HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế ĐỀ TÀI: LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KIN
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI: LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI
THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN
CỔ ĐIỂN ANH Ý NGHĨA CỦA CÁC LÝ THUYẾT
NÀY TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Giang
Sinh viên thực hiện : Đào Phương Chi
Lớp : K23HTTTB
Mã sinh viên : 23A4040017
Hà Nội, ngày 13 tháng 1 năm 2021
Trang 2DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Ví dụ minh họa về lý thuyết lợi thế tuyệt đói của hai quốc gia A và B Bảng 2: Ví dụ minh họa về chi phí về lao động sản xuất của Bồ Đào Nha và Anh Bảng 3: Trước khi có thương mại
Bảng 4: Sau khi có thương mại
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Cấu trúc tiểu luận 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: Khái quát lý luận 4
1 Trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh 4
1.1 Hoàn cảnh ra đời 4
1.2 Đặc điểm cơ bản 4
2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế 5
2.1 hoàn cảnh ra đời 5
2.2 Nội dung 5
2.3 Mô hình thương mại 6
3 Lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế 6
3.1 hoàn cảnh ra đời 6
3.2 Nội dung 7
3.3 Mô hình thương mại 7
Chương 2: Thực trạng 10
1 Thế giới 10
2 Việt Nam 11
Chương 3: Giải pháp 13
1 Đánh giá học thuyết 13
1.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối 13
1.2 Lý thuyết lượi thế so sánh 13
2 Một số những giải pháp 14
2.1 Thế giới 14
2.2 Việt Nam 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lý thuyết lợi thế và lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh đối với các nước đang phát triển hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đặc biệt là trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 diễn biến đầy phức tạp, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế ở các quốc gia trên toàn thế giới Các chính sách đóng cửa biên giới quốc gia cũng như hạn chế lưu thông hàng hóa, dịch vụ đã làm cho hoạt động thương mại quốc tế giảm sút nghiêm trọng gây nên những tổn thất không hề nhỏ trong hoạt động xuất-nhập khẩu
Nhận thấy sự cấp thiết ấy, bài tiểu luận này sẽ đi sâu vào phân tích và làm rõ ý nghĩa của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh trong điều kiện hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích và làm rõ ý nghĩa của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh trong điều kiện hiện nay
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài tiểu luận cần giải quyết nhiệm vụ: Phân tích lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, từ đó đưa ra nhận xét và ý nghĩa của các lý thuyết ấy trong điều kiện hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp thống nhất logic và lịch
sử, phân tích, tổng hợp, khái quát và hệ thống hóa
4 Cấu trúc của tiểu luận
Chương 1: Khái quát lý luận
Chương 2: Phân tích thực trạng
Chương 3: Giải pháp
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát lý luận
1 Trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
1.1 Hoàn cảnh ra đời
Cuối thế kỷ XVII ở Tây Âu, công trường thủ công tư bản đã bắt đầu phát triển mạnh Sang thế kỷ XVIII, nó đã trở thành hiện tượng phổ biến, dẫn đến sự thay đổi lớn về kinh tế và xã hội Do sản xuất ngày một phát triển nên đã nảy sinh nhiều vấn đề mới Của cải do sản xuất tạo ra chứ không phải như quan niệm của chủ nghĩa trọng thương trước đây, vai trò của tư bản sản xuất ngày càng được củng cố
Từ đó, đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế mới để giải thích cho những hiện tượng kinh
tế mới và bảo vệ quyền lợi cho tư bản sản xuất
Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX, ở Anh, cách mạng công nghiệp đã kết thúc Ở thời kỳ này, khủng hoảng kinh tế, nạn thật nghiệp cũng đã xuất hiện, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng mạnh mẽ, làm mâu thuẫn giưuax giai cấp vô sản và tư sản ngày càng trở nên gay gắt Nếu tiếp tục nghiên cưu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa một cách khách quan như các nhà kinh tế học cổ điển, thì có thể sẽ nhịn thấy sự diệt vong tất yếu của nó
Từ những điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học của cuối thế kỷ XVII đã chứng tỏ thời kỳ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thương trở nên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận để đáp ứng sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời
1.2 Đặc điểm cơ bản
Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu: Kinh tế chính trị tư sản cổ điển chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất
Thứ hai, về phương pháp nghiên cứu: Một mặt sử dụng phổ biến phương pháp trừu tượng hóa để tìm hiểu các mối quan hệ bản chất, bên trong các hiện tượng
và quá trình kinh tế
Trang 6Thứ ba, các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển đề cao tư tưởng tự do kinh tế, đề cao tính quy luật trong nền kinh tế, tư tưởng này hoàn toàn khác với chủ nghĩa trọng thương là đề cao vai trog điều tiết của nhà nước
2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế của Adam Smith 2.1 Hoàn cảnh ra đời
Trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp giữa thế kỷ XVIII, kéo theo
sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hệ thống ngân hàng, thực tiễn đó đòi hỏi những quan điểm mới và tiến bộ hơn về thương mại quốc tế thay thế quan điểm trọng thương Để phù hợp với giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời
2.2 Nội dung
Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt đc trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hóa vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi
Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương Trong mô hình kinh tế cổ điẹn, các nhà kinh tế học cổ điẹn cho đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu về lương thực tăng cao thì nhà
tư bản sẽ phải sản xuất nhiều và liên tục sau đó dẫn tới đất đai cằn cỗi Đất đai cằn cỗi không đảm bảo được lợi nhuận cho tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế học cổ điển gọi đây là “Bức tranh đen tối của tăng trưởng” Trong điều kiện khó khăn ấy, Adam Smith cho rằng có thể giải quyết bằng việc nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn và nó sẽ đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia
Do đó, ta có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong nhiều điều kiện so sánh chi phí sản xuất để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm Khi một nước
có chi phí sản xuất ra sản phẩm có chi phí cao hơn thì có thể nhập khẩu sản phẩm ấy
từ những nước có chi phí sản xuất thấp hơn Điều này là có lợi cho cả hai phía Với nước sản xuất thì sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi trao đổi trên thị trường quốc
tế Còn với nước còn lại thì sẽ có được sản phẩm với chi phí thấp hơn, không cần bỏ
Trang 7công sức và thời gian để sản xuất với chi phí cao mà đem lại lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận
2.3 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Quốc gia
Sản phẩm
Bảng 1 Ví dụ minh hóa về lý thuyết lợi thế tuyệt đối của hai quốc gia A và B
Theo như lý thuyết lợi thế tuyệt đối:
- Quốc gia A có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia B về sản xuất lúa gạo
- Quốc gia B có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia A về sản xuất vải
=> Vậy quốc gia A có thể tập trung sản xuất lúa gạo và nhập khẩu vải từ quốc gia
B Quốc gia B thì tập trung sản xuất vải để đem trao đổi lúa gạo với quốc gia A (xuất khẩu vải và nhập khẩu lúa gạo)
3 Lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của David Ricardo 3.1 Hoàn cảnh ra đời
Trong thời kì tích lũy nguyên thủy, các nhà trọng thương chủ trương Nhà nước phải tích cực tác động vào nền kinh tế thông qua chính sách thuế quan bảo hộ, chính sách xuất nhập khẩu tiền tệ, tỷ giá hối đoái để bảo vệ các ngành sản xuất non trẻ; kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu Tuy vậy, ở thế kỷ XV- XVII, các nhà trọng thương coi trao đổi thương mại là hành vi tước đoạt lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như các thành viên trong một nước
Tuy nhiên học thuyết trao đổi quốc tế của các nhà trọng thương và trọng nông còn rất sơ sài Đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, những nhà kinh tế học
tư sản cổ điển đã đưa ra quan niệm dựa trên sự chuyên môn hóa sản xuất giữa các quốc gia làm cơ sở để giải thích quan hệ thương mại quốc tế
Trang 8Theo quan điểm này, nước nào có đất trồng lúa mì thì cần chuyên môn hóa vào nhành trồng trọt và mua hàng hóa công nghiệp của các nước khác Ngược lại, nước nào có nhiều tài nguyên khoáng sản thì nên phát triển công nghiệp và mua lúa mì ở nước khác Quan điểm đó được gọi là lợi thế tuyệt đối trong trao đổi quốc
tế
Khi mỗi nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hóa, thì lợi ích của thương mại là rõ ràng Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu nước A có thể sản xuất hiệu quả hơn nước B cả hai mặt hàng đem trao đổi?
Để giải đáp câu hỏi này thì David Ricardo đã nêu ra lý thuyết về lợi thế so sánh
3.2 Nội dung
Mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp; ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao
Việc chuyên môn hóa sản xuất sẽ có lợi cho chính nước sản xuất và phát triển thương mại quốc tế Thương mại quốc tế chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh chứ không phải chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối
3.3 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh
David Ricardo đã chứng minh được lợi thế so sánh có thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia chứ không phải chỉ một bên sản xuất hay bên nhập khẩu Và điều quan trọng ở đây không phải là chi phí sản xuất tuyệt đối mà là chi phí cơ hội
để sản xuất mặt hàng này tính bằng mặt hàng kia
Trang 9Quốc gia
Sản phẩm
Bồ Đào Nha (giờ công) Anh (giờ công)
Bảng 2 Chi phí về lao động sản xuất của 2 quốc gia Bồ Đào Nha và Anh
Nhìn vào bảng ví dụ trên, ta có thể thấy Anh có lợi thế tuyệt đối so với Bồ Đào Nha về cả 2 mặt hàng lúa mì và rượu vang Theo như suy nghĩ thông thường hoặc dựa theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối thì Anh sẽ tự sản xuất cả 2 mặt hàng và không cần nhập khẩu bất kỳ một mặt hàng nào từ Bồ Đào Nha cả
Thế nhưng những phân tích của David Ricardo đã đưa đến một kết quả khác:
- 1 đơn vị rượu vang tại Bồ Đào Nha sản xuất tốn chi phí tương đương với chi phí sản xuất 2 đơn vị lúa mì Trong khi đó, ở Anh sản xuất 1 đơn vị rượu vang tương đương với chi phí sản xuất 1,5 đơn vị lúa mì Vậy nên Anh sản xuất rượu vang rẻ hơn so với Bồ Đào Nha
- Bồ Đào Nha sản xuất lúa mì với chi phí tương đương chi phí sản xuất 0,5 đơn vị rượu vang; còn ở Anh thì tương đương chi phí sản xuất 2/3 đơn vị rượu vang Vậy nên Bồ Đào Nha sản xuất lúa mì rẻ hơn so với Anh
=> Bồ Đào nha có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mì còn anh có lợi thế so sánh về sản xuất rượu vang
Để thấy được cả hai nước đều cùng có lợi nếu tập trung sản xuất vào một mặt hàng có lợi thế so sánh, David Ricardo đã làm như sau:
- Ông giả định nguồn lực lao động của Bồ Đào Nha là 270 giờ công còn của anh là 180 giờ
Khi không có thương mại, cả 2 nước sẽ sản xuất cả 2 hàng hóa và theo chi phí như ở Bảng 2 thì kết quả số lượng sản phẩm được sản xuất ra:
Trang 10Sản phẩm
Quốc gia
Số đơn vị lúa mì Số đơn vị rượu vang
Bảng 3 Trước khi có thương mại
Nếu Bồ Đào Nha chỉ sản xuất rượu vang còn anh chỉ sản xuất lúa mì rồi trao đổi thương mại với nhau thì số lượng sản phẩm được sản xuất ra:
Sản phẩm
Quốc gia
Số đơn vị lúa mì Số đơn vị rượu vang
Bảng 4 Sau khi có thương mại
Ta có thế thấy sau khi có thương mại, mỗi nước chỉ tập trung vào sản xuất hàng hóa mà mình có lợi thế so sánh, tổng số lượng sản phẩm của lúa mì và rượu vang của cả hai nước đều tăng hơn so với trước khi có thương mại-là lúc cả 2 nước phải phấn bố nguồn lực để sản xuất cả 2 sản phẩm
Lưu ý: Phân tích của Ricardo kem theo những giả định sau:
- Không có chi phí vận chuyển hàng hóa
- Chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô
- Chỉ có hai nước sản xuất hai sản phẩm
- Những hàng hóa trao đổi giống hệt nhau
- Các nhân tố sản xuất chuyển dịch một cách hoàn hảo
Trang 11- Không có thuế quan và rảo cản thương mại
- Thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biết nơi có hàng hóa rẻ nhất trên thị trường quốc tế
Chương 2: Thực trạng
1 Thế giới
Hầu hết các quốc gia đều tìm hiểu và phân tích những lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nước mình để tìm ra loại hàng hóa có ưu thế để chuyên hóa sản xuất rồi đem đi xuất khẩu và nhập khẩu về nhưng hàng hóa mình không thể sản xuất hoặc có chi phí sản xuất cao Điều này vừa làm cho thương mại quốc tế phát triển
mà còn là hoạt động giao lưu văn hóa giữa các nước, giữ hòa bình thế giới
Tuy nhiên hiện nay, cả thế giới đang phải chiến đấu với đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ với diễn biến phức tạp không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe
mà còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới Các chính sách đóng cửa biên giới, hạn chế lưu thông hàng hóa, dịch vụ làm cho hoạt động thương mại quốc tế giảm sút nghiêm trọng Đây là một thách thức kinh tế lớn nhất, thậm chí còn sâu rộng hơn cả cuộc KHủng hoảng Tài chính Toàn cầu năm 2008-2009
Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển, thương mại thế giới giảm 3% trong quý đầu tiên năm 2020 – là khoảng thời gian đại dịch bắt đầu bùng phát mạnh mẽ và lan rộng trên phạm vi toàn cầu Cũng trong năm 2020, khối lượng thương mại quốc tế giảm 5.6% - đây là mức giảm ít nghiêm trọng hơn so với
dự đoán ban đầu là 13%-32% Khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là ngành công nghiệp ô tô và các sản phẩm công nghệ vì chúng được sản xuất dựa trên hệ thống phức tạp nhất của chuỗi cung ứng toàn cầu Theo World Travel & Tourism Council, ngành du lịch đóng góp đến 10% tăng trương GDP toàn cầu mỗi năm sẽ có thể mất tới 50 triệu việc làm trên toàn thế giới do hậu quả của đại dịch Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến sức mua của người dân và doanh số bán lẻ Hậu quả sẽ dẫn tới nền tạng thương mại quốc tế chịu nhiều tác động tiêu cực