1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10

97 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 762,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10 Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10 Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10 Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10 Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10 Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10 Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – các giáo án thực nghiệm dạy học toán 10

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lần đầu tiên nghiên cứu đề tài, em gặp rất nhiều khó khăn, nhưng với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, sự động viên giúp đỡ của thầy cô, người thân, bạn bè đến nay đề tài đã được hoàn thành

Em xin chân thành cảm ơn:

Quý thầy cô trong phòng giáo vụ, khoa sư phạm đã tạo điều kiện cho em tiếp cận thực tế giảng dạy

Quý thầy cô trong bộ môn Toán đã trang bị cho em những kiến thức căn bản, cần thiết để có thể hoàn thành tốt đề tài

Và đặc biệt là cô Lại Thị Cẩm, cô đã hướng dẫn nhiệt tình và tạo mọi điều kiện

về tài liệu cũng như giúp em sửa chữa, giải đáp những thắc mắc, cô luôn động viên ủng hộ tinh thần để em vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành đề tài này

Quý thầy cô trường trung học phổ thông Nguyễn Thông – thị xã Vĩnh Long Đặc biệt là cô Nguyễn Thị Hậu đã nhiệt tình đóng góp ý kiến thiết thực, giúp em có được một số kinh nghiệm giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian thực nghiệm giảng dạy tại trường

Các bạn lớp Toán Khóa 30 đã nhiệt tình góp ý, động viên, khuyến khích em trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin chúc quý thầy cô, những người thân và bạn bè lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Nâng cao chất lượng giáo dục là quốc sách hàng đầu của thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Trước yêu cầu đặt ra, giáo viên - một trong những nhân tố quyết định trực tiếp thành bại của giáo dục, là lực lượng tiên phong trong lĩnh vực đổi mới giáo dục Công nghệ thông tin đã tạo ra các biến đổi xã hội một cách sâu sắc, toàn diện và giáo dục cũng không nằm ngoài sự tác động của nó Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực và ứng dụng của những thành tựu công nghệ thông tin vào việc dạy học đang là yêu cầu bức thiết đặt ra ở tất cả các cấp học, môn học Cùng với

sự phát triển của công nghệ thông tin, việc dạy học hiện nay cũng thay đổi theo quan điểm lấy trò làm trung tâm, giáo viên là người chỉ đạo, dẫn dắt hoạt động của học sinh Qua nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Toán trung học phổ thông, bản thân nhận thấy có nhiều nội dung khi dạy học rất cần sự hỗ trợ của công nghệ thông tin để tiết kiệm thời gian trên lớp, đảm bảo nội dung cần truyền đạt, làm đơn giản hoá các vấn đề mang tính trừu tượng cao, nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học Chính vì thế em

chọn đề tài “Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin – Các giáo án thực

nghiệm dạy học Toán 10” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nêu lên vai trò của việc sử dụng máy vi tính và ứng dụng phần mềm tin học để hỗ trợ việc dạy học, phân tích những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của việc sử dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học so với các phương pháp dạy học truyền thống, nêu lên một số giải pháp Đồng thời, cũng nghiên cứu một số vấn đề về soạn giáo án điện tử Tìm hiểu một số phần mềm ứng dụng để thiết kế bài giảng điện

tử theo hướng tích cực hoá, tăng khả năng tự học tốt của học sinh Điều này sẽ giúp ích cho em rất nhiều trong công tác giảng dạy sau này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 3

Tìm hiểu việc vận dụng các phương pháp dạy học ở một số trường trung học phổ thông trong thị xã Vĩnh Long qua dự giờ, trao đổi với giáo viên phổ thông

Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc soạn, giảng một số tiết Toán lớp 10 (đại

số và hình học)

Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá và rút ra kinh nghiệm

4 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh theo phương pháp dạy học tích cực

Các phần mềm chuyên dụng trong dạy học Toán phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết: Đọc các tài liệu về phương pháp dạy học tích cực, tham khảo các bài giảng, giáo án theo phương pháp dạy học này

Thực hành trên máy tính: Nghiên cứu cách sử dụng và những ứng dụng cơ bản của phần mềm Powerpoint trong dạy học Toán phổ thông

Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát việc sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên phổ thông, rút ra kinh nghiệm cho bản thân

6 Lịch sử vấn đề

Trước đây, chị Phạm Thị Thu Vân, sinh viên lớp Toán Tin khóa 27 đã thực hiện

đề tài “Phương pháp dạy học tích cực với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong

giảng dạy Toán trung học phổ thông”, đề tài này nghiên cứu những nội dung sau:

- Hướng dẫn sử dụng phần mềm Powerpoint, Maple để tạo một bài giảng

- Ứng dụng phần mềm Maple giải phương trình lượng giác và vẽ đồ thị hàm số

- Tìm hiểu thực tế về phương pháp dạy học tích cực và dạy học bằng giáo án điện tử

Ngoài ra, đề tài “Ứng dụng phần mềm Powerpoint và Flash vào thiết kế bài

giảng môn Toán cho học sinh Tiểu học” là đề tài tốt nghiệp của chị Lã Thị Thanh

Thủy, sinh viên Tiểu học khóa 29, nội dung nghiên cứu của đề tài là:

- Sơ lược nội dung phần mềm Powerpoint, Flash

- Ứng dụng Tin học vào thiết kế giáo án phục vụ giảng dạy

- Tìm hiểu thực tế về việc dạy - học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin bằng phiếu thăm dò ý kiến

Trang 4

Ở đây, em thực hiện đề tài “Dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin –

Các giáo án thực nghiệm dạy học Toán 10” Đề tài của em nghiên cứu những nội

dung như sau:

7 Cấu trúc nội dung

Chương 2: Các phương pháp dạy học được sử dụng

Chương 3: Sử dụng phần mềm tin học vào giảng dạy

Chương 4: Giáo án điện tử phục vụ giảng dạy

Chương 5: Kết quả thực nghiệm sư phạm

Chương 6: Các giáo án thực nghiệm và giáo án đề nghị

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ THIẾT KẾ BÀI HỌC

THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI 1.1 Quan điểm chung về đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Vì vậy quan điểm chung về đổi mới phương pháp dạy học môn Toán hiện nay

ở trường trung học phổ thông là tổ chức cho học sinh được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo

Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông có thể hiểu một cách cụ thể gồm các nội dung cơ bản sau:

Đối với học sinh Đổi mới phương pháp dạy học là học tập một cách tích cực, chủ động, biết phát hiện và giải quyết vấn đề, phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, hình thành và ổn định phương pháp tự học

Đối với giáo viên Thay đổi quan niệm dạy học là truyền thụ một chiều, hướng tới dạy người học phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Phong phú hơn nữa hình thức tổ chức dạy học

Nâng cao hơn việc sử dụng phương tiện dạy học, thành tựu của công nghệ thông tin, tăng cường tri thức Toán gắn với thực tiễn

Trang 6

Giáo viên tự lựa chọn phương pháp theo nội dung, sở trường, đối tượng học sinh, điều kiện trang thiết bị,… trong hoàn cảnh địa phương

1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông

Theo nghĩa thông thường, đổi mới phương pháp dạy học là sự thay thế các phương pháp dạy học cũ bằng những phương pháp dạy học mới Quan niệm như vậy

dễ gây lúng túng trong nhận thức và trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay, nhất là khi chỉ nhìn nhận phương pháp dạy học trong phạm vi hẹp, một mặt, đó là mặt bên ngoài

Nhận thức đúng về đổi mới phương pháp dạy học là phải đặt phương pháp dạy học trong sự gắn bó chặt chẽ với nội dung và mục tiêu dạy học, đồng thời phân tích sự tác động ở cả hai mặt bên ngoài và bên trong của phương pháp dạy học Với cách nhìn nhận như vậy, đổi mới phương pháp là thay đổi cách dạy và cách học từ những phương pháp đáp ứng yêu cầu mục tiêu giáo dục này, sang những phương pháp phục

vụ cho mục tiêu đào tạo khác

Như vậy thuật ngữ đổi mới phương pháp dạy học được xác định là sự thay đổi

từ các phương pháp dạy học tiêu cực (lối truyền thụ áp đặt một chiều của người dạy đến người học: người học tiếp thu một cách thụ động, theo các phương pháp tái hiện) đến các phương pháp tích cực, sáng tạo: người dạy tổ chức, định hướng nhận thức, phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh để học sinh chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng

Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, các công nghệ dạy học hiện đại vào nhà trường trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của học sinh, chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để đổi mới phương pháp học tập của học sinh tất nhiên phải đổi mới phương pháp giáo dục của giáo viên và đổi mới môi trường diễn ra các hoạt động giáo dục Đổi mới phương pháp giáo dục là quá trình:

- Chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang: học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng

Trang 7

hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên “Những

gì mà học sinh nghĩ được, nói được, làm được, giáo viên không làm thay, nói thay”

- Đổi mới các hình thức tổ chức giáo dục làm cho việc học tập của học sinh trở nên lí thú, gắn với thực tiễn, gắn với cuộc sống; kết hợp dạy học cá nhân với dạy học theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh trong quá trình giáo dục

1.3 Nội dung đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông

Trong phương pháp dạy học tích cực, người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề thông hiểu, ghi nhớ, tái hiện các kiến thức theo sách giáo khoa, lặp lại đúng và thành thạo các kỹ năng đã được tiếp thu trong tiết học mà còn đặc biệt chú ý năng lực nhận thức, rèn luyện các kỹ năng và phẩm chất tư duy phù hợp với nội dung bài học (phân tích, tổng hợp, xác lập quan hệ giữa các sự kiện, nêu giả thiết,…) chú ý các kỹ năng học tập, phát triển năng lực tự học Giáo viên phải luôn luôn có ý thức nêu rõ yêu cầu, mức độ hợp lí giữa kiến thức và kỹ năng, giữa phương pháp suy nghĩ, hành động và tự học

Với mỗi hoạt động giáo viên cần có một số câu hỏi then chốt, nhằm vào những mục đích nhận thức xác định, nhất là ở những phần trọng tâm, trên cơ sở đó khi lên lớp

sẽ phát triển thêm những câu hỏi phụ, tùy theo diễn biến của tiết học Tránh khuynh hướng hình thức (đặt câu hỏi ở chỗ dễ hỏi chứ không phải là ở chỗ cần hỏi), câu hỏi phải có yêu cầu cao về nhận thức

Nội dung kiểm tra, đánh giá phải toàn diện, bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và phương pháp, không phải chỉ yêu cầu tái hiện kiến thức và kỹ năng

Trong phương pháp dạy học đổi mới để phát huy vai trò tích cực chủ động của học sinh, giáo viên cần hướng học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học của mình

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng các hình thức kiểm tra truyền thống, giáo viên cần tìm hiểu, áp dụng thử và phát triển các phương pháp trắc nghiệm khách quan (câu đúng – sai, câu nhiều lựa chọn, câu ghép đôi, câu điền câu trả lời ngắn,…), nhận

rõ những ưu điểm, nhược điểm của phương pháp này, sử dụng phối hợp, hợp lí với các phương pháp kiểm tra truyền thống

Trang 8

Đồng thời, trong một tiết học phải biết phối hợp nhiều phương pháp dạy học, lấy ưu điểm của phương pháp này bổ sung, hoàn chỉnh nhược điểm của phương pháp kia, để tiết học đạt hiệu quả hơn

1.4 Giải pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông

Hình thành các tình huống có vấn đề hoặc vấn đề từ nội dung đang học và từ đó xây dựng kế hoạch hướng dẫn cho học sinh tự giải quyết vấn đề

Giúp học sinh sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu khác một cách có ý thức

và chủ động theo hướng nghiên cứu để giải quyết vấn đề

Tăng cường các hoạt động tìm tòi, quan sát, đo đạc, thực hành, làm báo cáo, tự điều tra

Thay đổi các hình thức tổ chức học tập trong điều kiện cho phép (thảo luận nhóm, lớp học ngoài trời,…), tạo điều kiện và không khí thích hợp để học sinh có thể tranh luận với nhau, với giáo viên, cũng như tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về kết quả tìm tòi, phát hiện

Xây dựng các hình thức phiếu học tập, báo cáo kết quả,…một cách thích hợp Tận dụng tối đa phương tiện, thiết bị dạy học với tư cách là phương tiện nhận thức mà không đơn thuần chỉ là minh họa giản đơn

Tăng cường sử dụng phương pháp quy nạp trong quá trình đi đến các giả thiết

có tính khái quát

1.5 Thiết kế bài giảng theo tinh thần đổi mới

Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường trung học phổ thông, quá trình thiết kế bài học cũng thay đổi, bài giảng được thiết kế theo tinh thần đổi mới cần

có những thay đổi quan trọng sau:

Thay đổi cách xác định mục tiêu bài học theo hướng chỉ rõ mức độ học sinh phải đạt được sau khi học bài về: kiến thức, kỹ năng, tư duy, thái độ đủ để làm căn cứ đánh giá kết quả bài học Chú ý tới việc xây dựng cho học sinh phương pháp học tập

mà đặc biệt là phương pháp tự học, tự nghiên cứu

Thay đổi cách soạn giáo án, chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của thầy sang thiết kế các hoạt động của trò, tăng cường tổ chức các công tác độc lập hoặc làm việc theo nhóm nhỏ sao cho “Học sinh suy nghĩ nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, hợp tác với nhau nhiều hơn, trình bày ý kiến của mình (nói và viết ) nhiều hơn”

Trang 9

Nâng cao chất lượng các câu hỏi, giảm số lượng câu hỏi tái hiện kiến thức, tăng

tỉ lệ các câu hỏi yêu cầu tư duy, bám theo các hoạt động dự kiến nhằm làm cho học sinh tích cực, độc lập và sáng tạo trong học tập Chú trọng nhận xét sửa chữa các câu trả lời của học sinh

Các câu hỏi nên khó một chút so với trình độ hiện tại của học sinh, nhằm kích thích học sinh suy nghĩ, tìm tòi

Liên tục rèn luyện như vậy nhằm đạt tới mục đích là học sinh biết đặt ra và giải quyết các vấn đề liên quan đến những khía cạnh khác nhau của tri thức, biết bổ sung,

mở rộng và tìm thêm các hiểu biết mới

Trang 10

Chương 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG

Dạy học là một nghệ thuật, và người giáo viên đứng trên bục giảng cũng giống như một nghệ sĩ đang đứng trên sân khấu Họ phải tìm cách lôi cuốn, thu hút khán giả

để không bị nhàm chán và trở nên tẻ nhạt Người giáo viên cũng vậy, khi đứng trên bục giảng, phải tìm cách thu hút học sinh, giúp các em có hứng thú trong học tập, hăng say phát biểu ý kiến Để thực hiện tốt điều này, người giáo viên phải lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp, biết sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học, vì nếu trong một tiết dạy mà chỉ sử dụng một phương pháp dạy học như diễn giảng chẳng hạn thì

dễ gây nhàm chán đối với học sinh, còn nếu chỉ sử dụng đàm thoại gợi mở thì có thể không kịp thời gian, không đảm bảo được nội dung Đặc biệt quan tâm đến các phương pháp dạy học tích cực Tùy theo trình độ học sinh mà có tốc độ tiến hành dạy học phù hợp hay sử dụng các phương pháp dạy học có khác nhau đối với từng lớp học

cụ thể Sau đây là một số phương pháp dạy học thường được sử dụng :

2.1 Phương pháp diễn giảng

Phương pháp này được sử dụng dưới hình thức giảng giải và kể chuyện Hình thức diễn giảng thường được sử dụng khi trình bày những vấn đề mới, phức tạp hoặc vấn đề đòi hỏi học sinh lĩnh hội một cách trọn vẹn và có hệ thống Với phương pháp này trong thời gian ngắn giáo viên có thể trình bày được những tài liệu Toán học cơ bản theo yêu cầu của chương trình, chủ động được nhiều thời gian và kế hoạch toàn lớp; bên cạnh đó học sinh cũng học được cách diễn đạt ý tưởng thông qua cách trình bày của giáo viên Tuy nhiên, phương pháp này dễ làm cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, vì chỉ dùng lời nói nên đơn điệu, dễ gây mệt mỏi cho người học, không có điều kiện kiểm tra khả năng thu nhận kiến thức của học sinh trong giờ học

Do đó, khi dạy học không nên sử dụng nhiều phương pháp này, mà phải biết kết hợp, đan xen với các phương pháp dạy học khác ngay trong một tiết dạy, chẳng hạn như kết hợp dạy học nêu vấn đề hay đặt câu hỏi phát vấn học sinh

Trang 11

2.2 Phương pháp đàm thoại gợi mở

Trong tình hình hiện nay, với các lớp trình độ học sinh đa số trung bình và yếu, phương pháp gợi mở vấn đáp thường được sử dụng, phương pháp này chú ý đến vai trò chủ động của học sinh, có tác dụng phát huy tính tích cực của học sinh và các em cảm thấy vừa sức không quá tải Đồng thời, nó làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, nâng cao được hứng thú học tập, lòng tự tin của học sinh, rèn luyện cho các em năng lực tư duy, năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ Đây là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước để các em tự tìm ra những kiến thức giáo viên cần truyền đạt Giáo viên vấn đáp học sinh bằng những câu hỏi thích hợp để tiến hành gợi

mở Sự thành công của phương pháp này là xây dựng được hệ thống câu hỏi gợi mở thích hợp kích thích các đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu Tuy nhiên, nếu

sử dụng câu hỏi không khéo dễ trở thành cuộc vấn đáp tay đôi, sử dụng phương pháp này tốn nhiều thời gian,… Do đó, khi dạy học giáo viên cần sử dụng khéo léo phương pháp dạy học này, đồng thời cần kết hợp với các phương pháp dạy học khác để tiết học đạt hiệu quả hơn

Khi sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở, giáo viên cần lưu ý những điều sau:

Hệ thống câu hỏi vừa sức (đảm bảo cho ba đối tượng: Giỏi – khá, trung bình, yếu), câu hỏi không khó quá cũng không nên dễ quá

Tránh những câu hỏi mà học sinh chỉ trả lời đúng, sai hoặc có, không

Hệ thống câu hỏi nêu bật được kiến thức cần truyền đạt cho học sinh Câu hỏi đặt ra phải rõ ràng, chính xác

Giáo viên nêu câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ, rồi chỉ định một học sinh trả lời và yêu cầu cả lớp theo dõi câu trả lời của bạn, từ đó nhận xét, bổ sung câu trả lời, nhằm chủ động được thời gian của tiết học

2.3 Dạy học nêu vấn đề

Dạy học nêu vấn đề kế thừa và nâng lên các ưu thế của phương pháp dạy học gợi mở vấn đáp Tuy nhiên gợi mở trong dạy học nêu vấn đề được vận dụng rộng hơn, toàn diện hơn bằng nhiều hình thức phong phú hơn Hơn nữa, đặc điểm quan trọng nhất của dạy học nêu vấn đề là tạo ra tình huống có vấn đề, việc này có thể tiến hành bằng cách đặt câu hỏi hoặc bằng nhiều hình thức khác Vai trò của giáo viên là tạo ra

Trang 12

những tình huống có vấn đề, làm xuất hiện những mâu thuẫn, rồi dẫn dắt học sinh giải quyết mâu thuẫn một cách chủ động, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tạo điều kiện cho học sinh tìm tòi và sáng tạo Đây là con đường tích cực trong nhận thức và học tập, nó biến quá trình nhận thức những chân lý đã có sẵn thành quá trình tìm kiếm, phát hiện những cái mới Trong quá trình đó đòi hỏi học sinh phải tư duy tích cực sáng tạo, học sinh được đặt vào vị trí của “Người phát minh” chứ không phải người tiếp thu thụ động những tri thức có sẵn Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải nghe thầy giảng một cách thụ động Khi cần thiết hướng dẫn sự suy nghĩ của các em để tránh cho các em sự tìm tòi không có ý nghĩa, không có kết quả, phí phạm thời gian một cách vô ích Dạy học nêu vấn đề có thể vận dụng trong cả ba giai đoạn của quá trình dạy học: hình thành kiến thức mới; củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học; vận dụng kiến thức đã học Phương pháp này không chỉ làm cho học sinh lĩnh hội tri thức qua quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà nó còn làm cho họ phát triển khả năng tiến hành những quá trình như vậy Nói cách khác học sinh được học bản thân việc học

Những điều cần lưu ý khi tiến hành giảng dạy theo phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Vấn đề đặt ra phải vừa sức học sinh, không đưa ra những vấn đề xa lạ tách rời bài học, vấn đề đặt ra phải tạo tính hứng thú cho học sinh Sau khi đặt vấn đề, giáo viên cần đưa ra những gợi ý, những hướng dẫn giúp học sinh giải quyết được vấn đề đặt ra Có thể đặt ra những câu hỏi giúp học sinh phát hiện vấn đề

Những yêu cầu, những câu hỏi đặt ra trong tiết học phải phù hợp, không quá dễ hoặc quá khó làm cho học sinh không thể giải quyết được, gây chán nản Cần phải chú

ý đến khả năng tiếp thu bài của từng nhóm học sinh, từng lớp để đặt ra những yêu cầu, hay hướng giải quyết vấn đề thích hợp

Giáo viên nên tìm thêm những tư liệu mới, lạ có liên quan để đưa vào bài giảng, chú ý những ứng dụng thực tế

2.4 Phương pháp dạy học khám phá

Học tập là quá trình lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được Trong học tập học sinh cũng phải được khám phá ra những hiểu biết mới đối với bản thân mình Những kiến thức do học sinh tự khám phá ra, các em sẽ thông hiểu, ghi nhớ

Trang 13

lâu hơn, vận dụng linh hoạt những gì nắm được qua hoạt động chủ động, tự lực khám phá của chính mình Tới một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực, sự khám phá sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng tạo ra những tri thức mới cho khoa học

Khác với nghiên cứu khoa học và khám phá trong nghiên cứu khoa học, khám phá trong học tập không phải là một quá trình tự phát mà là một quá trình có hướng dẫn của giáo viên, trong đó giáo viên khéo léo đặt học sinh vào địa vị người phát hiện lại, người khám phá lại những tri thức nhân loại Giáo viên không cung cấp những kiến thức bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải mà bằng cách tổ chức các hoạt động để học sinh tự lực khám phá tri thức mới Phương pháp dạy học khám phá nếu được sử dụng hợp lý sẽ đạt được những thuận lợi sau:

Phương pháp dạy học này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển tư duy của học sinh Vì trong quá trình khám phá đòi hỏi học sinh phải đánh giá, phải có sự suy xét, phân tích, tổng hợp, học sinh hoạt động trí óc thường xuyên do đó giúp phát triển trí óc được tốt hơn

Phương pháp này phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài, vì khi đạt được một kết quả nào đó trong quá trình học tập, học sinh sẽ cảm thấy thoả mãn với những gì mình đã làm và sẽ có ham muốn hướng tới những công việc khó hơn, đó chính là động lực bên trong

Học sinh học được cách khám phá, vì theo Bruner cách duy nhất mà người học học được các kỹ thuật khám phá đó là họ phải có cơ hội để khám phá Thông qua khám phá học sinh dần dần học được cách tổ chức và thực hiện các nghiên cứu của mình

Phương pháp này có tác dụng phát triển trí nhớ của người học, bởi trong quá trình khám phá người học phải tự tìm hiểu, tức là phải tự huy động kinh nghiệm bản thân và vốn kiến thức đã có để nắm bắt vấn đề đang học Kết quả là các em sẽ hiểu được vấn đề, hiểu được mối liên quan giữa vấn đề mới và kiến thức có trước Do đó,

sẽ nhớ bài lâu hơn, thậm chí có thể tái hiện lại kiến thức khi có những thông tin liên

quan

Ngoài các ưu điểm trên, phương pháp này còn thể hiện các điểm mạnh sau:

Trang 14

Là phương pháp hướng vào các hoạt động của người học; học sinh được khuyến khích coi việc học là công việc của bản thân hơn là công việc của giáo viên, nhờ đó nhu cầu học hỏi của học sinh được tăng lên

Là phương pháp dạy học hỗ trợ việc phát triển năng lực nhận thức riêng cũng như tài năng của học sinh

Phương pháp này cho phép học sinh có thời gian tiếp thu, cập nhật thông tin và đánh giá được năng lực thực sự của bản thân trong quá trình học tập và nghiên cứu

Thông qua việc học bằng phương pháp này, các vấn đề nhỏ vừa sức học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá trình học tập, là phương thức để học sinh tiếp cận với kiểu dạy học hình thành giả thiết của các vấn đề có nội dung khái quát hóa rộng lớn

Việc đối thoại giữa thầy và trò, trò và trò đã tạo bầu không khí học tập sôi nổi tích cực và hình thành mối quan hệ giao tiếp trong xã hội

Giải quyết thành công các vấn đề học tập là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp lòng ham mê học tập của học sinh Đó là động lực của quá trình dạy học, phát huy được nội lực của học sinh tư duy tích cực độc lập sáng tạo trong quá trình dạy học

Tuy có nhiều ưu điểm nhưng phương pháp này cũng có những hạn chế sau:

Sử dụng phương pháp này tốn nhiều thời gian do đó không phải mọi chủ đề đều

có thể áp dụng được

Phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và năng lực của giáo viên và học sinh Vì vậy nếu giáo viên không nắm vững năng lực của học sinh và thiếu công phu trong khâu chuẩn bị thì việc dạy học khám phá sẽ kém hiệu quả

Tóm lại, có nhiều phương pháp dạy học, phương pháp nào cũng có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, không có phương pháp nào là hoàn hảo tuyệt đối cũng như không có phương pháp nào là hoàn toàn dở Vấn đề là phải biết kết hợp các phương pháp, lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng nội dung cụ thể, phù hợp với năng lực và đặc điểm của học sinh để đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 15

Chương 3: SỬ DỤNG PHẦN MỀM TIN HỌC VÀO GIẢNG DẠY

3.1 Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như công cụ dạy học

Sự ra đời của máy tính điện tử đã mở ra kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên con người sáng tạo ra những công cụ tự động thay thế cho những hoạt động trí óc của bản thân mình Đó là một bước ngoặc trong lịch sử phát triển của xã hội loài người

Máy tính điện tử là công cụ của ngành khoa học mới: Tin học, mà đối tượng của nó là những thông tin và những quá trình xử lý thông tin tự động

Ngày nay, sự phát triển có tính chất bùng nổ của tin học làm cho việc đưa giáo dục tin học vào nhà trường phổ thông trở thành trào lưu mạnh mẽ trên một quy mô quốc tế mà trong đó người ta phân biệt hai hướng:

- Một mặt người ta giảng dạy một số yếu tố cơ bản của tin học như nội dung của giáo dục phổ thông

- Mặt khác, với tư cách là một tiến bộ khoa học kĩ thuật mũi nhọn của thời đại, máy tính điện tử cũng có thể được sử dụng trong quá trình dạy học để cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Chiếc máy vi tính đầu tiên ra đời vào khoảng giữa thập niên 40 của thế kỷ XX Đến giữa thập niên 80 của thế kỷ XX thì đã bắt đầu trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam và cho đến nay – những năm đầu của thế kỷ XXI – máy tính điện tử nhanh chóng thâm nhập vào hầu hết mọi lĩnh vực của sản xuất, kinh tế và đời sống xã hội, tạo nên sự bùng nổ tin học trong xã hội loài người

Chức năng của máy tính điện tử rất đa dạng: Quản lý, học tập, dạy học, thiết kế, giải trí,…, các chương trình ứng dụng trên máy vi tính liên tục đổi mới, vì thế máy vi tính càng ngày càng được nâng cấp chức năng sử dụng Máy tính điện tử được đưa vào nhà trường như một công cụ dạy học bởi vì nó tỏa ra có hiệu lực mạnh góp phần đổi

Trang 16

mới phương pháp dạy học Chính vì những ưu điểm trên, ngày nay máy tính đã được

sử dụng khá phổ biến ở các trường học

Nếu có môi trường thích hợp và sử dụng tốt máy tính thì việc dạy và học sẽ đạt hiệu quả cao Nó yêu cầu học sinh luôn vận động, học sinh có nhiều nguồn cung cấp thông tin hỗ trợ cho bài học, học sinh không còn phụ thuộc nghe – nhìn mà trực tiếp tham gia vào quá trình tìm hiểu bài học

Thế nhưng không phải trường học nào cũng có khả năng trang bị phòng máy tính hoặc phòng học chuyên môn có máy tính và thiết bị kỹ thuật hỗ trợ Hiên nay, cơ

sở vật chất còn thiếu chưa trang bị được cho tất cả các trường, do đó chưa thể sử dụng máy tính điện tử một cách tràn lan trong nhà trường Nhưng nếu đã có thể trang bị máy

vi tính để dạy tin học cho học sinh thì cũng có thể thí điểm sử dụng những máy đó làm công cụ dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, cần tránh sự lạm dụng máy tính điện tử Trường hợp dạy học sử dụng máy tính điện tử không hơn gì chiếc bảng đen hoặc trang sách giáo khoa thì không dùng máy tính điện tử

3.2 Công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học

3.2.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo quan niệm công nghệ thông tin và

truyền thông

Thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc sử dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục - đào tạo, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học

3.2.1.1 Dạy và học theo quan điểm công nghệ thông tin

Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả

Thông tin được hiểu càng có giá trị nếu có gây ra được sự bất ngờ càng lớn Trong khoa học người ta đã lượng hóa thông tin theo quan điểm này Người học như một máy thu có nhiều cửa vào, phải biết tiếp nhận thông tin qua nhiều cửa, phải biết tách thông tin hữu ích ra khỏi nhiễu, phải biết biến đổi, lưu trữ, ghi nhớ thông tin trong nhiều bộ nhớ khác nhau, mỗi cửa vào này tiếp nhận một loại thông tin được mã hóa riêng biệt Ta cần tận dụng tất cả các phương tiện để đưa thông tin vào các cửa này,

Trang 17

cần sử dụng các trang thiết bị hiện đại nhằm chuyển đổi, mã hóa, chế biến thông tin để việc truyền tin đạt hiệu quả nhất

Nếu nội dung bài học chỉ được truyền tới người học dưới dạng văn bản thì người học có thể sẽ kém hứng thú Nếu chỉ truyền tin theo một chiều, không có sự hỏi đáp thì thông tin thu được của người học có thể phiến diện, không đầy đủ hoặc bị biến dạng, có khi dẫn đến hiểu sai nội dung

Theo quan điểm công nghệ thông tin, để đổi mới phương pháp dạy học, người

ta tìm những “Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”

Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương tiện dạy học sau đây:

- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu overhead

- Phần mềm hỗ trợ giảng dạy, minh họa trên lớp với projector

- Phần mềm dạy học giúp học sinh học trên lớp và ở nhà

- Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính

3.2.1.2 Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện, thiết bị dạy học

Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện, thiết bị dạy học cần đảm bảo các yêu cầu:

- Sử dụng công nghệ thông tin như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ

hệ thống các phương pháp dạy học nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống

đó Mỗi phương pháp dạy học đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu, ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp

- Phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng công nghệ thông tin như thiết bị dạy học Không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng công nghệ thông tin Ta chủ trương sử dụng công nghệ thông tin như thiết bị dạy học của người thầy giáo, công cụ này dù hiệu lực đến mấy cũng không được thủ tiêu vai trò người thầy

Ta vẫn cần tìm cách phát huy tác dụng của giáo viên nhưng theo những hướng không hoàn toàn giống như dạy học thông thường Giáo viên cần lập kế hoạch cho những hoạt động của mình trước, trong và sau khi học sinh học tập trên máy tính

- Sử dụng công nghệ thông tin như thiết bị dạy học, không phải chỉ nhằm thí điểm dạy học với công nghệ thông tin mà còn góp phần dạy học về công nghệ thông

Trang 18

tin Hiệu quả của việc sử dụng máy vi tính ngay trong quá trình dạy học có tác dụng gây động cơ học tập những nội dung tin học Vả lại chính bản thân những ứng dụng của tin học và công cụ của tin học cũng là một trong những nội dung tin học cần truyền thụ Để phát huy tác dụng tích cực của việc sử dụng công nghệ thông tin như là một ứng dụng tin học ở những lúc thích hợp, giáo viên có thể bình luận về hiệu quả của máy vi tính, về vai trò của con người thể hiện trong việc lập trình

- Sử dụng công nghệ thông tin như một thiết bị dạy học không phải chỉ để thực hiện dạy học với trang thiết bị của công nghệ thông tin mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học ngay cả trong điều kiện không có máy Cách làm này vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta hiện nay, vừa đón trước được xu thế phát triển của khoa học thế giới Kết quả mong đợi không phải chỉ ở một số chương trình dạy học bằng máy tính mà còn ở sự phát triển của khoa học giáo dục nói chung và điều

đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc cải tiến phương pháp dạy học kể cả trong điều kiện không có máy

3.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin ở trường trung học

Hiện tại nhiều trường trung học đã được trang bị máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn, các phương tiện truyền thông khác, khá nhiều trường đã được kết nối Internet Giáo viên đã được tập huấn về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Học sinh thường xuyên tiếp xúc với công nghệ thông tin Để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trường trung học, cần thực hiện một số nội dung sau:

- Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí giáo dục và dạy học

- Sử dụng các nguồn kinh phí để đầu tư trang thiết bị về công nghệ thông tin cho các trường trung học

- Bồi dưỡng giáo viên các bộ môn về công nghệ thông tin để họ có thể tổ chức tốt ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

- Tổ chức trình diễn các tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin trong trường trung học nhằm mục đích tuyên truyền, động viên các cá nhân, đơn vị tổ chức tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin

- Xây dựng một số dịch vụ giáo dục và đào tạo ứng dụng trên mạng Internet

Trang 19

- Tuyển chọn, xây dựng và hướng dẫn sử dụng các phần mềm quản lí giáo dục

và dạy học

- Nâng cao hiệu quả của việc kết nối Internet

- Nghiên cứu để đưa các phần mềm dạy học tốt vào danh mục thiết bị dạy học tối thiểu

- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin giữa các trường trung học trong nước và quốc tế

3.3 Sử dụng phần mềm Powerpoint trong dạy học Toán

Hiện nay phần mềm Powerpoint được dùng khá phổ biến trong các cuộc báo cáo chuyên đề, trong các buổi hội họp, các hội thảo chuyên môn, các lớp huấn luyện của các đơn vị kinh tế,… Điều này cho thấy tính ưu việt của máy tính với phần mềm Powerpoint cho một bài báo cáo hoặc bài giảng Tuy nhiên tính ưu việt đó phụ thuộc nhiều vào người báo cáo và đặc biệt là phụ thuộc vào việc chuẩn bị các trang trình chiếu Đối với nghề dạy học, tiêu chí của bài học không giống bài thuyết trình hay báo cáo Hơn nữa đối tượng của nghề dạy học không giống như đối tượng của các hội nghị, hội thảo Cho nên việc chuẩn bị một bài giảng bằng Powerpoint không chỉ đảm bảo tính sư phạm, tính sư phạm ở đây là sự phù hợp tâm sinh lý của học sinh và phải đảm bảo các nguyên tắc và phương pháp dạy học Vì vậy muốn sử dụng Powerpoint

để dạy học có hiệu quả thì giáo viên không những phải có kiến thức tối thiểu về phần mềm Powerpoint mà cần phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và các phương pháp dạy học tích cực, kế đó là sự linh hoạt sáng tạo trong thiết kế các trang trình chiếu sao cho hấp dẫn học sinh một cách có ý nghĩa Do đó trong việc soạn Powerpoint ta cần chú ý một số vấn đề sau đây:

Dành một trang để nêu tên bài học

Sử dụng cỡ chữ, kiểu chữ, màu chữ thống nhất theo từng loại đề mục của bài học Cỡ chữ ghi nội dung cụ thể nhỏ hơn các đề mục Sự thống nhất này nên giữ từ đầu đến cuối bài giảng, cho dù nội dung chuyển sang trang mới

Mỗi trang cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc quay về các trang trước (sử dụng hyperlink) để nội dung bài giảng được liên tục

Các trang trình chiếu phải đầy đủ nội dung của bài học

Trang 20

Nội dung được trình chiếu phải được chọn lọc, không nên đưa quá nhiều thông tin vì như vậy sẽ làm học sinh “Bị nhiễu”, mất tập trung vào nội dung chính

Cố gắng sắp xếp nội dung của một hoặc một số mục trong cùng một trang trình chiếu Tuy nhiên trong một trang trình chiếu không nên có quá nhiều chữ và cần tránh các sai sót về lỗi chính tả

Cần trình bày các trang trình chiếu sao cho học sinh dễ theo dõi, đồng thời các trang trình chiếu phải mang tính thẩm mĩ để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh

Cỡ chữ không nên quá nhỏ hoặc quá lớn, thông thường cỡ chữ 24 hoặc 28 là vừa

Chú ý sử dụng màu sắc để làm nổi bật những nội dung quan trọng, tuy nhiên trong một trang trình chiếu không nên sử dụng quá nhiều màu sắc, sử dụng nhiều nhất

là 5 màu trong một bài giảng

Sử dụng các hiệu ứng để các trang trình chiếu thêm sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh Tuy nhiên, chỉ sử dụng các hiệu ứng ở mức độ vừa phải, phù hợp, không nên quá lạm dụng các hiệu ứng

3.4 Vai trò của người thầy

Có rất nhiều ý kiến cho rằng nghề giáo viên thật nhàn hạ vì việc soạn giáo án và việc giảng dạy không quá khó khăn nhiều khi suốt cuộc đời giảng dạy vẫn sử dụng cách ghi chép bài giảng giống nhau năm này sang năm khác, học sinh thì khác nhau nhưng giáo viên thì vẫn thế và nội dung bài giảng cũng vẫn giống hệt, chỉ có một số rất ít cái mới được đưa vào ở chỗ này hay chỗ khác Có thể là có một số giáo viên ít chịu khó trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy để hấp dẫn học sinh trong quá trình học, thế nhưng đó không phải là tất cả và giáo viên cũng không phải là một nghề nhàn hạ như một số người vẫn nghĩ vì ngoài việc đảm bảo lượng kiến thức đến học sinh, giáo viên còn phải luôn có sự thay đổi phương pháp giảng dạy sao cho học sinh không nhàm chán mà phải thu hút được sự chú ý và phát huy được khả năng tích cực tham gia vào quá trình học tập của học sinh Và tất nhiên trong thời đại ngày nay,

để đạt được những mục tiêu của công cuộc đổi mới giáo dục, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo hơn nữa thì trách nhiệm của người giáo viên càng cao quý và nặng

nề hơn Những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội tạo sự chuyển dịch định hướng các giá trị, đặt cho người giáo viên những yêu cầu mới Giáo viên không chỉ

Trang 21

đóng vai trò truyền đạt tri thức khoa học mà là người gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, tranh luận của học sinh, đồng thời giáo viên còn phải phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi giúp người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó Giáo dục phải quan tâm đến sự phát triển ở người học ý thức về các giá trị đạo đức, tinh thần, thẩm mĩ, phát triển những giá trị truyền thống, vừa sáng tạo những giá trị mới thích nghi với thời đại Về mặt này, không gì có thể thay thế vai trò của người giáo viên

Trong luận văn này em muốn đề cập đến một khía cạnh là nếu việc dạy học có thể được cải thiện với sự hỗ trợ của máy tính điện tử thì vai trò của người thầy sẽ không còn bị hạn chế giống như một “Thợ thủ công dạy học” Giáo viên có thể giúp

đỡ học sinh giải quyết những vấn đề cụ thể, giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá tri thức mới, đó là những cái mà chức năng của người giáo viên có thể được nhìn thấy rõ nhất Nếu giáo dục ở trường được tiến hành theo hướng này thì giáo viên cần phải thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với thời đại mới – thời đại tin học Vì vậy, người giáo viên cần phải trang bị cho mình kiến thức về phần mềm tin học, để vận dụng vào công việc truyền đạt tri thức cho học sinh, giúp học sinh tiếp thu tri thức một cách chủ động, sáng tạo, dưới sự hướng dẫn của giáo viên Do đó, vai trò của người thầy sẽ thay đổi từ “Người chịu trách nhiệm” thành “Người hướng dẫn và

cố vấn”

Tuy vậy, không có nghĩa là chúng ta giảm nhẹ hay đặt nặng trách nhiệm cho người thầy, mà chúng ta nên thấy rằng không thể hy vọng đào tạo ra những thế hệ trẻ phát triển toàn diện, thông minh, sáng tạo,… như mong ước, khi mà người dạy không

có ý chí nâng cao trình độ, không tự hoàn thiện mình

Trang 22

Chương 4: GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ PHỤC VỤ GIẢNG DẠY 4.1 Tìm hiểu chung về giáo án điện tử

Trong thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa hiện nay đã bắt đầu phát triển các hình thái lớp học “Sau bảng đen”, là hình thái phát triển thứ ba của mô hình lớp học Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các cuộc cách mạng đổi mới phương pháp dạy học đã và đang xảy ra trên qui mô toàn thế giới Máy vi tính đóng vai trò là công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy và học, hình thức sử dụng máy tính vào dạy học rất đa dạng và phong phú Bài giảng điện tử có thể được viết dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tùy theo trình độ công nghệ thông tin của người viết hoặc dựa vào các phần mềm trình diễn có sẵn như Frontpage, Publisher, Powerpoint, Violet Trong đó thiết kế bài giảng điện tử trên Microsoft powerpoint là đơn giản nhất

Và điều quan trọng là với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, giáo viên có thể đổi mới phương pháp, công nghệ dạy học với mục đích cuối cùng là làm cho học sinh chủ động hơn, nắm kiến thức nhanh hơn, tốt hơn Tuy nhiên, một số người cho rằng nếu soạn giáo án điện tử thì sẽ xuất hiện sao chép, chỉ có một số ít giáo viên làm thực

sự, còn đa số sẽ sao chép, làm giảm chất lượng giáo án và giảm chất lượng dạy và học

vì không có sự sáng tạo và chuẩn bị chu đáo Bên cạnh đó, một số khác rất đồng tình với việc soạn bài giảng bằng giáo án điện tử, vì những mặt thuận lợi của nó, sử dụng phương tiện dạy học này, giáo viên sẽ chủ động được thời gian trên lớp, đồng thời cũng kết hợp với các phương pháp dạy học khác làm cho tiết học trở nên sinh động, lôi cuốn được sự chú ý, tìm tòi muốn khám phá của học sinh

4.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử

4.2.1 Xác định mục tiêu bài học

Trong dạy học hướng tập trung vào học sinh, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài học sinh đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục

Trang 23

tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà học sinh có được sau bài học Đọc kĩ sách giáo khoa, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái độ Đó chính là mục tiêu của bài

4.2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm

Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp một cách logic, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao Bởi vậy cần bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn Đây là điều bắt buộc tất yếu vì sách giáo khoa

là tài liệu giảng dạy và học tập chủ yếu; chương trình là pháp lệnh cần phải tuân theo Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học trong toàn quốc Mặt khác, các kiến thức trong sách giáo khoa đã được qui định để dạy cho học sinh Do đó, chọn kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong

đó chứ không phải là ở tài liệu nào khác

thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần giảng dạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản

cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài, từ

đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được dễ dàng Cũng cần chú ý việc cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơ bản của bài mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xây dựng

4.2.3 Multimedia hoá kiến thức

bản của bài giảng điện tử để phân biệt với các loại bài giảng truyền thống, hoặc các loại bài giảng có sự hỗ trợ một phần của máy vi tính Việc multimedia hoá kiến thức được thực hiện qua các bước:

- Dữ liệu hoá thông tin kiến thức

tĩnh, phim, âm thanh

Trang 24

- Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ Internet, hoặc được xây dựng mới bằng đồ hoạ, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ hoạ chuyên dụng như Macromedia Flash

- Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết

- Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi

sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm

4.2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu

sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa này sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác

4.2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể

Sau khi đã có các thư viện tư liệu, giáo viên cần lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phầm mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các slide trong Powerpoint hoặc các trang trong Frontpage Sau đó xây dựng nội dung cho các trang (hoặc các slide) Tuỳ theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang/slide có thể là văn bản, đồ hoạ, tranh ảnh, âm thanh, video clip

Văn bản cần trình bày ngắn gọn cô đọng, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý cơ bản Nên dùng một loại font chữ phổ biến, đơn giản, màu chữ được dùng thống nhất tuỳ theo mục đích sử dụng khác nhau của văn bản như câu hỏi gợi mở, dẫn dắt, hoặc giảng giải, giải thích, ghi nhớ, câu trả lời, Khi trình bày nên sử dụng sơ đồ khối để học sinh thấy ngay được cấu trúc logic của những nội dung cần trình bày

Đối với mỗi bài dạy nên dùng khung, màu nền (backround) thống nhất cho các trang/slide, hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phản nhau Không nên lạm dụng các hiệu ứng trình diễn theo kiểu "Bay nhảy" thu hút sự tò mò không cần

Trang 25

thiết của học sinh, phân tán chú ý trong học tập, mà cần chú ý làm nổi bật các nội dung trọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tiềm ẩn bên trong các đối tượng trình diễn thông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển tư duy của học sinh Cái quan trọng là đối tượng trình diễn không chỉ để thầy tương tác với máy tính mà chính là hỗ trợ một cách hiệu quả sự tương tác thầy - trò, trò - trò

Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, logic lên các đối tượng trong bài giảng Đây chính là ưu điểm nổi bật có được trong bài giảng điện tử nên cần khai thác tối đa khả năng liên kết Nhờ sự liên kết này mà bài giảng được tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu

4.2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai sót, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện bởi vì ta sẽ không thể chắc chắn rằng trong quá trình giảng dạy không gặp sai sót, đặc biệt là mảng kiến thức sắp xếp như thế đã phù hợp chưa, thời gian phân phối có hợp lý không,… Chính vì thế trước khi dạy chính thức việc dạy thử để ghi nhận phản hồi sau đó sửa chữa và hoàn thiện bài giảng là rất cần thiết

4.3 Các yêu cầu đối với một bài giảng điện tử

4.3.1 Yêu cầu về phần nội dung

Cần trình bày nội dung với lý thuyết cô đọng được minh họa sinh động và có tính tương tác cao rõ nét mà phương pháp giảng bằng lời khó diễn tả Để thực hiện yêu cầu này, người thầy phải hiểu rất rõ vấn đề cần trình bày, phải thể hiện các phương pháp sư phạm truyền thống và đồng thời phải có kỹ năng về Tin học để thực hiện các minh họa, mô phỏng hoặc tận dụng chọn lọc từ tư liệu điện tử có sẵn

4.3.2 Yêu cầu về phần câu hỏi – giải đáp

Bài giảng điện tử cần thể hiện một số câu hỏi, với mục đích:

- Giới thiệu một chủ đề mới

bày không ?

- Liên kết một chủ đề đã dạy trước với chủ đề hiện tại hay kế tiếp

Câu hỏi cần được thiết kế sử dụng tính đa phương tiện để kích thích người học vận động trí não để tìm câu trả lời Phần giải đáp cũng được thiết kế sẵn trong bài giảng điện tử nhằm mục đích :

Trang 26

Với câu trả lời đúng: Thể hiện sự tán thưởng nồng nhiệt cổ vũ và kích thích lòng tự hào của người học

Với câu trả lời sai:

- Thông báo lỗi và gợi ý tìm chỗ sai bằng cách nhắc nhở và cho quay lại phần

đề mục bài học cần thiết theo quy trình sư phạm để người học chủ động tìm tòi câu trả lời

- Đưa ra một gợi ý, hoặc chỉ ra điểm sai của câu trả lời, nhắc nhở chọn đề mục

đã học để người học có cơ hội tìm ra câu trả lời

4.3.3 Yêu cầu về phần thể hiện khi thiết kế

Các nội dung chuẩn bị của hai phần trên khi thể hiện trình bày, cần đảm bảo các yêu cầu:

- Đầy đủ : Có đủ yêu cầu nội dung bài học

- Chính xác: Đảm bảo không có thông tin sai sót

- Trực quan: Hình vẽ, âm thanh, bảng biểu trực quan, sinh động hấp dẫn người

học

4.4 Một số lưu ý trong quá trình soạn và giảng bằng giáo án điện tử

Các kiến thức cơ bản của bài khi đưa vào Powerpoint phải được chọn và trình bày ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu Có thể sử dụng sơ đồ, bảng biểu, các mũi tên chỉ mối liên hệ, các ô chữ nhỏ để trình bày kiến thức một cách trực quan, tránh viết dài dòng

Các ô trình diễn tiếp nối ở Powerpoint phải thể hiện logic cấu trúc bài dạy, bao gồm cả slide chữ lẫn slide hình, cả câu hỏi và nhiệm vụ giao cho học sinh lẫn các đoạn kết luận, giải thích ngắn Cần thiết kế bài dạy học theo một cấu trúc nội dung hợp lí xen các câu hỏi/nhiệm vụ một cách thích hợp để tạo điều kiện hướng dẫn học sinh làm việc một cách tích cực với bản đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, hình vẽ, tránh việc trình chiếu “Một chiều” các kiến thức tường minh một cách liên tục Cũng không nhất thiết đưa cả câu hỏi trình chiếu cho học sinh Có thể chỉ trình chiếu các ô chữ, hình ảnh thể hiện nội dung bài học, còn sử dụng như thế nào thì giáo viên chủ động đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ trong tiến trình dạy học

Các hình ảnh (bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, ) và các kiến thức khác kết nối với bài học chủ yếu có tác dụng bổ sung, mở rộng, đi sâu hoặc minh họa các kiến thức cơ

Trang 27

bản của bài Giáo viên lưu ý phạm vi mở rộng, đi sâu đến đâu để tránh làm loãng trọng tâm bài dạy và phân tán sự tập trung chú ý của học sinh vào slide chính của bài học Không vì đề cao tính sinh động, hấp dẫn của các tư liệu thực tế mà sa vào việc mở rộng quá mức làm ảnh hưởng đến việc nắm kiến thức cơ bản của học sinh Việc chọn lựa các hình ảnh, kiến thức kết nối cũng nên lưu ý tính tiêu biểu, đại diện để tạo nên các biểu tượng chân thực, sát hợp với nội dung bài học

Không nên lạm dụng quá nhiều hình ảnh để minh họa từng chi tiết khái niệm, học sinh sẽ lạm dụng trực quan, đánh mất các thao tác tư duy tự tìm hiểu

Bài giảng cần được soạn thảo đẹp, rõ ràng, nhưng không nên sử dụng quá nhiều kỹ xảo trình diễn dẫn đến người học ít chú ý đến nội dung bài học

Cần để thời gian cho học sinh kịp hiểu các nội dung trình bày

Nên kết hợp cả phương pháp dạy bằng bài giảng điện tử lẫn phương pháp dạy truyền thống, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa,… Các môn này đòi hỏi sự thiết lập, biến đổi và tính toán các công thức Chỉ nhìn công thức và kết quả tính toán thì học sinh không thể phát triển tư duy và không tiếp thu được

Không nên xem bài giảng điện tử là phương tiện có thể thay thế hoàn toàn các phương tiện giảng dạy khác Nếu quá lạm dụng bài giảng điện tử thì ngay đến người thầy, thay vì trước đây toàn bộ tri thức, kỹ năng lưu giữ trong đầu thì nay phó mặc cho bài giảng điện tử, khi máy tính trục trặc, điện cúp thậm chí có thể không ghi đúng trình

tự đề mục của tiết giảng, không thiết lập được công thức để có thể tiếp tục dạy

4.5 Ưu, nhược điểm của viêc giảng dạy với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Nếu ai quan tâm đến ngành giáo dục nước nhà hẳn rất phấn khởi với những chủ trương đổi mới của Bộ giáo duc và đào tạo trong những năm trở lại đây Từ việc đổi mới nội dung chương trình và sách giáo khoa đến những quy định về việc mua sắm thiết bị dạy học cho từng khối lớp, cấp bậc đều nhằm mục đích hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, phù hợp việc hội nhập với nền giáo dục của các nước trong khu vực và quốc tế Công tác cải cách giáo dục ở nước ta đã phần nào chứng tỏ đó là bước

đi đúng đắn và hiệu quả Một trong những bước tiến đáng kể trong công tác cải cách giáo dục là chủ trương đẩy lùi lối truyền đạt thụ động “Thầy đọc trò chép”

Phương pháp đào tạo ở nước ta lâu nay vẫn bị coi là thụ động Giáo viên thường soạn bài ra các trang giáo án và giảng bài với phấn trắng, bảng đen, còn học sinh vừa phải chăm chú lắng nghe lại vừa phải cặm cụi ghi chép Đó là những hình ảnh

Trang 28

đã ăn sâu vào nền giáo dục Việt Nam Điều này khiến giáo viên khá vất vả khi trình bày, nghiêm trọng hơn là không ít giáo viên có thể bị mắc các bệnh về phổi do tác động của bụi phấn Học sinh cũng gặp phải những vấn đề tương tự: nếu quá chăm chú lắng nghe thì sẽ không chép kịp và ngược lại nếu chỉ để ý ghi chép thì không hiểu thấu đáo nội dung bài học Ngoài ra, nếu giáo viên không biết cách làm cho bài giảng trở nên sinh động thì hiện tượng học sinh ngủ gật, thiếu tập trung trong lớp học là rất phổ biến Thói quen thụ động trong giảng dạy và học tập đã trở thành một căn bệnh khó chữa, hay nói đúng hơn, ít ai chịu bỏ công sức ra để sửa chữa Điều đó làm cho chất lượng của giờ học không được như mong muốn

Lý giải về vấn đề trên, các chuyên gia của Hiệp hội nghe nhìn quốc tế cho biết: nguyên nhân chủ yếu là do cả giáo viên và học sinh đều không tận dụng được tối đa hiệu quả của hai chức năng thị giác và thính giác Họ đã tiến hành nghiên cứu tại nhiều lớp học và cho biết, khi nghe, học sinh chỉ tiếp nhận và lưu giữ được 10-30% nội dung thông tin, từ 20-40% khi nhìn, nhưng sẽ đạt tới 60- 80% nếu kết hợp cả hai chức năng trên Ngoài ra, nếu các em vừa nghe, vừa nhìn lại vừa thảo luận, trao đổi với giáo viên thì hiệu quả lưu giữ thông tin còn cao hơn rất nhiều

Vậy, làm thế nào để giúp cho học sinh có thể hiểu và tiếp thu bài giảng một cách hiệu quả nhất? Có lẽ, giải pháp tốt nhất hiện nay và cũng cho những năm sắp tới

là việc đưa các thiết bị trình chiếu hiện đại vào trường học Các nước tiên tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Oxtrâylia, Singapore, Nhật Bản, đã nhận thức rất sớm vấn

đề trên và họ đã nhanh chóng đưa các thiết bị hiện đại, trong đó tất nhiên không thể thiếu máy chiếu, hỗ trợ cho việc giảng dạy Thực tế đã chứng minh chất lượng đào tạo tại các nước này dường như ở một đẳng cấp cao hơn hẳn so với thế giới và quan trọng hơn là học sinh ở đó có tính chủ động rất cao

Từ cơ sở khoa học trên, chúng ta nhận thấy việc thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống bằng phương pháp mới là hết sức cần thiết Ngày nay do tốc độ phát triển như vũ bão của các ngành khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghệ thông tin làm cho số lượng tri thức nhân loại tăng lên một cách “Chóng mặt” thì phương pháp dạy học truyền thống (phấn trắng, bảng đen) không thể đáp ứng được Do vậy việc nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy bằng việc sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin đang là một nhu cầu cấp bách trên phạm vi toàn thế giới Cả thế giới thay đổi bởi sức mạnh của công nghệ thông tin, giáo dục cũng không thể giậm

Trang 29

chân tại chỗ Ứng dụng công nghệ thông tin được kỳ vọng là lựa chọn khả thi giúp

“Năng động hóa” cả ngành giáo dục Việt Nam Với trang thiết bị hiện đại, nhiều trường học đã có thể đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật phục vụ cho công việc giảng dạy có

sử dụng máy tính Ở Việt Nam những năm gần đây, chúng ta cũng nhận thức được vai trò của hệ thống trình chiếu với công tác giảng dạy Tuy nhiên, hầu như chỉ các trường Đại học mới có khả năng trang bị những hệ thống này Năm học 2006- 2007, Bộ giáo dục và đào tạo đã có chủ trương yêu cầu bắt buộc các Sở giáo dục đào tạo phải trang bị máy chiếu (sử dụng overhead) cho khối lớp 10 và khuyến khích các Sở có điều kiện mua thêm máy chiếu đa năng (sử dụng projector) Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn giúp thay đổi cách giảng dạy truyền thống bằng phương pháp hoàn toàn mới mẻ

và hiệu quả Ở Việt Nam, phần mềm phổ biến nhất được sử dụng để soạn thảo bài giảng trên máy tính hiện nay là Microsoft powerpoint Đây là phần mềm chuyên dụng dùng để thiết kế các tài liệu trình chiếu

4.5.1 Ưu điểm của việc giảng dạy với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Với sự hỗ trợ của các thiết bị trình chiếu, giáo viên dễ dàng làm cho bài giảng trở nên sinh động, thú vị hơn bằng hình ảnh, màu sắc, như ý muốn Học sinh có thể tiếp thu bài học một cách hết sức trực quan Chẳng hạn như, các em ngồi tại Việt Nam nhưng sẽ có cảm giác như đang sống tại lục địa Châu Mỹ khi xem đoạn video clip trong giờ Địa lý thế giới Hoặc, các em có thể nhìn thấy rất rõ cấu tạo của từng tế bào trên cơ thể con người trong giờ Sinh học, các em dễ dàng hình dung được những hình ảnh sống động trong không gian ba chiều, nhìn thấy một cách trực quan những điểm di động tạo ra những quỹ tích trong giờ Toán, Và như thế, các em sẽ hiểu bài rất nhanh

và rất sâu ngay trên lớp học Việc xem lại ở nhà chỉ là để các em hệ thống lại những gì mình đã được nghe, được nhìn trên lớp học và tích trữ thành vốn kiến thức của riêng mình Cái được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là một lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến các em học sinh Nó không những giúp cho tiết học trở nên lôi cuốn hơn mà còn hạn chế việc giáo viên bị

“Cháy giáo án” Nếu như trong mỗi tiết học thông thường, giáo viên phải dành khá nhiều thời gian để treo tranh ảnh, thao tác các hoạt động thí nghiệm thì trong tiết học

có sử dụng giáo án điện tử, những chuyện đó chỉ cần một cú “Kích chuột”

Ngày nay, việc áp dụng trang thiết bị hiện đại vào tất cả các ngành đang trở thành xu hướng tất yếu Với môi trường học đường, hệ thống máy chiếu sẽ giúp cả

Trang 30

giáo viên và học sinh được giải phóng đôi tay Sự giải phóng đôi tay cho cả giáo viên

và học sinh cho phép các em có thể tương tác nhiều hơn với thầy cô giáo, làm nâng cao hiệu quả giờ học Thậm chí, về phương diện sức khỏe, giảng dạy bằng phương pháp mới còn giúp thầy cô tránh được bệnh viêm họng do bụi phấn, tiết kiệm được thời gian viết, vẽ trên bảng do đó giáo viên có thời gian nhiều hơn để thực hiện chức năng của mình trong phương pháp giảng dạy tích cực: giúp học sinh khái quát kiến thức, nâng cao lý luận và hiểu kiến thức một cách sâu sắc; kiểm tra năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng, kỹ xảo và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn; hướng dẫn học sinh trao đổi thảo luận để khơi gợi tiềm năng

Hầu như công việc của giáo viên sẽ chỉ là cầm thanh trỏ laser hay bút điện tử và đưa ra lời giảng giải ngắn gọn, trong khi học sinh sẽ chỉ là lật các trang giấy photocopy bài giảng và theo dõi (nếu đã được chuẩn bị sẵn) hoặc theo dõi trong sách giáo khoa, thực hiện các hoạt động do giáo viên yêu cầu qua việc trao đổi, thảo luận nhóm

Sử dụng phương thức này, học sinh sẽ chuyển từ hình thức nghe và chép thành nghe, nhìn, trao đổi, vấn đáp và đặc biệt là mức độ tập trung của học sinh sẽ cao hơn Với các tài liệu đã được photocopy sẵn trên tay hoặc trong sách giáo khoa, học sinh có thể hoàn toàn theo dõi được quá trình giảng giải của giáo viên lúc ở lớp và tiện xem lại khi về nhà Với những thắc mắc của học sinh, giáo viên chỉ cần chuyển về slide có liên quan để giảng giải thay vì phải viết lại từ đầu, nếu phần đó đã lỡ tay xoá đi mất

Tuỳ từng hệ thống trình chiếu, giáo viên có thể soạn bài theo các cách khác nhau như: in trên giấy trong (nếu sử dụng overhead) hoặc soạn powerpoint (nếu sử dụng projector) Bài giảng sẽ được photocopy và phát cho học sinh trước hoặc sau mỗi giờ học (tùy từng phương pháp của mỗi giáo viên) Nếu giáo viên phải phụ trách nhiều lớp cùng khoá, thì lợi ích của phương pháp giảng dạy này càng rõ ràng, chẳng hạn, giáo viên không phải viết đi viết lại năm lần cùng một nội dung lên bảng, nếu như họ phải giảng bài học đó tại năm lớp khác nhau

Ưu điểm lớn nhất mà bài giảng điện tử mang lại là nội dung bài giảng được minh họa bằng những âm thanh và hình ảnh sống động, học sinh tỏa ra thích thú và tiếp thu bài nhẹ nhàng hơn Đối với các môn khoa học tự nhiên, chẳng hạn môn Toán, nhờ sự hỗ trợ của máy tính, học sinh dễ hình dung những hình ảnh sống động trong không gian, nhìn thấy một cách trực quan những điểm di động tạo ra những quỹ tích

Trang 31

Đối với các môn khoa học xã hội, như môn lịch sử, những hình ảnh động về các sự kiện lịch sử được tái hiện, giúp học sinh dễ liên hệ giữa quá khứ và hiện tại Trong nhiều bộ môn khác, nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, các bài giảng cũng trở nên sinh động hơn, hấp dẫn học sinh hơn so với phương pháp dạy học truyền thống

Thậm chí, giáo viên có thể chạy cả một đoạn video liên quan đến bài giảng hay hiển thị các vật mẫu bằng một camera chiếu vật thể kết nối với projector Ngoài ra, các

hệ thống máy chiếu hiện đại còn cho phép thầy và trò cùng trao đổi, vấn đáp tương tác qua mạng Giáo viên có thể chấm bài, chọn bài mẫu của học sinh ưu tú để giới thiệu trước cả lớp bằng cách hiển thị bài viết trên màn hình

Không ai phủ nhận tính ưu việt lẫn hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực, đặc biệt trong công tác giảng dạy Giáo án điện tử là một phương tiện ứng dụng nó

Khi giảng dạy một tiết bằng giáo án điện tử, chúng ta sẽ được một số ưu điểm như: sử dụng hiệu quả đối với bài có hình ảnh, phim minh họa hợp lý; lớp học sinh động, học sinh hứng thú, tiếp thu bài nhanh với phim, hình ảnh động minh họa; giáo viên có nhiều hình thức củng cố bài, kiểm tra khả năng tiếp thu, vận dụng kiến thức học sinh vừa học Phần củng cố bài có thể sử dụng các dạng câu hỏi trắc nghiệm, trả lời câu hỏi sau khi xem một đoạn phim ngắn

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin Công nghệ thông tin đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới của nền kinh tế và xã hội, và cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin

Có thể nói, công nghệ thông tin và truyền thông trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ trước đã tạo ra những nền tảng cơ bản cho phép con người thay đổi phương thức tổ chức và xử lý thông tin trên phạm vi toàn xã hội, từ tiềm năng trở thành hiện thực, từ vị trí thụ động chuyển thành một sức mạnh chủ động sáng tạo và làm nên sự giàu có của xã hội

Như vậy, với tác động của công nghệ thông tin và truyền thông môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của hệ thống các phần mềm ứng dụng, website và hạ tầng công nghệ thông tin đi kèm Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc

Trang 32

ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “Thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình

tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học

Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động

Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức

và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Như vậy, việc chuyển từ “Lấy giáo viên làm trung tâm” sang “Lấy học sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “Bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú cho học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học

Những khả năng ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người

Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin so với phương pháp giảng dạy truyền thống là những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều slide: Slide hình, slide chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự

4.5.2 Một số hạn chế

Trang 33

Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là:

Với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất

cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học

từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “Slide” như khi dạy trên máy tính điện

tử Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo

Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự

uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên

Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó

Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học như projector còn thiếu nên chưa triển khai rộng khắp Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả

Ngoài ra, còn một số hạn chế khác về phía người thiết kế:

Trước hết là những lỗi ở khâu chuẩn bị Về nội dung, có thể do chưa biết chắc lọc và tinh giản kiến thức cần trình bày trên các slide hoặc do tâm lý sợ dạy thiếu chương trình, sợ học sinh không nắm đủ kiến thức Cũng có thể do không có kinh nghiệm và kỹ năng tóm lược nội dung Về cấu trúc, viết nguyên cấu trúc bài học trong sách giáo khoa, thiếu sáng tạo ra các cấu trúc mới, đơn giản và hợp với qui luật nhận

Trang 34

thức của học sinh trong môi trường giảng dạy có thiết bị Dường như việc sử dụng slide là chỉ để minh họa thay cho phấn, bảng Về tư liệu hình ảnh thường rơi vào hai tình huống hoặc thiếu hoặc thừa gây mất tập trung, rườm rà không cần thiết

Thứ hai là lỗi ở khâu thiết kế Số lượng slide thường nhiều hơn mức cần thiết, tốc độ lật nhanh gây cho học sinh cảm giác không kịp tiếp thu Trong khi chỉ cần ít slide với những nội dung và hình ảnh thật cô đọng Slide chứa quá nhiều chữ, kích cỡ nhỏ, người xem không thấy hoặc phải căng mắt ra gây mỏi mệt, học sinh không ghi chép kịp Các em học sinh vốn lâu nay đã quen với việc các thầy cô dạy dưới hình thức giảng - đọc - chép thì nay các em như phải chạy theo với bài học Nhiều em chưa kịp hiểu rõ những chữ trên màn hình đang muốn nói lên điều gì thì nó đã biến mất Việc phối hợp màu sắc không chuẩn và thiếu các nguyên tắc cơ bản về độ sáng/ tối, độ đậm/ nhạt, độ tương phản khiến cho các slide không đạt tới sự hài hòa cần thiết, gây

ức chế tâm lý cho học sinh Lạm dụng các hiệu ứng chuyển động là vấn đề thường gặp nhất ở các giáo viên mới bắt đầu sử dụng Các hiệu ứng nếu quá nhiều thì sẽ gây phản tác dụng Âm thanh là một yếu tố kích thích tốt cho giác quan, nhưng đồng thời cũng

là một yếu tố gây nhiễu bài giảng của giáo viên nếu bị lạm dụng

Cuối cùng là lỗi ở khâu dạy học trên lớp, quá phụ thuộc vào thiết bị và công nghệ, đến mức mất khả năng linh hoạt, coi việc chuẩn bị nội dung của mình là cố định,

cứ thế mà làm bất kể tình huống trên lớp đòi hỏi phải điều chỉnh thay đổi Nguyên nhân sâu xa là do chưa làm chủ được công nghệ, ngại dừng lại việc trình chiếu để bổ sung, sửa chữa bài giảng ngay tại lớp, không kết hợp được các phương pháp giảng dạy khác Giáo viên mới sử dụng thường mất nhiều thời gian cho các thao tác kỹ thuật như đấu nối thiết bị máy tính, loa, màn hình

Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề cấp bách để nâng cao chất lượng dạy học Đó là một trong những mục tiêu quan trọng trong đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên

Một điều cần lưu ý là việc thiết kế giáo án điện tử trong dạy học hoặc dạy học

có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cần lựa chọn nội dung dạy học thích hợp, vì

Trang 35

không phải bất kỳ nội dung nào trong chương trình Toán phổ thông, việc dạy học bằng giáo án điện tử đều đạt hiệu quả cao

5.1 Mục đích của việc thực nghiệm

Nắm được thực trạng áp dụng phương pháp dạy học hiện đại vào việc dạy và học

ở các trường phổ thông, qua đó đưa ra nhận xét và rút ra kinh nghiệm cho bản thân

5.3.1 Kết quả phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh

5.3.1.1 Kết quả phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh qua hai bài dạy thực nghiệm

Tổng số phiếu phát ra 82, số phiếu thu hồi 82 (41 phiếu phần lập bảng phân bố tần

số - tần suất, 41 phiếu phần phương trình đường tròn) Qua tổng kết ta thu được các số liệu sau:

v Mức độ hiểu bài của học sinh:

48,78% học sinh hiểu khoảng 90 – 100% nội dung bài

37,39% học sinh hiểu khoảng 70 – 80%

13,01% học sinh hiểu khoảng 50 – 60%

0,813% học sinh hiểu dưới 50%

v Cảm nhận của học sinh về tiết học:

21,95% học sinh cảm thấy rất thích

Trang 36

51,22% học sinh cảm thấy thích

26,83% học sinh cảm thấy bình thường

v Khi được hỏi về cách dạy của giáo viên thì:

19,51% học sinh cho là rất dễ hiểu

53,66% học sinh cho là dễ hiểu

26,83% học sinh cho là bình thường

v Tất cả học sinh thích giáo viên dạy học bằng máy chiếu

v Đa số học sinh không gặp khó khăn gì khi giáo viên dạy học bằng giáo án điện

tử (85,36%) Một số học sinh (14,64%) gặp khó khăn trong việc ghi chép bài

v Mức độ tập trung nghe giảng của học sinh trong giờ học:

21,95% học sinh nói rằng rất tập trung

65,85% học sinh tập trung

12,2% học sinh không tập trung cho lắm

v Khi được hỏi về tốc độ giảng bài của giáo viên thì:

1,22% học sinh cho là chậm

95,12% học sinh cho là vừa

2,44% học sinh cho là nhanh

1,22% học sinh cho là rất nhanh

v 92,68% học sinh hiểu bài, 7,32% học sinh chưa hiểu về cách lập bảng phân bố tần số - tần suất ghép lớp và cách lập phương trình đường tròn ở dạng 2

5.3.1.2 kết quả phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh về phương pháp dạy học với

sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Tổng số phiếu phát ra 230 phiếu, số phiếu thu hồi 200 Qua tổng kết ta thu được các số liệu sau:

v Sử dụng máy tính hỗ trợ giảng dạy thì:

18% học sinh cho là thường xuyên

14,5% học sinh cho là có giáo viên dự giờ hoặc thao giảng

63,5% học sinh cho là chỉ một số bài

4% học sinh cho là không

v Hình thức dạy học học sinh thích là:

80,5% học sinh thích dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

15% học sinh thích sử dụng phấn, bảng

Trang 37

v Khó khăn của học sinh khi dạy học sử dụng máy là:

74,5% học sinh cho là chép bài không kịp

17,5% học sinh cho là ảnh hưởng thị lực

5,5% học sinh cho là không thể tập trung

2,5% học sinh cho là khó khăn khác

v Mức độ tập trung nghe giảng của học sinh trong giờ học:

14,5% học sinh nói rằng rất tập trung

63,5% học sinh nói rằng tập trung

20% học sinh nói rằng không tập trung cho lắm

2% học sinh nói rằng không tập trung

v Khi được hỏi về tốc độ giảng dạy của giáo viên trong giờ học thì:

14% học sinh cho là rất nhanh

74% học sinh cho là nhanh

12% học sinh cho là vừa

v Khi được hỏi về cách dạy của giáo viên thì:

7,5% học sinh nói rằng khó hiểu

40% học sinh nói rằng bình thường

41,5% học sinh nói rằng dễ hiểu

11% học sinh nói rằng rất dễ hiểu

v Mức độ hiểu bài của học sinh:

5,5% học sinh hiểu dưới 50%

48,5% học sinh hiểu trong khoảng 50 - 70%

37% học sinh hiểu trong khoảng 70 – 90%

9% học sinh hiểu trong khoảng 90 – 100%

v Phòng máy của trường em được trang bị:

8,5% học sinh nói rằng rất thoải mái

46% học sinh nói rằng thoải mái

Trang 38

43,5% học sinh nói rằng không thoải mái cho lắm

2% học sinh nói rằng không thoải mái

v Số phòng máy phục vụ giảng dạy có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin ở trường

32,5% học sinh nói rằng bình thường

3% học sinh nói rằng không thích

v Hình thức tổ chức dạy học nào là phù hợp thì:

18,5% học sinh cho là viết bài trên phiếu học tập

15% học sinh cho là chép trực tiếp vào tập

21,5% học sinh cho là nghe giảng, về nhà tự chép

45% học sinh cho là kết hợp các hình thức trên

v Số tiết học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mà em đã được học là:

11% học sinh nói rằng 2 tiết

9,5% học sinh nói rằng 5 tiết

72% học sinh nói rằng rất nhiều tiết

7,5% học sinh nói rằng một số khác

v Khi hỏi ngoài máy tính giáo viên có kết hợp với phương tiện khác thì:

72% học sinh nói rằng kết hợp bảng

11% học sinh nói rằng kết hợp overhead

15% học sinh nói rằng không

2% học sinh nói rằng kết hợp phương tiện khác

5.3.2 Kết quả thu được qua các phiếu học tập

5.3.2.1 Phiếu 1: Số phiếu phát ra 41 phiếu, thu hồi 41 phiếu

Phiếu gồm 4 câu, 38 bài đúng 4 câu, 3 bài sai 1 câu

5.3.2.2 Phiếu 2: Số phiếu phát ra 41 phiếu, thu hồi 41 phiếu

Trang 39

Phiếu gồm 2 câu, 32 bài đúng 2 câu, 9 bài sai 1 câu

5.3.2.3 Phiếu 3: Số phiếu phát ra 41 phiếu, thu hồi 41 phiếu

Phiếu gồm 5 câu, 36 bài đúng 4 câu, 3 bài sai 1 câu

5.3.2.4 Phiếu 4: Số phiếu phát ra 41 phiếu, thu hồi 41 phiếu

Phiếu gồm 5 câu, 39 bài đúng 4 câu, 2 bài sai 1 câu

5.3.3 Kết quả thu được qua các hoạt động trong giờ học

Hoạt động 1: (trang 91), hình thức hoạt động nhóm 4 học sinh, tất cả các nhóm đều đúng

Hoạt động 1: (trang 163), hình thức hoạt động nhóm 4 học sinh, tất cả các nhóm đều đúng

Hoạt động 2: Hình thức hoạt động nhóm 4 học sinh, tất cả các nhóm đều đúng

5.3.4 Kết quả kiểm tra (15 phút)

5.3.4.1 Trình bày một mẫu số liệu

5.3.4.2 Phương trình đường tròn

Nhận xét: Qua bài kiểm tra, đa số học sinh làm bài đạt điểm trên trung bình, trong đó

trên 8 điểm chiếm tỷ lệ cao (80,48%) Cho thấy học sinh rất thích tiết học có sự hỗ trợ

[4; 5,5) [5,5; 7) [7; 8,5) [8,5; 10]

[4; 5,5) [5,5; 7) [7; 8,5) [8,5; 10]

Trang 40

của công nghệ thông tin, học sinh tập trung theo dõi bài, tích cực tham gia xây dựng bài

6.1 CÁC GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM

GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 1

Tiết: 2 ngày 28/02/2008

1 Mục tiêu: Sau tiết học, học sinh nắm được

Xác định được tâm và bán kính của một đường tròn

Viết được phương trình đường tròn trong một số trường hợp đơn giản và chỉ ra được tâm và bán kính của đường tròn đó

Biết nhận dạng phương trình của một đường tròn

Về tư duy – thái độ:

Liên hệ được nhiều hình ảnh trong thực tế có dạng đường tròn

Tự giác, tích cực trong học tập

2 Phương pháp dạy học: Thuyết trình kết hợp với đàm thoại gợi mở, đan xen thảo

luận nhóm, khám phá, có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

3 Chuẩn bị của giáo viên: Giáo án điện tử, projector, phiếu học tập

4 Nội dung và tiến trình dạy học

Ngày đăng: 05/02/2022, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w