Cơ sở lý luận. Những vấn đề chung về nghệ thuật trào phúng. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật. Khái quát vài nét về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương Nghệ thuật trào phúng xuất hiện trong thơ Nôm Đường luật từ rất sớm và có nhiều tác giả nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, sau này là Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Nhưng có thể nói, với nghệ thuật trào phúng của mình, Hồ Xuân Hương đã trở thành tác giả tiêu biểu cho trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Trung đại Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Khách thể nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Giả thuyết khoa học
6 Phạm vi nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Nội dung chủ yếu
Phần nội dung
Chương I Cơ sở lý luận
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2 Những vấn đề chung về nghệ thuật trào phúng
2.1 Khái niệm nghệ thuật trào phúng
2.2 Đối tượng của nghệ thuật trào phúng
2.3 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình
3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật
3.1 Khái quát chung về thơ Nôm Đường luật
3.2 Một số tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật
3.3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật
4 Khái quát vài nét về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương 4.1 Tiểu sử
4.2 Sự nghiệp sáng tác
4.4 Một số bài thơ Nôm Đường luật trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương
Chương II Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương
1 Đối tượng trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương
3 3 3 3 4 4 4 4 4 4 4 5 5 5 7 7 8 9 10 10
11 12 15 15 18
19
22 22 22
Trang 21.1 Phê phán sự ngu dốt của tầng lớp Nho sĩ (trí thức Nho học)
1.2 Chế giễu thói hư, tật xấu của tầng lớp sư vãi (trí thức nhà chùa) 1.3 Cảm thương sâu sắc đối với thân phận người phụ nữ
1.4 Châm biếm, chế giễu tầng lớp vua, quan, hiền nhân, quân tử 2 Các biện pháp nghệ thuật trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương
2.1 Sử dụng ngôn ngữ văn hóa dân gian và triết lý phồn thực
2.2 Sử dụng từ láy
2.3 Sử dụng biện pháp tu từ nói lái và chơi chữ
2.4 Qui tắc tu từ tạo sự “lệch chuẩn” ngôn ngữ
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
28 32 36
40 40 45 46 47 53 55
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thơ Nôm Đường luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhất trongvăn học Trung đại Việt Nam Đây là thể thơ được Việt hóa từ một thể thơ có nguồngốc từ Trung Quốc, nhưng trong quá trình phát triển nó đã trở thành một thể loại đặcsắc trong văn học dân tộc Có được những thành tựu ấy, ta không thể không nhắc tới
sự đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, NguyễnCông Trứ, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Nhưng người đưathơ Nôm Đường luật thực sự trở thành thể thơ có đóng góp quan trọng vào di sản thơ
ca truyền thống phải kể đến “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương
Thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương được chú ý sưu tầm từ đầu thế kỷ XXđến nay đã hơn một thế kỷ Trong nhiều công trình nghiên cứu, chuyên luận, phê
bình và các tài liệu nghiên cứu, Hồ Xuân Hương được tôn vinh là “nhà thơ cách mạng:, “ngọn hải đăng”, “Nữ sĩ bình dân”, “Thiên tài huê nguyệt”, là nhà thơ trào
phúng bậc nhất… Tuy nhiên, cho đến nay thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương vẫncòn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu như: Hồ Xuân Hương là nhà thơ trữ tình haynhà thơ trào phúng? Đối tượng trào phúng ở đây là những ai? Mức độ trào phúngnhư thế nào?
Hiện nay, từ các trường phổ thông đến các trường ở bậc cao đẳng, đại học(ngành văn, sư phạm Ngữ văn) đều có học về thơ Hồ Xuân Hương Vì vậy, việctìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương là điềuhết sức cần thiết
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương Đề tài sẽ giúp
giảng viên, sinh viên giải mã được một cách toàn diện và sâu sắc hơn các tác phẩmthơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương nhằm phục vụ cho việc dạy và học mộtcách thiết thực và hiệu quả
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương
- Cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho giảng viên bộ môn Ngữ vănkhi giảng dạy về thơ Hồ Xuân Hương
- Là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văntrong Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang khi tìm hiểu về nhà thơ Hồ Xuân Hương
Trang 4- Đề tài còn có thể là tài liệu tham khảo dành cho tất cả các độc giả yêu mếnnhà thơ Hồ Xuân Hương.
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương
3.2 Khách thể nghiên cứu
Một số bài thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, chứng minh để làm rõ nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đườngluật của Hồ Xuân Hương
5 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu thành công, kết quả của đề tài sẽ giúp giảng viên, học sinh sinh viên và độc giả hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn về nghệ thuật trào phúng trong thơNôm Đường luật của Hồ Xuân Hương Từ đó, thấy được nghệ thuật trào phúng độc
-đáo trong thơ Nôm Đường luật của Bà chúa thơ Nôm
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luậtcủa Hồ Xuân Hương
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
8 Nội dung chủ yếu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung chính của đề tài gồm cólàm hai chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân
Hương
Trang 5PHẦN NỘI DUNG Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những sách viết hoặc in trong thế kỷ XIX rất ít khi nhắc đến tên tuổi Hồ XuânHương Bởi vì, lớp Nho sĩ cùng thời tỏ ra không mến phục thơ bà Phải đến đầu thế
kỷ XX thì thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương mới được nhiều người chú ý
Có thể nói, trong thơ Xuân Hương tràn ngập tiếng cười Nhưng để tìm hiểuxem tiếng cười đó thuộc cấp độ nào của cái hài, bài nào là hài hước, bài nào là tràophúng hoặc đả kích, châm biếm thì không phải là vấn đề đơn giản
Về trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, từ trước tới nay có rất nhiềucông trình nghiên cứu nhưng vẫn chưa tìm được tiếng nói chung thật sự
Trong giáo trình “Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷXIX” [13] của tác giả Nguyễn Lộc; trong cuốn “Hồ Xuân Hương tác gia và tác
phẩm” [32] của Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, tuyển chọn và giới thiệu một số bài
viết có liên quan đến nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Trước hết là tác giả Phạm Thế Ngũ trong “Đặc sắc Hồ Xuân Hương” đã nói:
“Một tính chất phổ biến và biểu hiện nữa của Hồ Xuân Hương là tính chất trào phúng Mỗi khi bà cầm bút để giễu cợt, phúng thích Đi vào phân tích thi tập của Bà,
ta thấy Bà đã bắn mũi tên trào phúng vào đủ mọi hạng người trong xã hội” [13; 230].
Từ đó tác giả đi đến kết luận thơ Nôm Hồ Xuân Hương có “cái cười trào phúng”.
Hoa Bằng cho in “Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạng” Ông đã nhiệt liệt ca
ngợi nữ sĩ “Bà chẳng những là nhà đại thi hào, mà là nhà đại tư tưởng, đại cách mạng” [10; 22] Và đề cao tinh thần phản kháng chống nam quyền, chống phong
kiến, chống quan niệm kính trời của nhà Nho, chống thành kiến trọng nam khinh
nữ của xã hội đương thời, chống tăng lữ, chống những cái bấy lâu nay ngược đãingười chửa hoang Điều này cho thấy tác giả thừa nhận sự “cách mạng” trong thơcủa Hồ Xuân Hương và đưa ra những đối tượng trào phúng của bà thông qua nhữngthói hư tật xấu trong xã hội phong kiến
Cùng một ý kiến đó, Nguyễn Hồng Phong trong bài “Nữ sĩ bình dân Hồ
Xuân Hương” đã khẳng định: “Hồ Xuân Hương là một thi sĩ châm biếm, trào lộng
Trang 6và trữ tình mà châm biếm trào lộng là chủ yếu Ngay trong lúc trữ tình tha thiết nhất vẫn cười cợt mỉa mai” [16; 168].
Nguyễn Sĩ Tế trong “Khảo và luận thơ Hồ Xuân Hương” lại có ý kiến khác
khi bàn về nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương: “Cái cười châm biếm của bà không mấy khi thuần chất Mặc dù đả phá người đời bà vẫn để lộ cái cảm quan nghệ sĩ, nghĩa là nhẹ nhàng, dễ dãi, giàu tưởng tượng, dễ giận dỗi, nhưng lại
dễ quên hay hờn mát, tinh nghịch” [4; 68] Với bài viết này tác giả đã thừa nhậnmặt trữ tình và trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Trương Tửu trong “Văn nghệ bình dân” lại khái quát thơ Hồ Xuân Hương
như sau: “Thơ Hồ Xuân Hương trữ tình đến ai hoài trào phúng đến chua cay, huê nguyệt đến dâm đãng” và ông thừa nhận rằng “Thơ Hồ Xuân Hương là một chuỗi
ấm ức, oán hận, nguyền rủa, yếu vẫn không chịu thua, ngã vẫn không chịu đầu hàng kỷ luật phong kiến” [7; 70] Điều này chứng tỏ những bài thơ trào phúng của
Hồ Xuân Hương luôn xuất hiện hai yếu tố “dâm và tục”
Phát triển mạch này, Nguyễn Lộc trong giáo trình "Văn học Việt Nam nửa
cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX" khẳng định cái trữ tình và trào phúng trong
con người Hồ Xuân Hương, tác giả viết: “Con người cười nhiều mà cười sâu chẳng bao giờ là người bộc tuệch, trống rỗng, ruột để ngoài da mà là người có nhiều suy nghĩ, nhiều cảm xúc Trữ tình và trào phúng không đối lập nhau cũng như cảm xúc và trí tuệ; trí tuệ càng sáng suốt thì cảm xúc khoẻ khoắn, càng phong phú Và những nhà văn nhà thơ lớn hai mặt đó vẫn thường thống nhất để nói lên tính chất đa diện của cuộc sống cũng như của tâm hồn tác giả” [13; 268] Và ông
đi đến khẳng định Hồ Xuân Hương cũng là một trường hợp như thế
Xuân Diệu trong “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” cũng đưa ra ý kiến của
mình về hiện tượng trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương, ông viết: “Trong xã hội
cũ, thơ của họ cũng là máu và nước mắt mặc áo trào phúng đó thôi” [3; 55], Xuân Diệu đi đến khẳng định: “Hồ Xuân Hương mượn cái cười để đánh cho đau vào cái
xã hội cũ mà đời Nàng, trái tim Nàng, bị nghiến trong cái guồng oan nghiệt của nó.
Do đó trào phúng của Hồ Xuân Hương gắn chặt với trữ tình” [3; 56].
Trong quá trình tìm hiểu đề tài này, chúng tôi đã được tiếp cận với một sốhướng khai thác mới mẻ về thơ Hồ Xuân Hương, cũng như nghệ thuật trào phúngtrong thơ Nôm của bà Nhà Việt Nam học người Nga N.I.Niculin trong lời giớithiệu cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương” (Nxb Matxcơva, 1968) đã vận dụng phươngpháp luận mà M.Bakhtin sử dụng trong cuốn “Sáng tác của F.Rabơle và nền vănhoá phục hưng châu Âu” để đi đến lý giải hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương, ông
khởi xướng: “Rõ ràng ở đây cần áp dụng một thuật ngữ do M.Bakhtin đưa ra
Trang 7“tiếng cười lưỡng trị” trong đó, có sự chửi mắng và khen ngợi, sự phủ định và khẳng định, sự chết đi và sự sinh thành đều hoà nhập vào nhau như hai mặt của một quá trình “tái sinh” thông qua sự hạ thấp” [28; 168].
Ở hướng tiếp cận khác theo “Xã hội học”, “Phân tâm học”, “Từ nguyên lýhoá trang” (Carnava les que), Đỗ Lai Thuý trong cuốn "Hồ Xuân Hương hoài niệm
phồn thực” [29] đã tiếp cận theo hướng “Văn hóa học” với lý luận “thơ Hồ Xuân Hương là thơ của triết lý phồn thực” đồng thời khẳng định “Trào phúng của Hồ Xuân Hương là trào phúng hoà đồng tiếng cười đưa con người trở lại cội nguồn soi sáng ý thức con người” [38; 185]
Nhìn lại các hướng tiếp cận này nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương
đã được nhìn nhận ở một khía cạnh mới mẻ, phản ánh được những giá trị nhân văn
to lớn Tuy nhiên, bản chất nghệ thuật trào phúng này là gì thì vẫn chưa khái quátđược một cách rõ ràng, thuyết phục và chưa có được một ý kiến thống nhất
Việc chưa xác định thống nhất nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đườngluật Hồ Xuân Hương bắt nguồn từ lý do sau:
- Chưa xác định rõ khái niệm cái hài và các cấp độ của nó
- Chưa làm rõ được mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình Từ đó, chưahiểu được đối tượng chính của nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương
- Chưa có một điểm nhìn đúng đắn xuất phát từ một quan điểm nghệ thuậtkhi nghiên cứu
- Chưa xem xét toàn bộ mảng thơ Nôm truyền tụng của bà để xác định rõ bàinào thuộc thơ trào phúng Vì vậy, dẫn đến cái nhìn phiến diện khi xem xét nghệthuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Từ những vấn đề trên, đề tài của chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục một phầnhạn chế này của những người đi trước để góp thêm tiếng nói của mình vào nhữngđiều đã nhiều người nghiên cứu, đang tiếp tục nghiên cứu và sẽ còn bàn tới rấtnhiều trong tương lai
2 Những vấn đề chung về nghệ thuật trào phúng
2.1 Khái niệm về nghệ thuật trào phúng
Trào phúng là một vấn đề phức tạp, chưa có được ý kiến xác đáng đánh giáthống nhất trong giới nghiên cứu văn học Có người xem trào phúng như một loạihình văn học, có người cho trào phúng thuộc thể loại hoặc như một nguyên tắc đặcbiệt phản ánh hiện thực
Trào phúng theo từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉamai kẻ khác Song trong lĩnh vực văn học trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học vàcái hài với các cung bậc hài hước, mua vui, châm biếm Văn học trào phúng bao hàm
Trang 8một lĩnh vực rộng lớn với các cung bậc của cái hài khác nhau, từ chuyện cười tiếu lâmđến tiểu thuyết, từ các vở hài kịch đến những bài thơ trào phúng châm biếm.
Nói như vậy, thì trào phúng thuộc cung bậc thứ tư của cái hài Ở mỗi hình
thái xã hội “Cái hài thường nở rộ để giã từ quá khứ một cách vui vẻ” [5; 21] Vào
đầu mỗi thời kỳ đang lên, mọi sự vụng về bỡ ngỡ cũng tạo nên cái hài Tuy vậy,tính chất hài hước của hiện tượng cũ và mới, tiến bộ và lạc hậu có các cấp độ khácnhau Không một chế độ nào là hoàn hảo, không một người nào là không có chỗyếu, mọi cái đều có thể bật lên tiếng cười Vì vậy, trong cuộc sống người ta xácđịnh sáu cấp độ khác nhau của cái hài
- Hài hước: Bông đùa, bông lơn
- Sự cười nhạo: Chỉ bảo, gợi mở
- Trào lộng: Hình thức sắc sảo của cái hài
- Trào phúng: Khoan trúng, đánh sâu vào điểm yếu
- Châm biếm: Kết án cái xấu, phủ định trên mọi cương lĩnh lý tưởng
- Đả kích: Đánh mạnh và trực diện
Vậy cái hài là một phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng phổ biến củathực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc sắc thái khácnhau Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được
về phương diện xã hội - thẩm mỹ
Từ những lý giải trên, chúng ta có thể hiểu: Nghệ thuật trào phúng là sự kháiquát chung cho những tác phẩm nghệ thuật (không cứ là văn học) lấy tiếng cườilàm phương tiện để biểu hiện thái độ nhằm vào một đối tượng nhất định Trong vănhọc, Nghệ thuật trào phúng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó việc sửdụng tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương chỉ chích, tố cáo,phản kháng nhằm biểu hiện thái độ của chủ thế đối với những điều trái với tựnhiên, tiêu cực xấu xa, lỗi thời trong xã hội
2.2 Đối tượng của nghệ thuật trào phúng
Văn học phản ánh cuộc sống và luôn lấy con người làm đối tượng để hướngtới Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của nó, việc nhận thức đối tượng trào phúngtrong văn học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nhà văn châm biếm Nga Xatưcốp-
Sêdrin nói: “Muốn cho văn học châm biếm thực sự trở thành văn học châm biếm
và đạt được mục đích của nó thì nó phải nhận thức được một cách rõ ràng đối tượng mà chính mình chĩa mũi nhọn vào” [28; 199].
Không xác định được chính xác đối tượng trào phúng tiếng cười rất dễ trở nênlạc điệu Điều này thuộc về tư tưởng của nhà văn Bởi một nhà văn chân chính bao giờcũng là một nhà nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, bao giờ cũng có cái nhìn chính xác trước
Trang 9hiện tượng cuộc sống, phân biệt rõ ràng chính và tà, biết nâng niu trân trọng cái chân thiện - mỹ và căm giận trước những cái giả dối rỗng tuếch, những xấu xa độc ác huỷ
-hoại nhân tính Gôgôn từng nói: “Nghệ thuật chân chính không dạy người ta cười cái mũi bị vẹo mà dạy người ta cười một tâm hồn lệch lạc” [6; 144].
Nghệ thuật trào phúng thực hiện sự phê phán bằng một cảm xúc thẩm mỹđặc biệt, tấn công vào cái xấu, nhưng không phải bất cứ cái xấu nào cũng là đốitượng của văn học trào phúng Đó là những cái xấu tiêu cực về đạo đức, về nhâncách, về lối sống, về những cái không phù hợp với hoàn cảnh tự nhiên bình thườngxung quanh, lại được che đậy bởi một vỏ bọc tưởng là tốt đẹp, có ý nghĩa Cái hàibao giờ cũng là kết quả của sự mâu thuẫn, đối lập, sự không tương xứng, hài hoàgiữa thực chất bên trong và vẻ bề ngoài mà hiện tượng ấy muốn có hoặc giả vờ có.Tiếng cười bong ra khi bất ngờ chủ thể nhận thức được mâu thuẫn chứa đựng trongđối tượng, nói cách khác là nhận thức được bản chất của đối tượng
Văn học trào phúng có thể hướng tiếng cười vào nhiều đối tượng khác nhau.Mọi hiện tượng của đời sống đều trở thành đối tượng của văn học trào phúng khibản thân nó chứa đựng mâu thuẫn như đã nêu Ta thấy trong văn học trào phúng cóhai đối tượng đó là: Đối tượng trào phúng khách thể - tức là đối tượng trào phúnghiện thực khách quan ngoài bản thân tác giả và đối tượng trào phúng chủ thể - tức
là đối tượng trào phúng ngay trong bản thân tác giả (tác giả là đối tượng chính củatrào phúng - hay còn gọi là hiện tượng tự trào)
Văn học trào phúng xuất hiện và phát triển khi có cái hài tương ứng trong hiệnthực xã hội Có thể nói, hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam là mảnh đất tốt chovăn học trào phúng nảy mầm và phát triển Một nền văn học muốn trở nên chânchính, tiến bộ, có đóng góp cho đời sống xã hội giúp con người ngày càng hoàn thiệnmình theo hướng chân - thiện - mỹ thì không thể không có văn học trào phúng
2.3 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình
Để hiểu rõ mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình, trước hết chúng ta sẽ tìmhiểu một ví dụ cụ thể sau đây:
Trong thơ của Nguyễn Khuyến, ta bắt gặp nhiều lần hình ảnh của ngọn núi AnLão Nhưng khi thì xuất hiện với dáng vẻ đáng yêu mang nhiều tâm sự của tác giả
Ngẩng trông núi An Lão lòng những lan man Đỉnh chót vót lạnh lùng nghĩ thật đáng thương
Cỏ xanh đua nhau lấp đôi ba tấc Hoa vàng còn thấy nở một vài cành.
(Trông núi An Lão - dịch nghĩa)
Trang 10Có khi lại xuất hiện qua tiếng cười nhưng không phải là tiếng cười sảngkhoái mà mang tâm sự trước thế sự, trước cuộc đời.
Mặt nước mênh mông nổi một hòn Núi già nhưng tiếng vẫn còn non Mảnh cây thưa thớt đầy như trọc Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn.
(Vịnh núi An Lão)Qua hai bài thơ này, ta dễ dàng nhận thấy nguồn cảm hứng trào phúng chẳng
qua cũng là nguồn cảm hứng trữ tình Vì nếu như thơ trào phúng: “Dùng tiếng cười
để xác định tư tưởng, tình cảm cho con người chống lại cái xấu xa lạc hậu, thoái hoá rởm đời hoặc để vạch mặt kẻ thù, đánh vào những tư tưởng, hành động mang bản chất thù địch với con người” [18; 269], thì trữ tình là một trong ba phương thức
thể hiện đời sống làm cơ sở cho việc phân chia loại hình tác phẩm văn học Trữ tìnhphản ánh cuộc sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là conngười tự cảm thấy mình qua những ấn tượng ý nghĩa, cảm xúc chủ quan của mìnhđối với thế giới và nhân sinh Thơ trữ tình thuộc loại hình trữ tình trong đó nhữngcảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sốngđược thể hiện trực tiếp
Vì thế có thể khẳng định trào phúng là một dạng trữ tình, một cách bộc lộtình cảm đặc biệt Ở trào phúng, tình cảm mà tác giả thể hiện là tình cảm phê phánphủ nhận cái xấu để hướng tới khẳng định cái đẹp thông qua tiếng cười Tiếng cười
đó bao giờ cũng được xuất phát từ một lý tưởng tiến bộ Trào phúng và trữ tình luôn
có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và tác động lẫn nhau, cái này là nền tảng củacái kia Như vậy, có thể khẳng định trào phúng chỉ là cái vỏ che đậy bên ngoài cònhạt nhân bên trong của nó lại là trữ tình
3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật
3.1 Khái quát chung về thơ Nôm Đường luật
Thơ Nôm Đường luật có vị trí quan trọng trong lịch sử hình thành và pháttriển của văn học dân tộc Việt Nam Bởi vì, nó có đóng góp hết sức to lớn, làmphong phú thêm cho thể loại văn học ở cả hai phương diện thực tiễn sáng tác và ýnghĩa lý luận Thơ Nôm Đường luật được xem như là một hiện tượng tiêu biểu, độcđáo Tiêu biểu ở chỗ nó phản ánh được những điều kiện, bản chất quy luật của quátrình giao lưu và tiếp nhận văn học Độc đáo là vì thơ Nôm Đường luật lại là thơ
mô phỏng theo thể thơ Đường luật (Trung Quốc) nhưng nó lại có vị trí đáng kể bêncạnh những thể thơ dân tộc
Trang 11Thơ Nôm Đường luật được xác định xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ XIII(theo Đại Việt sử ký ghi lại: Năm nhâm Ngọ (Thiên Bảo) thứ tư, năm 1282) Tuynhiên văn bản chữ viết đầu tiên còn giữ lại được là: “Quốc âm thi tập” của NguyễnTrãi thế kỷ XV Tiếp sau đó là: “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông,
“Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đến giai đoạn nửa sau thế kỷXVIII đến nửa thể kỷ XIX có “Bà chúa thơ Nôm”- Hồ Xuân Hương, bà Huyện ThanhQuan, Nguyễn Công Trứ, sau này xuất hiện hai tác giả khá nổi tiếng là NguyễnKhuyến và Tú Xương
Đề tài và chủ đề của thơ Nôm giai đoạn mười thế kỷ này có nhiều điểm khácbiệt Nếu như từ thế kỷ XVIII trở về trước thơ Nôm Đường luật thường “Nặng mùiđạo, nhẹ mùi đời”, thơ là để nói chí khí của nhà Nho “Thi dĩ ngôn chí” hoặc “Văn dĩtải đạo” Dù đó là ý thức hệ Phật, Lão, hay Nho thì con người cũng chỉ tự khẳng địnhmình một cách rất hạn chế Đến nửa cuối thế kỷ XVIII trở về sau ta thấy nhu cầu củacon người được khẳng định Chữ “thân”, chữ “tài” đặc biệt là chữ “tình” đã trở thànhmột khái niệm để con người tự ý thức về mình Đặc biệt với Hồ Xuân Hương thơNôm Đường luật phát triển với đỉnh cao và vượt qua vòng cương toả của ý thức hệphong kiến Thơ Hồ Xuân Hương xuất hiện như một hiện tượng lạ, độc đáo và hết sứcmới mẻ Thơ của bà đã giải toả hoàn toàn giáo điều phong kiến, là sự đoạn tuyệt khátriệt để tinh thần đẳng cấp Nho giáo Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luậtkhông còn ở địa vị “đẳng cấp trên” trong hệ thống thể loại văn học Trung đại Tác giảĐặng Thanh Lê trong cuốn “Hồ Xuân Hương và dòng thơ Nôm Đường luật” (Tài liệubồi dưỡng Giáo viên, theo sách giáo khoa văn 10 mới ĐHSP Hà Nội 1996) nhận xét:Với nhà thơ, thể thơ Đường luật đã xa phong cách trữ tình trang nghiêm cao quý để đithẳng vào cuộc sống đích thực không chỉ là dân tộc mà còn hết sức dân dã
Thật vậy, với thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương ta thấy thơ bà đãchuyển sang con đường “dân chủ hoá” đánh dấu một bước phát triển vượt bậc, độcđáo và riêng có của Hồ Xuân Hương Trong thơ Nữ sĩ đã có một sự cách tân, sángtạo để rút ngắn khoảng cách giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời sống
3.2 Một số tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật
Tác phẩm “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông chính là sự tìm
tòi mở hướng cho nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Và được khẳngđịnh rõ nét hơn ở thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - một nhà Nho, một nhà đạo đức mựcthước, nhưng đứng trước thế thái nhân tình đảo lộn, đạo đức suy vi ông đã có nhữngvần thơ phản ánh sự xuống cấp của xã hội:
Còn bạc, còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi
Trang 12Đến Hồ Xuân Hương, Đường luật Nôm đã thực hiện một cuộc cách tân đầy
ý nghĩa Trong thơ của bà cuộc sống đời thường, nguyên sơ, chất phát, dân dã, đã trởthành đối tượng thẩm mỹ, là trung tâm của quá trình miêu tả cái bản năng tự nhiêncủa con người, cái trần tục vốn xa lạ với phong cách trang trọng cao quý của Đườngluật trở nên phù hợp với phong cách trào phúng của Nữ sĩ
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ
(Mắng học trò dốt)
Này này chị bảo cho mà biết Chốn ấy hang hùm chớ mó tay
(Trách Chiêu Hổ)Nhưng cũng thật thiếu sót khi chưa nhắc đến các tác giả viết về đề tài tràophúng trong thơ Nôm Đường luật như Nguyễn Công Trứ và sau này xuất hiện haitác giả cổ điển cuối cùng của văn học Trung đại là Nguyễn Khuyến và Tú Xương.Như vậy, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương đến NguyễnKhuyến, Tú Xương đã khẳng định chức năng trào phúng to lớn của thơ NômĐường luật
3 3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật
Nghệ thuật trào phúng không chỉ là đặc điểm riêng của thơ Nôm Đường luật
mà ở thời nào cũng có Nếu như nghệ thuật trào phúng của văn học dân gianthường hay dựa vào các quy luật của tự nhiên để vạch ra cái trái tự nhiên của đốitượng trào phúng mang tiếng cười tự do thoải mái mang đậm tính chất bình dân,trần tục đời thường Thì ở văn học viết thời trung đại nghệ thuật trào phúng lại dựavào cương thường đạo lý của xã hội phong kiến để vạch trần ra cái phi đạo lý -tiếng cười này thường hết sức thâm thuý, hóm hỉnh
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về thơ Nôm Đường luật đều chỉ ra sựvận động và phát triển của thơ Nôm Đường luật theo hai xu hướng chính: vừa kếthừa thơ Đường luật Hán, vừa có những tìm tòi sáng tạo trên cả bình diện nội dung
và hình thức nghệ thuật để khẳng định bản sắc dân tộc Tuy nhiên, trong giới hạncủa đề tài, chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu sự vận động và phát triển của nghệthuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật để làm cơ sở lý luận cho việc tìm hiểunghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương
Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật nằm trong quá trình cách tân
và sáng tạo theo xu hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại từng bước khẳng định vịthế của mình với tư cách là một thể loại văn học dân tộc Xu hướng dân chủ hóa, dân
Trang 13tộc hóa trong thơ Nôm Đường luật được thể hiện chủ yếu trên các bình diện sau:
Thứ nhất: Thơ Nôm Đường luật đã thêm và mở rộng các tiểu loại đề tài chủ
đề nhằm hạn chế sự đơn điệu, lặp lại, tìm đến những cách biểu hiện riêng, thể hiệnmột cách nhìn tinh tế qua trí tưởng tượng dồi dào Chẳng hạn trong "Hồng Đức
quốc âm thi tập" - tập thơ được xem là tiêu biểu nhất cho văn chương cung đình
nửa sau thế kỷ XV - khi vịnh Mai, có Mai thụ, Lão mai, Tảo mai, Thủy trung mai;
về Hoa có: Giải ngữ hoa, Hoa ảnh, Cúc hoa, Đăng hoa; về Trăng có: Trăng non, Bỡn trăng, Trời thu trăng sáng, Hằng Nga Nguyệt
Ví dụ về bài “Họa vần bài vịnh trăng 10”:
Cày cạy nàng nào khéo hữu tình, Mặt làu làu, vóc nhỏ thanh thanh.
Tròn tròn, méo méo in đòi thuở, Xuống xuống, lên lên suốt mấy canh.
Tháng tháng liếc qua lầu đó đó, Đêm đêm liền tới trướng xanh xanh.
Yêu yêu, dấu dấu đàn ai gẩy.
Tính tính, tình tình tính tính tinh.
Một loạt các từ láy hình tượng sóng đôi đứng cạnh nhau miêu tả tư thế, dáng
vẻ của trăng lung linh, biến hóa với một giọng điệu thật hóm hỉnh và một cái nhìnthật tinh tế khiến người đọc không thể không liên tưởng đến cái ẩn ý đa nghĩa củahình tượng trăng kia! Hóa ra, trong cảm hứng vịnh đề của các tác giả Hồng Đứcđâu chỉ là hình ảnh tượng trưng cho ngôi báu của bậc chí tôn mà còn là sự hiện thâncủa vẻ đẹp và sức sống trần tục đầy ma lực của người thiếu nữ Rõ ràng, trongtrường hợp này, cái khuôn công thức đề tài phong hoa tuyết nguyệt của thơ Đườngluật chỉ còn đóng vai trò gợi ý, nhường chỗ cho cảm hứng của người cầm bút thănghoa Và nếu không phải là những tài thơ thực sự thì khó có thể sáng tạo đượcnhững hình tượng thơ biến hóa và đa dạng như vậy!
Thứ hai: Hệ thống đề tài, chủ đề xuất hiện xu hướng xóa bỏ dần tập quán tư duynghệ thuật của thơ Đường luật, đem đến một năng lực tư duy nghệ thuật mới, mở ranhững trường mỹ cảm độc đáo, bất ngờ bắt nguồn từ những biểu tượng trong đời
thường, dân dã như: ao bèo, cây chuối, rau muống, hàng kê, bầy cá, con lợn, con mèo trong thơ Nôm Nguyễn Trãi; cây cau, cây cải, quả dưa, củ khoai, cái bếp, cái cối xay, cái đó, con kiến, con rận trong thơ Nôm của Lê Thánh Tông và các nhà văn
thời Hồng Đức Đặc biệt với Hồ Xuân Hương, biểu tượng nghệ thuật trong thơ của bà
Trang 14trút bỏ hoàn toàn những khuôn mẫu có sẵn của thơ Đường luật đến những biểu tượngthông tục của đời sống, thể hiện một vẻ đẹp tự nhiên, bản năng, lành mạnh của con
người Chẳng hạn: Cái quạt "Chành ra ba góc da còn thiếu/ Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa"; Quả mít "Quân tử có yêu thì đóng cọc/ Xin đừng mân mó nhựa ra tay"; là Cây đánh đu "Chơi xuân đã biết xuân chăng tá/ Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không"; Dèo Ba Dội
"Hiền nhân quân tử ai là chẳng?/ Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo" Có thể khẳng
định, vẻ đẹp trần thế và khát vọng ái ân của người phụ nữ trong cuộc sống hôn nhân đãtrở thành "mẫu số chung" cho những sáng tạo nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Từ Hồ Xuân Hương đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương thơ Nôm Đường luậttiếp tục làm cuộc cách tân theo xu hướng dân tộc hóa, xã hội hóa về phương diện
đề tài chủ đề và phong cách nghệ thuật Mặc dù vẫn còn hạn chế trong chức năngphản ánh xã hội qua "trữ tình thế sự", "trào phúng thế sự" nhưng cả NguyễnKhuyến và Tú Xương đều đã cố gắng vượt ra ngoài những giới hạn đó để phản ánhđời sống với những chi tiết hiện thực, sinh động
Thứ ba: đã xuất hiện cảm hứng trào phúng, hé mở nỗi niềm riêng của ngườilàm thơ Cảm hứng trào phúng vốn đã có trong thơ Đường luật Hán nhưng vẫn nằmtrong khuôn khổ của đạo Nho, cho nên tiếng cười nếu có xuất hiện cũng có chừngmực, không được thái quá, nhất là cái tà, cái dâm, cái dục là những điều tối kỵtrong văn chương nhà Nho Thơ Nôm Đường luật thì có khác, ngay từ khi mới xuấthiện cảm hứng trào lộng gắn với bút pháp trào phúng của văn học dân gian đã cótrong thơ Nôm của Lê Thánh Tông và các văn nhân thời Hồng Đức:
Gò nổi xương trâu rêu lún phún, Bãi lè lưỡi bạng bọt lăm tăm.
Chan chan thuyền khách sào chưa nhổ, Sình sịch chài ai cọc hay cằm.
(Kênh Trầm - Hồng Đức quốc âm thi tập)
Có tục nhưng không thô, vẫn chừng mực, kín đáo Đúng hơn đó chỉ là néttrào lộng nhẹ nhàng, mang tính chất "thư giãn" tạo không khí gần gũi, cởi mở trongquan hệ vua tôi Đến thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đã khác Cảm hứng tràolộng đã trở thành tiếng nói phê phán, tố cáo xã hội và giàu ý vị thâm trầm của một
"phong cách triết gia "Thớt có tanh tao ruồi đậu đến/ Ang không mật mỡ kiến bỏ chi" (Bạch Vân quốc âm thi tập - bài 53) Hoặc: "Có thuở được thời mèo đuổi chuột/ Đến khi thất thế kiến tha bò" (Bạch Vân quốc âm thi tập - bài 81) Với Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, cảm hứng trào lộng
Trang 15đã gắn với những chức năng mới: trực tiếp tố cáo các "loại sản phẩm" của thể chế
xã hội và ở các nhà thơ khác nhau tinh thần trào lộng cũng có những điểm khácnhau do phong cách thời đại và phong cách tác giả qui định Chẳng hạn, vớiNguyễn Công Trứ, cảm hứng trào lộng in đậm dấu ấn cái "ngông" của một conngười bất đắc chí; với Hồ Xuân Hương, cảm hứng trào lộng được sử dụng nhưchiếc "đòn xeo" đâm toạc bộ mặt giả dối, làm hiện nguyên hình lũ người bịp bợm,lừa người, dối đời, thuộc đủ loại đẳng cấp trong xã hội: Từ những bậc minh quân
"Chúa dấu vua yêu một cái này", hiền nhân quân tử "dùng dằng đi chẳng dứt" đến
lũ sư hổ mang trọc đầu "Vãi núp sau lưng sáu bảy bà" Tinh thần trào lộng của
Nguyễn Khuyến thì không "đao to búa lớn" mà thâm trầm, kín đáo, dù là khi nhàthơ tự cười mình hay chế giễu cái xấu xa của cuộc đời, nhưng có lúc cũng tỏ ra độc
địa không kém "Ba vuông phấp phới cờ bay dọc/ Một bức tung hoành váy xắn ngang" (Lấy Tây) Còn với Tú Xương, tiếng cười lại mang tính chất "lưỡng tính"
vừa phủ định vừa khẳng định, vừa trào phúng, vừa trữ tình, vừa cười người vừacười mình:
Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba cái lăng nhăng nó hại ta.
Chừa được cái gì hay cái nấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà.
(Tú Xương - Ba cái lăng nhăng)
Tự cười mình mà cũng là giễu người Đây là tiếng cười "lưỡng tính" - bước pháttriển cao của nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật giai đoạn cuối cùng
Sự vận động và phát triển của nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luậtgóp phần vừa khu biệt tác giả và thời kỳ phát triển của thể loại, vừa khu biệt Đườngluật Nôm với Đường luật Hán Nắm được qui luật vận động và phát triển này sẽ gópphần tích cực và hiệu quả vào việc nghiên cứu thơ Nôm Đường luật nói chung và nghệthuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương nói riêng
4 Khái quát về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương
4.1 Vài nét về tiểu sử
Hồ Xuân Hương là người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.Vấn đề năm sinh, năm mất của bà trước đây vẫn còn nhiều điều nghi vấn Nhưngcăn cứ vào một số tài liệu mới phát hiện được thì Hồ Xuân Hương sinh năm 1772
và mất năm 1822
Thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Phi Diễn sinh 1703, mất 1788.Ông người làng Quỳnh Lôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An Năm 20 tuổi, ông đậu
Trang 16Tam Trường (Tú Tài, 1723) Mẹ Hồ Xuân Hương họ Hà ở Hải Dương, làm vợ béông Hồ Phi Diễn lúc ông đã gần 70 tuổi Hồ Xuân Hương học chữ nghĩa với cha.Nàng rất thông minh và có trí nhớ tốt, tính tình hồn nhiên Năm 13 tuổi đã làm thơ,
và có biệt tài về thơ Nôm Năm 1788, cha mất, Hồ Xuân Hương mới 16 tuổi Nàng
tự học và dạy trẻ kiếm thêm Năm 18 tuổi, Xuân Hương trở nên rất xinh đẹp khiến
Nguyễn Du viết trong bài “Mộng thấy hái sen” rằng: “Hoa sen đẹp xinh xinh” và
“Hoa sen ai cũng phải yêu”; “Nàng đến tự bao giờ", "Cánh hoa như cười nói".
Ðương thời, Hồ Xuân Hương giao du rộng rãi với những danh sĩ như Phạm QuíThích (khắc và in thơ của Nguyễn Du), Phạm Ðình Hổ (tác giả Vũ Trung TùyBút) , Nguyễn Huy Tự (Tác giả Hoa Tiên), Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong,
Cư Ðình, Trần Quang Tĩnh, và Trần Phúc Hiển Họ thường tụ lại chia sẻ thơ văntại Cổ Nguyệt Ðường được dựng lên khoảng năm 1815 Chữ Cổ và Nguyệt ghép lạithành chữ Hồ Cổ Nguyệt Ðường nhìn ra cảnh Hồ Tây trồng sen bát ngát hữu tình
là ngôi nhà của Hồ Xuân Hương dùng làm nơi gặp gỡ đông đủ những tao nhân mặckhách vào cuối thế kỷ XVIII
Năm Xuân Hương 35 tuổi, Tốn Phong vẫn còn làm nhiều thơ có những câu
ca tụng nàng như “Nét thanh xuân ấy, nghìn vàng cũng mua” “Mười phần xuân sắc trời Nam” “Người Tiên rạng rỡ từ mây đến” “Như dáng cây mai xinh cốt cách/ Mười phần xuân sắc rạng trời xanh”
Căn cứ vào tình ý và lời thơ chính thức của Hồ Xuân Hương trong "LưuHương Ký" và những lời nhận xét kể trên thì bà là một người lúc trẻ có dung nhanđẹp, tính tình cởi mở, thích bỡn cợt, học thức rộng, có khiếu văn chương, giao thiệprộng, và có tài sử dụng từ ngữ Khi bàn về thơ Hồ Xuân Hương, không thể khôngnói tới những nét phẩm chất và tính cách của bà
Hồ Xuân Hương sinh ra trong một gia đình vốn dòng văn học (một người anh
họ của Hồ Xuân Hương đậu Hoàng Giáp, nên hẳn là Hồ Xuân Hương hưởng được ditruyền về tính nết văn chương của dòng họ) Nhưng gia cảnh của cha mẹ Hồ XuânHương lại lâm vào cảnh nghèo khó vì lúc đó đất nước ta đã và đang trải qua một thời
kỳ hết sức loạn lạc, nhiễu nhương kể từ khi họ Mạc cướp ngôi Nhà Lê năm 1527, rồiTrịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi nghĩa, cùng với nạn bão lụt, mất mùa, quanlại nhũng nhiễu, giặc cướp nổi lên khắp nơi, thi cử bị bãi bỏ, cho mãi đến khi GiaLong lên ngôi (1802), đất nước mới tạm yên Cuộc sống ở quê nhà khó khăn nên chacủa Hồ Xuân Hương phải di dời ra Thăng Long để dạy học kiếm sống
Vì có hương sắc lại thêm có tài văn chương nên Hồ Xuân Hương càng khókiếm chồng Vả lại, trong thời buổi loạn lạc, các khoa thi bị hoãn, nên cũng hiếmnhững chàng trai đồng lứa có danh phận để cưới Hồ Xuân Hương Cuối cùng, có lẽ
Trang 17cũng vì số mệnh của một con người vừa có tài lại có sắc, cái số mệnh nêu trong
thuyết của Nhà Nho rằng: “hồng nhan bạc phận” và “tài mệnh tương đố” mà
Nguyễn Du đã viết lên ngay trong mấy câu mở đầu của "Truyện Kiều" rằng:
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)Theo những truyện kể và dấu vết của các bài thơ thì có thể Hồ Xuân Hương
có bốn đời chồng Xuân Hương lấy chồng lần thứ nhất trong khoảng 1794 - 1798lúc Xuân Hương khoảng ngoài 22 tuổi Chuyện kể rằng người chồng thứ nhất làmột thầy lang nên có bài "Bà Lang khóc chồng"
Người chồng thứ nhì Bà lấy trong khoảng từ 1802 đến 1806 Lần này Bà làm
lẽ cho một vị chánh tổng tức là Tổng Cóc nên có bài thơ đề “Khóc Tổng Cóc” Haingười sống chung được ít lâu rồi chia tay Hiện nay ở Vĩnh Yên (Sơn Tây) vẫn còn
từ đường của Chánh Tổng Cóc Trong thân phận làm lẽ, Bà tất phải cảm thấy tủibuồn và bài thơ “Làm lẽ” đã được cấu trúc với những tình ý thật não nùng mô tảtrọn vẹn tâm trạng chung của người vợ lẽ khiến ai đọc cũng phải cảm thương:
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, Năm thì mười họa, chăng hay chớ, Mỗi tháng đôi lần, có cũng không.
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, Cầm bằng làm mướn, mướn không công, Thân này ví biết dường này nhỉ?
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Người chồng thứ ba bà lấy trong khoảng 1810 - 1812 Lần này bà lấy mộtquan Tri Phủ nên có bài “Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường”:
Trăm năm Ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi Chôn chặt văn chương ba thước đất Tung hê hồ thỉ bốn phương trời Cán cân tạo hóa rơi đâu mất?
Miệng túi càn khôn khép lại rồi!
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc Trăm năm Ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
Người chồng thứ tư là quan Hiệp Trấn Yên Quảng Trần Văn Hiển cưới Bàlàm thiếp vào khoảng năm 1816 Trong giai đoạn này, Hồ Xuân Hương tham dự
Trang 18việc quan với chồng vă Bă có viết sâu băi thơ “Vịnh Ðồ Sơn bât cảnh” bằng chữHân Chẳng may, quan Trần Văn Hiển bị vu câo đòi hối lộ vă bị Vua Gia Long phí
“Tham nhũng như thế mă không giết thì lấy gì khuyín liím.” Thâng 5 năm 1819,
Trần Văn Hiển bị tử hình Ðó cũng lă giai đoạn Vua Gia Long luận tội nhiều côngthần như Hữu Quđn, Nguyễn Văn Thănh, tả Quđn Lí Văn Duyệt, Đinh Công Thần
Lí Chất
Sau lần gẫy gânh năy, Hồ Xuđn Hương rất đau khổ nín lânh tu ở Chùa HoaYín, núi Yín Tử Nhưng được ít lđu, Bă lại trở lại Khân Xuđn, mở cửa Cổ NguyệtÐường tâi giao lưu xướng họa với câc bạn thơ mới vă cũ như lă để trả câi nghiệpthi văn mă Bă còn nặng nợ Hồ Xuđn Hương mất năm 1822, hưởng dương 51 tuổi,
mộ chôn tại lăng Nghi Tăm, Hồ Tđy
4.2 Sự nghiệp sâng tâc
Hồ Xuđn Hương được coi lă một trong những nhă thơ tiíu biểu của nền vănhọc Việt Nam Thơ Hồ Xuđn Hương được độc giả mọi giới hđm mộ Thi sĩ XuđnDiệu thân phục câch sử dụng chữ Nôm của Hồ Xuđn Hương nín đê vinh danh Bă
lă “Chúa Thơ Nôm” Thi sĩ Dimitrova người Bulgaria ca ngợi bă lă một trongnhững hiện tượng văn học độc đâo nhất của Việt Nam trong toăn bộ nguồn thơ mẵng được biết trín nền văn học thế giới qua tất cả câc thời đại
Tuy nhiín, lđu nay, người đọc vẫn còn hoăi nghi về nhđn vật Hồ Xuđn Hươngnổi tiếng với những băi thơ Ðường luật rất độc đâo lời lẽ vừa lịch lêm, thđm thúy lạivừa dí dỏm Gần đđy, nhờ công trình sưu tầm công phu của một số nhă khảo cứu có
uy tín trong văn học, thđn thế, cuộc đời, vă hoạt động thi phú của nữ sĩ họ Hồ đê dầndần được sâng tỏ giúp xđy dựng lại con người trung thực của Bă vă giải đâp một sốthắc mắc như Hồ Xuđn Hương lă ai? Ðẹp hay xấu? Tại sao có tới bốn đời chồng? Thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuđn Hương được tìm thấy gồm: tập “Lưu Hương Ký” có 52băi thơ vừa Hân (24) vừa Nôm (28) vă một số băi thơ truyền tụng chĩp lại
Nữ thi sĩ Hồ Xuđn Hương lă một nhđn vật có thật lă một nhă thơ tăi năng, hươngsắc vẹn toăn nhưng cuộc đời lại truđn chuyín Thi tăi của Bă đê lăm cho nhiều thinhđn có tiếng đương thời như Nguyễn Du, Tốn Phong thân phục vă lấy đó lămnguồn thi hứng cho những tâc phẩm của mình
Khoảng năm 1956 - 1957, cụ Cử Nguyễn Văn Tú quí ở Hănh Thiện tìm thấytrong tủ sâch gia đình tập "Lưu Hương Ký" Năm 1963, cụ Cử Trần Thanh Mại
Trang 19phát hiện ra trong bài “Du Hương Tích Ðộng Ký” của Chu Mạnh Trinh có bài củaTốn Phong đề tựa cho tập "Lưu Hương Ký" Năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãncông bố các sưu tầm của ông trên Tập san Khoa học Xã hội Paris, số 10 - 11 trong
đó có những bài: Thơ của Hồ Xuân Hương truyền khẩu; những tình tiết về cuộc đời của Hồ Xuân Hương; các bản gia phả của họ Hồ Quỳnh Lưu; Các sách sử chép người chồng cuối cùng của bà là Quan Tham Hiệp Trấn Yên Quảng (bị tử hình, đời Gia Long)
Khoảng năm 1981 - 1885, thi Sĩ Xuân Diệu tặng cho Nhất Uyên Phạm TrọngChánh tập di cảo của ông trong đó có nhiều bài viết so sánh thơ Hồ Xuân Hương vớithơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Lê Thánh Tông Xuân Diệu mệnh danh Hồ XuânHương là "Bà Chúa Thơ Nôm" Từ 1913, ông Nguyễn Ngọc Xuân có máy in chữQuốc ngữ và mở nhà Xuất Bản Xuân Lan, bắt đầu in thơ của Hồ Xuân Hương
Như vậy, chúng ta đã có một cái nhìn khái quát về chân dung, thân thế và sựnghiệp thơ văn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Bà là một thi nhân vừa có hương sắc vừa
có biệt tài về loại thơ, nhưng bất hạnh, hẩm hiu về đường tình duyên, chồng con khiếncho bà phải mở tung cửa trái tim đón nhận tình yêu của một số tri kỷ và qua thơ văn đểthỏa mãn những khao khát tự nhiên của một tâm hồn còn tràn đầy nhựa sống
4.3 Một số bài thơ Nôm Đường luật trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương
Hiện tượng dùng thơ Đường luật Nôm vào mục đích trào phúng không phải làchưa từng có, nhưng cái mới lạ ở Hồ Xuân Hương là một giọng thơ trào phúng bậc nhất
lại “kết phát nhằm đúng một người mà ít ai ngờ tới; một người đàn bà chỉ được xã hội dành cho một “chỗ ngồi” nhỏ bé riêng trong gia đình: Hồ Xuân Hương” [33; 101].
Có thể xem, Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ đầu tiên làm thơ giễu đời ở nước ta.Nhưng khi đi sâu vào tìm hiểu thơ trào phúng của Bà, thì việc Bà làm thơ loại đó khôngcòn là một chuyện lạ nữa đối với bao sự lạ khác của con người Hồ Xuân Hương
Trong quá trình đi khảo sát những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ XuânHương, chúng tôi đã tham khảo một số sách nghiên cứu, chuyên luận, phê bình
ý chí vươn lên của họ
Trang 20Loại thứ ba: Gồm những bài có tính chất khơi gợi, không lành mạnh, nhữngbài có yếu tố dâm.
Chia như vậy, vô hình chung loại thứ hai được xem là thơ trào phúng Tuynhiên xét ở một phương diện nào đó cách chia này cũng quá rạch ròi Bởi trong thơNôm của Hồ Xuân Hương, những bài thơ trữ tình cũng có đan cài giọng thơ tràophúng và những bài tưởng chừng chỉ dùng để trào phúng, đả kích châm biếm haytrào lộng lại cũng rất trữ tình Và cả hai loại thơ này vẫn xuất hiện những yếu tố màngười ta quen gọi là “tục, dâm” Bởi thơ Hồ Xuân Hương là sự kết hợp nhuần nhuỵ
cả ba yếu tố ấy để tạo nên một thứ thơ độc đáo
Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương” lại lấy tiêu chíphong cách để phân chia, lựa chọn thơ Bà Tuy nhiên tác giả mới chỉ đưa ra những
ý kiến xác đáng về phong cách chứ chưa thật sự áp dụng phương pháp này vào thơ
ma quỷ ấy thì sẽ mất luôn cả cái đẹp, cái riêng có trong thơ Hồ Xuân Hương
Từ những ý kiến đó chúng tôi đi đến tìm hiểu khảo sát gần 50 bài thơ Nômtruyền tụng của Hồ Xuân Hương xem bài thơ nào là đối tượng chính cần quan tâm củachúng tôi Ngoài việc dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước; cùng các cấp độcủa cái hài, xác định khái niệm trào phúng; thông qua sự tìm hiểu và phân tích cụ thể
để đưa ra một số bài thơ được xem là trào phúng, bài nào chỉ mức độ trào lộng, bôngđùa Dưới đây là một số bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương:
- “Mắng học trò dốt” bài (1), (2)
- “Trách Chiêu Hổ” (Xướng hoạ với Chiêu Hổ) bài (1), (2), (3)
- “Vịnh sư”(Cái kiếp tu hành, Sư bị ong châm, Sư hổ mang)
- “Chùa Quán sứ”
- “Bỡn bà lang khóc chồng”
- “Dỗ người đàn bà chồng chết”
- “Khóc tổng Cóc”
Trang 21Như vậy, để tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của
Hồ Xuân Hương, chúng tôi đã làm rõ khái niệm, đối tượng của nghệ thuật tràophúng; mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình trong thơ Nôm Đường luật Kháiquát được những nét tiêu biểu, sự phát triển của thơ Nôm Đường luật Đặc biệt,tìm hiểu về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân hương và xác định rõ nhữngbài thơ Nôm Đường Luật trào phúng tiêu biểu của Bà Đây chính là cơ sở lý luận
để chúng tôi triển khai những nội dung chính của đề tài trong chương hai
Trang 22Chương II NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
Nếu như đả kích, châm biếm là mức độ cao nhất của cái hài, thì trào phúngmới là khoan trúng đánh sâu vào đối tượng Nhưng do yêu cầu và nhiệm vụ của vănhọc trong từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử mà văn học lại mang chức năng riêng -nhằm vạch mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cáithực chất bên trong để cho người đọc thấy ý nghĩa mỉa mai, trào lộng Do vậy,người ta chia thơ trào phúng ra làm hai loại: Thơ châm biếm và thơ đả kích
- Thơ châm biếm nhằm mục đích giáo dục xã hội, giáo dục con người bằng
nụ cười nhẹ nhàng mà kín đáo, dí dỏm mà sâu sắc Nụ cười đó bao hàm cả việc phêphán lẫn tinh thần xây dựng
- Thơ đả kích nhằm lột mặt nạ của kẻ thù bằng một nụ cười có sức công pháquyết liệt
Nếu chỉ đem các cấp độ của cái hài trong mỹ học hoặc khái niệm về thơ tràophúng để tìm hiểu về nghệ thuật trào phúng trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chưathật thoả đáng Do vậy, khi tìm hiểu thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương chúng tôi
sẽ cố gắng kết hợp hài hoà giữa hai khái niệm cái hài và thơ trào phúng để phânloại các đối tượng trong thơ trào phúng của Nữ sĩ
1.Đối tượng trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương
Bên cạnh những bài thơ trữ tình, yêu đời đến tha thiết thể hiện tình cảm, tâmhồn giàu cảm xúc với con người, với thiên nhiên thì một tính chất phổ biến và thể
hiện nữa là tính chất trào phúng “Mỗi khi bà cất bút để giễu cợt phúng thích Đi vào phân tích thi tập của bà ta thấy bà đã bắn mũi tên trào phúng vào đủ mọi hạng người trong xã hội” [33; 114] Vậy, Hồ Xuân Hương đã “bắn mũi tên trào phúng”
vào những đối tượng nào? Tại sao lại nhằm vào những đối tượng ấy? Chúng ta sẽ
lý giải vấn đề này
1.1 Phê phán sự ngu dốt của tầng lớp Nho sĩ (trí thức Nho học)
Trang 23Xã hội Nho giáo thường đề cao cương thường đạo lý cùng tôn giáo như thờvua chúa, tôn trọng kẻ sĩ Bởi kẻ sĩ là trụ cột của xã hội phong kiến, họ phải là
những người có tư tưởng “Trung quân ái quốc”, là những người thấm nhuần đạo
thánh hiền, là những người thanh cao chỉ nghĩ đến sự nghiệp duy nhất là được họchành thành tài để giúp đời Nếu không được phụng sự cái lý tưởng ấy thì lui về “háirau”, “uống nước suối” để ngâm thơ vịnh nguyệt qua ngày Đấy chính là kẻ sĩ mẫumực và xã hội phong kiến cũng yêu cầu như vậy đối với tầng lớp Nho sĩ Nhưngtrong xã hội Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVIII nửa sau thế kỷ XIX có nhiềucuộc biến thiên lớn Xã hội phong kiến trên đường suy thoái, vua quan tranh chấpquyền bính, Trịnh - Nguyễn phân tranh dẫn đến cát cứ đằng trong đằng ngoài.Nhân dân phiêu tán dắt díu nhau đi ăn xin Vì vậy, thời kỳ này có nhiều cuộc khởinghĩa nông dân nổ ra Việc học hành cũng không còn được chú trọng, trường học
mở ra nhiều, học trò không cần giỏi cũng có thể đi thi Bọn thống trị cần tiền sẵnsàng biến thi cử thành chuyện mua bán Chẳng hạn, năm 1750 chúa Trịnh quy địnhtrong kỳ thi Hương, ai nộp ba quan được miễn khảo hạch, coi như đỗ Sinh đồ, vì
vậy nên mới gọi là “Sinh đồ ba quan”.
Bản thân Hồ Xuân Hương là một trí thức chứ không phải là một Nho sĩ (vì
xã hội phong kiến không cho con gái theo học chữ Nho) Nhưng Hồ Xuân Hươnglại là một người trí thức của nhân dân, sống trong thời đại của ý thức hệ phong kiến
bị rạn nứt và đổ vỡ, vua, quan, hiền nhân, quân tử, Nho sĩ không còn là đối tượngđược tôn thờ nữa Do đó, đối tượng trào phúng của Hồ Xuân Hương trước hết làtầng lớp trí thức phong kiến - Họ sẽ là rường cột trong tương lai của xã hội, chứchưa phải là người quản lý xã hội Vậy tri thức phong kiến ở đây là những ai? Tạisao Hồ Xuân Hương lại chĩa mũi nhọn trào phúng vào đối tượng này?
Trí thức phong kiến trong thơ Hồ Xuân Hương cũng thuộc tầng lớp dưới Họ làhọc trò Nho học, là những thầy đồ (trí thức nhà trường), là những nhà sư (trí thức nhàchùa) Vì họ là những người học chữ thánh hiền, tiếp thu hoặc ảnh hưởng của ý thức
hệ phong kiến Nho học Đối với học trò cụ Khổng, đây là những người học chữ thánhhiền, thông hiểu luân lý đạo đức Mục đích học của họ không chỉ để hiểu biết, để mởmang kiến thức mà học còn để thi cử và làm quan, để có địa vị trong xã hội
Từ cuối đời Trần trở đi, Nho học trở thành độc tôn Lý trí với giáo điềunghiêm khắc ngự trị xã hội Nhưng cũng từ giai đoạn này, bản năng “thô lỗ” của đa
số bình dân nước Việt đã được rèn giũa rất nhiều Sau buổi thịnh Lê, kỷ luật mấtdần, xã hội loạn lạc, không những dân chúng trở lại nếp xưa mà ngay cả Nho sĩcũng bị xáo trộn Hồ Xuân Hương nhận thấy học trò lúc này thì dốt nát, thầy đồ thìtha hoá biến chất, đạo đức giả Tình hình học hành thi cử như vậy, chất lượng
Trang 24không đảm bảo như trước Một số kẻ sĩ giàu có nhờ tiền mà đậu đạt Với kiểu họchành, thi cử như vậy, Hồ Xuân Hương đã vạch ra điểm yếu của học trò qua hai bàithơ “Mắng học trò dốt”
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ, Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.
Trong cuốn “Hồ Xuân Hương thơ và đời” [9] đặt tiêu đề cho bài thơ là “Lũngẩn ngơ” Ý muốn nói, Hồ Xuân Hương chê bọn học trò ngốc nghếch, học thì dốtlại rủ nhau đi ghẹo gái còn tập tọng đua đòi vần vè, ví von nên Hồ Xuân Hươngthấy khó chịu và viết bài này Một số sách khác như của tác giả Đỗ Lai Thuý, hayXuân Diệu thì lấy tiêu đề là “Mắng học trò dốt” Theo chúng tôi, các tiêu đề trênđều có thể chấp nhận được mà không ảnh hưởng gì đến nội dung trào phúng trongbài thơ
Trong xã hội phong kiến, luôn luôn có thành kiến, quan niệm trọng nam
khinh nữ “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hay cho rằng đàn bà là loại khó dạy
bảo Vì vậy, xã hội phong kiến ở phương Đông nói chung xã hội Việt Nam nóiriêng Nho giáo buộc người phụ nữ phải sống dưới quyền của đàn ông, luôn bị coi làchưa trưởng thành Họ chỉ biết đến “Tam tòng tứ đức” nhằm tô điểm cho đấng phu
quân, Xuân Hương bảo: “Không phải thế Phải lật ngược lại vấn đề bắt đầu từ sự sống ở đó nam nữ bình đẳng” [3; 20].
Xã hội phong kiến Việt Nam với “Nam tôn nữ ti”, con trai thì được học hànhcòn con gái thì không cần phải học, vì sớm muộn cũng phải lấy chồng Có họcnhiều thì cũng chẳng nhờ được gì Mà nếu được “nâng khăn sửa túi” cho đấng phuquân thì cần gì đến chữ nghĩa! Từ quan niệm này, đã làm thui chột, o bế biết bao tàinăng nhi nữ trong xã hội Có phải vì thế mà Hồ Xuân Hương mới mắng bọn học tròdốt lại còn ba hoa, huênh hoang, khoác loác và hợm đời, cứ tưởng mình biết vàichữ mà đã mang ra loè bịp thiên hạ - đừng tưởng chị này kém cỏi, không biết gì!
Và biết đâu nàng đã có cái cười mỉm khinh bỉ! Đã vậy chị sẽ cho một bài học nhớđời Không biết làm thơ thì đừng có “tí tửng” để chị này dạy cho
Nàng gọi bọn học trò, bọn Nho sĩ rởm đời là “Lũ ngẩn ngơ”, đã học chữ
thánh hiền sao không hiểu lễ nghĩa gì hết Nàng chưa trách cái văn mà trước hết làtrách cái lễ kém Bởi đối với những kẻ nay còn là anh Khoá, cậu Nho nhưng mai
kia “Cửa vũ hoá rồng” họ sẽ là quan Cử, quan Nghè là cha mẹ dân, lại phải để cho
phận nữ nhi thường tình dạy cho Không dừng lại ở đó, nàng lại bồi thêm cho mấyđịnh ngữ mà mức độ khinh thị không biết để đâu cho hết Nàng gọi bọn Nho sĩ là
Trang 25“ong non”, là “dê cỏn” Theo Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương “khinh người như tát nước đổ đi, mà chữ dùng thì sắc sảo đến chừng nào! Không phải là dê nhỡ, dê bé,
dê con, mà đích thực là dê cỏn! Những chữ chết tức người ta!” [3; 488] Còn với Trần Khải Thanh Thuỷ thì cho rằng: “Dê cỏn không phải là dê con, cũng giống như lợn tháu, gà choai, không phải là lợn con hoặc gà con” [34; 24] Dù có giải
thích như thế nào thì cũng chỉ lý giải được phần nào về tài sử dụng ngôn ngữ của
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương không những nói lên sự ngu dốt của học trò mà còn chỉ
ra cái lối sống bừa bãi, chỉ vì “buồn sừng” mà “húc” bừa, “châm” bậy Nhưng cáisừng non mới nhú ấy chỉ húc vào “dậu thưa”, châm vào “hoa rữa” mà thôi!
Ở bài hai, không còn là sự dạy bảo mà là sự chê trách Bà không chịu đượcnhững chàng Nho sĩ không lượng được tài sức non nớt của mình, hễ đi đâu là vẽvời thơ phú đến đó Phải chăng họ thích học đòi các thi nhân xưa để lại dấu ấn mỗinơi mình tới? Xuân Hương viết:
Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền, Cũng đòi học nói, nói không nên!
Ai về nhắn bảo phường lòi tói Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Trước hết, xin được giải thích về hai chữ “lòi tói” mà Xuân Hương dùng(nghĩa đen là dây sắt gồm nhiều vòng mắc vào nhau) Trong cách chấm thơ văn xưathường có khuyên và sổ Song trong lúc đùa nghịch khuyên nhiều vòng móc xíchvào nhau Vì thế mà gọi là khuyên lòi tói khi gặp những đoạn văn viết bạt mạng,lăng nhăng Sau này, nghĩa bóng để chỉ những kẻ viết chữ xấu
Bài thơ này, Xuân Hương muốn chê bọn học trò học chữ thánh hiền mà viếtchữ xấu Người xưa có câu “nét chữ là nét người” Vì vậy, mới có nghệ thuật thưpháp Cho nên khi nhìn những chữ loằng ngoằng như dây xích, chữ nọ ngoắt ngoéo,quàng xiên vào chữ kia Xuân Hương có ý chê sự kém cỏi, dốt nát của học trò
Ngoài ra, Xuân Hương còn trách đây là những kẻ vô văn hoá, nơi chùa chiền
thâm nghiêm lại đề thơ lung tung lên tường của nhà chùa Ca dao có câu “Xấu hay nói tốt, dốt hay khoe chữ” là thế! Hồ Xuân Hương phê phán và gọi đích danh là
“phường lòi tói” và buộc họ khắc phục sửa chữa khuyết điểm của mình bằng cách
“đem vôi quét trả đền”.
Có thể nói, Hồ Xuân Hương sống vào thời đại các nhà Nho chân chính Họ
đều ý thức được tài năng hơn đời, hơn người của mình Phan Ngọc nhận xét: “Đây
là thời đại mà mọi người đều khoe tài”, Nguyễn Du khoe tài, Hồ Xuân Hương
khoe tài, Nguyễn Công Trứ khoe tài và tìm chỗ dựa cho mình bằng tài năng cá
Trang 26nhân Vì vậy, mà Hồ Xuân Hương mới cho rằng cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ
có khác nào “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông”.
Cả hai bài thơ, Hồ Xuân Hương không phải là hạ bệ, tẩy chay tầng lớp Nho
sĩ mà thi sĩ hạ bệ để nhắc nhở, để giáo dục, để phục thiện cho học trò Do đó, cả haibài thơ không mang tính chất thắng bại, phân biệt giai cấp
Trước đây, nhiều người xem nội dung thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương là
đả kích, là châm biếm sâu cay vào đối tượng, nào là “đanh đá”, “xách mé” Theochúng tôi thì không hẳn như thế! Xuân Hương cũng xuất phát từ một tri thức bìnhdân góp tiếng nói phê phán vào những người cùng mang danh trí thức Ta có thểthấy nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương rất riêng, Bà đứng cao hơn hẳnđấng mày râu một bậc, xưng “chị” mà còn đòi “dạy” bảo, thật là điều hiếm thấytrong thơ văn Trung đại Nếu như văn học trong giai đoạn này người ta tránh nóiđến cái tôi cá nhân, cá thể, mà chỉ nói đến cái ta chung, đề cao cộng đồng (phi ngã),thì Hồ Xuân Hương đã làm ngược lại, thơ Bà phần nào khẳng định bản ngã, khẳngđịnh cái tôi cá nhân và đưa văn học sang hướng “dân chủ hoá”
Bên cạnh tầng lớp Nho sĩ thì với những ông đồ trong thơ Bà suy cho cùngcũng là hai đối tượng có cùng tên gọi - Đó là những trí thức trong nhà trườngphong kiến Nho học Vì thế chúng tôi không tách ba bài “Trách Chiêu Hổ” mà cósách chép là “Xướng hoạ cùng Chiêu Hổ” thành phần riêng để tiện cho việc đốichiếu và hiểu hơn về đối tượng trào phúng này
Bên cạnh đó Xuân Hương tỏ ra là người phụ nữ đầy bản lĩnh, rất vững vàngnhưng không kém phần “đanh đá, đối chọi với Chiêu Hổ từng vần thơ đã đành màcòn chế giễu ngầm ẩn sâu xa thâm thuý Điều này cho thấy lần đầu tiên trong vănhọc Trung đại có một người phụ nữ dám bước lên ngang hàng đòi quyền bình đẳngvới nam giới, thậm chì còn bước cao hơn Ở ba bài thơ này ta thấy Hồ Xuân Hương
đã vạch ra những điểm yếu của Chiêu Hổ
Trước hết, là một trí thức Nho học, là “anh đồ” - người hiểu biết chữ thánhhiền và còn mang điều đó để dạy bảo người khác ấy vậy mà có tính “bờm xơm”hay trêu ghẹo đàn bà con gái:
Anh đồ tỉnh, anh đồ say Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
(Trách Chiêu Hổ 1)Điểm yếu thứ hai của “anh đồ” Chiêu Hổ là nói dối Xuân Hương khôngngần ngại mà nói thẳng:
Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Trang 27(Trách Chiêu Hổ 2)Chữ “trung - hiếu - lễ - trí” thì chưa biết, vậy chữ “tín” trong thánh hiền anh
để ở đâu? (chuyện kể có lần Xuân Hương hỏi vay Chiêu Hổ năm quan tiền Chiêu
Hổ đã đồng ý cho vay nhưng sau lại chỉ đưa có ba quan) Vì vậy, Xuân Hương mới
có cớ mà trách Chiêu Hổ đã nuốt lời
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt, Nhớ hái cho xin nắm lá đa.
(Trách Chiêu Hổ 2)Dân gian có câu “nói dối như Cuội” - vậy Chiêu Hổ có gì khác Cuội trongcâu thành ngữ này!
Điểm yếu thứ ba của Chiêu Hổ mà Xuân Hương đề cập đến đó là bản tínhnhút nhát, thiếu bản lĩnh đàn ông vậy thì làm sao gọi là “quân tử” được!
Những bấy lâu nay luống nhắn nhe, Nhắn nhe toan những sự gùn ghè.
Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám, Chưa dám cho nên phải rụt rè.
(Trách Chiêu Hổ 3)Đối với học trò dốt nát, Xuân Hương xưng là “chị” và “dạy làm thơ” đểkhẳng định cái tài hơn hẳn những kẻ tự khoe là có học đã đành! Nhưng đây, mộtlần nữa Xuân Hương lại khẳng khái xưng “chị” với “anh đồ” Chiêu Hổ - người cóhọc hành hẳn hoi, hơn hẳn một bậc tài trí so với lũ học trò “ngẩn ngơ” loại “dê cỏn”mới nhô nọc, nhú sừng nên chưa biết gì mới húc bừa châm bậy Còn “anh đồ” đâuphải hạng “dê cỏn” mà ngay giữa ban ngày ban mặt lại trêu hoa ghẹo nguyệt,không những vậy lại còn giả tỉnh tỉnh, say say làm như không có chuyện gì xảy ra
và khi định dở trò sàm sỡ thì Xuân Hương đã mang cái “barie” khổng lồ ra để ngănlại, đồng thời diễn ra cuộc đối thoại nghiêng ngửa với Chiêu Hổ Một cuộc đấukhẩu theo truyền thống đối đáp của người Việt Nam rất lành mạnh, khiêu khíchbằng giọng đàn chị nhưng vẫn rất tế nhị, không hề thô vụng vì sự chơi chữ hững
hờ, đánh đồng “cái ấy” với “hang hùm” để chơi lại chữ “hổ”, làm anh đồ giật
mình sực tỉnh: Hoá ra mình đã bị mắc lỡm Xuân Hương rồi!
Này này chị bảo cho mà biết, Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!
(Trách Chiêu Hổ 1)Nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương qua ba bài thơ này không quámức gay gắt và cũng không đến mức giáng cho đối tượng một đòn chí mạng về bàihọc đạo đức hay về lễ nghĩa cho người quân tử trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ
Trang 28Xuân Hương trào phúng là giúp đối tượng sống tốt hơn, có đạo đức hơn Mình làngười hiểu lễ nghĩa thì đừng nên vi phạm lễ nghĩa đó Vậy, đối với học trò, thơ trào
phúng của Hồ Xuân Hương dựa trên cái chuẩn về tri thức Đối với “anh đồ” thì Xuân
Hương lại dựa vào cái chuẩn của đạo đức để trào phúng
Qua sự tìm hiểu về hai đối tượng mà Xuân Hương dùng để truyền tải nội dungtrào phúng, Bà đã mượn đối tượng này để nói lên sự tha hoá, biến chất của xã hộiphong kiến Họ đều là những người được ăn học, sẽ là cha mẹ dân, sẽ đem đạo đứcthánh hiền dạy cho người khác mà tha hoá như vậy nói gì đến kẻ dốt nát vô họcthuộc tầng lớp dưới Đây phải chăng mới chính là cái đích mà Xuân Hương muốnhướng tới
1.2 Chế giễu thói hư, tật xấu của tầng lớp sư, vãi (trí thức nhà chùa)
Không chỉ dừng lại với tri thức Nho học, tầng lớp sư vãi cũng là đối tượngtrào phúng của Hồ Xuân Hương Bà ghét cay ghét đắng bọn nhà sư núp sau bóngphật để làm việc ô uế Để lột mặt nạ những hạng người giả dối này, không còn cách
nào hơn là nói thẳng vào mặt chúng rằng: “Này thôi đi! Đừng có đem cái đạo đức, tôn giáo ra mà loè bịp thiên hạ mãi” [29; 100] và hễ có dịp là Xuân Hương cười
thẳng vào mặt chúng
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.
(Sư Hổ mang)Nếu như từ thời nhà Lý, Phật giáo được tôn vinh là quốc giáo, thì từ thời nhàTrần trở về sau Nho giáo lại chiếm vị trí độc tôn Vì vậy, Phật giáo của cung đìnhtrở thành Phật giáo của nhân dân Người quy y cửa Phật cũng là người trí thức củanhân dân - bởi họ không chỉ thông hiểu về kinh kệ đồng thời còn rất am hiểu vềcuộc sống của nhân dân “Cái bể khổ luân hồi” của cuộc đời trần tục, phải chăngkiếp trước mình chưa đắc đạo! Để cứu giúp con người thoát khỏi vòng luân hồi
“Sinh lão bệnh tử” thì nhà sư là người đứng ra để cứu nhân độ thế
Nhưng khi Nho giáo chiếm địa vị độc tôn thì Phật giáo không còn đượctrọng vọng như xưa nữa Hồ Xuân Hương đã không còn nhìn nhà sư và Phật giáotheo nghĩa “cứu nhân độ thế” Ở thơ Bà, nhà sư chính là sự đối lập giữa cái tự nhiên
và cái bất tự nhiên Nhà sư dưới con mắt của Hồ Xuân Hương thật đáng chê trách:
“Chẳng phải Ngô chẳng phải ta/ Đầu thì trọc lóc áo không tà” Mở đầu bài thơ là một hình ảnh trái với tự nhiên Lời thơ chẳng chút kiêng dè: "cái đầu trọc lốc"