 3617/KH-UBND ngày 14/9/2018 về triển khai thực hiện Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ trên địa...

      • Tổ chức 02 hội nghị tập huấn nghiệp vụ nuôi con nuôi cho công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn tỉnh để kịp thời hướng dẫn, chấn chỉnh đảm bảo thực hiện đồng bộ, thống nhất.

      • Về Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: Phòng tham mưu lãnh đạo Sở trình UBND tỉnh giải quyết 28 trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và tổ chức Lễ trao Quyết định cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài theo quy định. Có 01 trường hợp bị ...

      • 2.2.2. Những ưu điểm

      • 2.2.3. Khó khăn, bất cập còn tồn tại trong việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

    • 2.3. Một số kiên nghị, giải pháp hoàn thiện:

      • 2.3.1. Đề xuất, kiến nghị:

      • 2.3.2. Giải pháp:

      • Khi giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong tỉnh, cần tôn trọng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc.

  • KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Nuôi con nuôi là một chế định rất quan trọng trong pháp luật của mỗi quốc gia. Với tư pháp quốc tế chế định này được thể hiện rất rõ ràng. Cộng đồng quốc tế hiện nay đang đặc biệt quan tâm đến pháp luật nhận nuôi con nuôi, bởi đối tượng mà chế định này hướng đến là bảo vệ về mặt pháp lý cho trẻ em, lứa tuổi cần được quan tâm và đầu tư nhất từ cộng đồng. Tuy mỗi nước có những quy định khác nhau về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, nhưng đều có chung một mục đích đó là đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em.Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề này chỉ thực sự trở thành mối quan tâm của cộng đồng từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và được khẳng định là một trong những quyền dân sự cơ bản của trẻ em trong các văn kiện pháp lý quan trọng về quyền con người từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Những thập niên gần đây, nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài nói riêng ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và phức tạp hơn.Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, thì các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi ngày càng thu hút được sự chú ý của xã hội. Trong bối cảnh đó, về mặt pháp luật có thể thấy trước đây các quy định về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, các Nghị định và một số thông tư… nên rất tản mạn, khó tiếp cận và áp dụng trên thực tế. Trước tình hình đó, Luật nuôi con nuôi ra đời đã đánh dấu sự kiện quan trọng của quá trình pháp điển hoá các quy phạm pháp luật và thực tiễn giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất và ổn định lâu dài cho công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, đồng thời chấm dứt tình trạng hai mặt bằng pháp lý gần như tách biệt về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nhất là việc Việt Nam đã tham gia Công ước Lahay 1993, yêu cầu pháp luật Việt Nam phải hài hoà với pháp luật nhiều nước trên thế giới và thông lệ quốc tế. Trên quan điểm đó, việc nhận nuôi con nuôi trong nước và có yếu tố nước ngoài đã trở nên phổ biến và thực hiện khá rộng rãi trong xã hội hiện nay. Nhà nước bảo hộ quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi cũng như khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhưng không làm ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi. Việc nhận nuôi con nuôi có thể được xác lập về mặt pháp lý thông qua sự kiện pháp lý đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua sự kiện này đã làm phát sinh quan hệ giữa người nhận nuôi và con nuôi. Quan hệ này được nhà nước công nhận và bảo hộ.

Tính cấp thiết của đề tài

Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, được thể hiện rõ nét dưới bình diện pháp lý quốc tế Hiện nay, cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm đến pháp luật nhận nuôi nhằm bảo vệ quyền lợi và sự phát triển của trẻ em, lứa tuổi cần được chăm sóc và đầu tư nhiều nhất từ xã hội Dù mỗi nước có trình tự và thủ tục nhận nuôi khác nhau, nhưng tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em.

Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt tồn tại từ lâu ở nhiều nước trên thế giới Vấn đề này bắt đầu được cộng đồng để ý nhiều hơn sau chiến tranh thế giới thứ nhất và dần khẳng định là một trong những quyền dân sự cơ bản của trẻ em trong các văn kiện pháp lý về quyền con người từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Trong những thập niên gần đây, nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và độ phức tạp tăng lên.

Ngay từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, quan hệ quốc tế được mở rộng, khiến các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó nuôi con nuôi ngày càng thu hút sự chú ý của xã hội Trước thực trạng đó, các quy định về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng được phân tán ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, cùng các nghị định và thông tư, khiến việc tiếp cận và áp dụng gặp khó khăn Vì vậy, Luật nuôi con nuôi ra đời đánh dấu bước pháp điển hoá quan trọng, thống nhất và ổn định lâu dài cho công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi và chấm dứt sự tách biệt về mặt pháp lý giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đồng thời, với yêu cầu hội nhập quốc tế và việc Việt Nam tham gia Công ước La Hay 1993, pháp luật Việt Nam được điều chỉnh để hài hòa với pháp luật và thông lệ quốc tế.

Nhận nuôi con nuôi trong nước có yếu tố nước ngoài đã trở nên phổ biến và được thực hiện rộng rãi trong xã hội hiện nay Nhà nước bảo hộ quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhưng không làm ảnh hưởng đến quá trình cho nhận con nuôi Việc nhận nuôi được xác lập về mặt pháp lý thông qua sự kiện pháp lý đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó phát sinh quan hệ pháp lý giữa người nhận nuôi và con nuôi, quan hệ này được nhà nước công nhận và bảo hộ.

Vấn đề nhận nuôi con nuôi được xem xét trên hai khía cạnh: nhận nuôi trong nước và nhận nuôi có yếu tố nước ngoài Bài chuyên đề tốt nghiệp tập trung làm rõ khía cạnh nhận nuôi có yếu tố nước ngoài và đưa tỉnh Quảng Trị làm thực tiễn minh chứng, đồng thời ghi nhận bối cảnh pháp lý liên quan tại Việt Nam Đề tài mang tiêu đề “Pháp luật nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Thực tiễn tại tỉnh Lâm Đồng”, nhằm phân tích khung pháp lý, quyền lợi của trẻ em và các bên liên quan, cũng như những thách thức khi áp dụng quy định vào thực tiễn tại Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu của đề tài

Pháp luật về đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không phải là vấn đề mới, nhưng mang ý nghĩa trọng yếu đối với quyền nhân thân của trẻ em Vì vậy, vấn đề này thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều có các công trình khoa học ở cấp cơ sở và cấp nhà nước tập trung vào vấn đề này để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và thực tiễn đối với thủ tục đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Những công trình này đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai pháp luật trên thực tế và bảo đảm các quyền cơ bản cho công dân.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu Tư pháp quốc tế và Luật hôn nhân gia đình đối với đăng ký nhận cha mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo pháp luật hiện hành, tác giả tiến hành nghiên cứu chế định pháp lý về đăng ký nhận cha mẹ và con có yếu tố nước ngoài theo Tư pháp quốc tế Mục tiêu của nghiên cứu là tiếp cận một cách toàn diện để bảo đảm việc đăng ký nhận cha mẹ, con có yếu tố nước ngoài được chặt chẽ và chính xác, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Vấn đề nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đặt ra các yêu cầu khách quan về lý luận lẫn thực tiễn Nhiều nhà khoa học pháp lý đã nghiên cứu và trình bày các luận cứ ở nhiều gốc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau nhằm làm rõ bản chất và hệ quả của quan hệ nuôi con nuôi trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về quan hệ nuôi con nuôi, nổi bật với chuyên đề "Chế định nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế".

Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ tư pháp năm 1998; Bài viết của Tiến sĩ

Nguyễn Công Khanh phân tích Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, được đăng trên tạp chí nghiên cứu lập pháp trước và sau khi công bố pháp lệnh Hôn nhân gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Bài viết làm nổi bật sự tiến bộ của hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Bộ luật Nuôi con nuôi năm 2010 ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010 đã quy định riêng chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cho thấy một bước phát triển mới của pháp luật trong lĩnh vực này.

Sau sự kiện này, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã ra đời để làm rõ chế định nuôi con nuôi và các vấn đề pháp lý liên quan Điển hình là bài "Chế định nuôi con nuôi trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" của thạc sĩ Ngô Thị Hường, được đăng trên Tạp chí Luật học số 3/2001, phân tích các quy định và cơ sở lý luận của nuôi con nuôi; cùng với tác phẩm "Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam" của thạc sĩ Nguyễn, mở rộng cái nhìn về bản chất pháp lý của nuôi con nuôi và những vấn đề còn tranh luận trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Ba công trình nghiên cứu nổi bật về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhấn mạnh sự tương tác giữa luật Việt Nam và Công ước La Hay, cũng như sự so sánh với pháp luật nước ngoài Phương Lan trong bài đăng trên tạp chí Luật học, số 3 năm 2004, trình bày khung pháp lý về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và mối tương quan với Công ước La Hay Vũ Kim Dung (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013) phân tích sâu về Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong mối quan hệ với Công ước La Hay Lê Thị Hiền (Đại học Quốc gia Hà Nội) đề xuất so sánh Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam với pháp luật nước ngoài, làm sáng tỏ khác biệt và rút ra các hàm ý điều chỉnh cần thiết.

Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu gia nhập Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước” của tác giả Vũ Đức Long, thực hiện như một đề tài khoa học cấp bộ tại Hà Nội năm 2005, nhằm đề xuất xây dựng khung pháp lý Việt Nam đối với nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và chuẩn bị cho việc gia nhập Công ước La Hay 1993 Bài viết phân tích cơ sở pháp lý, những thách thức và ưu tiên thực tiễn trong hợp tác nuôi con nuôi giữa các nước, từ đó đưa ra các giải pháp để bảo vệ quyền lợi trẻ em và nâng cao hiệu quả tham gia cũng như thực thi công ước quốc tế Kết quả đề xuất tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải thiện quy trình tố tụng và quản lý nuôi con nuôi xuyên biên giới, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế nhằm đảm bảo tính nhất quán và hiệu lực của các quy định liên quan.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số nghị định để quy định chi tiết thi hành một số điều kiện của Luật Nuôi con nuôi, trong đó nổi bật là Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 3 năm 2011, nhằm quy định rõ trình tự, điều kiện và thẩm quyền liên quan đến nuôi con nuôi.

Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ đăng ký và quản lý hộ tịch.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nhằm tập trung tìm hiểu, phân tích và làm sáng tỏ vấn đề đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài trong hệ thống tư pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; đánh giá sự phù hợp giữa các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại huyện Bảo Lâm, từ đó làm rõ những hạn chế, khó khăn và bất cập trong quá trình giải quyết các vụ việc đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ vướng mắc và nâng cao hiệu quả thực thi, đồng thời tăng cường tính thống nhất giữa pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế trên thực tế giải quyết các vụ việc tại địa phương và toàn quốc.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào vấn đề đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam, trong đó trọng tâm được đặt vào tư pháp quốc tế Nghiên cứu phân tích các quy định và nguyên tắc của tư pháp quốc tế liên quan đến đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài và đối chiếu với các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm làm rõ sự tương thích và những bất cập Đề tài cũng xem xét thực tiễn áp dụng tại địa bàn huyện Bảo Lâm để đánh giá cách thức triển khai các quy định này trong thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Bài báo cáo thực tập sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp so sánh đối chiếu, thực tiễn

Trong thời gian thực tập tại huyện Bảo Lâm, tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp để phân tích vấn đề đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài từ nhiều góc độ Việc triển khai các phương pháp này giúp quá trình thực tập nắm bắt các quy định pháp luật liên quan, làm rõ trình tự, điều kiện và các yếu tố pháp lý ảnh hưởng đến việc đăng ký nhận con có yếu tố nước ngoài, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan và đề xuất giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài trình bày các quan điểm và kết quả nghiên cứu nhằm bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho pháp luật điều chỉnh quan hệ nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, với phân tích thực tế tại tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Những đề xuất kiến nghị được trình bày trong Chuyên đề có thể đóng góp một phần nhỏ vào quá trình hoàn thiện và đổi mới pháp luật điều chỉnh quan hệ nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, từ đó nâng cao hiệu quả thi hành và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Các nội dung đề xuất của tác giả cũng phần nào giải quyết được những thắc mắc, bức xúc trong thực tiễn đặt ra.

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và mục tài liệu tham khảo thì nội dung của bài thực tập gồm có 2 chương:

CHƯƠNG I: Những vấn đề lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

CHƯƠNG II: Thực trạng quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên đia bàn tỉnh Lâm Đồng.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Khái niệm của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi là hiện tượng đã xuất hiện từ rất lâu đời Trong bộ luật thành văn cổ xưa nhất Hammurabi đã chứa đựng những quy định về nuôi con nuôi, đặc biệt là trẻ em bị bỏ rơi Cụ thể bộ luật này có quy định: Trước khi đàn ông có thể nuôi một đứa trẻ bị bỏ rơi, anh ta phải tìm cha mẹ đẻ của nó, nếu tìm thấy thì phải trả đứa trẻ cho họ Bộ luật Hammurabi đã có những quy định đầu tiên cho trẻ em Trong thời kỳ La Mã cổ đại cũng đã chỉ ra mục đích của việc nhận nuôi con nuôi con nuôi chủ yếu là duy trì dòng họ, thờ cúng tổ tiên và thừa kế tài sản

Trong bộ luật Napoleon – Bộ luật ra đời đánh dấu nền lập pháp hiện đại

Bộ luật này chỉ rõ: “Điều trái ngược với mong muốn của Napoleon thì việc nuôi con nuôi sẽ bị hạn chế Thời kỳ này đã xóa bỏ đối tượng nuôi con nuôi là trẻ vị thành niên, chỉ cho phép nuôi con nuôi là người đã trưởng thành và đã được chăm sóc trong gia đình cha mẹ nuôi sáu năm Người nuôi phải từ 50 tuổi trở lên và không có con nối dõi Như vậy, chỉ khi nào cha mẹ nuôi không có người thừa kế thì việc nuôi con nuôi mới được diễn ra

Theo Điều 3 của Tuyên ngôn Liên Hợp Quốc, ưu tiên hàng đầu đối với trẻ em là được chăm sóc bởi cha mẹ đẻ và sống trong môi trường gia đình ruột thịt của chính mình Nguyên tắc này nhấn mạnh sự gắn bó và an toàn của trẻ khi được nuôi dưỡng trong gia đình của mình Đảm bảo quyền được trưởng thành trong môi trường gia đình và chăm sóc từ cha mẹ đẻ là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của trẻ.

Chế định nuôi con nuôi có nguồn gốc lâu dài trên thế giới, nhưng thực sự trở thành mối quan tâm rộng rãi trong vòng nửa thế kỷ qua; ở đa số quốc gia, nuôi con nuôi được hiểu là việc xác lập quan hệ cha mẹ - con giữa người nhận nuôi và con nuôi, chuyển từ một quan hệ xã hội sang một quan hệ pháp lý dựa trên trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa hai bên mà không dựa trên huyết thống; hiện nay Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định rõ tại khoản 1 Điều 3 rằng nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và con nuôi.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ chế định này và Chính phủ ban hành Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 để chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi.

1.1.2 Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là khái niệm dùng để chỉ các trường hợp nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà có cư trú thường trú tại Việt Nam, hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng một bên đang định cư ở nước ngoài Định nghĩa này được quy định tại Khoản 5 Điều 3 của Luật nuôi con nuôi năm 2010, nhằm làm rõ phạm vi và điều kiện áp dụng của các mối quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Theo điều 28 Luật nuôi con nuôi thì các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài thường trú tại nước sở tại là thành viên của các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi và Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Thứ hai, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

Một là, cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

Hai là, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

Ba là, có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

Bốn là, nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

Năm là, người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01năm;

Thứ ba, công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi

Thứ tư, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt

Công dân Việt Nam ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi Theo quy định tại Điều 40 Luật nuôi con nuôi năm 2010

Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải lập hồ sơ theo quy định tại Điều 17 của Luật này và gửi Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp xem xét và cấp giấy xác nhận người nhận con nuôi có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp nơi người đó thường trú xác minh và thời hạn xác minh có thể kéo dài, nhưng không quá 60 ngày.

Sau khi hoàn tất các thủ tục nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, công dân Việt Nam có trách nhiệm ghi chú việc nuôi con nuôi tại Sở Tư pháp địa phương Ghi chú này xác nhận quan hệ nuôi con nuôi và quyền lợi liên quan, đồng thời cập nhật thông tin vào hồ sơ hộ tịch của trẻ và người nhận nuôi Người nhận nuôi cần liên hệ với Sở Tư pháp nơi cư trú để hoàn tất thủ tục, nộp hồ sơ và nhận kết quả cập nhật tình trạng nuôi con nuôi Việc ghi chú đúng quy định giúp đảm bảo quyền và nghĩa vụ của trẻ nước ngoài trong gia đình Việt Nam được công nhận đầy đủ theo pháp luật.

Tư pháp và Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú

Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam muốn nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định tại điều 14–18, 21, 23–27 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Các quy định này được áp dụng cho người nước ngoài thường trú ở Việt Nam khi thực hiện việc nhận nuôi con nuôi.

Những trường hợp nêu trên cho thấy phạm vi của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được mở rộng đáng kể: không chỉ là quan hệ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam Nhìn chung, nội hàm của khái niệm “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” có những nét tương đồng nhất định với các khái niệm liên quan trong lĩnh vực pháp luật.

‘Nuôi con nuôi quốc tế’ thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Hague năm 1993 Theo Công ước này, việc nuôi con nuôi được thực hiện giữa một hoặc hai vợ chồng cùng thường trú tại nước ngoài xin nhận một trẻ em thường trú ở nước khác làm con nuôi, có sự di chuyển trẻ em từ nước này sang nước khác Trong khi đó, Luật Tư pháp quốc tế của một số nước cho biết việc nhận một trẻ em có quốc tịch khác làm con nuôi được gọi là con nuôi quốc tế. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

Theo Điều 3 của Luật Nuôi con nuôi ở Việt Nam, “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” được hiểu là quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau khi một bên đang định cư ở nước ngoài.

Như vậy có sự khác nhau giữa hai khái niệm này

Như đã phân tích, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc xác lập quan hệ cha mẹ – con cái giữa các bên có quốc tịch khác nhau hoặc cùng quốc tịch nhưng sự kiện nhận nuôi diễn ra ở nước ngoài nhằm bảo đảm cho người được nhận nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội Do đó, yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi được thể hiện ở những trường hợp nhận nuôi diễn ra ở nước ngoài hoặc giữa các bên có quốc tịch khác nhau.

Nhắc đến chủ thể của nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, có hai loại chủ thể cơ bản:

Thứ nhất, công dân Việt Nam tham gia quan hệ nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải có năng lực chủ thể, được thể hiện qua hai khía cạnh là năng lực pháp luật và năng lực hành vi Năng lực chủ thể nói chung này trước hết được xác định theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cho các giao dịch và quyền, nghĩa vụ của các bên.

Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh

1.2.1 Giai đoạn trước thời kì đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.1.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945

Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) đều quy định về nuôi con nuôi nhằm điều chỉnh mối quan hệ gia đình và quyền lợi của các thành viên trong dòng họ Tuy nhiên, tư tưởng phong kiến vẫn ngấm vào hai hệ thống pháp lý này, khiến con nuôi và con đẻ vẫn đối mặt với sự bất bình đẳng về vị thế pháp lý và quyền lợi Do đó, dù có những quy định về nuôi con nuôi trong lịch sử pháp lý Việt Nam, thực thi quyền lợi cho con nuôi vẫn bị giới hạn bởi những khuôn mẫu phong kiến.

- Bộ Dân luật Bắc Kì, Hoàng Việt Trung Kì (thời Pháp thuộc) có mô hình phương Tây song vẫn nặng tư tưởng phong kiến

Quy định chưa thực sự rõ nét giai đoạn này có một số đặc điểm:

Giai đoạn 1945–1959, quy định nuôi con nuôi còn đơn giản, thiếu hệ thống và chưa được điều chỉnh đầy đủ nên đã xóa bỏ các chuẩn lệ cũ của thời kỳ trước để hình thành khung pháp lý tiên tiến hơn Từ 1959–1986 đã có sự điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong khung pháp lý và quy trình quản lý các quan hệ nuôi con nuôi liên quan đến nước ngoài.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 6/1/1961 kèm theo Điều lệ đăng ký hộ tịch để chuẩn hóa các thủ tục liên quan đến nhận nuôi và quản lý hộ tịch cho trẻ Việt Nam và người nước ngoài; mặc dù một số trường hợp người nước ngoài nhận nuôi trẻ Việt Nam đã được giải quyết, quá trình thực hiện vẫn gặp khó khăn; Việt Nam ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với Đức (1980), Liên Xô (1981) và Tiệp Khắc (1982) nhằm tăng cường hợp tác pháp lý và hỗ trợ cho các thủ tục liên quan đến nhận nuôi và hộ tịch giữa các nước.

Việt Nam duy trì quan hệ với nhiều nước trên thế giới theo khuôn khổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, và điều này khiến các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp hơn Sự mở rộng quan hệ quốc tế đòi hỏi cập nhật khung pháp lý, điều kiện và thủ tục nhận nuôi từ nước ngoài để bảo đảm quyền lợi của trẻ em và tính minh bạch của quá trình Các cơ quan chức năng Việt Nam phối hợp với đối tác nước ngoài nhằm chuẩn hóa quy trình, kiểm tra nguồn gốc trẻ em và tuân thủ các cam kết quốc tế về nuôi con nuôi Bài viết này làm rõ các yếu tố pháp lý, thủ tục và xu hướng thay đổi gần đây liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, giúp các bên liên quan nắm rõ quy trình và quyền lợi liên quan.

1.2.2 Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam ngày 29/12/1986 quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Chương IX, và nội dung này vẫn mang tính khái quát Chương IX tập trung vào khuôn khổ pháp lý chung cho các mối quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài khi kết hôn hoặc xây dựng gia đình Các nguyên tắc được nêu trong luật ở mức tổng quan, nhằm tạo cơ sở cho việc xử lý các tình huống hôn nhân với người nước ngoài một cách nhất quán Do tính chất chung của quy định, người đọc nên tham khảo văn bản đầy đủ để nắm rõ phạm vi điều chỉnh và các quy định cụ thể liên quan đến từng trường hợp.

Trong giai đoạn 1986–1992, Quốc hội thông qua Luật quốc tịch (1986) với Điều 14 quy định về quốc tịch của trẻ; Pháp lệnh lãnh sự (1990) được ban hành, kèm theo Quyết định số 145/HĐBT (29/4/1992) của Hội đồng bộ trưởng; Thông tư liên bộ số 01/TTLB hướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT (19/1/1993) nhằm làm rõ các quy định liên quan Tuy nhiên Quyết định 145 có hạn chế ở chỗ đối tượng trẻ được nhận nuôi chỉ trong các cơ sở nuôi dưỡng của ngành lao động - thương binh - xã hội.

+ Chưa quy định cụ thể về cơ quan quản lí việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài

+ Lệ phí chưa rõ ràng và chưa có cơ quan quản lý chặt chẽ …

Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài được ban hành ngày 2/12/1993 và Nghị định số 184/CP thi hành pháp lệnh ngày 30/11/1994 Thông tư số 503/T hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định số 184/CP ngày 25/5/1995 và Thông tư số 337/TT-PLQT hướng dẫn thi hành một số quy định của Thông tư số 503 ngày 23/8/1995 Những văn bản này giải quyết xung đột về thẩm quyền, nhưng khi xây dựng Nghị định vẫn thiếu khảo sát, tính dự liệu chưa cao và quản lý thực hiện còn buông lỏng Các văn bản chưa quy định hoạt động của các tổ chức phi chính phủ và chưa quy định quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam Giai đoạn này quy định về nuôi con nuôi khá đồng bộ, có cơ chế phối hợp, nhưng Hiệp định trợ giúp tư pháp có phạm vi điều chỉnh không giống nhau.

1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến 2010

Luật Hôn nhân và gia đình 2000 – Chương XI mở rộng phạm vi điều chỉnh, xác định rõ nguyên tắc hoạt động và cơ chế giải quyết xung đột pháp luật cùng thẩm quyền giữa các cơ quan có thẩm quyền; chương này còn có quy định riêng về vùng biên giới nhằm đảm bảo quản lý các quan hệ hôn nhân và gia đình ở khu vực biên giới được thống nhất Đồng thời, nó cũng quy định thẩm quyền giải quyết các vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tạo cơ sở pháp lý cho xử lý các trường hợp quốc tế hóa trong quan hệ gia đình Những nội dung này góp phần nâng cao tính đồng bộ và minh bạch của hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.

Nghị định 68/2002/NĐ-CP (10/07/2002) và Thông tư 07/2002/TT-BTP (16/12/2002) hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP đã thay đổi căn bản nguyên tắc, trình tự và thủ tục liên quan đến việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, đồng thời xác định đối tượng trẻ em được xem xét để nuôi bằng con nuôi và các yêu cầu áp dụng trong quá trình thẩm định, xác nhận và công nhận quan hệ nuôi con nuôi giữa Việt Nam và nước ngoài.

Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (3/7/2006), mở rộng đối tượng được xin nhận con nuôi cũng như đối tượng trẻ được cho làm con nuôi; quy định rõ hồ sơ của người xin nhận con nuôi và hồ sơ của trẻ em được cho làm con nuôi, đồng thời liên quan đến Thông tư 08/2006/TT-BTP và Quyết định 337/2003/QĐ-BTP; các văn bản pháp lý liên quan như Nghị định 93/2008/NĐ-CP và Quyết định 2778/2008/QĐ-BTP cũng được nêu ra.

Hiệp định song phương giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp ngày 1/2/2000 được xây dựng trên Công ước La Haye năm 1993 về nhận nuôi liên quốc gia, quy định quy trình giải quyết hồ sơ xin nhận con nuôi thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi và có sự tham gia của các tổ chức nhận nuôi, đồng thời các tổ chức nhận nuôi của Pháp được công nhận có đủ điều kiện hoạt động như các tổ chức từ thiện phi lợi nhuận tham gia hoạt động nhân đạo liên quan đến nhận con nuôi.

Luật Nuôi con nuôi 2010 thiết lập khung pháp lý cho nuôi con nuôi tại Việt Nam, đặt lợi ích của trẻ làm ưu tiên hàng đầu và thúc đẩy các phương án nuôi dưỡng phù hợp với quyền và quyền lợi của trẻ Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, trong đó nhấn mạnh việc cho trẻ làm con nuôi nước ngoài là yếu tố cuối cùng sau khi đã xem xét mọi lựa chọn nuôi dưỡng trong nước và đáp ứng đầy đủ các điều kiện, trình tự và thẩm quyền Các quy định này đảm bảo sự minh bạch, an toàn cho trẻ và cân bằng giữa quyền của người nuôi dưỡng, quyền của trẻ và yêu cầu thực thi pháp luật.

- Việt Nam gia nhập Công ước Lahay 1993 (7/12/2010)

Những văn bản pháp luật được đề cập đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình áp dụng và thực thi, nhằm giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi, kể cả nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài.

Nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ được sống trong môi trường gia đình gốc và duy trì sự ổn định văn hóa, môi trường sống của trẻ để phát triển tốt nhất Trẻ em không nên bị xáo trộn quá nhiều về hoàn cảnh sống hay tâm lý khi chuyển từ gia đình này sang gia đình khác Quy trình nuôi con nuôi phải minh bạch và không chịu tác động của trục lợi bất chính, đồng thời ưu tiên cho người thân có điều kiện tốt nhất nhận nuôi trước, miễn là điều đó phù hợp với lợi ích của trẻ và sự gắn kết dài lâu.

Việc nuôi con nuôi phải được thực hiện trên tinh thần tự nguyện của các bên liên quan và không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về giới tính; cha mẹ đẻ và người giám hộ phải tôn trọng sự đồng thuận của trẻ, đặc biệt là với những trẻ từ chín tuổi trở lên, và trẻ phải hoàn toàn đồng ý với quyết định nuôi con nuôi để đảm bảo quyền lợi và sự công bằng cho tất cả bên liên quan.

- Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước:

1.3.2 Điều kiện nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.3.2.1 Đối với người nhận con nuôi

Luật Nuôi con nuôi 2010 dành một điều khoản riêng để quy định điều kiện đối với người nhận con nuôi Theo Điều 29, khi người nhận nuôi có yếu tố nước ngoài, họ phải tuân thủ một số điều kiện nhất định được quy định trong luật nhằm bảo đảm quyền lợi của trẻ và tính hợp pháp của quá trình nhận con nuôi từ nước ngoài Các điều kiện này được thiết kế nhằm hướng tới sự minh bạch, an toàn và phù hợp với chuẩn mực pháp lý khi thực hiện việc nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài thường trú ở nước ngoài khi có ý định nhận người Việt Nam làm con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú và theo Điều 14 của Luật này.

Trích đẫn điều 14 Điều kiện đối với người nhận con nuôi:

Người nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhằm bảo đảm quyền lợi và sự chăm sóc cho trẻ, gồm: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế và chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; và có tư cách đạo đức tốt.

2 Những người sau đây không được nhận con nuôi: a Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; b Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; c Đang chấp hành hình phạt tù; d Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

3 Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này”

Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều 14 của Luật này và tuân thủ pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú.

Thứ nhất, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Tương lai và cuộc sống của người được nhận làm con nuôi dưới một góc độ nhất định phụ thuộc nhiều vào cha mẹ nuôi Quy định người nhận nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là điều kiện cần thiết và quan trọng không thể thiếu nếu muốn làm cho mục đích việc nuôi con nuôi trở thành khả thi dưới góc độ pháp luật cũng như trong thực tiễn cuộc sống Năng lực hành vi dân sự đầy đủ của người nhận nuôi được coi như là một sự bảo chứng tối thiểu cho cuộc sống, được chăm sóc nuôi dưỡng một cách bình thường của người được nhận làm con nuôi Tuy nhiên, không phải tất cả những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là hội đủ điều kiện của người nhận nuôi con nuôi Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ chỉ là một trong số những điều kiện của người nhận con nuôi phải có nhưng đây chỉ là diều kiện “cần” chứ chưa phải là điều kiện “đủ” của người nhận nuôi con nuôi Để có thể nhận người khác làm con nuôi thì người nhận nuôi còn phải đáp ứng được các quy định khác của điều kiện đối với người nhận con nuôi

Thứ hai, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên

Không phải ngẫu nhiên mà pháp luật quy định người nhận nuôi phải hơn con 20 tuổi trở lên sở dĩ có quy định trên vì căn cứ về mặt sinh học khi cá nhân từ đủ 20 tuổi trở lên họ đạt đến sự phát triển hoàn thiện về mặt thể chất, trí tuệ, tâm sinh lý Ở độ tuổi này họ mới có đủ khả năng tài chính, đủ kinh nghiệm tâm lý cũng như nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, gánh vác các nghĩa vụ có xu hướng ngày càng nặng nề hơn của cha mẹ đối với con Ngoài ra, việc pháp luật xác định người nhận nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên còn nhằm mục đích tạo ra sự cách biệt thế hệ giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi Sự cách biệt thế hệ này là vô cùng cần thiết để hình thành thái độ kính trọng của người con nuôi đối với cha mẹ nuôi và chính thự cách biệt về thế hệ này cũng giúp giảm thiểu tình trạng cha, mẹ nuôi lạm dụng tình dục đối với con nuôi

Người nhận nuôi phải đáp ứng các điều kiện về sức khỏe, kinh tế và chỗ ở nhằm đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con nuôi Những điều kiện này là nền tảng để con nuôi được chăm sóc đầy đủ, theo dõi sức khỏe và phát triển trong môi trường gia đình lành mạnh Đảm bảo sức khỏe, điều kiện kinh tế ổn định và chỗ ở phù hợp giúp con nuôi được sống trong một môi trường gia đình đầy đủ và an toàn, hỗ trợ sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Việc thực hiện nghiêm túc các điều kiện trên mang lại lợi ích lâu dài cho trẻ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con nuôi.

Thứ tư, người nhận nuôi con nuôi phải là người có tư cách đạo đức tốt

Đạo đức tốt của người nhận nuôi là điều kiện bảo đảm con nuôi được nuôi dưỡng đầy đủ, chăm sóc và giáo dục tốt; con nuôi được sống trong môi trường gia đình lành mạnh, từ đó tạo nền tảng thuận lợi cho sự phát triển của người chưa thành niên.

Ngoài các điều kiện cần, người nhận nuôi còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định tại luật; người nhận nuôi không thuộc một trong các trường hợp sau: đang bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục hoặc cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010); và không có hành vi dụ dỗ, ép buộc hoặc tiếp nhận người chưa thành niên vi phạm pháp luật, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

Bên cạnh các quy định đã nêu, pháp luật còn có thêm những quy định khác nhằm khẳng định những nguyên tắc đã nêu và đảm bảo người được nhận làm con nuôi được sống trong môi trường lành mạnh, nhận sự chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ và được giáo dục tốt về thể chất cũng như nhân cách.

1.3.2.2 Đối với người được nhận làm con nuôi

Theo Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010 đã đưa ra những quy định cụ thể về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi như sau:

“Điều 8 Người được nhận làm con nuôi

2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; b Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi;

3 Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng

4 Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”

Người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi

THỰC TRẠNG QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG

Ngày đăng: 06/02/2022, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. “Chế định Nuôi con nuôi trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” của Thạc sĩ Ngô Thị Hường đăng trên tạp chí luật học số 3/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chế định Nuôi con nuôi trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”
18. “Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Phương Lan đăng trên tạp chí luật học số 3 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam”
19. “Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong mối tương quan với công ước Lahay” của tác giả Vũ Kim Dung Đại học quốc gia Hà Nội 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong mối tương quan với công ước Lahay”
20. “Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài” tác giả Lê Thị Hiền, Đại học quốc gia Hà Nội,2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài”
21. “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu gia nhập công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước” tác giả Vũ Đức Long, đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội 2005.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu gia nhập công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước”

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm