Chương I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC THIẾU NHI VÀ TÁC GIẢ VÕ QUẢNG 1. Lịch sử vấn đề 2. Khái quát về văn học thiếu nhi 3. Các chặng đường phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam 4. Khái quát về tác giả Võ Quảng Chương II: NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VÕ QUẢNG VIẾT CHO THIẾU NHI 1. Đặc sắc về nội dung trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi 2. Đặc sắc về nghệ thuật trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài………
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài………
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài………
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài………
7 Giả thuyết khoa học………
8 Nội dung chủ yếu của đề tài………
PHẦN NỘI DUNG………
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC THIẾU NHI VÀ TÁC GIẢ VÕ QUẢNG 1 Lịch sử vấn đề………
2 Khái quát về văn học thiếu nhi………
2.1 Khái niệm văn học thiếu nhi………
2.2 Đặc trưng của văn học thiếu nhi………
2.3 Vai trò của văn học thiếu nhi đối với trẻ em………
2.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ em khi tiếp nhận tác phẩm văn học………
3 Các chặng đường phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam…………
3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945………
3.2 Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (từ 1945 đến 1954)………
3.3 Giai đoạn miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam chống Mĩ cứu nước (từ 1954 đến 1965)………
3.4 Giai đoạn cả nước kháng chiến chống Mĩ xâm lược, miền Bắc tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ 1965 đến 1975)………
3.5 Giai đoạn thống nhất đất nước và sau đổi mới (từ tháng 4 năm 1975 đến nay) 4 Khái quát về tác giảVõ Quảng ………
4.1 Tiểu sử ………
4.2 Sự nghiệp sáng tác……… ………
4.3 Quan niệm sáng tác cho thiếu nhi của Võ Quảng………
Chương II: NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VÕ QUẢNG VIẾT CHO THIẾU NHI 1 Đặc sắc về nội dung trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi…………
1.1 Khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp………
3 3 4 4 4 4 4 5 5 6 6 6 8 8 9 11 14 16 16 17 18 19
21 24 24 26 28 33 33 33
Trang 21.2 Thế giới động vật sinh động, đáng yêu……….
1.3 Thế giới thực vật phong phú, đa dạng………
1.4 Thế giới đồ vật quen thuộc, gần gũi………
2 Đặc sắc về nghệ thuật trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi……
2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật ………
2.1.1 Ngôn ngữ giàu tính nhạc………
2.1.2 Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại………
2.1.3 Ngôn ngữ hài hước, dí dỏm………
2.1.4 Ngôn ngữ miêu tả đặc sắc………
2.2.Sử dụng các pháp nghệ thuật………
2.2.1 Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa………
2.2.2 Sử dụng biện pháp tu từ so sánh………
2.2.3 Sử dụng phép điệp………
PHẦN KẾT LUẬN………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………
PHỤ LỤC………
38 45 50 53 54 56 56 60 62 63 64 67 69 74 76 78
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 31 Lý do chọn đề tài
Văn học thiếu nhi Việt Nam là một bộ phận quan trọng góp phần làm nêndiện mạo đa dạng của văn học nước nhà Nói đến văn học thiếu nhi Việt Nam,không thể không nhắc tới tác giả Võ Quảng (1920 - 2007), ông luôn được cácnhà văn, nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những người tiên phong đặt nềnmóng cho văn học thiếu nhi Việt Nam Võ Quảng là người bộ hành chung thủy
đã dành trọn cuộc đời sáng tác cho thiếu nhi Hơn 50 năm cầm bút, Võ Quảng đã
để lại trên 20 đầu sách, trong đó có hơn 10 tập thơ viết cho thiếu nhi Bằng sựtrân trọng tuổi thơ, tình yêu cuộc sống, ý thức sâu sắc về thiên chức người cầmbút, tác giả đã dệt lên một thế giới thần tiên cho trẻ thơ Thiếu nhi nhiều thế hệ
đã lớn lên cùng năm tháng từ những bài thơ: Ai dậy sớm, Anh Đom Đóm, Mời vào… của Võ Quảng Vườn thơ Võ Quảng xanh mãi với thời gian bởi nghệ thuật
Thơ cũng là thể loại văn học quan trọng đối với trẻ em, bởi thơ có sức hútmạnh mẽ, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào tâm hồn các em; hình thành cho các
em nhân cách, năng lực thẩm mỹ, nhận thức về thế giới khách quan Vì vậy,sáng tác thơ của Võ Quảng được tuyển chọn và giới thiệu trong chương trìnhGiáo dục Mầm non và Giáo dục Tiểu học Tuy nhiên, đối với lứa tuổi này, đểcho các em không chỉ nhớ, thuộc “vẹt” mà còn hiểu được giá trị của tác phẩm,người giáo viên cần định hướng cho các em thấy được cái hay về nội dung và cáiđẹp về hình thức của tác phẩm
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi Đề tài sẽ giúp giảng
viên, sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang cũng như độc giả yêu thơhiểu được một cách toàn diện và sâu sắc hơn các tác phẩm thơ của Võ Quảng viếtcho thiếu nhi, nhằm phục vụ cho việc dạy và học một cách thiết thực và hiệu quả
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm các mục tiêu sau:
Trang 4- Thỏa mãn mong muốn được tìm hiểu về thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi củanhóm nghiên cứu.
- Cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho giảng viên bộ môn Ngữ vănkhi giảng dạy về thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
- Là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên ngành Giáo dục Mầmnon và Giáo dục Tiểu học khi tìm hiểu về thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
- Là tài liệu dành cho tất cả các độc giả yêu mến thơ Võ Quảng
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung và nghệ thuật trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
3.2 Khách thể nghiên cứu
Một số bài thơ tiêu biểu của Võ Quảng viết cho thiếu nhi
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu khái quát về văn học thiếu nhi, các chặng đường phát triển củavăn học thiếu nhi Việt Nam
- Khảo sát, thống kê, phân tích, tìm hiểu thơ viết cho thiếu nhi của Võ Quảng
để thấy được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong những tác phẩmông viết dành cho các em
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trongthơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu, tập hợp tư liệu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu, tậphợp tư liệu nhằm phát hiện ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của thơ
Võ Quảng viết cho thiếu nhi nằm rải rác trong các tập thơ của ông Chúng tôi ghichép lại những nhận định khoa học từ những nguồn tư liệu sưu tầm được để có cơ
sở khoa học đánh giá, nhận định khách quan về đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Nhằm làm nổi bật những vấn đề xoay quanh nội dung và nghệ thuật trongthơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi, chúng tôi lựa chọn dẫn chứng từ các tư liệu đãkhảo sát, sau đó tìm hiểu, phân tích dẫn chứng và tiến hành tổng hợp khái quát lại
để đi đến khẳng định vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh:
Trang 5Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu những biểu hiện về nộidung và nghệ thuật của thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi với thơ viết cho thiếu nhicủa các tác giả khác, để từ đó tìm ra những nét đặc sắc trong thơ viết cho thiếu nhicủa Võ Quảng.
7 Giả thuyết khoa học
Các công trình khoa học nghiên cứu về thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi đếnnay chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập của giảng viên, giáoviên, học sinh, sinh viên cũng như độc giả yêu mến thơ Võ Quảng Nếu nghiêncứu thành công, đề tài sẽ góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu về nội dung vànghệ thuật của thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi, qua đó giúp cho sinh viên họcngành Giáo dục Mầm non và ngành Giáo dục Tiểu học cũng như giáo viên Mầmnon và Tiểu học tiếp cận dễ hơn với thơ Võ Quảng- Đề tài nghiên cứu thành công sẽgiúp giảng viên và sinh viên hiểu rõ thêm về nhà thơ Võ Quảng - một trong rất ít nhàthơ chuyên tâm viết cho thiếu nhi
8 Nội dung chủ yếu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung chính của đề tài được chialàm hai chương:
Chương I Khái quát về văn học thiếu nhi và tác giả Võ Quảng
Chương II Nội dung và nghệ thuật trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
PHẦN NỘI DUNG
Trang 6Chương I KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC THIẾU NHI VÀ TÁC GIẢ VÕ QUẢNG
1 Lịch sử vấn đề
Võ Quảng là một trong những nhà văn hiếm hoi ở nước ta chuyên viết và viếtrất thành công những tác phẩm văn học cho thiếu nhi nên được các đồng nghiệp vàgiới nghiên cứu, phê bình rất quan tâm Ngay từ năm 1983, Nhà xuất bản Kim Đồng
trong tập sách Bàn về văn học thiếu nhi đã in bài viết của nhiều tác giả bàn về tác phẩm của Võ Quảng Tiêu biểu như: Nguyễn Kiên với Một tấm lòng vì tuổi thơ, Vân Hồng với Võ Quảng và tiểu thuyết “Quê nội - Tảng sáng”, Đoàn Giỏi với Tác phẩm
và con người Võ Quảng, Phạm Hổ với Vài cảm nghĩ khi đọc thơ Võ Quảng, Vũ Tú Nam với Tài năng miêu tả của Võ Quảng, Vân Thanh khẳng định Vị trí Võ Quảng
và văn học thiếu nhi, Vũ Ngọc Bình với Vài cảm nghĩ về văn thơ Võ Quảng Đặc biệt, công trình Võ Quảng - con người, tác phẩm do bà Phương Thảo (người vợ hiền
của Võ Quảng, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu, dịch thuật văn học) biên soạn,Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành tháng 3 năm 2008, đã tập hợp khá đầy đủ các bài viếtgiúp người đọc hình dung về cuộc đời và sự nghiệp của Võ Quảng
Dưới đây đề tài chỉ điểm lại những bài viết, những ý kiến, nhận xét đề cập
trực tiếp đến Nội dung và nghệ thuật trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi.
Luận văn thạc sỹ Thế giới tuổi thơ trong sáng tác của Võ Quảng của Nguyễn
Thị Thùy Dung đã tập trung phát hiện những đặc điểm nổi bật của thế giới tuổi thơtrong sáng tác của Võ Quảng, từ đó giúp người đọc thấy rõ hơn đóng góp của ôngcho nền văn học thiếu nhi trong nền văn xuôi hiện đại nước ta
Người bạn đường gần gũi với Võ Quảng là nhà thơ Phạm Hổ cũng đã nói lên
cảm nghĩ của mình khi đọc thơ Võ Quảng: “Thơ Võ Quảng thường có những cái hay trong sự mộc mạc, hồn nhiên có khi đến vụng về, một sự vụng về rất đáng yêu.
Và như Bi-cát-xô đã nói - có đôi khi chính sự vụng về kia là một yếu tố góp phần tạo nên phong cách” [29, 119]
Tác giả Phạm Thị Phương Liên trong bài viết Võ Quảng - đặc sắc nghệ thuật thơ viết cho thiếu nhi có đoạn: “Đọc thơ Võ Quảng các em như được xem những bức tranh sơn mài lộng lẫy, có lúc là các bức tranh thủy mạc mềm mại” để
thấy được cái tâm và cái tài dùng chữ của Võ Quảng
Bài viết Vẻ đẹp thế giới nhân vật trong thơ thiếu nhi của nhà thơ Võ Quảng, tác giả Nguyễn Thị Thắng đã cảm nhận: “Một hơi thơ bình dị, chân thật mà giàu hơi thở cuộc sống Thế giới nhân vật đa dạng, được dệt nên như một khu vườn bách thảo và bách thú, khiến cho mọi trẻ em đều say mê và yêu thích”
Trang 7Nhà văn lão thành Vũ Ngọc Bình nói đến cái đẹp của đồng thoại Võ Quảng
khác nào cái đẹp của con trai khi tạo ngọc: Trai đã “chắt lọc ánh sáng, màu sắc của mặt trời và mặt trăng, của sao đêm và biển cả để làm nên ngọc quí” Nó là “văn chương - ngọc quí” khi “tư tưởng và ngôn ngữ được chắt lọc thành những tia sáng và gam màu tinh điệu, rút từ cuộc sống và qua lao động sáng tạo” [25, 354].
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng, bài thơ Anh Đom Đóm của Võ
Quảng đã được nhà văn Pháp chọn dịch ra tiếng Pháp để giới thiệu cho bạn đọc thế
giới Cả một đời nhà văn Võ Quảng như “anh đom đóm” kia, chỉ khác là Anh Đom Đóm của ông canh gác cho mọi vật, cho đất trời, còn ông canh gác cho con người, cho
thời kỳ hình thành nhân cách của con người Phạm Xuân Nguyên đánh giá rất cao ýnghĩa giáo dục nhân cách trẻ thơ trong thơ Võ Quảng
Nguyễn Tuân - người rất kĩ tính về văn, cũng đã từng viết trong lời tựa tập
thơ Tảng sáng không chỉ về văn mà cả về thơ và con người Võ Quảng: “Võ Quảng
bắt đầu nói chuyện với độc giả nhỏ bằng tập thơ Măng tre Thơ măng có những bài
đẹp như tranh tĩnh vật Tranh vẽ những hình dáng tĩnh mà sống động, và Võ Quảng đã thổi vào đấy cái tâm hồn trong sáng của mình” [25, 354].
Giáo sư Phong Lê đã có lần viết về Võ Quảng rằng đường đời ông rất có thểchuyển sang một hướng khác với nghiệp viết, và như vậy xem ra là thật, là hợp với sốđông người Thế nhưng rồi ông đã chọn nghề viết cho thiếu nhi khi chớm tuổi 40, để rồi
ông có được những thành công viên mãn Và giáo sư đã nhận định: Võ Quảng là hình ảnh một bộ hành chung thủy trong cuộc đi vẫn còn vắng vẻ và vất vả Võ Quảng là người trong số hiếm hoi, gắn nối văn mạch dân tộc và khơi tiếp cho nó một dòng chảy mới sau năm 1954” [7, 336].
Nhận xét về tập thơ Nắng sớm của Võ Quảng, Xuân Tửu nêu lên một nhận xét:
“Nhìn tổng quát, tập Nắng sớm có một chủ đề tư tưởng rất rõ rệt: Võ Quảng đã phản ánh đúng trình độ nhận thức và tâm hồn thiếu nhi Việt Nam trong giai đoạn này: yêu nước, yêu đồng bào, ghét đế quốc Mĩ” [27, 884].
Ngô Quân Miện cho rằng: “Đọc thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi, ta luôn luôn gặp những con vật và những cây cỏ Có thể nói trong thơ Võ Quảng, có cả một thế giới loài vật và cỏ cây Nói một cách khác, trong thơ Võ Quảng có một mảnh vườn bách thú và bách thảo, mà những em bé nào có cái may mắn được vào đấy đều say mê và yêu thích” [6, 301].
Nhà văn Nguyễn Minh Châu thì nhận xét về ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng như
sau: “Vốn từ trong thơ ông là những từ thông dụng, ít có từ khó hiểu đối với trẻ thơ Cách dùng từ lặp, câu lặp trong thơ hợp với khả năng nhớ của các em Những từ láy
Trang 8trong thơ Võ Quảng làm tăng thêm nhịp điệu của lời thơ Võ Quang khéo léo kết hợp mảng từ tượng thanh dùng hoàn toàn bằng tiếng kêu của loài vật” [6, 318].
Như vậy, thơ Võ Quảng đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét và bìnhluận Tuy nhiên, đó chỉ là những lời bàn định khái quát, chưa đi sâu vào nghiên cứu mộtcách hệ thống, đầy đủ, cụ thể đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ viết chothiếu nhi của Võ Quảng Chúng tôi nhận thấy, thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi có nộidung phong phú, nghệ thuật đặc sắc và ý nghĩa giáo dục rất cao Những ý kiến bàn luận
và nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trên sẽ là cơ sở lý luận để chúngtôi thực hiện nghiên cứu đề tài này
2 Khái quát về văn học thiếu nhi
2.1 Khái niệm văn học thiếu nhi
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làmchất liệu để chiếm lĩnh, tái hiện thế giới Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuậtkhác có đối tượng là thế giới khách quan, con người, các quan hệ đa dạng của conngười với thực tại Nói cách khác, đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực kháchquan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người Văn họcthiếu nhi là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân tộc Bất kì nền văn họcnào cũng chứa đựng trong nó một bộ phận không thể thiếu là "văn học thiếu nhi"
Theo Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam thì văn học thiếu nhi là:
"Những tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi
và nhiều khi, cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, hay một đồ vật, một cái cây Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em, mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi (…) Những tác phẩm được thiếu nhi thích thú tìm đọc Bởi vì các em đã tìm thấy ở trong đó cách nghĩ, cách cảm cùng những hành động gần gũi với cách nghĩ, cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các em còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên, khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích trong quá trình hoàn thiện tính cách của mình" [26; 6].
Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trungtâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là con người, hoặc là thế giới tựnhiên… nhưng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc vớivốn trải nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hoàn thiệnđạo đức, tâm hồn cho trẻ
2.2 Đặc trưng của văn học thiếu nhi
Trang 9Văn học thiếu nhi đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, hình thức; chứađựng nhiều giá trị nhân văn hướng tới giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người.Nhưng do hướng tới phục vụ thiếu nhi - một đối tượng đặc thù nên ngoài những đặcđiểm chung của tác phẩm văn học, nó còn mang những đặc trưng riêng.
Những tác phẩm thơ, truyện viết cho các em phải rất hồn nhiên, vui tươi, ngộ
nghĩnh và trong sáng Hiểu được bản tính của trẻ em là hồn nhiên, ngây thơ nên
người viết phải đặt mình vào vị trí của trẻ em, nhìn cuộc sống qua đôi mắt của trẻ
để tạo ra những hình tượng phù hợp, hấp dẫn các em Vì vậy, tác phẩm bao giờcũng thể hiện những xúc cảm chân thành, hồn nhiên, trong trẻo… như chính bảntính của trẻ thơ Qua cái nhìn “trong veo” ấy, cuộc sống xung quanh các em trở nênhấp dẫn, đẹp đẽ và đầy sức sống Và như vậy, mỗi lần sáng tác cho các em là mộtlần người viết được “sống lại” tuổi thơ của mình và hòa đồng tâm hồn với các em
Nhà thơ Nguyễn Khoa Đăng trong bài thơ Đội nón cho cây đã nhìn thấy nét hồn nhiên, ngây thơ đáng yêu trong hành động của bé: Thương cây bàng con/ Phơi đầu ngoài nắng/ Bé tìm mê nón/ Đội vào cho cây Nhà thơ Phạm Hổ lại đưa đến tiếng cười hóm hỉnh và tinh nghịch, hồn nhiên và trong sáng trong bài thơ Ngủ rồi: Gà
mẹ hỏi gà con/ Đã ngủ chưa đấy hả?/ Cả đàn gà nhao nhao/ Ngủ cả rồi đấy ạ!…
Khả năng nhận thức của trẻ em còn hạn chế nên tác phẩm dành cho các emthường phải có nội dung và hình thức ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu Đối với thơ, nộidung thường đơn giản, sử dụng những thể thơ quen thuộc, câu thơ ngắn 3 chữ, 4chữ, 5 chữ gần với đồng dao, vui nhộn phù hợp với trẻ thơ Các em vừa đọc, vừachơi, dễ thuộc, dễ nhớ:
Là cối xay lúa…
(Kể cho bé nghe - Trần Đăng Khoa)Đối với truyện, thể hiện ở dung lượng tác phẩm ngắn, cách đặt tên truyện mộtcách cụ thể và thường đúc kết ý nghĩa giáo dục, giúp trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ
hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện và có thể kể lại một cách dễ dàng Ví dụ Sự tích hoa cải vàng, Sự tích hoa râm bụt, Chú thỏ thông minh, Dế Mèn phiêu lưu kí
Trang 10Tác phẩm viết cho trẻ em rất giàu chất thơ, chất truyện Yếu tố truyện trong
thơ và yếu tố thơ trong truyện Nếu thơ viết cho người lớn thiên về tâm trạng, cảmxúc, nỗi niềm, suy tưởng thì thơ viết cho các em chỉ như một câu chuyện nhỏ:
Bướm em hỏi chị, Chú bò tìm bạn (Phạm Hổ), Chuyện ở ao sen (Chu Thu Hằng),
Bé và mèo (Nguyễn Bá Đan) Mỗi bài thơ viết cho trẻ gần như một mẩu truyện
hoặc chứa đầy yếu tố truyện Điều đó khiến cho các em dễ hiểu, dễ cảm nhận và
thuộc lòng những vần thơ Trong bài Chú bò tìm bạn (Phạm Hổ), bằng những từ
ngữ hết sức đời thường tác giả đã kể cho các em nghe một câu chuyện về tình bạn
đầy xúc động và tinh tế: “Mặt trời rúc bụi tre/ Buổi chiều về nghe mát/ Bò ra sông uống nước/ Thấy bóng mình ngỡ ai/ Bò chào: “Kìa anh bạn/ Lại gặp anh ở đây”/ Nước đang nằm nhìn mây/ Nghe bò cười toét miệng…” Yếu tố thơ trong truyện lại
như một chất xúc tác làm cho câu chuyện thêm sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ.Chất thơ của truyện sẽ làm cho những bài học trở nên nhẹ nhàng, sâu sắc mà không
bị khô khan, cứng nhắc Trẻ em thích truyện Hoa mào gà, Giọng hót chim sơn ca, Chú đỗ con… cũng vì những hình ảnh đẹp, câu văn mượt mà và đậm chất thơ
Tác phẩm viết cho thiếu nhi thường giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu Cáctác giả luôn chú ý chọn lọc kỹ lưỡng việc sử dụng câu, từ, mang những hình ảnhđẹp cùng với vần điệu, nhạc điệu vui tươi làm cho tác phẩm thêm sinh động, có sứchấp dẫn và lôi cuốn sự chú ý của các em Tác phẩm thường sử dụng nhiều từ láy,động từ, tính từ miêu tả, từ tượng thanh, tượng hình để vẽ lên những bức tranh sinhđộng, vừa có màu sắc, vừa có âm thanh, đồng thời thể hiện phong cách ngây thơ, dí
dỏm phù hợp với lứa tuổi của các em Bài thơ Mời vào của Võ Quảng như một hoạt
cảnh vui, sự xuất hiện các nhân vật ngộ nghĩnh, sự kết hợp các thanh bằng, trắc đãtạo nên nhạc tính:
Cốc, cốc, cốc!
- Ai gọi đó?
- Tôi là Thỏ
- Nếu là Thỏ Cho xem tai
- Cốc, cốc, cốc!
- Ai gọi đó?
- Tôi là Nai
- Thật là Nai Cho xem gạc…
Sử dụng nhiều biện pháp tu từ so sánh, ý nghĩa ẩn dụ và phép nhân hóa cũng
là một đặc trưng trong các tác phẩm dành cho trẻ, bởi các em nhìn mọi vật bằng con
Trang 11mắt "vật ngã đồng nhất", coi mọi vật và thiên nhiên như những người bạn gần gũi,thân thuộc của mình:
Ông Trời nổi lửa đằng đông
Bà Sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
Bố em xách điếu đi cày
Mẹ em tát nước, nắng đầy trong khau
Cậu Mèo đã dậy từ lâu Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng
Mụ Gà cục tác như điên Làm thằng Gà Trống huyên thuyên một hồi
(Buổi sáng nhà em -Trần Đăng Khoa)
Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh mẽ tớitâm hồn và nhận thức của con người Vì vậy, mỗi tác phẩm văn học luôn mang đến
cho trẻ một ý nghĩa giáo dục cụ thể, rõ ràng Khi đọc bài thơ Mẹ ốm (Trần Đăng
Khoa), các em được giáo dục sự quan tâm, chăm sóc và tình yêu thương sâu sắc đối
với mẹ Khi nghe kể chuyện Bạn của Nai Nhỏ, trẻ sẽ được giáo dục tình bạn, lòng
dũng cảm Như vậy, các tác phẩm viết cho các em đều mang ý nghĩa giáo dục nhẹnhàng mà sâu lắng
Tóm lại, do phục vụ đối tượng tiếp nhận đặc biệt là trẻ em nên bên cạnhnhững đặc điểm chung của văn học, văn học thiếu nhi còn có những đặc trưngriêng Đó là sự hồn nhiên, ngây thơ; là những bài học giáo dục nhẹ nhàng, sinhđộng; ngôn ngữ phải giàu hình ảnh, vần điệu và nhịp điệu, hài hước, dí dỏm… cóvậy mới phù hợp với tâm lí lứa tuổi khác nhau của trẻ em và đáp ứng được với sựtiếp nhận của trẻ
2.3 Vai trò của văn học thiếu nhi đối với trẻ em
Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển toàndiện nhân cách con người ngay từ thuở ấu thơ, là hành trang cho mỗi người trên suốtđường đời Văn học không chỉ góp phần bồi dưỡng tâm hồn, nâng cao năng lực cảmthụ cái đẹp, mà còn giúp cho trẻ phát triển trí tuệ, mở rộng sự hiểu biết và hướng tớimột lối sống giàu lòng nhân ái, phát triển toàn diện về nhân cách
Văn học phản ánh thế giới khách quan, giúp trẻ thơ nhận thức được cuộcsống muôn màu Đó là những tri thức về thế giới loài vật, cây cỏ hoa lá, những trithức về phong tục tập quán, những nét đẹp trong truyền thống dân tộc Đồng thời,văn học thiếu nhi cũng chứa đựng cái nhìn hồn nhiên của trẻ thơ về thế giới với đầy
âm thanh, màu sắc, hình khối Có thể nói, văn học là một phương tiện hữu hiệugiúp các em mở rộng và nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh Những bài
Trang 12thơ, những câu chuyện đã giúp các em mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết về thế giới
tự nhiên, thế giới loài vật, đồ vật giúp trẻ biết được tên gọi, những đặc điểm và ýnghĩa của chúng đối với cuộc sống của con người Với chức năng này, văn họcthiếu nhi như những “cuốn sách giáo khoa” đầu tiên giúp trẻ nhận thức và hiểu biết
về thế giới xung quanh Bằng những hình tượng sinh động, những “bài học” trongvăn học trở nên hết sức nhẹ nhàng mà không kém phần sâu sắc Ví dụ: nét đặctrưng của nắng trong bốn mùa đã được diễn tả một cách giàu hình ảnh trong thơ,khiến bài học về thiên nhiên thêm thú vị:
Dịu dàng và nhẹ nhàng Vẫn là chị nắng xuân Hung hăng, hay giận dữ
Là ánh nắng mùa hè Vàng hoe như muốn khóc Chẳng ai khác nắng thu Mùa đông khóc hu hu Bởi vì không có nắng.
(Nắng bốn mùa - Mai Anh Đức)
Hoặc nhận biết được đặc điểm và công dụng của các đồ vật:
Dao chỉ một lưỡi Kéo có đến hai Mỗi người một việc
Ai nào kém ai!
(Dao và kéo - Phạm Hổ)
Vai trò quan trọng nhất và không thể thiếu của văn học là giáo dục lòng nhân
ái cho con người Lòng nhân ái là một truyền thống quý báu của người Việt Nam.
Lòng nhân ái chính là cái gốc đạo đức của con người Đó là tình yêu thương giữacon người với con người, được thể hiện qua tình cảm mẹ con, cha con, tình anh
em, thầy cô, bạn bè, lòng biết ơn những người lao động, những người có công vớiđất nước Đó là sự đoàn kết, tương thân tương ái, gắn bó, giúp đỡ nhau chống chọivới thiên tai, địch họa để giữ gìn và xây dựng cuộc sống
Trẻ thơ rất nhạy cảm và dễ rung động, dễ yêu, dễ ghét, dễ vui, dễ buồn…Nắm được đặc điểm tâm lý này, các nhà văn đã qua từng trang sách giúp các embiết xúc động trước cái đẹp, cái tốt và hình thành những tình cảm cao quý Khi đọc
truyện Bồ nông có hiếu của Phong Thu, các em sẽ gặp hình ảnh chú chim nhỏ “hun hút đêm sâu, mênh mông ruộng vắng”, “trên đồng nẻ, dưới ao khô”, một mình lặn lội “bắt được con mồi nào cũng ngậm vào miệng phần mẹ”, các em sẽ cảm phục
Trang 13trước tình cảm của chú bồ nông nhỏ Khi mẹ khỏi ốm thì thân chú đã còm nhom,nhẹ bẫng, cái mỏ to hơn người nhưng đôi mắt vẫn long lanh hớn hở, điều đó sẽ giúptrẻ biết yêu mẹ, biết chia sẻ với mẹ nhiều hơn.
Trẻ em thích noi gương, chính vì vậy văn học đã mang đến cho các emnhững cái đẹp, những cái cao thượng, những tấm lòng nhân ái để các em biết họchỏi những điều hay lẽ phải và trở thành người có ích trong cuộc sống Nhưng đồnghành với những điều tốt đẹp đó, các em cũng cần phải được nhìn thẳng vào những
sự thật nghiệt ngã, những điều xấu xa đang diễn ra trong cuộc sống Đối diện với sựthật cũng là một con đường để giúp trẻ trưởng thành hơn, hoàn thiện hơn nhữngcảm xúc yêu, ghét, giận hờn Đến với văn học, trẻ không chỉ biết đến những nụcười mà còn biết xót xa khi nhìn thấy cảnh một em nhỏ rét mướt trong đêm Giáng
sinh (Cô bé bán diêm - Anđécxen), biết đau lòng khi em bé bị đánh, bị chết (Sự tích quả loòng boong - Phạm Hổ), biết nỗi đau của người mẹ khi mất đi đứa con yêu dấu (Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ - Nguyễn Ngọc Thuần) và biết khát khao được
sống(Chim sơn ca và bông cúc trắng - Anđécxen)… Tất cả những điều đó giúp trẻ
cảm thấy mình có trách nhiệm hơn với cuộc sống và với chính bản thân mình để rồiphải biết nâng niu hơn, trân trọng hơn những gì mà tạo hoá đã ban cho
Lòng nhân ái trong văn học viết cho thiếu nhi không chỉ thể hiện ở tình cảmgiữa con người với con người mà còn được thể hiện ở tình cảm giữa con người vớithiên nhiên và tình yêu quê hương, đất nước Đặc biệt, thông qua bộ truyện cổ tích
hiện đại Chuyện hoa chuyện quả, Phạm Hổ đã kể cho các em nghe về sự tích, nguồn
gốc của các loại cây, hoa, quả gần gũi cũng như sự phong phú và vẻ đẹp diệu kỳ củacây cối xung quanh ta Từ tình yêu thiên nhiên, từ mối giao cảm với thiên nhiên, vănhọc đã góp phần giáo dục các em thái độ biết trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiênnhiên như một kho báu vô tận Qua những câu chuyện hấp dẫn và đầy ấn tượng ấy,văn học còn khơi mở trong các em những suy ngẫm về tình yêu, tình thương, lòngnhân ái và khả năng hướng thiện của con người
Tác phẩm văn học còn đem lại sự hưởng thụ thẩm mĩ cho con người Và,
văn học thiếu nhi đã thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực thẩm mĩ và thịhiếu thẩm mĩ của trẻ em một cách toàn diện nhất với những thế mạnh riêng của nó.Trước hết văn học đem đến cho các em những nội dung vô cùng phong phú, nhữnghình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng, các biện pháp nghệ thuật độc đáo Những bức tranhmuôn màu, muôn vẻ về thiên nhiên và cuộc sống đã gợi mở trong các em những
cảm xúc thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ Bài thơ Ai cho em biết của Võ Quảng đã
giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp lộng lẫy, đầy mầu sắc của các loài hoa trongkhu vườn:
Trang 14Hoa cải li ti Đốm vàng óng ánh Hoa cà tim tím Nõn nuột hoa bầu Hoa ớt trắng phau Xanh lơ hoa đỗ
Cà chua vừa độ
Đỏ mọng trĩu cành Xanh ngắt hàng hành Xanh lơ cải diếp…
Không chỉ cung cấp những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng văn học còn giúp các
em phát triển trí tưởng tượng phong phú, bay bổng để tự tạo ra cái đẹp hoặc tìm đến
và thưởng thức cái đẹp Một tia nắng, một chiếc lá, một ánh trăng… cũng làm chocác em rung động thì không bao giờ các em có thể thờ ơ trước nỗi đau của conngười Chính văn học đã khơi dậy và tiếp sức cho những rung động về cái đẹp đótrong tâm hồn các em Với vai trò là một nghệ thuật ngôn từ, có thể nói, các tác
phẩm văn học thiếu nhi luôn khơi dậy tình cảm và phát triển trí tượng tượng cho trẻ.
Văn học thiếu nhi còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ Cung cấp cho các em một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữnghệ thuật Khi trẻ được tiếp xúc thường xuyên với các tác phẩm văn học, vốn từngữ của các em sẽ phong phú và sống động hơn Từ đó, các em tự hình thành chomình khả năng diễn đạt vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm Đốivới trẻ mầm non, sự phát triển ngôn ngữ thể hiện qua hoạt động bắt chước lời nói,việc làm của các nhân vật hoặc những cách diễn đạt trong tác phẩm Chính quátrình trẻ được nghe đọc, kể diễn cảm thơ, truyện và được trực tiếp tham gia vàohoạt động đọc, kể chuyện sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới Điềunày giúp chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm trongngôn ngữ nói, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ đối thoại của trẻ Đối với trẻ em tiểuhọc, thông qua tác phẩm, trẻ không chỉ hoàn thiện chính âm, phát triển lời nói mạchlạc mà còn phát triển cả trí nhớ, tư duy và khả năng sáng tạo tác phẩm
2.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ em khi tiếp nhận tác phẩm văn học
Việc tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ em là một quá trình tâm lý, đặc biệt
là sự tác động qua lại giữa nhận thức và cảm xúc Quá trình đó được biểu hiện cụ thểqua: chú ý, tri giác, tư duy, tưởng tượng, tình cảm xúc cảm và ngôn ngữ của các em
Giàu xúc cảm và tình cảm là nét tâm lý nổi bật ở trẻ thơ Vì vậy mà nhậnthức của trẻ cũng mang đậm màu sắc cảm xúc Trẻ dễ dàng xúc động khi nghe thầy,
Trang 15cô kể chuyện Cô bé bán diêm của Anđécxen, đồng cảm, rơi lệ trước cảnh cô bé nằm
chết trên nền tuyết lạnh, xung quanh vung vãi những que diêm cháy dở Trẻ xúcđộng trước hành động gà Mái Mơ cho cây chiếc mào đỏ đẹp của mình trong truyện
Hoa mào gà Có thể nói, trong việc tiếp nhận văn học của trẻ em vấn đề tri thức và
kinh nghiệm rất cần nhưng quan trọng hơn vẫn là cảm xúc Đó là năng lực hóa thâncủa các em với cái nhìn ngây thơ, giản đơn về sự giống nhau giữa tác phẩm và cuộcsống Như vậy, việc cho trẻ tiếp cận với tác phẩm văn học, ngoài kiến thức, còn tạocho trẻ một năng lực cảm nhận cái đẹp, một thái độ để cảm nhận cuộc sống Từnhững xúc cảm, tình cảm được nảy sinh trong quá trình cảm thụ tác phẩm văn học,các em sẽ biết yêu thương mọi người cũng như vạn vật xung quanh
Cảm xúc luôn gắn bó với tư duy và hành động của trẻ Tư duy là một trongnhững đặc điểm tâm lí quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiếp nhận văn họccủa trẻ Trẻ em tư duy một cách cụ thể, gắn liền với những hình ảnh, màu sắc và âmthanh Vì vậy, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học dành cho trẻ cần cụ thể, chính xác
và giàu âm thanh, màu sắc Thơ, truyện viết cho trẻ thơ thường là có tranh, nhiềuhình ảnh hấp dẫn, giàu màu sắc, nhịp điệu Hoặc khi kể chuyện, cô giáo thườngdùng bộ tranh liên hoàn, mô hình, con rối để trẻ dễ hình dung nội dung câuchuyện, từ đó tiếp thu tác phẩm tốt hơn
Trí tưởng tượng cũng góp phần tích cực vào hoạt động tư duy và nhận thứccủa trẻ Các em dùng tưởng tượng để khám phá thế giới và tự thỏa mãn nhu cầu nhậnthức của mình Bởi tưởng tượng góp phần tích cực vào hoạt động tư duy và nhậnthức, giúp cho trẻ có thể xâu chuỗi các sự vật hiện tượng riêng lẻ vào một thể thốngnhất Tưởng tượng là một năng lực không thể thiếu để cảm thụ và sống với tác phẩmvăn học Trẻ sử dụng trí tưởng tượng của mình để tiếp thu, sáng tạo nghệ thuật.Ngược lại, các hình tượng phong phú bay bổng trong các tác phẩm văn học cũng sẽchắp cánh cho những ước mơ hoài bão và sự sáng tạo của trẻ
Tóm lại, mỗi trẻ em như một mầm non Để mầm non ấy phát triển toàn diệncần có sự giáo dục toàn diện Không có một người thầy nào có thể dạy cho trẻ hếttri thức về cuộc sống và tình cảm con người, nhưng văn học có thể mang lại điều kìdiệu đó và sẽ đi theo các em suốt cuộc đời như một người thầy vĩ đại nhất Đến vớivăn học, tâm hồn non nớt của các em được chắp thêm đôi cánh để có thể tự tin baycao, sẵn sàng vươn lên trong cuộc đời Từ văn học dân gian đến văn học viết, mỗitác phẩm như một bài ca dịu ngọt, như một dòng suối mát lành tưới vào tâm hồncủa trẻ Tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu quê hương, làng xóm cũng từ đó
mà đâm chồi nảy lộc Văn học giúp trẻ thơ khám phá ra những điều kì diệu củacuộc sống, những nét đẹp của thiên nhiên, của con người và sự hòa hợp của vạn
Trang 16vật Có thể nói, cảm nhận cuộc sống, thu thập kiến thức qua văn học chính là conđường tích cực và nhẹ nhàng nhất để giáo dục trẻ em trở thành những con người có
sự phát triển toàn diện về nhân cách.
3 Các chặng đường phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam
3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trong thời kì phong kiến, văn học dân gian là nguồn sữa chủ yếu nuôi dưỡngđời sống tinh thần của trẻ em Đến đầu thế kỉ XX, khi chữ Quốc ngữ được truyền
bá, sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, tạo điều kiện cho văn học cách tân theo hướnghiện đại hóa thì sáng tác cho thiếu nhi bắt đầu được chú ý
Ban đầu, một số nhà văn hướng vào dịch và giới thiệu các tác phẩm của văn họcPháp như thơ ngụ ngôn của La Phôngten, truyện cổ của Perô hoặc viết sách cho trẻ em
bằng tiếng Pháp (sách Livre du petit) để giúp các em rèn tiếng Pháp.
Một số tác giả lại đi vào sưu tầm những câu ca dao, bài hát ru phù hợp với trẻ
em và tập hợp thành quyển Trẻ con hát, trẻ con chơi giúp các em vừa hát vừa vui
chơi, học tập
Bên cạnh việc dịch và sưu tầm, một số tác giả bắt đầu chú ý sáng tác cho
thiếu nhi Tản Đà có hai cuốn Lên sáu, Lên tám với những bài thơ ngắn, dạy cho trẻ
em những đạo lí thông thường trong cuộc sống như giá trị của con người, sự biết ơncông lao cha mẹ, thầy giáo, biết chăm ngoan học tập và sống ngay thẳng, trungthực, yêu thương, hòa thuận với mọi người xung quanh Ví dụ:
Lòng nhân ta sẵn có Rộng yêu thương kẻ khó Cây non chớ bẻ cành Chim non chớ hại tổ
(Lên tám - Tản Đà)
Nguyễn Văn Ngọc có Đông Tây ngụ ngôn, chủ yếu sáng tác dựa theo các ý thơ ngụ ngôn nước ngoài, sách Nhi đồng lạc viên với lối viết giàu âm thanh, hình ảnh còn
được dùng làm sách giáo khoa để dạy luân lí phong kiến cho trẻ em
Từ năm 1930 trở đi, văn học viết cho thiếu nhi trở nên khởi sắc hơn Trênvăn đàn công khai, các tác giả thuộc hai khuynh hướng văn học lãng mạn và vănhọc hiện thực đều đã có những sáng tác dành cho thiếu nhi Đặc biệt là Tô Hoài,ông đã sử dụng hình thức đồng thoại để sáng tác được nhiều tác phẩm vừa đề cậpđến những vấn đề lớn trong xã hội đương thời vừa góp phần giáo dục lối sống lành
mạnh, giàu lí tưởng cho thiếu nhi Tiểu biểu là các tác phẩm Đám cưới chuột, Võ sĩ
bọ ngựa, Dế Mèn phiêu lưu ký… Tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký vừa ra đời đã
được đông đảo bạn đọc nhỏ tuổi yêu thích Đây là một trong những tác phẩm viết
Trang 17cho thiếu nhi xuất sắc nhất của văn học Việt Nam đã được dịch và giới thiệu ranhiều nước trên thế giới.
Với tình yêu thương đặc biệt và sự quan tâm lớn đến thiếu nhi, Bác Hồ đã có
một số tác phẩm dành cho các em như: Trẻ chăn trâu (1941), Kêu gọi thiếu nhi (1941), Tặng cháu Nông Thị Trưng (1944) Trong các tác phẩm, Bác đã thể hiện sự
cảm thông, nỗi đau xót trước thân phận nô lệ, bất hạnh của thiếu nhi; đồng thời kêu
gọi tinh thần chiến đấu, khơi dậy lòng yêu nước của các em Hai bài thơ Kêu gọi thiếu nhi và Trẻ chăn trâu đã đánh dấu mốc quan trọng của thơ ca Việt Nam viết về
thiếu nhi Các tác phẩm này đã đem đến một cách nhìn mới mẻ về trách nhiệm củatuổi thơ đối với vận mệnh dân tộc được thể hiện qua hình thức nghệ thuật giản dị,mộc mạc nhưng rất gần gũi
Nhìn chung, giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam đã
có những tác phẩm văn học hay dành cho thiếu nhi Tuy nhiên, nó còn xuất hiện mộtcách lẻ tẻ chưa trở thành phong trào để tạo nên một nền Văn học thiếu nhi thực sự
3.2 Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (từ 1945 đến 1954)
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đã quan tâm, chú ý tạo điều kiện cho
Văn học thiếu nhi phát triển
Giai đoạn này đã có những tổ chức ngôn luận, bộ phận văn học dành riêng
cho trẻ em xuất hiện Năm 1946 tờ báo Thiếu sinh - tiền thân của báo Thiếu niên tiền phong ra đời, tạo điều kiện cho thiếu nhi được tham gia sáng tác, được trực tiếp
bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm của mình
Năm 1948, Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã thành lập một bộ phận vănhọc cho trẻ em do nhà văn Tô Hoài và đồng chí Hồ Trúc - Bí thư Trung ương Đoànphụ trách
Nhà xuất bản Văn nghệ cũng cho in loại sách dành riêng cho trẻ em gọi làsách Kim Đồng Nội dung chủ yếu là nêu lên những tấm gương thiếu nhi dũng cảmtrong kháng chiến và tố cáo tội ác của kẻ thù Mặc dù được in trên giấy bản với sốlượng chưa nhiều, nội dung còn đơn giản nhưng sách Kim Đồng đã có tác dụngnhất định trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm yêu nước cho trẻ em Đồng thời,
nó cũng là một gợi ý cho việc thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng ở giai đoạn sau
Bác Hồ dù luôn bận công việc của đất nước vẫn dành sự quan tâm đặc biệt
cho thiếu nhi với các bài thơ Khen tặng hai cháu liên lạc trong bộ đội chiến khu II (1947), Thư Trung thu 1951, Thư Trung thu 1952, Gửi các cháu nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu 1953.
Trang 18Tóm lại, đây là giai đoạn đánh dấu sự ra đời và những thành tựu đầu tiên củavăn học thiếu nhi Việt Nam dưới chế độ mới Tuy số lượng sách còn ít nhưng nó đãtạo tiền đề để hình thành nên nền văn học thiếu nhi hoàn chỉnh hơn ở giai đoạn sau.
3.3 Giai đoạn miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam chống Mĩ cứu nước (từ 1954 đến 1965)
Cuộc sống hòa bình ở miền Bắc đã tạo điều kiện cho văn học thiếu nhi pháttriển Sự kiện thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng vào ngày 17.6.1957 đã mở ra mộtbước phát triển mới cho văn học thiếu nhi Việt Nam Nhà xuất bản đã phát độngnhiều phong trào viết về cuộc kháng chiến chống Pháp, góp phần thúc đẩy sự pháttriển chung của văn học thiếu nhi
Từ năm 1960 trở đi, với sự gia tăng về lực lượng sáng tác, số lượng tác phẩmcũng như đề tài phản ánh, văn học thiếu nhi ngày càng phong phú, đặc biệt là mảngvăn xuôi
Đề tài kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh mẽ và thu được nhiều thành
tựu hơn cả Tiêu biểu là những tác phẩm Đất rừng phương Nam (1957) của Đoàn Giỏi, Hai làng Tà Pình và Động Hía (1958) của Bắc Thôn, Em bé bên bờ sông Lai
Vu (1958) của Vũ Cao, Cái Thăng (1961) của Võ Quảng, Vừ A Dính (1963) của Tô
Hoài… Các tác phẩm đều lấy nhân vật thiếu nhi làm trung tâm để miêu tả cuộc sốngsinh hoạt, những đóng góp của thiếu nhi trong công cuộc kháng chiến của dân tộc
Em bé bên bờ sông Lai Vu của Vũ Cao đã kể về một em bé sống trong vùng
địch hậu tên là Toàn Bố mẹ em bị giặc giết hại Toàn được một chiến sĩ cách mạngnhận làm em nuôi và dự định cho sang vùng tự do sống nhưng Toàn đã xin ở lại đểchiến đấu trả thù cho cha mẹ Tuy mới 14 tuổi nhưng Toàn rất thông minh, lanh lợi
và gan dạ Em đã nhiều lần vượt qua sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù đưa các chiến
sĩ cách mạng từ vùng địch chiếm đóng ra vùng tự do một cách an toàn Tác phẩm
đã xây dựng một hình tượng đẹp về người “chiến sĩ” thiếu nhi, sẵn sàng góp sức
nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc
Đề tài lịch sử cũng được chú ý khai thác với những tác phẩm Sóng gió Bạch Đằng và Bố Cái Đại Vương của An Cương; Nhụy Kiều tướng quân của Yến Hồng, Hoài Ban, Tướng quân Nguyễn Chích và Quận He khởi nghĩa của Hà Ân… Tiêu biểu là hai tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung của
Nguyễn Huy Tưởng
Đề tài sinh hoạt, lao động, học tập của trẻ em bắt đầu được các nhà văn quan
tâm Một số tác phẩm tiêu biểu là Đàn chim gáy của Tô Hoài, Tổ tâm giao của Trần Thanh Địch, Ngày công đầu tiên của cu Tí của Bùi Hiển, Bí mật miếu Ba Cô của
Trang 19Văn Trọng, Nơi xa của Văn Linh, Những mẩu chuyện về bé Ly của Bùi Minh Quốc, Đôi bạn nhỏ của Bùi Hiển, Chú đất nung của Nguyễn Kiên…
Mảng thơ ca cũng bắt đầu khởi sắc với một số tác giả tiêu biểu như VõQuảng, Phạm Hổ, Thi Ngọc, Vũ Ngọc Bình, Bảo Định Giang, Tế Hanh, Xuân Tửu,
Nhược Hoa, Nguyễn Xuân Sanh… Thấy cái hoa nở của Võ Quảng, Những người bạn nhỏ của Phạm Hổ là hai tập thơ tiêu biểu trong giai đoạn này.
Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học cho ra đời Tuyển tập thơ văn viết cho thiếu nhi 1945 - 1960 Đây là tuyển tập thơ văn thiếu nhi đầu tiên, tuyển chọn và
giới thiệu 50 tác giả viết cho thiếu nhi trong giai đoạn từ 1945 đến 1960
Có thể nói, giai đoạn từ 1954 đến 1964 văn học thiếu nhi Việt Nam đã đạtđược một số thành tựu đáng kể, trong đó văn xuôi phát triển mạnh hơn thơ ca
3.4 Giai đoạn cả nước kháng chiến chống Mĩ xâm lược, miền Bắc tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ 1965 đến 1975)
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của văn học cả nước nói chung, văn họcthiếu nhi giai đoạn này cũng đạt được những thành tựu mới
Nhiều tuyển tập truyện và thơ cho thiếu nhi được xuất bản Tiêu biểu là Hai bàn tay chiến sĩ (tuyển tập chọn lọc về đề tài kháng chiến chống Pháp); Dòng nước xiết (tập truyện ngắn và ký về đề tài miền Bắc chống Mĩ) và tập thơ Măng tre của Võ Quảng
Từ 1965, văn học thiếu nhi hình thành một mảng lớn viết về truyền thốngchống ngoại xâm, bao gồm truyện về lịch sử, về hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mĩ oanh liệt của dân tộc
Đề tài lịch sử phát triển khá mạnh với các tác phẩm tiêu biểu như Sát thát của Lê Vân, Nguyễn Bích, Bên bờ Thiên mạc, Trên sông truyền hịch, Trăng nước Chương Dương của Hà Ân… Những tác phẩm này đã thành công trong việc dựng
lại một cách sinh động các sự kiện lịch sử, khắc họa đậm nét các nhân vật tiêu biểu,đem lại ý nghĩa lớn lao trong việc giáo dục về lịch sử cho thiếu nhi Tuy nhiên, sovới thực tiễn thì phần lịch sử được khai thác còn ít; nhiều nhân vật, giai đoạn lịch
sử quan trọng chưa được đề cập hoặc chỉ phản ánh lướt qua
Đề tài kháng chiến chống Pháp tiếp tục phát triển với một số thành tựu: Đội Thiếu niên du kích Đình Bảng của Xuân Sách, Quê nội của Võ Quảng, Kim Đồng của
Tô Hoài…
Đề tài kháng chiến chống Mĩ đã thu hút được sự chú ý của nhiều tác giả Cáctác phẩm thường hướng vào miêu tả cuộc sống của thiếu nhi trong vùng tạm chiếnhoặc những tấm gương dũng cảm diệt Mĩ; thể hiện được không khí kháng chiến củadân tộc qua đó giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm cộng đồng với thế hệ
trẻ Tiêu biểu là Những đứa con trong gia đình, Mẹ vắng nhà, Chuyện xóm tôi của
Trang 20Nguyễn Thi; Chú bé Cả Xên của Minh Khoa; Em bé sông Yên của Vũ Cận; Đoàn Văn Luyện của Phạm Hổ; Út Tám của Minh Thông…
Nhìn chung, sách viết về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dântộc trong giai đoạn này đã khắc họa rất chân thật, xúc động về hình ảnh các thế hệthiếu nhi Việt Nam yêu nước Đa số tác phẩm đều được các em đón nhận với tìnhcảm yêu mến, trân trọng vì nó mang nhiều yếu tố li kì, mạo hiểm với những tìnhhuống gay cấn, phù hợp với tâm lí của thiếu nhi
Bên cạnh đề tài chống ngoại xâm, đề tài sinh hoạt, lao động, học tập hàng
ngày rất được chú ý với nhiều tác phẩm có giá trị Tiêu biểu là Chú bé sợ toán (1965) của Hải Hồ, Năm thứ nhất (1965) của Minh Giang, Những hạt nắng đầu tiên (1971) của Lê Phương Liên, Hoa cỏ đắng của Nguyễn Thị Như Trang, Tập đoàn san hô (1966) của Phan Thị Thanh Tú, Trận chung kết (1975) của Khánh Hòa, Cơn bão số 4 của Nguyễn Quỳnh, Làng cháy của Bùi Hiển, Xã viên mới của Minh Giang, Kể chuyện nông thôn của Nguyễn Kiên… Các tác phẩm đã phản ánh
khá chân thực, sinh động đời sống của thiếu nhi trong sinh hoạt hàng ngày Các emvừa học tập vừa đào hầm, đắp lũy, đi sơ tán, tải đạn cứu thương, tham gia vàophong trào hợp tác hóa ở nông thôn một cách say sưa, tích cực
Hưởng ứng phong trào thi đua Nghìn việc tốt của thiếu nhi, nhiều nhà văn đã viết về những con người mới bằng nhiều thể loại khác nhau Loại sách Việc nhỏ nghĩa lớn ghi vắn tắt về người thật, việc thật trong đời sống được mọi người hưởng ứng Sau đó, ít được quan tâm bởi tính nghệ thuật chưa cao Hồi ký có Lớn lên nhờ cách mạng của Phùng Thế Tài, tự truyện có Những năm tháng không quên của Nguyễn Ngọc Ký, truyện kể có Hoa Xuân Tứ của Quang Huy… Trong đó Những năm tháng không quên và Hoa Xuân Tứ là hai tác phẩm tiêu biểu đã ngợi ca những
tấm gương sáng về ý chí, nghị lực khắc phục hoàn cảnh tàn tật để vươn lên trong họctập, trở thành những con người có ích cho xã hội
Nhờ sự đóng góp của những người làm công tác khoa học và các nhà văntâm huyết, mảng sách khoa học được hình thành và phát triển Một số tác phẩm tiêu
biểu là Ông than đá, Quả trứng vuông của Viết Linh, Cô kiến trinh sát của Vũ Kim Dũng, Thảm xanh trên ruộng của của Thế Dũng, Bí mật một khu rừng của Hoàng Bình Trọng, Đỉnh núi với nàng Ba của Phan Ngọc Toàn Đây là thời kì phát triển
mạnh nhất của mảng đề tài này Sau đó nó dần dần bị lãng quên, chỉ còn tác giảNhất Linh là vẫn kiên trì tìm tòi và sáng tác
Thơ cho thiếu nhi tiếp tục phát triển Lực lượng sáng tác được bổ sung liên tục.Bên cạnh các tác giả quen thuộc với thiếu nhi như Phạm Hổ, Võ Quảng, Thi Ngọc,Quang Huy, Vũ Ngọc Bình còn xuất hiện một số tác giả mới như Thanh Hào, Ngô
Trang 21Viết Dinh, Định Hải, Xuân Quỳnh, Trần Nguyên Hào Các tập thơ Chú bò tìm bạn của Phạm Hổ, Măng tre của Võ Quảng, Chồng nụ, chồng hoa của Định Hải, Mầm bé
của Ngô Viết Dinh đã đem lại diện mạo mới cho thơ ca viết về thiếu nhi
Điểm đáng chú ý của giai đoạn này là việc các em bé làm thơ khiến nhiềuđộc giả ngưỡng mộ Trần Đăng Khoa được coi là một hiện tượng đặc biệt Với cáinhìn hồn nhiên, trong sáng nhưng không kém phần sâu sắc, Trần Đăng Khoa đãsáng tác được nhiều bài thơ hay về cảnh sắc, cuộc sống con người ở nông thôn vàtình cảm đối với gia đình, quê hương
Tóm lại, thơ văn viết cho thiếu nhi giai đoạn này khá phát triển, gặt hái nhiềuthành tựu đáng kể Tuy nhiên, nội dung phản ánh còn phiến diện, chủ yếu ở đề cậpđến trẻ em ở phương diện công dân, cộng đồng; các phương diện của đời sống trẻthơ, gia đình, sự phát triển tự nhiên… chưa được quan tâm, chú ý nhiều
3.5 Giai đoạn thống nhất đất nước và sau đổi mới (từ tháng 4 năm 1975 đến nay)
Đất nước thống nhất và đổi mới đã tạo ra những thuận lợi và thách thức lớncho văn học thiếu nhi Đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, cùng với văn họcdân tộc, văn học thiếu nhi đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng nhucầu ngày càng cao của độc giả
Đội ngũ viết cho thiếu nhi ngày một đông đảo Những cây bút lão thành vẫnnhiệt tình, tâm huyết với nghề như Tô Hoài, Phạm Hổ… Từ năm 1990 trở đi, lựclượng sáng tác ngày càng đông hơn Xuất hiện thêm những tác giả như Trần ThiênHương, Nguyễn Nhật Ánh, Dương Thuấn, Nguyễn Thị Châu Giang, Nguyễn NgọcThuần, Vũ Hương Nam, Ðan Thi, Nguyễn Bình… Đội ngũ thiếu nhi tham gia viết
trong các báo Tuổi Xanh, Mực Tím, Thiếu niên tiền phong, Hoa học trò… ngày càng
nhiều Trong đó, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần được bình chọn là các tácgiả tiêu biểu nhất
Cuộc sống thời bình với những nhu cầu nhận thức mới đã khiến văn họcthiếu nhi có sự mở rộng về đề tài và khuynh hướng tiếp cận
Chiến tranh tuy đã kết thúc nhưng đề tài kháng chiến vẫn tiếp tục phát triển.Bên cạnh những tấm gương yêu nước, một số tác giả đã đề cập đến những đau
thương, tổn thất của thiếu nhi trong chiến tranh Tiêu biểu là Tảng sáng của Võ Quảng, Cơn giông tuổi thơ của Thu Bồn, Hồi đó ở Sa Kỳ của Bùi Minh Quốc, Hành trình ngày thơ ấu của Dương Thu Hương, Cát cháy của Thanh Quế, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Nhà Chử của Tô Hoài… Nhiều tác phẩm viết với sự day dứt về một thời bom đạn như Ngôi nhà trống của Quang Huy, Hoa cỏ đắng của Nguyễn Thị Như Trang, Những tia nắng đầu tiên của Lê Phương Liên…
Trang 22Đề tài miền núi ngày càng phát triển Tiêu biểu là Chú bé thổi khèn của Quách Liêu, Một lớp trưởng khác thường của Lương Tố Nga, Chân trời rộng mở của Đoàn Lư, Đường về với mẹ chữ của Vi Hồng, Truyền thuyết trong mây của Đào
Hữu Phương… Nổi bật ở mảng đề tài này là nhà thơ Dương Thuấn người dân tộcTày đã sáng tác nhiều tác phẩm về thiếu nhi dân tộc thiểu số ở vùng cao
Thể loại tự truyện sau một thời gian vắng bóng giờ đã có sự phát triển trở lại
với nhiều thành tựu Tiêu biểu là Sống nhờ của Mạnh Phú Tư, Chân trời rộng mở của Hồ Dzếnh, Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang Sáng, Bà và cháu của Đặng Thị Hạnh, Tiếng vọng tuổi thơ của Vũ Bão, Miền xanh thẳm của Trần Hoài
Dương… Đây là loại sách gây được hứng thú và tạo nhiều tranh cãi cho độc giả
Một số tác giả tập trung phản ánh trẻ em trong đời sống hiện tại ở thành thị
và nông thôn, trong các mối quan hệ gia đình, xã hội Tiêu biểu cho hướng khai
thác này là tác giả Nguyễn Nhật Ánh với các tác phẩm Kính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh Đến nay, Kính vạn hoa được
đánh giá là bộ sách viết về thiếu nhi Việt Nam nhiều tập nhất (54 tập), có số lượngphát hành cao nhất (trên 2 triệu cuốn), có tác giả nhận được nhiều thư của độc giảnhất, được Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh trao Huy chương
“Vì thế hệ trẻ” Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là cuốn sách được phát hành nhiều
nhất năm 2008, giành giải “Sách hay” của Hội xuất bản Việt Nam và Giải thưởngVăn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009, giải thưởng Văn học Asean năm
2010 Hiện nay, Kính vạn hoa và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh đã được chuyển
thể thành kịch bản phim, thu hút được sự yêu thích của đông đảo khán giả
Thời kì này còn xuất hiện nhiều sách viết cho lứa tuổi học trò với những biểuhiện tâm lí phức tạp Các tác giả đã đặt trẻ em trong các mối tương quan với hoàncảnh, trong các mối quan hệ tình bạn, tình yêu học trò Một số tác phẩm tiêu biểu
như Bây giờ bạn ở đâu, Cỏ may ngày xưa của Trần Thiên Hương; Hương sữa đầu mùa của Lê Cảnh Nhạc; Có gì không mà tặng bông hồng của Hồ Việt Khuê; Thiên thần nhỏ của tôi, Mắt biếc, Nữ sinh, Còn chút gì để nhớ, Phòng trọ ba người của
Nguyễn Nhật Ánh…
Để giúp cho các em thiếu nhi có được định hướng tốt trong việc lựa chọnsách và đọc sách, từ năm 1990 trở đi một số nhà xuất bản đã thiết lập những tủ sách
dành cho thiếu nhi Nhà xuất bản Kim Đồng có Tủ sách vàng, giới thiệu những tác
phẩm văn học thiếu nhi tiêu biểu của Việt Nam và trên thế giới Nhà xuất bản Đồng
Nai thành lập Tủ sách Hoa niên với mục đích “tạo điều kiện để các em học sinh được giải trí lành mạnh, định hướng tốt cho việc đọc tác phẩm văn học, nâng cao trình độ thưởng ngoạn và hình thành nhân cách, đạo đức tốt trong sinh hoạt gia
Trang 23đình, học đường và xã hội” Các tủ sách trên đã góp phần quan trọng trong việc bồi
dưỡng văn hóa đọc cho thiếu nhi trên cả nước
Năm 1995, với sự đóng góp của một số tác giả như Phạm Hổ, Định Hải…
Nhà xuất bản Văn học đã cho ra mắt Tuyển tập Văn học thiếu nhi khá bề thế, giới
thiệu về thơ, truyện ngắn, truyện dài (trích đoạn) của nhiều thế hệ tác giả
Năm 2000, Nhà xuất bản Giáo dục cho in cuốn Tuyển tập truyện viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám do tác giả Phong Thu tuyển chọn và viết lời
bình Tuyển tập đã giới thiệu được 70 tác phẩm được tuyển chọn và giới thiệu trongsách giáo khoa các bậc Tiểu học và Trung học cơ sở, giúp các em học sinh có cáinhìn bao quát hơn về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam
Cùng với những thành tựu về sáng tác, xuất bản, giai đoạn văn học này đãxuất hiện những công trình lí luận, nghiên cứu về văn học thiếu nhi Năm 1992, lần
đầu tiên khái niệm Văn học thiếu nhi được giới thiệu trong Từ điển thuật ngữ văn học của Nhà xuất bản Giáo dục Đây là cơ sở lí luận cho việc tìm hiểu văn học
thiếu nhi một cách thiết thực nhất Một số công trình nghiên cứu, phê bình về văn
học thiếu nhi cũng được giới thiệu như: Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới, Phác thảo văn học thiếu nhi Việt Nam, Thơ Trần Đăng Khoa, Văn học thiếu nhi như tôi được biết của Vân Thanh; Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 của Lã Thị Bắc Lý; Nghĩ và viết cho các em của Phạm Hổ, Bàn về văn học thiếu nhi (nhiều
tác giả)… Những công trình nghiên cứu, phê bình trên đã giúp độc giả có được cáinhìn sâu sắc, toàn diện hơn về quá trình phát triển của Văn học thiếu nhi nước nhà
Có thể nói, từ sau năm 1975, đặc biệt là từ 1986 trở về sau, Văn học thiếunhi Việt Nam đã có sự phát triển phong phú, đồng đều hơn về nội dung và thể loại,phần nào đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bạn đọc nhỏ tuổi
Tuy nhiên, không phải sự đa dạng nào cũng đi cùng với chất lượng Bêncạnh những thành tựu, văn học thiếu nhi giai đoạn này cũng còn không ít nhữngvấn đề cần phải quan tâm, khắc phục
Lực lượng sáng tác cho thiếu nhi khá đông nhưng những cây bút chuyên tâm
và già dặn còn ít Các tác giả lão thành như Võ Quảng, Phạm Hổ, Đoàn Giỏi và TôHoài đã lần lượt vĩnh biệt chúng ta Họ để lại một sự nghiệp văn chương thiếu nhikhá đồ sộ nhưng chưa có nhiều thời gian truyền kinh nghiệm sáng tác cho thế hệsau Những cây bút từng trở thành hiện tượng một thời như Trần Đăng Khoa giờcũng lắng xuống và dành sự quan tâm tới các đối tượng tiếp nhận khác lớn hơn.Ngoài một số tác giả tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần… đa sốnhững cây bút trẻ chưa tạo dựng được cho mình chỗ đứng trong văn học thiếu nhi
Trang 24Sự mở rộng về giao lưu về kinh tế, văn hóa đã đem lại cho bạn đọc nhỏ tuổiViệt Nam nhiều cơ hội lựa chọn hơn Bên cạnh những sáng tác trong nước, thôngqua sách dịch, các em được tiếp xúc với văn học thiếu nhi của nhiều nước trên thếgiới Từ đó, mở rộng nhận thức và thỏa mãn được trí tưởng tượng, khát khao khám
phá của bản thân Một số tác phẩm như Harry Potter của tác giả người Anh J K Rowling, Đôrêmon của tác giả người Nhật Fujiko Fujio (bút danh của hai họa sĩ
manga Fujimoto Hiroshi và Akibo Motoo) khi được dịch sang tiếng Việt đã thu húthàng triệu độc giả nhỏ tuổi Việt Nam và đang có phần lấn lướt tác phẩm văn họcthiếu nhi trong nước
Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế thị trường, một số tác giả, nhà xuất bản
do chạy theo lợi nhuận đã viết và cho xuất bản một số truyện tranh kém cả về nộidung và hình ảnh minh họa khiến cho việc tiếp nhận các giá trị văn hóa, truyềnthống của thiếu nhi bị ảnh hưởng về nhận thức, thẩm mĩ
Tóm lại, cùng với sự phát triển của nền văn học dân tộc nói chung, văn họcthiếu nhi Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng kể Hiện nay nó đang đứngtrước nhiều cơ hội cũng như thách thức Để văn học thiếu nhi ngày càng phát triển,đáp ứng được nhu cầu của độc giả nhỏ tuổi cũng như trong dạy học cần có sự quantâm của Đảng, Nhà nước; sự chung tay, đóng góp nhiều hơn nữa của những nhàvăn và nhà giáo tâm huyết
4 Khái quát về tác giả Võ Quảng
4.1 Tiểu sử
Võ Quảng sinh ngày 01 tháng 3 năm 1920, tại xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc,
tỉnh Quảng Nam Năm 16 tuổi, ông vào học tú tài ở trường Quốc học Huế Cũng tạiđây, người thanh niên học sinh quê hương đất Quảng đã được tiếp xúc với sách báotiến bộ và chính những quyển sách ấy đã thắp lên ngọn lửa cách mạng ở một số họcsinh trường Quốc học Năm 1936, ông gia nhập tổ chức Thanh niên Dân chủ Năm
1938, ông nhiệt tình đứng vào tổ chức Thanh niên phản đế, tích cực tuyên truyền vàtham gia hoạt động sôi nổi trong phong trào học sinh ở Huế hồi bấy giờ Tháng 9năm 1941, ông bị chính quyền Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ Sau khi trải quacác nhà lao ở Huế, ở Hội An và Vĩnh Điện (Quảng Nam - Đà Nẵng) với điều kiệngiam cầm tàn khốc, Võ Quảng bị đưa về quản thúc vô thời hạn tại Hội An, sau đó ởquê nhà, cấm mọi liên hệ với người ngoài Năm 1944, phong trào Cách mạng lêncao, Võ Quảng đã tìm cách bỏ trốn ra Diên Sanh (Quảng Trị) tham gia hoạt độngViệt Minh, rồi từ đó lại quay về Huế tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám giànhchính quyền
Trang 25Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông được chính quyền ViệtMinh cử làm ủy viên Tư pháp thành phố Đà Nẵng Khi quân Pháp tái chiếm Nam
Bộ, ông được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến thành phố ĐàNẵng Từ năm 1947 đến 1954, làm Hội thẩm chính trị (tức là Phó Chánh án) tòa ánquân sự miền Nam Việt Nam Thời gian này, ông cũng có sáng tác một số tác phẩmthơ dành cho thiếu nhi
Đầu năm 1955, Võ Quảng tập kết ra Bắc Cũng từ đó, ông từ chối con đườnghoạt động chính trị đầy thuận lợi và triển vọng đối với mình để đi theo nghề viết
văn, sáng tác những tác phẩm hồn nhiên, trong sáng cho thiếu nhi Tập thơ Gà Mái Hoa của ông xuất bản năm 1957 đã được đông đảo bạn đọc đón nhận Lúc đó, ông
đã ngoài 38 tuổi
Ông là một trong những người bỏ ra nhiều công sức để xây dựng nền móngđầu tiên cho nền văn học Việt Nam dưới chế độ mới Ông từng là một trong nhữngngười sáng lập nên Nhà xuất bản Kim Đồng, giữ cương vị Tổng biên tập đầu tiên,sau đó là Giám đốc Nhà xuất bản Một thời gian sau, ông được cử làm Giám đốcXưởng phim hoạt hình Việt Nam Năm 1965, ông được kết nạp làm Hội viên HộiNhà văn Việt Nam Năm 1968, ông về công tác tại Bộ Văn hóa Năm 1971, về HộiNhà văn Việt Nam, được phân công làm chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi HộiNhà văn Việt Nam và giữ chức vụ này đến khi về hưu
Với những gì đã cống hiến, Võ Quảng đã vinh dự được Nhà nước tặng Huânchương Độc lập, Huân chương kháng chiến chống Pháp và giải thưởng Nhà nước
về Văn học nghệ thuật (2007) cùng nhiều huy chương, giải thưởng của các tổ chức,đoàn thể khác trong và ngoài nước
Ông qua đời ngày 15 tháng 6 năm 2007 tại Hà Nội Mộ phần của ông đặt tạinghĩa trang tỉnh Vĩnh Phúc
Sau 2 tháng ông từ trần, sáng 18-8-2007, Tạp chí Văn hóa quân sự tại Đà
Nẵng đã tổ chức lễ tưởng niệm và hội thảo về nhà văn, nhà thơ Võ Quảng Nhiềutham luận của các lãnh đạo huyện Đại Lộc (quê hương nhà văn), các nhà thơ, nhàvăn công tác trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đều dành cho nhàvăn Võ Quảng những tình cảm kính trọng, trìu mến
4.2 Sự nghiệp sáng tác của Võ Quảng
Miền đất Quảng Nam - Đà Nẵng - nơi Võ Quảng sinh ra và lớn lên, là cầunối của hai miền đất nước Thiên nhiên nơi đây vừa khắc nghiệt, nhưng cũng vừa
đa dạng phong phú, cây cỏ xanh tươi và đầy sức sống
Từ những năm tháng tuổi thơ, miền quê ấy đã gieo vào lòng nhà văn mộttình yêu thiên nhiên, cây cỏ Đất Đại Hòa khá trù phú bởi vùng này là ngã ba sông,
Trang 26nơi gặp nhau của hai con sông Thu Bồn và Vu Gia, hàng năm bồi đắp phù sa Đặcbiệt, làng Hòa Phước là nơi tắm mát tuổi thơ, nơi ghi dấu bao kỉ niệm sâu sắc trongcuộc đời của nhà văn… Những vẻ đẹp cả về tự nhiên và văn hóa của vùng quê ấy
đã sớm thấm đượm trong tâm hồn của cậu bé Võ Quảng từ thuở ấu thơ Vì vậy,cảnh vật và con người quê hương hiện lên trong trang viết của Võ Quảng như bừngsáng rực rỡ hơn, từ cỏ cây hoa lá đến chim muông Tất cả đều trở nên sống động,
có tâm hồn, tình cảm, có ước mơ, có suy tư và đôi khi có cả một triết lí về cuộcsống Qua những trang văn, ta cảm nhận được hình bóng của một miền quê và tìnhyêu quê hương rất sâu sắc trong Võ Quảng Nó như được viết lên bằng tất cả niềmxúc động của nhà văn
4.2.1 Về thơ
Võ Quảng bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn học của mình từ những bài thơ.Thơ Võ Quảng chuyên viết cho lứa tuổi nhi đồng Những bài thơ của ông bao giờcũng xinh xắn, nhẹ nhàng truyền đến cho các em lòng thương yêu thế giới cỏ cây,loài vật để từ đó hướng tới mục tiêu lớn hơn đó là yêu điều thiện, yêu cái đẹp trong
cuộc sống Tập thơ đầu tiên của Võ Quảng được xuất bản năm 1957 là tập Gà Mái Hoa Ở đó, mỗi bài thơ khắc họa một chân dung sinh động về những con vật bé nhỏ
như vịt, ngỗng, gà trống Sau tập thơ này, cứ vài ba năm, bạn đọc lại thấy xuất hiện
một tập thơ của Võ Quảng: Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh Đom Đóm (1970), Măng tre (1971), Én hát và đu quay (1972), Quả đỏ (1980), Anh nắng sớm (1993).
Đọc thơ ông, các em sẽ có cảm giác như được dạo chơi trong một công viên
kì thú Ở đó có biết bao là loài chim, loài cỏ thơm, có cả mầm non, những giọtsương sớm, những ánh nắng ban mai, những chú gió tinh nghịch… Thiên nhiên rộnràng âm thanh, sặc sỡ sắc màu, vui mắt, vui tai nhưng cũng thật thơ mộng và óng ả.Người đọc sẽ được tận hưởng hương thơm, được lắng nghe tiếng chim ca, đượcnhìn ngắm những con người lao động rắn rỏi,… qua những cách mà Võ Quảng vẽnên bức tranh ấy, để ta lại càng thêm yêu đời, yêu cuộc sống
4.2.2 Về truyện
Ở văn xuôi, truyện của Võ Quảng viết cho nhiều lứa tuổi Với lứa tuổi nhiđồng,truyện đồng thoại của Võ Quảng được tập hợp trong: Cái mai (1967), Những chiếc áo ấm (1970), Bài học tốt (1975), Vượn hú (1993)… trong đó có những truyện tiêu biểu như: Chuyến đi thứ hai, Bài học tốt, Hòn đá, Mèo tắm, Trăng thức, Mắt giếc đỏ hoe, Những chiếc áo ấm, Trai và ốc gai, Đò ngang…
Những mẩu đồng thoại nhỏ nhắn, xinh xắn nhưng lại đủ sức tạo nên một thếgiới nghệ thuật sinh động làm cho các em yêu mến hơn các loài động vật và những
Trang 27đồ vật gần gũi trong cuộc sống hằng ngày, làm thức dậy trong các em một thế giớitưởng tượng phong phú cùng với ý thức tò mò muốn tìm hiểu sự vật… Từ đó gópphần hình thành nhân cách sống, thái độ sống cho các em trong cuộc đời Đó thật
sự là những "công trình sư phạm" góp phần giáo dục các em cả về trí tuệ, thẩm mĩ
và cách đối nhân xử thế trong cuộc sống
Tuy vậy, truyện và tiểu thuyết mới là thể loại thành công nhất của VõQuảng Có lẽ phần phong phú nhất, tâm huyết nhất là những truyện ông viết cholứa tuổi thiếu niên - lứa tuổi sắp bước vào đời với nhiều ước mơ, hoài bão nên tácgiả muốn trang bị cho các em hành trang đầy đủ hơn, muốn tâm sự với các em
nhiều hơn Với lứa tuổi này, Võ Quảng đã có những tác phẩm: Cái thăng (1960), Chỗ cây đa làng (1964) và tiêu biểu nhất là bộ tiểu thuyết gồm hai tập Quê nội (1972) và Tảng sáng (1976) Gần đây Nhà xuất bản Kim Đồng in chung lại thành tiểu thuyết Quê nội (2005)
Quê nội kể về chú Hai Quân cùng cậu con trai Cù Lao, sau bao năm lưu lạc
xứ người, đến khi Cách mạng tháng Tám thành công mới tìm đường về quê, nhậnlại họ hàng, ruột thịt Cùng với sự trở về của cha con chú Hai Quân, cả làng HòaPhước như được hồi sinh Tất cả cùng hồ hởi bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới
nhưng không ai quên quá khứ đau buồn Tảng sáng (có thể coi là tập 2 của Quê nội) vẫn tiếp tục mạch cảm hứng của Quê nội, kể về cuộc sống và con người quê
hương với những phong trào diệt giặc đói, giặc dốt ngay sau Cách mạng Đây cóthể coi là hai cuốn tự truyện của nhà văn, viết về Cục, Cù Lao, những thiếu niên xãHòa Phước quê hương ông mà cũng chính là về ông, khi tác giả vừa là nhân chứngvừa là người trực tiếp tham gia vào những biến động lớn lao diễn ra trên quê hương
vào những năm cách mạng và kháng chiến Có thể nói, với Quê nội, Võ Quảng đã
góp những trang viết rất đặc sắc về tuổi thơ trong văn học Việt Nam hiện đại
4.2.3 Về tiểu luận, phê bình xung quanh sáng tác dành cho thiếu nhi
Với trên 50 bài viết, phát biểu, tranh luận, Võ Quảng đã nêu ra những suynghĩ khá toàn diện và cả những vấn đề thời sự xoay quanh những sáng tác viết chothiếu nhi Đọc lại đề mục một số bài viết của Võ Quảng cũng thấy rõ điều ấy,
chẳng hạn như: Cần những sáng tác tốt hơn nữa cho thiếu nhi; Phát huy tác dụng của văn học đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cho thiếu nhi; Nghĩ và viết cho các em; Về sách viết cho thiếu nhi; Về người đọc sách viết cho thiếu nhi; Nói
về ngôn ngữ văn học vào nhà trường… Những bài tiểu luận này, không chỉ thể hiện
nỗi lòng của nhà văn đối với tuổi thơ, mà còn là quan niệm nghệ thuật của nhà văn
về sáng tác cho thiếu nhi Điều đó có tác động trực tiếp vào việc xây dựng một nềnvăn học dành riêng cho các em
Trang 28Ngoài ra, ông còn sáng tác kịch bản phim hoạt hình cho thiếu nhi như: Sơn Tinh Thủy Tinh, Con 2 được đông đảo khán giả nhỏ tuổi yêu mến Ông còn có một
số tác phẩm đã được dịch và xuất bản ở nước ngoài như Pháp, Nga, Trung Quốc được bạn đọc nhiệt tình đón nhận Ông cũng là người đầu tiên dịch tác phẩm ĐônKihôtê sang tiếng Việt dưới bút danh Hoàng Huy từ năm 1959
Nhìn lại cuộc đời của Võ Quảng và con đường đến với văn học thiếu nhi, chúng
ta có thể thấy rằng, chính những trải nghiệm và tài năng, cùng với tình yêu hết lòng vìtuổi thơ là những yếu tố quyết định làm nên thành tựu sáng tạo nghệ thuật của ông
4.3 Quan niệm sáng tác cho thiếu nhi của Võ Quảng
4.3.1 Con đường đến với văn học thiếu nhi
Mỗi nhà văn, ngay từ khi bắt đầu cầm bút thường vẫn chọn cho mình một đốitượng sáng tác cụ thể Là người trực tiếp cầm bút, đồng thời cũng là người từng
nhiều năm lãnh đạo Nhà xuất bản Kim Đồng, Võ Quảng đã tâm sự rằng: "Hãy dành cho con trẻ những gì đẹp đẽ, tinh khiết nhất ngay từ khi trẻ bước vào đời" Có lẽ
chính vì thế mà ngay sau khi tập kết ra Bắc, Võ Quảng đã xin thôi hẳn công tácchính quyền để chuyển sang hoạt động văn học thiếu nhi Và, qua những tác phẩmông viết cho thiếu nhi chúng ta thấy tác giả đã thực hiện được niềm mong ước đó củamình
Là cây bút xuất sắc về văn học thiếu nhi ở nước ta, Võ Quảng gần như dành
cả cuộc đời mình cho hoạt động văn học nghệ thuật Ông sáng tác thơ, văn, kịchbản phim hoạt hình, viết lý luận về văn học thiếu nhi Ở thể loại nào ông cũngthành công, để lại dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc nhỏ tuổi, cả lứa tuổi thiếuniên và lứa tuổi nhi đồng
4.3.2 Quan niệm sáng tác cho thiếu nhi
Võ Quảng là một trong số ít những cây bút mở đường, đặt những viên gạchkhai phá đầu tiên vào mảnh đất của nền văn học thiếu nhi Việt Nam Suốt hơn nửathế kỷ cầm bút và thủy chung với văn học thiếu nhi, Võ Quảng đã chứng minh điều
mà ông hằng tâm nguyện: “Viết cho thiếu nhi là tình yêu và lẽ sống của tôi” Thật chính xác khi nói rằng: “Võ Quảng đến với văn học thiếu nhi khi đã 37 tuổi, tuy có hơi muộn, nhưng đã đến là ở lại mãi mãi, và cho đến hết đời, chỉ chuyên tâm làm một việc: Viết cho các em” (Nguyễn Huy Thắng - Phó giám đốc - Nhà xuất bản
Kim Đồng)
Ông đã tạo dựng được cho mình một sự nghiệp văn chương phong phú bằngnhiều thể loại khác nhau: thơ, truyện đồng thoại, tiểu thuyết, kịch bản phim hoạthình mà đối tượng hướng tới là bạn đọc nhỏ tuổi với nhiều tâm sự chất chứa Một
câu hỏi lớn xuyên suốt đời văn của ông là: Viết thế nào để các em thích? Suy nghĩ
Trang 29như ông thì thật đã vươn tới sự thấu đáo, đủ đầy cả về nội dung tư tưởng lẫnphương thức sáng tạo Đó là tâm huyết của một nhà văn trải nghề mà không lớntiếng to giọng “dạy bảo” Như vậy, trong quan điểm nghệ thuật và thao tác lao động
của nhà văn có sự dẫn dắt của một nhà tâm lý học trẻ thơ Ông quan niệm: Thơ có nhiệm vụ phải ghi sâu vào tâm hồn các em tất cả bức tranh đậm đà của đất nước,
từ những sự kiện to lớn nhất, cho đến những việc nhỏ nhất, bóng dáng một cánh cò bay, hình ảnh sóng lúa rợp rờn, cây đa, bến nước, tất cả vẻ đẹp của núi sông, đó là lớp phù sa mỡ màng, trên đó mọc lên xanh tươi tình yêu Tổ quốc” Có lẽ vì thế mà
tất cả những vần thơ, trang viết của ông từ đó đến giờ vẫn không thấy cũ
Võ Quảng từng quan niệm một sáng tác chân chính cho thiếu nhi phải vừa
là một công trình sư phạm, vừa phải mang tích chất nghệ thuật Vì vậy, qua mỗi tác
phẩm, ông đã khéo léo gửi gắm vào đó chất phù sa màu mỡ của tình yêu thương để
trẻ thơ lớn lên với khát vọng hướng tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống Anh Đom Đóm, chị Chổi Tre… nhắc các em biết quan tâm tới những người bình thường trong xã hội, yêu lao động, có ý thức gìn giữ môi trường xung quanh Ngàn sao làm việc giúp các em hiểu được bầu trời đẹp lộng lẫy về đêm là do sông ngân hà
biết cháy giữa trời lồng lộng, sao thần nông biết tỏa rộng chiếc vó lọng vàng, saohôm như một ngọn đuốc soi cá, nhóm đại hùng tinh biết buông gầu tát nước Ngànsao cùng làm việc, cùng chung sức đã làm nên vẻ đẹp huyền diệu của trời đêm Laođộng và biết đoàn kết, yêu thương đã làm cho vạn vật trở nên đẹp đẽ, đáng yêu
Giáo dục tư tưởng, đạo đức qua văn thơ đã có truyền thống hàng ngàn nămvới quan điểm Nho giáo “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí” Đối tượng hướng tới củavăn học viết cho thiếu nhi cũng là đối tượng của giáo dục Từ đó, nhà thơ Võ
Quảng đã nói lên tâm lý sáng tạo phổ biến: “Người viết cho thiếu nhi là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một nhà giáo muốn các em trở nên tốt đẹp Quan điểm sư phạm và văn học viết cho thiếu nhi là hai anh em sinh đôi” [21; 56] Ông
đã từng bộc bạch tâm sự: "Văn học thiếu nhi có mục đích chủ yếu là giáo dục các
em biết sống tốt đẹp, biết cảm thông, biết yêu thương,biết quý trọng cái đẹp, hiểu
rõ nghĩa vụ làm người" [22; 19].
Không tạo ra điều cấm đối với trẻ em mà chỉ khuyên bảo nhẹ nhàng, VõQuảng đã tìm được con đường về với tuổi thơ Cái khó mà Võ Quảng làm đượcchính là đằng sau sự sống tự nhiên của con trẻ là những nội dung xã hội tinh tế, tự
nó mang lại những ý nghĩa giáo dục lớn lao Ông khéo xử lí cái hồi kết cho một
cuộc chơi Chơi như chú Chó Vàng táp bậy là nguy hiểm (Chú Chó Vàng) Hay cười cợt nhạo báng người khác như Cóc đối với Châu Chấu Voi là khiếm nhã (Cóc
và Châu Chấu Voi)… Mỗi bài thơ của Võ Quảng vì thế bao giờ cũng nhuần nhuyễn
Trang 30hai phần: phần chơi và phần giáo dục Phần chơi mở ra như một cảm hứng Phầngiáo dục kết lại nhưng không áp đặt mà mang tính định hướng: Phải chơi như thếnào để trẻ thơ lớn lên và trưởng thành Đôi khi giáo dục và chơi đùa hòa nhập làmmột Nội dung giáo dục ẩn trốn trong trò chơi và tự thân trò chơi định hướng cho
các em vào các hoạt động xã hội mà Ai dậy sớm là một bài thơ điển hình nhất cho
cấu trúc tinh tế của thơ Võ Quảng
Đặc biệt, khi sáng tác, không né tránh, Võ Quảng viết về trẻ em ở cả hai mặt:tốt và chưa tốt Nhưng cả hai mặt đều đáng yêu Ông đã nhìn lại tuổi thơ bằng con mắthóm hỉnh của người từng trải và bao dung Điều mà các nhà giáo dục thường đẩy đếnmức độ nghiêm trọng thì ông lại tỏ ra trân trọng Vì lẽ, bản tính tự nhiên của trẻ em là
sự hồn nhiên trong trẻo nên Võ Quảng có cả một tập thơ Măng tre với nghĩa ngụ
ngôn: Măng lớn lên theo lẽ tự nhiên, vươn thẳng lên bầu trời cao rộng, nó chỉ lệch lạckhi môi trường xung quanh nó quá nhiều áp lực mà thôi!
Ông tự đặt cho mình một con đường sáng tạo, thực chất là sự hòa giải giữa
ông - nhà văn, nhà thơ Võ Quảng với bạn đọc nhỏ tuổi: “Tôi tạo ra sự giao lưu tình cảm giữa văn thơ và các em” [21, 45] Với văn học cho thiếu nhi, một hình thức
nghệ thuật phụ thuộc vào “tầm đón nhận” của lứa tuổi đặc thù, ông chọn chức nănggiao tiếp ở vai trò hàng đầu để dọn đường cho mọi chức năng khác Vì thế, theo
ông, người viết văn làm thơ cho trẻ em “Phải đủ sự nhạy bén mới có thể phân thân, mới có thể thâm nhập vào đối tượng, mới có thể làm cho sáng tác trở nên chân thật, gần gũi với đối tượng” [22, 54] Cũng vì thế, ông đã giải hòa giữa cảm quan
của người lớn và tâm hồn trẻ thơ, từ đó đưa ra cách giáo dục trẻ em riêng Võ
Quảng cho rằng: “Văn học càng đưa vào những chuẩn mực đạo đức khô khan, cứng nhắc, tự nó càng xa trẻ em Ngược lại, chỉ đáp ứng nhu cầu tự nhiên của trẻ
em, bản thân văn học dễ trở thành trò chơi thường tình” [22; 60] Trong các sáng
tác của mình, Võ Quảng đã khéo hòa giải hai mặt mâu thuẫn, nghịch lí ấy
Những sáng tác hay của Võ Quảng được bắt đầu từ ý tưởng: làm cho trẻ em thích Độc giả nhỏ tuổi của Võ Quảng đến với ông thật sự là cuộc vui chơi với bao
điều mới mẻ Chẳng hạn, khi đến với truyện của ông, các em được đến với một sân
chơi, thường là vườn bách thú với các loài vật, con nào cũng ngộ nghĩnh đáng yêu
Võ Quảng dựng lên những tình huống lạ bất ngờ, thú vị, giàu ý nghĩa hơn khônggiống những gì trẻ em đã biết trong truyện dân gian Con Cáo già sẽ trở nên ngờ
nghệch, mắc lỡm (Đêm biểu diễn); Anh Cút lủi thì lười biếng, lần lữa qua loa nên rút cuộc không có nhà ở (Anh Cút lủi); anh Hổ vằn không bị người đốt mà chính là chú Thỏ yếu đuối và chàng Khỉ tinh khôn (Sự tích những cái vằn); con mèo “tắm khô” vì ngày xưa nó từng suýt chết đuối dưới hồ (Mèo tắm); Thỏ cứ tưởng trời sụp
Trang 31rồi chạy loan tin khắp rừng khi một quả mít rơi đánh “ào” một tiếng (Cười)…
Không cười với trẻ thơ, Võ Quảng không thể tâm sự với chúng và chính có cái cười
ấy, bạn đọc tuổi nhỏ thấy được chính mình trong tác phẩm Thậm chí trong thơ,ông còn là người đánh phách, gõ nhịp cho trẻ em hát và chơi Mỗi bài thơ của Võ
Quảng là mỗi bài hát Bài hát về Con đường nhỏ với thiên nhiên rực rỡ, ngát hương: “Con đường nho nhỏ/ đi dọc bìa rừng/ Từng bước chân vui/ cứ đi đi mãi/ Dọc đường hoa dại/ đốm trắng đốm vàng ” Bài hát về Chú chó vàng đi chơi rông:
“Một chú chó vàng/ Tính hay tinh nghịch/ Giữ nhà không thích/ Thích bỏ đi rông/ Tha thẩn đứng trông/… Gặp chị gà mái/ Vàng ngoạm lấy chân/ Gà kêu thất thanh/
“Oang oác, oang oác”…
Theo ông, ai cũng đã từng trải qua tuổi thơ và biết yêu cái tuổi thơ của chínhmình Trẻ em chỉ có đáng yêu chứ không đáng ghét Với trẻ em cần phải tôn trọngtính tự nhiên của chúng Vì thế, giáo dục trẻ em qua văn chương chỉ mang tính chấtđịnh hướng chứ không phải áp đặt bằng luật lệ, qui tắc Tính chất định hướng ấy lạiđược thể hiện ngay ở chức năng thẩm mỹ của văn học Bởi lẽ không gì có sức cảm
hóa mạnh mẽ hơn cái đẹp Ông viết: “Làm nên được cái gọi là văn học, đó là nhờ tác giả đã chuyển hướng được màu sắc tâm hồn mình, cách nhìn của mình vào mỗi
từ, mỗi câu, mỗi hình tượng tạo ra được một giọng không giống bất kì một người nào khác” [23, 64].
Là một nhà phê bình văn học, đặc biệt phê bình văn học thiếu nhi, ông luôntrăn trở từ thực tiễn sáng tác của mình Với sự quan sát, phân tích Võ Quảng đúc
kết: “Một quyển sách gọi là hay, gọi là tốt cho thiếu nhi, phải đồng thời với thiếu nhi người lớn cũng thấy tốt, thấy hay” Cái hay và cái tốt ấy, theo ông, là không
tách rời, chúng đã làm cho các em ham mê đọc Ham mê đọc cũng là bởi các emthích Và một tác phẩm được các em thích thì thường hàm chứa các yếu tố:
Có “nhiều sự việc mới lạ”, “có nhiều tình tiết dồn dập, gay cấn, có nhiều chất tưởng tượng và ly kì”; “nói những sự việc hàng ngày, nhưng cách diễn tả cần phải hồn nhiên, vui tươi, dí dỏm”; “sự việc luôn luôn chuyển động phải như các trò chơi luôn luôn hoạt bát”; “có chất thơ”, “có cái cười”; “được thể hiện một cách chân thật, mang được màu sắc tâm hồn ở tác giả, được tác giả thổi vào mỗi hàng chữ mỗi trang sách hơi thở rõ rệt của mình ” [21; 50] và các sáng tác của Võ
Quảng là những sáng tác như thế
Khi bàn về chức năng, nhiệm vụ của văn học thiếu nhi, nhà văn cho rằng:
Văn học thiếu nhi phải là “những đốm lửa thắp sáng những khía cạnh nhân đạo của con người Nó phải làm cho các em biết sung sướng, xót xa, yêu thương, căm giận, ghét mọi biểu hiện xấu xa, yêu mọi biểu hiện vị tha trung thực” [21; 52], làm
Trang 32được như vậy tức là người viết đã “đánh thức được trong các em những tình cảm cao quý” Mặt khác, ông cũng cảnh giác với điều mà ta thường thấy hôm nay: biến tác phẩm văn chương thành một bài học tự nhiên và xã hội Ông viết: “Việc nhồi nhét vào đầu óc các em thật nhiều kiến thức, muốn các em phải nhớ hết, dễ dẫn đến hậu quả, trong đầu các em lúc nào cũng no nê Và các em cũng như chúng ta khi đã quá no nê thì sinh ra chán ngán, không còn muốn nghe gì nữa” [21, 53]
Tóm lại, Võ Quảng luôn đề cao vai trò của văn học trong việc giáo dục nhậnthức, thẩm mỹ, lòng nhân ái cho thiếu niên nhi đồng Bởi văn học thiếu nhi có lợithế trong việc giáo dục các em trở thành người tốt thông qua những lời nói hay,những hình tượng đẹp Nhận thức như vậy nên nhà văn luôn trăn trở và mong muốngiúp các em có đời sống tình cảm, thế giới tâm hồn phong phú, có nhiều trảinghiệm thú vị, để các em biết cách cảm nhận hiện thực và ứng xử tinh tế hơn, nhânvăn hơn trước mọi tình huống đời sống Đúng như đánh giá của Giáo sư Phong Lê,
nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam: “Con người ấy quả đã sống hết mình, thật hết mình cho tuổi thơ” [7, 105].
Trang 33Chương II NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VÕ QUẢNG
VIẾT CHO THIẾU NHI
Với hơn 10 tập thơ, Võ Quảng đã để lại cho văn học thiếu nhi Việt Nam một
di sản đồ sộ Đề tài Võ Quảng hướng đến không khác nhiều các tác giả viết cho các
em như: Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Phạm Hổ… nhưng ông lại có những cảm nhậnriêng, cách thể hiện mới lạ ở những điều tưởng chừng như quá quen thuộc Võ
Quảng quan niệm: "Thơ, theo đúng nghĩa của nó, dù là thơ bộc lộ tâm tư hay vẽ lên một cảnh đẹp, hoặc vẽ lên một cuộc sống, hay phản ánh một thời đại, tất cả cuối cùng cũng đều xuất phát từ những rung động chân thật của nhà thơ Chính những rung động chân thật và sâu đó đã làm cho chất thơ có sự sống, có hơi thở, làm cho hiện thực phản ánh hóa sinh động, làm cho chủ đề tư tưởng của nhà thơ cùng phát huy mạnh mẽ"[31; 34].
1 Đặc sắc về nội dung trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi
Trong thơ, Võ Quảng viết về thiên nhiên, cây trái, hoa quả, các con vật thânquen, những cuộc đời bình dị… Đọc thơ ông, trẻ em và người lớn đều thích vì đượchòa mình vào thiên nhiên tươi đẹp, được dạo chơi trong vườn bách thú sôi động âmthanh, vườn bách thảo rực rỡ sắc màu, được đắm mình trong những tình cảm chânthật, chan chứa tình yêu thương
1.1 Khung cảnh thiên nhiên bình dị, tươi đẹp
Khung cảnh thiên nhiên trong thơ Võ Quảng hiện lên rất bình dị mà tươiđẹp Thơ Võ Quảng mang đến cho các em những rung cảm tinh tế, nhẹ nhàng trướckhung cảnh thiên nhiên quen thuộc nơi các em đang sống Đó là những buổi sớm
mai với vừng đông và đất trời thật rạng rỡ, tinh khôi trong Ai dậy sớm:
Ai dậy sớm Bước ra nhà Cau ra hoa Đang chờ đón.
Ai dậy sớm
Đi ra đồng
Cả vừng đông Đang chờ đón.
Trang 34Ai dậy sớm Chạy lên đồi
Cả đất trời Đang chờ đón.
(Ai dậy sớm) Lời thơ mộc mạc, giản dị như kể chuyện, tâm tình đã gieo vào ý thức các
em những lợi ích của việc dậy sớm, những quà tặng của thiên nhiên, đất trời và conngười cho những người biết dậy sớm chăm chỉ học hành, lao động, ăn ở sạch sẽ,chăm tập thể dục… Những bài học nhận thức nhà thơ đem đến cho các em khôngcứng nhắc, không phải là lời “giáo huấn” khô khan mà ngược lại nó hết sức tựnhiên như lời thủ thỉ, tâm tình, rất giàu nhạc điệu nên dễ đi vào lòng người, khiếncác em dễ thuộc, nhớ lâu
Trong thơ viết cho các em, Võ Quảng luôn sử dụng bút pháp miêu tả kết hợpnhiều biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh… để vẽ lên nhiều hình ảnh thơ tuyệtđẹp Bởi vậy, thiên nhiên mở ra trước mắt các em tươi đẹp, êm dịu, muôn màunghìn vẻ Đó là một cảnh hoàng hôn:
Toả ráng đỏ chiều hôm Chân trời màu xanh lam Bỗng sáng lên đỏ rực
(Ráng chiều đi đâu)Một đêm trăng sáng:
Trăng rải vàng rải bạc Trăng thổi làn gió mát Trăng phủ lụa xóm làng Đồng quê trở mơ màng Đẹp như trong thần thoại
(Mời xuống đây chơi)
Một con đường nhỏ ngập tràn hoa, một cánh đồng lúa chín trải dài:
Dọc đường hoa dại Đốm trắng đốm vàng
… Lúa chín mênh mông Nắng vàng sáng rực!
(Con đường nhỏ)Một mùa vàng ấm no:
Trang 35Xóm thôn trở vàng!
Lúa rải sân phơi Sân phơi phủ vàng Rơm rải đường làng Đường làng phủ vàng
(Dát vàng)
Một vườn quả chín mọng:
Những quả chín đỏ Hát dưới nắng mai Những chùm quả sai Cười trong nắng mới.
(Quả đỏ)Thơ Võ Quảng nổi bật với những rung động chân thật và sâu sắc về thiênnhiên và cảnh sắc bốn mùa Mỗi mùa trong thơ ông đều hiện lên với vẻ đẹp đặctrưng, mang nét điển hình nhất qua sự cảm nhận vô cùng tinh tế Một cảnh xuân với
vẻ đẹp kỳ lạ, tinh khôi, muôn loài hoa khoe sắc, tỏa hương:
Hoa cải li ti Đốm vàng óng ánh Hoa cà tim tím Nõn nuột hoa bầu Hoa ớt trắng phau Xanh lơ hoa đỗ.
Cà chua vừa độ
Đỏ mọng trĩu cành
Xanh ngắt hàng hành
Xanh lơ cải diếp.
(Ai cho em biết)
Trong khu vườn thiên nhiên của nhà thơ, mỗi một loài cây, mỗi loài hoa dùnhỏ bé nhất, đều mang trên mình một vẻ đẹp riêng, một sức sống mãnh liệt: màuvàng rực rỡ của hoa cải, màu tím nhẹ nhàng của hoa cà, màu trắng tinh khôi của hoabầu, hoa ớt, màu đỏ mọng của trái cà chua, màu xanh man mát của hoa đỗ, của raucải diếp… Hình ảnh vườn xuân với vẻ đẹp hết sức giản dị, thân thương nhưng tạo ranhững rung động về vẻ đẹp thanh bình, trong sáng, êm ả của làng quê Việt Nam
Điều đặc biệt trong thơ Võ Quảng là ông rất chú ý miêu tả các loài cây cỏmới bắt đầu sự sống Thế nhưng, sức sống ấy thật là mãnh liệt Đó là vẻ đẹp bất
ngờ của sự bừng tỉnh, nảy nở, sinh sôi, kỳ diệu của Một mầm non nho nhỏ Khi đất
Trang 36trời xôn xao, chim muông ríu rít, khe suối rì rào, nó cũng vui vẻ, hăng hái vươnmình bật dậy góp vẻ đẹp tươi xanh vào bức tranh mùa xuân ấm áp:
Vội bật chiếc vỏ rơi
Nó đứng dậy giữa trời Khoác áo màu xanh biếc.
(Mầm non)
Nhà thơ cũng thật kỳ công quan sát, miêu tả từng chi tiết, động thái nhỏ nhất để
giúp trẻ thơ thấy rõ sự phát triển kỳ diệu của sự vật: Cái cọng trắng muốt/ Nở hai lá mầm/ Cái chồi xanh xanh/ Hé nhìn bỡ ngỡ (Cây đỗ) Đọc bài thơ, bạn đọc thấy dường
như đằng sau bức tranh ấy có bóng dáng quá trình lớn lên của trẻ thơ
Đối với trẻ em, thiên nhiên là một người bạn lớn kỳ diệu, luôn có những biếnđổi bất ngờ Mùa hạ trong thơ Võ Quảng được vẽ bằng nét bút chấm phá, gợikhông khí yên bình, thoáng đãng, trong lành Đó là những buổi bình minh rực rỡ,
tưng bừng, khiến cho: Trâu ngẩng cổ lên trông/ Thấy rực rỡ vừng hồng (Ngày
đến) Mùa hè đến:
Giục chim làm tổ
Nhuộm lục cánh đồng Thắp đỏ hoa vông, Thổi vùng lưới lửa.
(Bốn người)
Vườn thơ của Võ Quảng còn nhiều bức tranh lộng lẫy của cảnh vật Cảnh hồsen mùa hạ được vẽ lên bằng những nét bút cổ điển, gợi một không khí yên bình,thoáng đoãng, trong lành:
Hoa sen sáng rực Như ngọn lửa hồng Một chú bồ nông Mải mê đứng ngắm Nước xanh thăm thẳm Lồng lộng mây trời Một cánh sen rơi Rung rinh mặt nước.
(Hoa sen)Bằng những từ láy gợi tả, cách sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn
dụ, Võ Quảng đã vẽ lên một bức tranh thơ rực rỡ sắc màu, với hình khối khỏekhoắn, âm thanh rộn ràng Gieo vào lòng trẻ thơ cảm nhận về một thiên nhiên tươitắn, gần gũi, sinh động, đầy sức sống Ở đây, một cánh sen rơi, một cái động chạm
Trang 37rất nhẹ cũng đủ làm mặt nước rung rinh, gợn sóng Tiếng động của cánh sen rơicàng làm tăng thêm sự tĩnh lặng của hồ nước Không gian yên tĩnh, thoáng đãng vàtrong lành như được ướp trong hương sen và chú bồ nông kia dường như đã bị thôimiên bởi cảnh sắc thiên nhiên này! Bài thơ không chỉ miêu tả một cảnh đẹp, mà tácgiả còn muốn giới thiệu với các em một địa điểm vui chơi thật thú vị và hấp dẫn Ở
đó, các em có thể vừa vui chơi, vừa thả tâm hồn thơ mộng cùng với thiên nhiên.Phải chăng, đó cũng chính là ấn tượng sâu sắc, là kỷ niệm dịu êm của chính tác giả
về quê hương của mình!
Sự chuyển mùa được Võ Quảng đưa vào thơ một cách tinh tế Thu đến câycối cho mùa quả chín, cánh rừng được phủ bằng màu lá vàng, hàng cây thay áo đỏ,dòng nước dường như trong xanh hơn Có thể các em đã biết được đặc điểm thiênnhiên qua các mùa nhưng với cách miêu tả của tác giả thì khung cảnh mùa thutrong trang thơ ông khiến trẻ em thấy mới lạ và hấp dẫn hơn:
Đơm cành trĩu quả Nhuộm đỏ rừng cây Thổi lá vàng bay Pha hồ nước biếc.
(Bốn người)
Mùa thu đẹp được nói đến trong bài Mời xuống đây chơi là một cảnh trăng
thu tươi tắn, hiền hòa, sáng trong, dịu êm làm cho vạn vật cũng phải ngắm nhìn:
Trăng Trung thu tươi cười Nhô lên sau đồi cỏ
Các hồ ao lớn nhỏ Đều tràn ngập ánh trăng!
Với trẻ thơ, được chơi dưới trăng là một hạnh phúc lớn Cùng với ôngtrăng, trẻ em được nô đùa thỏa thích Ánh trăng thu cũng như có tâm hồn, có tìnhcảm, thích mang niềm vui đến cho mọi người, thích làm cho mọi vật trở lên tươitắn, reo vui:
Trăng đùa sóng lăn tăn Trăng rải vàng rải bạc Trăng thổi làn gió mát Trăng phủ lụa xóm làng Đồng quê trở mơ màng Đẹp như trong thần thoại.
Trang 38Mùa thu còn là mùa các em nhỏ mong chờ Các em được vui chơi, được
rước đèn ông sao, được cùng nhau phá cỗ: Đèn Ông trăng nhịp bước/ Đèn Ông sao bước theo/ Tất cả nổi mừng reo/ Lượn giữa trời trong sáng!
Mùa thu còn có những cơn mưa nhẹ nhàng, mát dịu đưa con người vào
khoảng không mơ màng, lãng mạn Bài thơ Chân mưa vẽ lên một khung cảnh cảnh
thiên nhiên đáng để ngắm nhìn:
Mặt trời hé nhìn Mưa rơi sáng quắc Chân mưa thoăn thoắt Vụt chạy quanh làng Từng hàng từng hàng Dài hơn chân sếu.
Trong thơ Võ Quảng, mùa nào cũng đẹp và giản dị, ngay cả trong ngày đônggiá rét Cuối xuân trời nắng ấm, một tiết trời đẹp mang theo bao cái rét đi:
Cuối xuân ánh nắng ấm Đuổi hết rét về rừng Bọn rét phút cuối cùng Chạy vào hang vào hốc.
(Nắng ấm)Bốn mùa trong con mắt của nhà thơ đều có những đặc trưng, vẻ đẹp riêng
Trong bài thơ Bốn người, nhà thơ đã dí dỏm ví bốn mùa như bốn người chăm chỉ,
đầy trách nhiệm để giữ gìn cho đất nước luôn luôn mới mẻ, đẹp đẽ:
Thay đổi ca kíp Đổi mới non sông Xuân, hạ, thu, đông Mỗi người một vẻ…
Có thể nói, Võ Quảng yêu hồn nhiên và thắm thiết thế giới cỏ cây và vạn vậtxung quanh, vì thế trong thơ ông luôn có những cảm xúc sững sờ, đột ngột, chấtchứa sự đột biến trong bừng tỉnh, trong nẩy nở, sinh sôi vô cùng tươi mới Vườnthơ của Võ Quảng có những bức tranh lộng lẫy của cảnh vật thiên nhiên Với tìnhyêu rộng mở, với nghệ thuật miêu tả tinh tế, Võ Quảng đã thổi hồn vào vạn vậtxung quanh các em thiếu nhi, đem đến cho thiên nhiên sức vươn lên khỏe khoắn,đem đến cho các em tình yêu dào dạt với thiên nhiên tươi đẹp Từ đó vun đắp chocác em ý thức chăm sóc, bảo vệ môi trường, thiên nhiên
1.2 Thế giới động vật sinh động, đáng yêu
Trang 39Nhà thơ Ngô Quân Miện đã từng nhận xét về thơ Võ Quảng: "Trong thơ anh
có một mảnh vườn bách thú và bách thảo mà những em bé nào có cái may mắn được vào đều say mê và yêu thích" [6; 301] Quả đúng như vậy, vườn thơ của Võ
Quảng khá giàu về các loài chim và thú Những con vật gần nhất với người nhưmèo, gà, vịt, chó, trâu, bò, lợn, Những con chim trời như chào mào, chim khuyên,
cò, vạc, quạ, vàng anh, bói cá, bồ chao, cò bợ, bách thanh, vẹt,… Những con vật ởrừng như thỏ, nai, cáo, voi,… và những con vật khác như chẫu chàng, cóc, ếch,nhái, thậm chí cả chuột… Có thể nói, thơ Võ Quảng là một xã hội chim, thú rấtđông vui, sinh động vô cùng Đó cũng chính là một xã hội nhộn nhịp, ríu rít, inh ỏinhững tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát của trẻ con - một xã hội luôn luôn náo động,rất đáng yêu của các loài vật
Những con vật trong thơ Võ Quảng đa dạng, phong phú Từ trong nhà đếnngoài thiên nhiên, từ trên trời xuống mặt đất… Tất cả đều hồn nhiên ngộ nghĩnh, rấtphù hợp với tâm hồn trẻ em
Đi qua vườn cà,
Đi vào đi ra.
(Con bê lông vàng)
Nó tìm mãi mà chẳng thấy mẹ đâu Nó tiếp tục đi rồi vấp cọc đau quá, ngãlăn kềnh ra Thế rồi:
Thấy cái hoa nở
Nó bước lại gần
Nó đứng tần ngần Mũi kề, hít hít!
(Con bê lông vàng)
Đó là những con vịt háu ăn cứ kéo nhau xếp hàng xung quanh chuồng lợn mà
lên tiếng đòi: “Mau chia cám! Chia cám!” (Như thuyền lướt) Hay là chú chó vàng
tinh nghịch, thấy cái gì cũng chẳng để yên, cũng sủa, cũng cào, cũng trêu, cũng chọc.Gặp chị gà mái, chú cứ như đứa trẻ tinh nghịch hay trêu đùa bạn: