Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam – chi nhánh thành phố hà nội Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam – chi nhánh thành phố hà nội Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam – chi nhánh thành phố hà nội Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam – chi nhánh thành phố hà nội Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam – chi nhánh thành phố hà nội
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… …………/…………
H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ MINH VŨ
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
Chuyên ngành:Tài chính Ngân hàng
Mã số: 8 34 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.NGUY ỄN THỊ THƠM
HÀ N ỘI – NĂM 2018
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu , kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác và đƣợc trích dẫn đầy đủ theo quy định
Hà n ội, ngày tháng năm 20
Tác giả
Lê Minh Vũ
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Tài chính công, các Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã nhiệt tình truyền đạt
những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
Luận văn Thạc sĩ
Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới PGS TS Nguyễn Thị Thơm đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Công thương Việt Nam, chi nhánh TP, Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tư liệu để hoàn thành Luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành c ảm ơn
Hà N ội, ngày tháng năm 20
Tác gi ả
Lê Minh Vũ
Trang 5M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
5.1 Cơ sở lý luận 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
6 Những đóng góp của đề tài 5
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 7
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 7
1.1.2 R ủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 10
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 18
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và sự cần thiết quản trị rủi ro tín d ụng của ngân hàng thương mại 18
1.2.2 N ội dung quản trị quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 20
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 31
1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số Ngân hàng thương mại và bài học rút ra cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 35
Trang 61.3.1 Quản trị rủi ro tín dụng của một số ngân hàng thương mại 35 1.3.2 Bài h ọc rút ra cho ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hà Nội 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38 Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39 2.1 Giới thiệu về ngân hàng và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 39
2.1.1 Giới thiệu về ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 39
2.2Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 -
2016 56
2.2.1 Thực trạng nhận diện và đo lường rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cố phần Công thương Việt Nam chi nhánh Thành Phố Hà Nội 56 2.2.2 Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ
ph ần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 62 2.2.3 Thực trạng xử lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 63
2.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 -
2016 66
2.3.1 Nh ững kết quả đạt được 66 2.3.2 Nh ững hạn chế 67 2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế của hoạt động quản trị RRTD tại NHTM c ổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75
Trang 7Chương 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG
THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 76
3.1 Định hướng hoạt động và phương hướng hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội đến năm 2020 76
3.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ ph ần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 76
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 77
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hà Nội 79
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh 79
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tín dụng tại chi nhánh 81
3.2.3 Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát và xử lý rủi ro tín dụng 84
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 86
3.2.5 Đảm bảo sự phối hợp giữa quản trị rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tác nghi ệp 87
3.3 Các kiến nghị 88
3.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ 88
3.3.2 Ki ến nghị với Ngân hàng Nhà nước 89
3.3.3 Kiến nghị với ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 90
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hà Nội 65
Bảng 2.8: Trích lập dự phòng cụ thể tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hà Nội 66
Trang 9DANH M ỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 41
Đồ thị 2.1:Số dư huy động vốn của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội qua các kỳ 44
Đồ thị 2.2 Quy mô dư nợ cho vay của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội qua các kỳ 47
Đồ thị 2.3 Diễn biến dư nợ theo kỳ hạn của Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 49
Đồ thị 2.4 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế năm 2016 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 51
Đồ thị 2.5 Cơ cấu dư nợ có tài sản bảo đảm năm 2016 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 54
Đồ thị 2.6.Tăng trưởng Doanh thu và Lợi nhuận của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội 55
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) là phần không thể thiếu trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) Với mục đích không ngừng tìm kiếm các giải pháp tăng cường lợi nhuận kinh doanh cũng như gia tăng thị phần, đa dạng hóa sản phẩm, cải thiện các loại hình dịch vụ… NHTM cũng phải tập trung nghiên cứu, ứng dụng các chính sách quản trị rủi ro để tạo hành lang bảo vệ cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu các tổn thất tiềm tang trong hoạt động kinh doanh
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hết sức đa dạng và phức tạp, tiềm ẩn trong tất cả các nghiệp vụ kinh doanh từ thẻ, tiền gửi, tài trợ thương mại đến đầu tư, kinh doanh ngoại hối… với nhiều mức độ khác nhau
và nhưng có ảnh hưởng sâu rộng và trầm trọng nhất vẫn là rủi ro tín dụng (RRTD), bởi tín dụng là hoạt động kinh doanh chính và tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM Điều này không chỉ đúng trên phương diện lý thuyết mà được minh chứng rõ ràng bằng thực tiễn trong hoạt động kinh doanh ngành ngân hàng
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trước những gia tăng ngày càng lớn về độ rộng và tính phức tạp của RRTD, trong thời gian gần đây, một sự thay đổi mang tính cách mạng diễn ra và trở thành chuẩn mực quốc tế trong chiến lược hoạt động của ngành tài chính thế giới nói chung cũng như ngành ngân hàng nói riêng: Quản trị RRTD chứ không phải các chính sách truyền thống về quản lý tăng doanh thu và cắt giảm chi phí, đã trở thành nòng cốt, đóng vai trò nền tảng cho sự thành công trong dài hạn của các ngân hàng Điều này xuất phát từ thực tiễn rằng, sau một thời gian dài chạy theo việc nâng cao lợi nhuận và thị phần bằng mọi cách mà không tính toán, bù đắp hết các rủi ro tiềm ẩn, đa số các ngân hàng đã phải gánh chịu những hậu quả trầm trọng là sự suy thoái trong chất lượng hoặc sụt giảm
Trang 11nghiêm trọng về thu nhập từ danh mục đầu tư tín dụng Chính những kinh nghiệm thất bại diễn ra trên diện rộng, tại nhiều quốc gia đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc mang tính lịch sử nói trên trong quản lý, điều hành của các ngân hàng
Xét trong bối cảnh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội, trải qua nhiều năm tăng trưởng mạnh mẽ luôn đứng đầu trong hệ thống Ngân hàng Công thương về cả dự nợ lẫn lợi nhuận Chi nhánh đã liên tục thay đổi và cải cách toàn diện , sâu sắc về tổ chức, quản lý, công nghệ cũng như nguồn nhân lực Vì vậy Ngân hàng đạt được những kết quả tốt trong quá trình kinh doanh.Nhưng để tồn tại và phát triển qua giai đoạn kinh tế phức tạp hiện nay và cao hơn nữa để nâng cao toàn diện chất lượng công tác quản trị RRTD theo tiêu chuẩn quốc tế, thì nâng cao chất lượng quản lý RRTD luôn là một vấn đề mang tính cốt yếu trong chiến lược hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín
dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành Ph ố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài chính Ngân hàng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề quản lý RRTD đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong thời gian qua, cụ thể:
- Quản trị RRTD tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam năm
2015, của tác giả Phạm Chí Hiếu đã coi trọng đến vấn đề đo lường trong quản trị rủi ro, qua đó hoàn thiện, nâng cao công tác đo lường rủi ro tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam [5]
- Hoàn thiện quản trị RRTD đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khu vực tỉnh Bình Phước, tác giả Ngô Thị Hồng Nhung nêu vấn đề quản trị RRTD đối với
Trang 12khách hàng doanh nghiệp (KHDN) vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Bình Phước qua đó đưa ra giải pháp phòng ngừa RRTD đối với KHDN vừa và nhỏ [3]
- Quản trị RRTD tại NHTM cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, của tác
Tống Thị Vân Anh đã coi trọng đến vấn đề nhận biết trong quản trị rủi ro qua
đó hoàn thiện, nâng cao công tác nhận biết rủi ro tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam [1]
- Quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Hà Tây, của tác Vương Đắc Dũng đã nêu vấn đề quản trị RRTD đối với KHDN vừa và nhỏ của qua
đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa RRTD đối với đối tượng KHDN vừa và nhỏ [4]
- Quản trị RRTD tại NHTM cổ phần ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Vinh, của tác Nguyễn Thành Vinh đã coi trọng đến vấn đề nhận biết trong quản trị rủi ro qua đó hoàn thiện, nâng cao công tác nhận biết rủi ro tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Vinh [10]
- Quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt, của tác Trần Văn Tú đã coi trọng đến vấn đề đo lường trong quản
trị rủi ro qua đó hoàn thiện, nâng cao công tác đo lường rủi ro Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt [09]
Tại NHTM cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hà Nội, đề tài được nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị RRTD Tác giả xin cam kết đây là công trình nghiên cứu độc lập và không trùng lắp với bất cứ một công trình nào đã được nghiên cứu trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 13TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội đến năm
2020
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận về RRTD và quản trị RRTD trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và sự gia tăng áp lực cạnh trong hoạt động kinh doanh của NHTM
- Nghiên cứu kinh nghiệm quản trị RRTD của một số NHTM để rút ra bài học cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016 chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản trị RRTD của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Hoạt động của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội có phạm vi rộng bao gồm nhiều nghiệp vụ như: huy động vốn, cho vay, tài trợ thương mại, bảo lãnh….Ở tất cả các nghiệp vụ đều tiềm ẩn rủi ro, tuy nhiên trong đề tài này chỉ nghiên cứu về QTRR ở mảng cấp tín dụng, không nghiên cứu QTRR ở các mảng khác
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội
Trang 14- Về thời gian: nghiên cứu hoạt động quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012- 2016 và đề xuất phương hướng giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD tại ngân hàng này đền năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài là:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật hiện tượng khác
5.2 P hương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài là:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật hiện tượng khác
Phương pháp thống kê, phân tích số liệu và các chỉ tiêu định tính để làm rõ thực trạng hoạt động tín dụng cũng như thực trạng hoạt động quản trị RRTD Qua đó nghiên cứu để đưa ra nhận định, đề xuất giải pháp để tăng cường hoạt động quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh
TP Hà Nội
6 Nh ững đóng góp của đề tài
Nâng cao nhận thức và hiểu biết về tầm quan trọng của quản trị RRTD trong Hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội nói riêng
Để ngân hàng có cái nhìn trực diện và bao quát về thực trạng RRTD và công tác quản lý RRTD hiện nay và thấy được những hạn chế và yếu kém còn tồn tại
Trang 15Định hướng Ngân hàng theo phương thức quản trị RRTD hiệu quả, đáp ứng các tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội với các NHTM khác trên địa bàn
7 K ết cấu của luận văn
Về cấu trúc, ngoài phần mở đầu, kết luận và các biểu số liệu kèm theo,
luận văn được chia thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành Phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng
tại NHTM cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành Phố Hà Nội
Trang 16Chương 1
C Ở SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1 Khái quát v ề Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát v ề Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái ni ệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm
gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM
đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao
nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và
trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho
cả ngân hàng thông qua chênh lệch lại suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng
Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật
Theo Luật Ngân hàng nhà nước: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
1.1.1.2 Những hoạt động cơ bản của NHTM
+ Hoạt động huy động vốn:
Để thực hiện chức năng cơ bản của mình là trung gian tài chính thì hoạt động huy động vốn phải được coi là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của NHTM NHTM huy động vốn dưới các hình thức khác nhau như nhận tiền
Trang 17gửi (tiền gửi thanh toán, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn), đi vay, phát hành giấy tờ có giá, vốn tiếp nhận tài trợ, vốn ủy thác đầu tư Nguồn vốn huy động dồi dào sẽ giúp NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh, giảm rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên việc huy động nguồn vốn như thế nào sẽ được các NHTM đưa ra trên cơ sở chiến lược kinh doanh và diễn biến thị trường trong từng thời kỳ
+ Hoạt động sử dụng vốn:
Ngân hàng thương mại huy động vốn để cho vay, đầu tư, từ đó tạo lợi nhuận Việc sử dụng vốn hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của NHTM, quyết định năng lực cạnh tranh giữa các NHTM
+ Hoạt động tín dụng:
Là việc NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay đối với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn để tiêu dùng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó NHTM thu lợi nhuận từ lãi suất cho vay sau khi bù đắp chi phí huy động vốn
Có thể nói hoạt động tín dụng (cho vay) là hoạt động có đóng góp lớn nhất vào tổng thu nhập của các NHTM Theo thống kê thì khoảng 75% thu nhập của NHTM là thu từ hoạt động cho vay Một NHTM có tồn tại hay không, thành công hay thất bại phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của hoạt động tín dụng
+ Bảo lãnh:
Là việc NHTM sử dụng uy tín của mình để cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính cụ thể nào đó thay cho khách hàng của mình trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong các giao dịch kinh tế Khi phát hành các cam kết bảo lãnh này, ngân hàng thu được phí bảo lãnh Các NHTM càng có uy tín thì việc thực hiện nghiệp vụ này càng phát triển + Hoạt động đầu tư:
Trang 18Ngoài nghiệp vụ cho vay thì NHTM có thể sử dụng vốn để đầu tư dưới hình thức kinh doanh các chứng khoán, đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp,
tổ chức để thu lợi tức
+ Hoạt động thanh toán:
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM theo lệnh của khách hàng sẽ cung cấp các dịch vụ thanh toán tiền mua bán hàng hóa, dịch vụ, thông qua hệ thống tài khoản của khách hàng tại ngân hàng
+ Hoạt động quản lý ngân quỹ:
Thông qua hệ thống tài khoản của các cá nhân, tổ chức mở tại ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán, NHTM có thể cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ Ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi và tính toán đầu tư phần tiền nhàn rỗi tạm thời để thu lợi cho đến khi khách hàng có nhu cầu thanh toán chi trả
+ Hoạt động thuê mua:
Có rất nhiều trường hợp khách hàng có nhu cầu mua tài sản nhưng không đủ khả năng để mua tài sản đó, ngân hàng có thể đứng ra mua tài sản này theo yêu cầu của khách hàng và cho khách hàng thuê dưới các hình thức: cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính
+ Hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán:
Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, đòi hỏi NHTM phải có sự hiểu biết toàn diện về các ngành nghề kinh tế, tìm hiểu sâu về các tổ chức doanh nghiệp,… Với lợi thế này, NHTM đã cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Hiện nay có rất nhiều ngân hàng đã thành lập các Công ty chứng khoán trực thuộc để tăng tính chuyên nghiệp cho hoạt động này
+ Dịch vụ bảo hiểm:
Ngân hàng có thể thành lập các Công ty bảo hiểm trực thuộc để cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho các khách hàng Đặc biệt, khi cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho tài sản thế chấp của khách hàng thì ngoài việc thu phí bảo hiểm, NHTM
Trang 19còn tăng tính đồng bộ hóa trong hoạt động của mình, tạo sự thuận tiện cho khách hàng
+ Hoạt động bảo quản tài sản:
Là việc NHTM nhận lưu giữ vàng, giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két sắt ngân hàng, từ đó thu phí dịch vụ
1.1.2 R ủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái ni ệm,phân loại và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Khái niệm RRTD của NHTM
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và các tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của ngân hàng, của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết [ 11, điều 2] Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung Do vậy khi tổn thất xảy ra dưới mức tỷ lệ dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý
Phân loại RRTD của NHTM
- Theo phương diện quản lý
+ Rủi ro có thể kiểm soát được: là RRTD mà ngân hàng có thể phần nào
dự đoán được chủ thể gây ra nó, ước tính được mức độ ảnh hưởng của nó, dự
kiến được thời gian phát sinh ra nó, từ đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế những tổn thất mà nó có thể gây ra xuống mức tối thiểu + Rủi ro không thể kiểm soát được: là loại RRTD mà các ngân hàng không thể dự đoán trước được, không thể biết chúng sẽ xảy ra khi nào, cũng không thể tính toán được một cách cụ thể, chính xác những ảnh hưởng mà
Trang 20chúng gây ra là chủ yếu do những bất lợi thuộc về các yếu tố tự nhiên như hạn hán, mất mùa, lũ lụt, hỏa hoạn…
Các NHTM thường phải tập trung vào để ngăn chặn hạn chế những rủi
ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ có cách chống đỡ khi chúng xảy ra
- Phân loại theo tính chất của rủi ro:
+ Rủi ro sai hẹn: là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn như trong hợp đồng
+ Rủi ro mất vốn: là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không trả được gốc tiền vay một cách đầy đủ như trong hợp đồng
Dù là chia theo cách nào đi chăng nữa thì RRTD cũng là một điều không mong muốn, luôn mang lại những tổn thất đối với tất cả các ngân hàng Một khi có hoạt động ngân hàng thì còn tồn tại rủi ro trong hoạt động tín dụng Việc tìm hiểu và đưa ra các biện pháp để quản lý tốt RRTD luôn được các ngân hàng quan tâm chú trọng
Các chỉ tiêu phản ánh RRTD
Rủi ro tín dụng là sự tồn tại khách quan trong hoạt động của ngân hàng song các ngân hàng phải luôn quản lí RRTD nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Những dấu hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng phản ánh RRTD:
- Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn
Nợ bao gồm: Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, các khoản bao thanh toán,các hình thức tín dụng khác;
“Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
đã quá hạn, hoặc ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng sai mục đích, hoặc tài sản đảm bảo bị giảm giá trị, hoặc khách hàng phá sản…
Tỷ lệ nợ quá hạn:
Trang 21Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn x 100%
Tổng dư nợ cho vay Theo quy định hiện hành của ngân hàng Nhà nước thì tỉ lệ nợ quá hạn cho phép đối với các NHTM không được vượt quá 5% tổng dư nợ cho vay Quy định này nhằm mục đích hạn chế tình trạng các ngân hàng cho vay ồ ạt, thiếu sự quản lý dẫn tới khả năng thanh khoản kém
“Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ” là khoản nợ mà tổ chức tín dụng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn hoặc gia hạn nợ cho khách hàng do tổ chức tín dụng đánh giá khách hàng suy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trên hợp đồng tín dụng nhưng tổ chức tín dụng có đủ cơ sở đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu
- Nợ xấu và tỷ lệ xấu trên tổng dư nợ cho vay
“Nợ xấu” của ngân hàng được quy định là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4
và 5 Tức là nó bao gồm các nhóm nợ: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ
có khả năng mất vốn
Tổng dư nợ cho vay
Tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của
tổ chức tín dụng theo quy định hiện hành thì tỷ lệ này không được vượt quá 3%
Theo quyết định 18 về sửa đổi bổ sung một số điều của quyết định 493,
tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm nhóm như sau:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
Trang 22+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng
về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); + Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
Cũng theo Quyết định Số: 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 thì
dự phòng cụ thể được trích lập trên RRTD thuần của các khoản cho vay theo
tỷ lệ tương ứng:
Trang 23Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức
độ RRTD khác nhau Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng hạn
có liên quan tới thanh khoản và các rủi ro thanh khoản: Chi phí gia tăng để tìm nguồn mới chi trả cho tiền gửi và tiền cho vay đúng hợp đồng Nợ khó đồi
là một lời cảnh báo cho ngân hàng: Hy vộng thu lại tiền vay cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết
1.1.2.2 Nguyên nhân và tác động của rủi ro tín dụng đối với hoạt động
c ủa Ngân hàng thương mại
Nguyên nhân RRTD
- Nguyên nhân khách quan từ bên ngoài:
Khi khách hàng nhận khoản giải từ ngân hàng, họ sẽ dùng đồng vốn vào mục đích kinh doanh nhƣ: Đầu tƣ vào dây chuyền sản xuất, tài sản cố định, nguyên vật liệu… Trong quá trình sản xuất kinh doanh tất yếu sẽ phát sinh
Trang 24những rủi ro không mong muốn mà đôi khi các doanh nghiệp không lường trước được như:
Rủi ro do nền kinh tế không ổn định
Rủi ro do các thủ tục pháp lý ở các địa phương còn rườm rà
Rủi ro do các thị trường bị bóp méo bởi hàng hóa nhập lậu
Rủi ro do nền kinh tế không ổn định
Các rủi ro cơ bản trên đã ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một khi các đồng vốn mà doanh nghiệp đi vay đổ vào sản xuất kinh doanh mà không thu lại được, tất yếu sẽ đẩy doanh nghiệp tới việc mất dần khả năng trả nợ Ngân hàng cũng đứng trước nguy cơ khó thu hồi lại khoản cho vay này
- Nguyên nhân thuộc về năng lực ngân hàng
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng: Kiểm tra nội bộ
có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “phanh” của “cỗ xe” tín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ
thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới Năng lực cán bộ còn hạn chế: Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng lãi giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cáo so với thực tế để rút tiền ngân hàng
Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm dịnh trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân
Trang 25hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung
- Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ: Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể , khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra
nó phải thành công trên thực tế
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vây, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống RRTD
Tác động của RRTD đối với hoạt động của NHTM
- Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 26Rủi ro tín dụng xảy ra tức là ngân hàng khi đó không thu được nợ gốc hoặc lãi hoặc đồng thời cả gốc và lãi Trong khi đó các khoản phải trả cho vốn huy động của ngân hàng vẫn không thay đổi, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm, chi phí của ngân hàng tăng lên so với dự kiến
Nếu một khoản cho vay của ngân hàng bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải dùng tới các nguồn khác để bù đắp cho khoản không thu hồi được này Nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn để bù đắp, và tới chừng mực nào đấy nguồn vốn không còn đủ để bù đắp cho khoản tiền gửi của khách hàng thì ngân hàng sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn tới nguy
cơ gặp phải rủi ro thanh khoản Kết quả làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức mạnh cạnh tranh trên thị trường giảm Kết quả kinh doanh ngày càng xấu đi và có thể dẫn tới thua lỗ hoặc nặng hơn nữa
là phá sản nếu không có biện pháp xử lí kịp thời
- Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính trong nền kinh tế, chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu vay lại Như vậy thực chất quyền sở hữu của các khoản tiền này đã được chuyển từ người gửi vào ngân hàng
Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản sẽ làm cho những người gửi tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà cả các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt tới các ngân hàng rút tiền, làm cho hệ thống ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản trầm trọng
Ngân hàng phá sản sẽ làm cho tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khó khăn do ngân hàng là nguồn cung cấp vốn lớn cho các doanh nghiệp Cùng lúc đó nếu doanh nghiệp chưa thu được tiền hàng tức là không có nguồn thu thì công nhân viên của doanh nghiệp sẽ không được trả
Trang 27lương, cuộc sống của công nhân viên gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế suy thoái, giá cả thay đổi liên tục, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, kéo theo
đó là hàng loạt các tệ nạn xã hội đi kèm
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái ni ệm, đặc điểm, mục tiêu và sự cần thiết quản trị rủi ro tín
d ụng của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái ni ệm quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Quản trị rủi ro là quá trình xác định, phân tích rủi ro và đề ra các biện pháp để kiểm soát, hạn chế các rủi ro đó xảy ra Một cách tổng quát, đấy là quá trình xem xét toàn bộ hoạt động, xác định các nguy cơ tiềm ẩn, và khả năng xảy ra các nguy cơ đó Từ đó có sự chuẩn bị các hành động thích hợp để hạn chế các rủi ro đó ở mức thấp nhất
Theo đó, quản trị rủi ro tín dụng là quá trình kiểm tra, giám sát, phòng ngừa liên tục, bắt đầu từ khâu thẩm định, đánh giá khách hàng cũng như phương án/dự án vay vốn trước khi quyết định cho vay, đến giải ngân, theo dõi để xác định rủi ro tiềm ẩn và đề ra các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra
Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xác định và tìm cách quản
lý, hạn chế các rủi ro đó xảy ra đối với ngân hàng trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng
1.2.1.2 Đặc điểm và mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
- Đặc điểm:
+ Quản trị RRTD luôn tồn tại trong quá trình quản trị của NHTM:
Hiện tại nó thể hiện là phương pháp chủ đạo trong hoạt động kinh doanh
của NHTM Đối với NHTM hiện nay quá trình quản trị RRTD là quá trình rất quan trọng đối với sự phát triển của ngân hàng, nó giúp ngân hàng xác định
Trang 28được mức độ rủi ro trong danh mục đầu tư và kế hoạch phát triển của ngân hàng, qua đó giúp ngân hàng có được cái nhìn tổng quan và chính xác nhất về
mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi đưa ra quyết định đầu tư giúp
giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
+ Quản trị RRTD xuyên suốt trong quá trình cho vay :
Đối với một khoản vay từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc quá trình quản trị RRTD luôn diễn ra từ việc thẩm định hồ sơ khách hàng vay vốn, kiểm tra
mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, quá trình trả nợ của khách
hàng,xử lý những phát sinh của tài khoản đến khi kết thúc khoản vay
- Mục tiêu:
+ Đảm bảo cho hoạt đông tín dụng của ngân hàng diễn ra một cách thông
suốt,an toàn từ lúc tiếp cận khách hàng –thẩm định khách hàng- quyết định cho vay-quản lý khoản vay –đáo hạn khoản vay
+ Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cũng như nhà quản lý về nhận
biết và xử lý rủi ro trong quá trình cấp tín tín dụng
+ Kiểm soát được nợ được chất lượng tín dụng của ngân hàng,tránh tình
trạng phát sinh nợ quá hạn,nợ xấu làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng + Tạo sự phát triển bền vững cho ngân hàng trước những thách thức mới
của nên kinh tế
1.2.1.3 S ự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
- Rủi ro tín dụng là căn nguyên chủ yếu tạo ra các vấn đề của NHTM
Sự đổ vỡ hàng loạt Quĩ tín dụng và một số ngân hàng tại Việt Nam trong những năm gần đây do chất lượng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi được Cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số ngân hàng vào tình trạng giám sát đặc biệt, những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng nợ tồn đọng của các ngân hàng từ trước đều bắt nguồn từ những khoản cho vay khó đòi,trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng tăng cao Điều đó minh chứng rất rõ căn nguyên cơ
Trang 29bản tạo ra ở vấn đề của Ngân hàng là RRTD Vì vậy, vấn đề quản trị RRTD luôn luôn là vấn đề sống còn của NHTM
- Mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng
Tính cấp thiết của quản trị RRTD không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp
và nguy cơ rất lớn của RRTD mà còn do xu hướng kinh doanh của Ngân hàng ngày nay càng trở nên rủi ro hơn Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường hiện nay luôn có sự thay đổi liên tục sự phát triển ngành nghề kinh doanh sao cho phù hợp và có lợi nhuận cao nhất Chính vì thế việc quản trị RRTD là rất cần thiết nhắm quản lý đánh giá được các khoản tín dụng của ngân hàng được sử dụng đúng mục đích tránh thất thoát làm mất an toàn vốn và khả năng thu hổi vốn
- Quá trình hội nhập kinh tế và sự phát triển không ngừng của nên kinh
tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và mở cửa hoạt động ngân hàng nói riêng ngày càng diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đem lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức, trong đó có những rủi ro mới có thể phát sinh
Trong nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu sản phẩm và dịch vụ của khách hàng ngày càng gia tăng, thị trường ngày càng phát triển, điễn biến kinh tế vĩ mô cũng ngày càng phức tác và khó lường, những vấn đề xã hội khác cũng có những chuyển biến tích cực nhưng cũng phát sinh nhiều vấn đề
phải giải quyết
Do đó NHTM phải thường xuyên chú trọng đến các hoạt động quản trị
rủi ro đặc biệt là quản trị RRTD của mình để tránh được tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải
1.2.2 N ội dung quản trị quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Nh ận diện và đo lường rủi ro tín dụng
Nhận diện RRTD
- Đây là việc làm của bản thân NHTM Công việc nhận diện RRTD sẽ được xét trên 2 góc độ từ phía ngân hàng và từ phía khách hàng:
Trang 30+ Các dấu hiệu từ phía ngân hàng: RRTD được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro do đó, khi các yếu tố này có xu hướng thiên lệch như: quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt khả năng quản lý của ngân hàng, hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức
vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, hoặc là các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho phép, dự phòng rủi ro được sử dụng hết, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro
+ Các dấu hiệu từ phía khách hàng: Khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả được nợ, tình hình tài chính xấu, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra Lúc đó, ngân hàng cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời
- Do đó để nhận biết rủi ro những công việc mà ngân hàng cần phải làm: + Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng: Phân tích chung toàn bộ danh mục của ngân hàng để nhận biết những rủi ro về uy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, về ngành, về loại tiền Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi roc hung của toàn bộ danh mục tín dung
+ Phân tích đánh giá khách hàng: Phân tích đánh giá khách hàng nhằm phát hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể
Phân tích và đo lường RRTD:
Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi
ro
Có 2 mô hình phân tích và đo lường RRTD
- Mô hình định tính đo lường RRTD (Mô hình chất lượng 6C)
Đối với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu khách hàng có thiện chí và thanh toán khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này
Trang 31liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh- 6C” của khách hàng, đó là:
+ Tư cách người đi vay ( Character ) : Đó là ý thức, trách nhiệm hoàn trả
lại khoản vay của người đi vay Đối với tiêu chí này, Cán bộ tín dụng (CBTD)
cần phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng là gì, xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ khách hàng khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng… bên cạnh đó, Character còn thể hiện sự phân tích, dự báo về hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp từ đó, ngân hàng xem xét tính hợp pháp, nghiêm túc và rõ ràng mục đích có phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng hay không, có phù
hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không và kế hoạch
trả nợ của khách hàng Nếu khách hàng thể hiện sự trung thực và cho thấy tính khả thi của dự án thì tư cách vay vốn được xác lập
+ Năng lực người đi vay (Capacity): Là khả năng của công ty có thể thanh toán các khoản vay hay không Capacity tùy thuộc vào quy định luật pháp của từng quốc gia Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng
lực hành vi dân sự, những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn, mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến thời điểm hiện tại, cơ cấu sở hữu, chủ sở hữu, tính chất hoạt động, sản phẩm, khách hàng chính, người cung cấp chính của doanh nghiệp Cán bộ tín dụng
phải chắc chắn là khách hàng có đủ năng lực vay vốn và đủ tư cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng vay vốn
+ Thu nhập của người đi vay (Cashflow): Là nguồn tiền của các nhân khi đầu tư vào công ty cán bộ của ngân hàng phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán, sau đó phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính
Trang 32Cashflow hiện tại và dự kiến
Tính thanh khoản của tài sản lưu động
Vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho
Cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nợ
Các tỷ lệ về khả năng trả lãi
Khả năng và chất lượng quản lý
Thể hiện thu nhập, khả năng điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn trả khoản vay của khách hàng Đây là nội dung quan trọng đối với một yêu cầu xin vay vốn nhằm xác định khả năng tạo đủ tiền để đáp ứng yêu cầu hoàn trả khoản vay cho ngân hàng
+ Tài sản đảm bảo (Collateral): Hình thức đảm bảo tiền vốn của ngân hàng nếu lượng tiền của khách hàng không đủ trả nợ thì ngân hàng vẫn được đảm bảo từ các nguồn thanh toán khác
Đã được dùng để bảo lãnh cho người khác
Vị thế của Ngân hàng đối với việc đòi cầm cố, thế chấp đối với tài sản Nhu cầu vay vốn trong tương lai
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn thu thứ hai để trả
nợ cho ngân hàng đối với các khoản vay Tài sản đảm bảo giống như một sự ràng buộc trách nhiệm của người vay đối với ngân hàng trong trường hợp khách hàng vay không có khả năng hoàn trả nợ vay thông qua việc sử lý tài
sản đảm bảo để ngân hàng thu hồi nợ vay
Trang 33+ Điều kiện môi trường (Conditions): Địa vị cạnh tranh hiện tại của
khách hàng trong ngành công nghiệp và thị phần dự kiến, kết quả hoạt động
của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành,tình hình cạnh tranh của sản phẩm, mức độ nhạy cảm của khách hàng đổi với chu kỳ kinh doanh và những thay đổi về công nghệ, điều kiện/tình trạng thị trường lao động trong ngành hay trong khu vực thị trường mà khách hàng đang hoạt động, ảnh hưởng của lạm phát đối với bảng cân đối kế toán và Các yếu tố chính trị, pháp lý, xã hội, công nghệ, môi trường ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, ngành nghề của khách hàng
Cán bộ tín dụng phải nắm rõ xu hướng tiến triển gần đây của khách hàng cũng như của ngành mà khách hàng đang hoạt động, những tác động của môi trường có thể ảnh hưởng đến khoản vay Thông thường môi trường cạnh tranh
và sự nhạy cảm của hoạt động sản xuất của khách hàng sẽ là cơ sở đánh giá + Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của
luật pháp, quy chế hoạt động đến khả năng khách hàng đáp ứng các nhu cầu
của khách hàng
Các luật, quy định, quy chế hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét
Đủ hồ sơ giấy tờ phục vụ cho công việc kiểm soát
Hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ và phải được ký bởi các bên
Mức độ phù hợp của khoản vay đối với qui chế, qui định của Ngân hàng
Ý kiến của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật về môi trường của ngành, về
sản phẩm, về các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khoản vay
Ngân hàng tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến khách hàng hay không, nhu cầu tín dụng của khách hàng có đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng hay không
Trang 34- Mô hình định lượng đo lường RRTD( Mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng)
Mô hình xếp hạng của Moody’s
Moody’s Investors Service (Moody’s) cùng với Standard & Poor’s (S&P) là hai tổ chức tín nhiệm có uy tín lâu đời tại Mỹ và cũng là tổ chức tiên phong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới Ngày nay, các tổ chức tín nhiệm này hoạt động trên các thị trường tài chính lớn và các thị trường
mới nổi trên toàn cầu Kết quả xếp hạng của các tổ chưc này được đánh giá
rất cao
Phương pháp của Moody’s tập trung vào 4 lĩnh vực chính là : Đánh giá môi trường ngành, đánh giá môi trường tài chính, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh,đánh giá khả năng quản trị doanh nghiệp chú trọng vào quản trị
rủi ro và kiểm soát nội bộ Đối vơi Moody’s xếp hạng chất lượng công cụ nợ dài hạn được đánh giá từ cao nhất là Aaa rồi đến thấp nhất là C
Trang 35B ảng 1.2 Thang xếp hạng tín dụng Moody's
Thang xếp hạng tín dụng Moody's
Bậc đầu tư Hạng Theo dài hạn Theo ngắn hạn
Aaa Chất lượng cao nhất và rủi ro tín dụng thấp
nhất
Hạng 1 Khả năng trả nợ ngắn hạn
Baa1
Chất lượng trung bình, với một vài yếu tố đầu
cơ và rủi ro tín dụng đáng kể
Hạng 2 Khả năng trả nợ ngắn hạn
tốt
năng trả nợ ngắn hạn tốt hoặc ở mức chấp nhận
Khả năng trả nợ ngắn hạn ở mức chấp nhận
Bậc đầu cơ Hạng Theo dài hạn Theo ngắn hạn
Ca Có tính đầu cơ cao và có khả năng gần như thiếu
hụt, nhưng còn có khả năng hoàn vốn và lãi
C Chất lượng thấp nhất, thường thiếu hụt và khả
năng hoàn lại vốn và lãi thấp
Với việc đo lường RRTD áp dụng cả 2 mô hình định tính, định lượng sẽ giúp việc đánh giá rủi ro của khoản tín dụng cao hơn nhắm cho vay một cách
hiệu quả và giảm thiểu rủi ro trong hoạt đọng tín dụng
Trang 361.2.2.2 Qu ản trị và kiểm soát rủi ro tín dụng
Các mô hình quản trị RRTD
Mô hình quản trị RRTD là cách thức tổ chức quản lý, đo lường kiểm soát RRTD nhằm khống chế RRTD trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức tín dụng Hiện nay có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là mô hình quản trị RRTD tập trung và mô hình quản trị RRTD phân tán
- Mô hình quản trị RRTD tập trung:
Mô hình quản trị RRTD tập trung được hiểu là công tác thẩm định khách hàng, quản trị rủi ro của ngân hàng được tập trung ở hội sở chính hoặc theo vùng, miền Các chi nhánh chỉ thẩm định sơ qua hoặc scan hồ sơ về hội sở chính để ra quyết định Mô hình này tách biệt độc lập giữa 3 chức năng: Chức năng kinh doanh, chức năng quản trị rủi ro và chức năng tác nghiệp
Trang 37Phạm vi áp dụng: Được thực hiện ở các ngân hàng có quy mô hoạt động lớn
- Mô hình quản trị RRTD phân tán:
Mô hình quản trị RRTD phân tán được hiểu là công tác thẩm định khách hàng, quản trị rủi ro của ngân hàng được thực hiện tại các chi nhánh riêng biệt Hội sở chính chỉ có nhiệm vụ định hướng chung và thẩm định những khách hàng vượt quá khả năng cho phép của chi nhánh Mô hình này chưa tách biệt được độc lập giữa 3 chức năng: Chức năng kinh doanh, chức năng quản trị rủi ro và chức năng tác nghiệp
Ưu điểm:
+ Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản
+ Giải quyết hồ sơ nhanh, tiết kiệm thời gian cho khách hàng
+ Xây dựng và triển khai mô hình quản trị RRTD phân tán không mất nhiều công sức và thời gian
Nhược điểm:
+ Nhiều công việc tập chung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu
+ Không có sự tách biệt hoàn toàn, độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản trị RRTD
+ Việc quản hoạt động tín dụng điều đều theo phương thức từ xa, dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng đẫn đến việc quản trị RRTD gặp nhiều khó khan
Phạm vi áp dụng: Được thực hiện ở các ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ
Các bước kiểm soát rủi ro tín dụng
- Kiểm soát trước khi cho vay: Bao gồm quá trình
+ Thu thập thông tin kiểm tra hồ sơ khách hàng về tính pháp lý và tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng
+ Kiểm soát về thẩm định khoản vay của khách hàng có đủ tính pháp lý
và phù hợp với nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng
Trang 38+ Kiểm soát về quá trình xét duyệt khoản vay là khâu trong nội bộ ngân hàng sau khi cung cấp đầy đủ các thông tin về khách hàng và nhu cầu vay vốn
của khách hàng là hợp pháp đúng nhu cầu,các cấp có thẩm quyền ra quyết định cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng
- Kiểm soát trong quá trình thực hiện cho vay: Bao gồm quá trình
+ Quá trình thu thập hồ sơ thông tin về món vay có đầy đủ tính pháp lý
và đúng nhu cầu vay vốn của khách hàng
+ Phòng khách hàng, thực hiện thẩm định món vay và đề xuất giải ngân cho khách hàng
+ Cấp có thẩm quyền đồng ý và quyết định giải ngân cho khách hàng
- Kiểm soát sau khi cho vay: Bao gồm quá trình
+ Hoàn thiện hồ sơ sau khi giải ngân lưu trữ hồ sơ để theo dõi khoản vay
của khách hàng
+ Kiểm tra kiểm soát nhu cầu sử dụng vốn vay của khách hàng
+ Thực hiện quá trình thu nợ vay của khách hàng và đưa ra cảnh báo nếu khách hàng không trả nợ đúng thời hạn
+ Thực hiện phân loại nợ cho khoản vay đúng quy định
1.2.2.3 Xử lý rủi ro tín dụng
Xử lý RRTD của ngân hàng cần phải được thực hiện tại tất cả các khâu
cụ thể:
- Xử lý các nguyên nhân chủ quan về phía NHTM
+ Tổ chức hợp lý và khoa học quy trình tín dụng theo hướng chặt chẽ và
có hiệu quả, tập trung vào ba giai đoạn: nghiên cứu khách hàng, giám sát khách hàng vay và thu nợ
+ Thực hiện đa dạng hoá khách hàng và phương thức cho vay nhằm phân tán rủi ro
+ Nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ, nhất là năng lực thẩm định
dự án, thẩm định khách hàng
+ Xây dựng chiến lược khách hàng
Trang 39- Xử lý nợ quá hạn:
Khi một khoản cho vay có vấn đề thì không phải NHTM sẽ mất trắng NHTM cần phải tìm cách thu hồi toàn bộ hoặc một phần khoản vay Có hai sự lựa chọn đối với xử lý nợ quá hạn: khai thác hoặc thanh lý Tuy vậy cần nhấn mạnh ở đây ba nguyên tắc xử lý nợ quá hạn là: chống xoá nợ, hạn chế gia nợ, chống đảo nợ
+ Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản
nợ được trả một phần hay toàn bộ mà không dựa vào các công cụ pháp lý để
ép buộc thu nợ
+ Thanh lý đối với các khoản nợ có vấn đề,nợ khó đòi được thực hiện khi việc tổ chức khai thác tỏ ra không hiệu quả Các công cụ để thực hiện thanh lý bao gồm: phát mại tài sản thế chấp, kết hợp với cơ quan phap lý để ép buộc thu hồi nợ, sử dụng nghiệp vụ mua bán nợ trên thị trường
1.2.2.4 Qu ản trị rủi ro tín dụng theo Basel II
Basel II tạo một bước hoàn thiện hơn trong xác định tỷ lệ an toàn vốn nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I và khuyến khích các NH thực hiện các phương án quản lý rủi ro tiên tiến hơn Basel II đưa ra một loạt các phương án lựa chọn, cho phép quyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt động NH Basel II bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện rủi ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột sau:
Trang 40Trụ cột thứ nhất của Basel II: Yêu cầu vốn tối thiểu Tương tự như Basel
I, Basel II vẫn quy định mức vốn an toàn ≥ 8%, được xác định bằng cách lấy tổng vốn chia cho tài sản có rủi ro
Trụ cột thứ hai của Basel II: Quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát nhắm vào việc đảm bảo rằng mỗi NH có quy trình nội bộ tốt để đánh giá mức an toàn vốn dựa trên đánh giá toàn diện về rủi ro Các chuyên gia giám sát sẽ chịu trách nhiệm đánh giá NH làm tốt như thế nào trong việc đánh giá nhu cầu vốn của họ tương quan với rủi ro
Trụ cột thứ ba của Basel II : Nguyên tắc thị trường và minh bạch thông tin Hiệp ước này nhấn mạnh tiềm năng đối với tính kỷ luật của thị trường đối với việc củng cố các quy định về vốn và những nỗ lực thanh tra giám sát khác nhằm thúc đẩy sự an toàn và sự lành mạnh trong các NH và các hệ thống tài chính Hiệp ước này đề ra một số đề nghị về công bố thông tin như yêu cầu bắt buộc, một vài đề nghị là những điều kiện tiên quyết để chấp thuận việc thanh tra giám sát Việc công bố thông tin cốt lõi chuyển tải những thông tin mang tính sống còn cho tất cả các định chế và quan trọng cho tính kỷ luật của thị trường Việc công bố thông tin phụ thuộc vào “tính trọng yếu” Thông tin
là “quan trọng” nếu việc bỏ lỡ thông tin này hoặcông bố sai thông tin này có thể thay đổi hoặc ảnh hưởng đến việc đánh giá hoặc ra quyết định của người
sử dụng dựa trên thông tin đó
1.2.3 Các nhân t ố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Các nhân t ố khách quan
- Các yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô:
Trong một nền kinh tế, chính phủ ra đưa ra các chính sách tiền tệ và ngân hàng là đơn vị thực hiện các chính sách đó Tuy nhiên, những chính sách đó
có thể có lợi cho ngân hàng, nhưng cũng có thể có hại Khi mà ngân hàng nhà nước thay đổi lãi suất huy động, hoặc tỷ lệ dự trứ bắt buộc… nó làm thay đổi