Tiếng cười không thể thiếu và không bao giờ vắng bóng trong văn học dân gian ViệtNam. Xuất phát từ bản chất hồn nhiên, chất phác và cuộc sống nghèo khó từ xa xưa,xuất phát từ tín ngưỡng phồn thực của người dân lao động nông nghiệp, …Các tác giảxây dựng tiếng cười dưới góc nhìn sâu sắc, chân thực về cuộc sống tại thời điểm bấygiờ, một mặt tập trung vào lột tả những chuyện ngược đời, những thói xấu trong xãhội, mặt khác là từ những vấn đề đó đẩy câu chuyện lên cao trào gây tiếng cười hả hêvà đưa người đọc tới chân lý đúng đắn của cuộc sống. Họ đấu tranh bằng tiếng cườiphê phán, chế giễu những cái trái tai gai mắt mà họ thấy. Cho nên, cung bậc đầu tiêncủa tiếng cười dân gian là tiếng cười hài hước phản ánh tinh thần lạc quan, khỏekhoắn của nhân dân, đó là tiếng cười để quên đi những mệt mỏi phiền muộn trong đờithường. Người nông dân bị hạn chế về tầm nhìn, địa vị xã hội, nên có phê phán xã hộithì cái cười cũng chưa thể sâu cay như cái cười của nhà nho… Tuy thế, họ đã khẳngđịnh được giá trị của dòng văn học trào phúng dân gian trong nền văn học dân tộc. Tiếng cười dân gian trong mỗi thời kỳ và mỗi chủ đề có cung bậc rất khác nhau.Người nông dân trong xã hội phong kiến ở thế yếu, bị áp bức bóc lột mà lại thấp cổ béhọng, cho nên họ sử dụng tiếng cười làm vũ khí đấu tranh. Dễ dàng tìm thấy tiếngcười dân gian trong tác phẩm ca dao, hò, vè, truyện tiếu lâm, truyện cười, truyệnTrạng, các vai hề. Nhưng không phải chỉ có mỗi tầng lớp địa chủ, phong kiến thì mới có bản mặt xấuxa, hèn tiện. Chính cái lỗi thời, xấu xa vẫn đang len lỏi đâu đó trong tầng lớp nhân dânlao động, bởi có lẽ do sự nghèo túng, đói khổ, cuộc sống tiến lên mà những tập tục cổhủ vẫn níu giữ chân họ, đã đưa họ đến con đường bần cùng hóa. Cho nên tiếng cườixuất phát từ đây cũng có ý nghĩa như tiếng nói phê phán những thói hư tật xấu, nhữnghủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, thói lười,…
Trang 1Mục lục
I NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 3
1.1 Khái quát về tác giả 3
1.1.1 Nguyễn Khuyến 3
1.1.2 Tú Xương 4
1.2 Khái quát về tiếng cười trong văn học Việt Nam 5
1.2.1 Tiếng cười trong văn học dân gian 5
1.2.2 Tiếng cười trong văn học thành văn 5
II SO SÁNH TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN VÀ TÚ XƯƠNG 6
2.1 Điểm tương đồng trong tiếng cười của Nguyễn Khuyến và Tú Xương 6
2.2 Điểm khác biệt giữa tiếng cười của Nguyễn Khuyến và Tú Xương 8
2.2.1 Đối tượng châm biếm 8
2.2.2 Về cách khai thác nội dung, nghệ thuật 12
2.2.3 Đặc điểm tiếng cười 14
2.2.4 Tiêu chuẩn phê phán 16
III KẾT LUẬN 17
IV Danh mục tài liệu tham khảo 18
Trang 2I NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1 Khái quát về tác giả
1.1.1 Nguyễn Khuyến
a Tiểu sử
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), tên thật là Nguyễn Văn Thắng, sau khi thi đậu ông được vua Tự Đức đổi tên thành Nguyễn Khuyến, hiệu là Quế Sơn (tên một ngọn núi trong huyện), tự Miễn Chi
Quê ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo Cha là Nguyễn Liễn, đỗ 3 khoa tú tài (nhân dân gọi là cụ Mền Khải), làm thầy đồ dạy học Mẹ là Trần Thị Thoan, người Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định
Thuở nhỏ Nguyễn Khuyến theo học với cha cho đến năm 8 tuổi thì theo gia đình lên quê nội để sinh sống Nguyễn Khuyến được biết đến là một người thông minh, hiếu học Năm 18 tuổi đã bắt đầu lều chõng đi thi, trải qua 4 kỳ thi liên tiếp: 1852, 1855,
1858, 1861 nhưng đều không đỗ Cho tới năm 1864, ông đậu Giải nguyên trường thi
Hà Nội Các năm tiếp theo ông đều thi trượt mãi tới năm 1871 thì liên tiếp đỗ đầu thi Hội thi Đình, và kể từ đó ông thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ Năm ấy ông
30 tuổi, sau gần 20 năm bước vào con đường khoa cử
Bắt đầu làm việc ở Quốc sử quán Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học Thanh Hóa, rồi Án Sát Thanh Hóa Cuộc đời làm việc của ông gặp nhiều chông gai trắc trở, bị giáng chức rồi lại là phó sứ cùng chánh sứ Lã Xuân Oai sang Mãn Thanh Ra tới Bắc, chưa kịp đến biên giới thì sứ bộ bị bãi Ông lấy cớ đau yếu xin về quê nghỉ Thời loạn ông về quê làm ẩn sĩ, dù được mời ra làm quan nhưng ông từ chối, năm 1884 (50 tuổi) Nguyễn Khuyến chính thức cáo quan về hưu
b Tác phẩm tiêu biểu
Nguyễn Khuyến sáng tác thơ văn chủ yếu sau năm 1884, khi mà ông chính thức cáo quan về hưu Thơ văn chữ Hán còn khoảng 200 bài trong Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập,… hầu hết là thể thơ trữ tình Và các tập thơ chữ Hán như: Hữu cảm kỳ 1, Ký Duy Tiên án sát sứ,…
Thơ văn chữ Nôm còn khoảng 100 bài thơ Nôm Đường luật, hát nói, song thất lục bát… Ông vừa là một nhà thơ trào phúng, vừa là một nhà thơ trữ tình nhuộm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương Các tập thơ Nôm như Anh Giả Điếc, Đề Tranh Tố Nữ, Đêm Đông Cảm Hoài, Tự trào, Thu vịnh, Thu Điếu,
Trên cả hai lĩnh vực trên thì Nguyễn Khuyến đều rất thành công, để lại di sản văn chương có ý nghĩa cho nền văn học nước nhà
c Phong cách sáng tác
Vì sống trong hoàn cảnh đặc biệt nên nội dung thơ ông nói lên tấm lòng yêu nước sâu đậm, thiết tha Ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, lo lắng trước hiện tình đất nước khiến thơ văn của ông cũng đầy nỗi tâm sự và rồi quyết định lui về ở ẩn Nguyễn Khuyến là một nhà thơ đau với nỗi đau của nhân dân, ông buồn cho sự nghèo đói, đau đớn khi phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan thời bấy giờ Đồng thời tỏ rõ thái độ bất hợp tác, chống đối thực dân Pháp Bên cạnh đó, tình yêu với thiên nhiên, đất nước,
Trang 3tình cảm gia đình, tình bạn đều là những chất liệu hiện thực được ông đưa vào trong thơ văn của mình
Không gian trong thơ Nguyễn Khuyến là làng quê Việt Nam với những gian khó, lo toan vất vả; ông sống như một người trí thức nông thôn với cuộc sống yên ả, nhàn tản
mà nghèo khó, lo lắng những nỗi lo của người nông dân như mất mùa, thuế má, nghèo đói Bức tranh phong cảnh được Nguyễn Khuyến miêu tả qua 3 bài thơ Thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) Đặc biệt là bài “Thu điếu” cho ra thấy được màu sắc mùa thu ở Bắc Bộ, những hình ảnh, câu từ thể hiện thiên nhiên yêu đất nước của tác giả Bài thơ
tả cảnh ngụ tình đặc sắc, viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm
Ngoài ra, Nguyễn Khuyến còn có thể loại thơ trào phúng nhưng không nhiều, chủ yếu là tâm sự của một trí thức bất lực trước thời cuộc mà lui về ẩn dật nơi thôn dã, khắc khoải lòng yêu nước thích thú với cuộc sống nông thôn Thơ của ông hay cả Hán lẫn Nôm, thơ thất ngôn đã đạt đến tuyệt đỉnh
1.1.2 Tú Xương
a Tiểu sử
Trần Tế Xương (1870 – 1907), lúc đầu tiên là Trần Duy Uyên, sinh năm 1870 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn họ Phạm sau đổi thành họ Trần là bởi vào đời nhà Trần lập công lớn được phong quốc tính (Vua cho đổi theo họ nhà vua)
Cha là Trần Duy Nhuận thi nhiều lần nhưng không đỗ đạt Cuộc đời của Trần Tế Xương có 2 điểm đáng chú ý: Khoa cử lận đận và là nhà nho lỡ thời gia nhập cuộc sống đô thị Ông đi thi từ năm 17 tuổi, đó khoa Bính Tuất (1886), thi 8 lần, lần cuối cùng là năm 1906, chỉ một lần đậu duy nhất là tú tài năm Giáp Ngọ 1894
Cuộc đời của ông ngắn ngủi chỉ có 37 năm, sinh ra trong hoàn cảnh đất nước chịu nhiều bi thương Lục tỉnh Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay Pháp với hàng loạt các hiệp ước (Hiệp ước Harmand (1883), Hiệp ước Patonot (1884)), thừa nhận sự thống trị của Pháp trên đất nước Việt Nam, các phong trào kháng chiến diễn ra sôi nổi nhưng lần lượt thất bại
b Tác phẩm tiêu biểu
Tú Xương có cho gia tài văn chương của bản thân trên 100 bài thơ Nôm Tương truyền ông được Nguyễn Khuyến đánh giá rất cao:
“Kìa ai chín suối Xương không nát
Có nhẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”
Thơ ca của ông có rất nhiều bài được đánh giá hay và được mọi người yêu thích Ví
dụ như bài thơ Thương vợ, Văn tế sống vợ, Đánh tổ tôm,…
c Phong cách sáng tác
Nội dung trong các tác phẩm của ông hầu như nói về khoa cử, nho học và hình ảnh một nền nho học đang thoái hóa và cảnh nghèo khó của dân trong hoàn cảnh đất nước Nhà nho kiểu cũ với ước mơ công danh, người tài tử sống trong xã hội tư sản hóa với ước mơ công danh, nhưng lại bị dằn vặt bởi sưu thuế, cơm áo, con cái Chỗ tự hòa duy nhất là đạo đức trong sạch, nếp sống phong lưu, không xu thời, không làm tay sai cho ngoại bang, và nhiều khi còn tỏ ra lạc hậu trước những sự đổi thay của thời cuộc Trong sự nghiệp cầm bút của Tú Xương, ông khai thác thêm đề tài viết về vợ Hình ảnh người vợ tần tảo với gánh hàng trên vai là hình tượng tượng trưng cho nền thương
Trang 4mại cổ truyền của người Việt, cũng như người nông dân đi cày tượng trưng cho nền nông nghiệp Tả công dung ngôn hạnh, nhưng tần tảo,vất vả lại có cái mạnh mẽ, hoạt bát của người phụ nữ Việt Nam Tiêu biểu là bài “Thương vợ” và “Văn tế sống vợ” Đằng sau hình ảnh người vợ là tiếng cười tự trào chua xót, nỗi ân hận về sự vô dụng của mình
Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là nhà thơ trào phúng chua cay thời buổi nhố nhăng của tầng lớp thị dân mới Phê phán quan lại cấp thấp ham tiền, nhố nhăng, bất tài, chế độ phong kiến mục nát, bọn thực dân Pháp tàn ác, quan lại, tay sai cho giặc Ông luôn đứng về phía người dân nghèo
Nhìn chung, Tú Xương thuộc thế hệ nhà nho cuối cùng của nền nho học Việt Nam, vừa là một thành viên vừa là chứng nhân của một thế hệ nhà nho đã mất hết sức sống, đang tan rã và nhập vào những đô thị sầm uất, xô bồ của thời buổi đầu đang tư sản hóa Ông dùng ngòi bút của mình để tạo nên một bức tranh quay cuồng bởi đồng tiền, bức tranh thể hiện sự thương yêu người vợ tần tảo sớm hôm
1.2 Khái quát về tiếng cười trong văn học Việt Nam
1.2.1 Tiếng cười trong văn học dân gian
Tiếng cười không thể thiếu và không bao giờ vắng bóng trong văn học dân gian Việt Nam Xuất phát từ bản chất hồn nhiên, chất phác và cuộc sống nghèo khó từ xa xưa, xuất phát từ tín ngưỡng phồn thực của người dân lao động nông nghiệp, …Các tác giả xây dựng tiếng cười dưới góc nhìn sâu sắc, chân thực về cuộc sống tại thời điểm bấy giờ, một mặt tập trung vào lột tả những chuyện ngược đời, những thói xấu trong xã hội, mặt khác là từ những vấn đề đó đẩy câu chuyện lên cao trào gây tiếng cười hả hê
và đưa người đọc tới chân lý đúng đắn của cuộc sống Họ đấu tranh bằng tiếng cười phê phán, chế giễu những cái trái tai gai mắt mà họ thấy Cho nên, cung bậc đầu tiên của tiếng cười dân gian là tiếng cười hài hước phản ánh tinh thần lạc quan, khỏe khoắn của nhân dân, đó là tiếng cười để quên đi những mệt mỏi phiền muộn trong đời thường Người nông dân bị hạn chế về tầm nhìn, địa vị xã hội, nên có phê phán xã hội thì cái cười cũng chưa thể sâu cay như cái cười của nhà nho… Tuy thế, họ đã khẳng định được giá trị của dòng văn học trào phúng dân gian trong nền văn học dân tộc Tiếng cười dân gian trong mỗi thời kỳ và mỗi chủ đề có cung bậc rất khác nhau Người nông dân trong xã hội phong kiến ở thế yếu, bị áp bức bóc lột mà lại thấp cổ bé họng, cho nên họ sử dụng tiếng cười làm vũ khí đấu tranh Dễ dàng tìm thấy tiếng cười dân gian trong tác phẩm ca dao, hò, vè, truyện tiếu lâm, truyện cười, truyện Trạng, các vai hề
Nhưng không phải chỉ có mỗi tầng lớp địa chủ, phong kiến thì mới có bản mặt xấu
xa, hèn tiện Chính cái lỗi thời, xấu xa vẫn đang len lỏi đâu đó trong tầng lớp nhân dân lao động, bởi có lẽ do sự nghèo túng, đói khổ, cuộc sống tiến lên mà những tập tục cổ
hủ vẫn níu giữ chân họ, đã đưa họ đến con đường bần cùng hóa Cho nên tiếng cười xuất phát từ đây cũng có ý nghĩa như tiếng nói phê phán những thói hư tật xấu, những
hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, thói lười,…
1.2.2 Tiếng cười trong văn học thành văn
Giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XIX là giai đoạn đánh dấu sự chuyển biến rõ rệt về quan niệm sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Bối cảnh xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp cho nhà văn, nhà thơ kiến tạo tác phẩm Tiếng súng xâm
Trang 5lược của thực dân Pháp đã làm bùng nổ hàng loạt những vấn đề về đời sống xã hội
Có thể nhận thấy đây là một thời đại khủng hoảng toàn diện cả về hệ tư tưởng đến ý thức chính trị và cả lối sống của người dân Thế nên, quan niệm sáng tác của đại bộ phận văn sĩ cũng thay đổi theo hướng thuận chiều với bối cảnh lịch sử Đề tài ngâm vịnh, ngợi ca ở các giai đoạn trước đã tạm lắng xuống nhường chỗ cho những bức tranh cuộc sống hết sức chân thực diễn ra trong cuộc sống hàng ngày Các tác giả tập trung vào những cảm hứng nghệ thuật bắt nguồn từ mọi vấn đề của cuộc sống, họ xoáy sâu vào những khía cạnh đời sống như: đả kích các hiện tượng nhố nhăng đương thời đã phá hoại luân thường đạo lí, đạo đức hàng ngàn năm ông cha ta tạo dựng, phê phán bọn quan lại hữu danh vô thực, chỉ giỏi tài đục khoét, châm biếm chuyện học hành thi cử
Thay vào đó là sự xuất hiện của văn chương trào phúng, diễn ra bước phát triển trong quan niệm văn học và lý tưởng thẩm mĩ Đội ngũ sáng tác văn chương trào phúng cơ bản vẫn là nhà nho mang ý thức hệ phong kiến, nhưng càng gần hiện đại thì họ càng
có mối quan hệ gần gũi với nhân dân hơn Thơ trào phúng không lấy phạm trù thẩm
mĩ của cái cao thượng trong văn học trung đại làm trung tâm, mà tìm cảm hứng trong cuộc sống thường nhật Nhà thơ trào phúng đã đứng về phía nhân dân, tố cáo quan lại,
tố cáo tội theo Tây của các cụ lớn, chĩa mũi nhọn vào bọn thực dân cướp nước Văn chương trào phúng trở thành công cụ đấu tranh chính trị Tiếng cười không dừng lại ở mức độ cảm tính, khôi hài trước những chuyện vặt vãnh Tiếng cười trở nên gai góc
và hiểm ác, đậm tính trí tuệ để mổ xẻ và phơi bày sự thật xấu xa được bao bọc bởi vẻ ngoài đẹp đẽ Sự mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, cái giả và cái thật, cái xấu và cái đẹp, cái thấp hèn và cái cao cả khiến cả nhà nho và nông dân đều bật ra tiếng cười, tiếng cười trở nên đồng cảm hơn
Đến đầu thế kỉ XX, văn chương trào phúng được viết dưới ngòi bút của những nhà cách mạng cả Hán học và Tây học như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Huy Liệu, Xuân Thuỷ, Nhiêu Tâm Đây là tiếng cười đầy bản lĩnh của nhà cách mạng trong đấu tranh và tù đày, đồng thời cũng là tiếng cười nghìn gươm tố cáo đanh thép tội ác của kẻ thù cấp cao nhất Cũng ở thời kì này, tiếng cười Tú Mỡ, Đồ Phồn… cũng đánh ngầm những đòn hiểm vào kẻ thù chung của toàn dân tộc Đến giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1954, có thêm Xích Điểu, Thợ Rèn,… cũng dùng văn chương mang tiếng cười phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đánh thẳng những đòn chí mạng vào kẻ thù của dân tộc, làm cho suối nguồn văn chương trào phúng luôn dạt dào
Cho đến ngày nay, thơ ca trào phúng đã được đánh giá cao hơn, tuy chưa thật sự xứng đáng với vai trò của nó Tiếng cười trong văn học hiện đại chẳng những giúp con người giải tỏa căng thẳng do áp lực cuộc sống, mà còn là công cụ đấu tranh chống lại những bất hợp lý, tiêu cực, tệ nạn, những thói hư tật xấu để dọn đường cho cái mới, cái tiến bộ nảy sinh…
II SO SÁNH TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN VÀ TÚ XƯƠNG
2.1 Điểm tương đồng trong tiếng cười của Nguyễn Khuyến và Tú Xương
a Chung hoàn cảnh, nỗi niềm tâm sự, lòng yêu nước
Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đây là giai đoạn vô cùng biến động của cả lịch sử xã hội lẫn văn chương Bấy giờ Pháp xâm lược Việt Nam, triều Nguyễn nhanh chóng đầu hàng, thực dân Pháp ngay
Trang 6sau đó đã lên nắm quyền và hình thành chế độ thực dân nửa phong kiến Triều đình thì trên bờ vực lụi tàn, không chút tiếng nói, chế độ phong kiến thì ngày một thối nát, đời sống nhân dân khổ cực, lầm than, ai oán vô cùng Xô thuế nặng nề, đồng tiền mới là thứ giá trị quan trọng nhất, và con người sống với nhau chỉ toàn là mục đích, sự xu nịnh Cuộc sống thì bất công, nhân dân thì đói khổ, tất thảy những điều bi ác, tàn nhẫn
và nực cười ấy đã chạm sâu đến trái tim của nhiều nhà nho yêu nước, trong đó có cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương Tinh thần yêu nước, thương dân, và nỗi lòng trăn trở trước số phận của đất nước, của dân tộc trong mình đã được cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương mang hết vào văn chương Họ đem nỗi đau, lòng chua xót và cả những tiếng cười sâu cay vào những tác phẩm của mình với mong muốn không những vạch trần được cái xã hội bấy giờ mà còn giễu cợt được bọn bán nước cầu vinh, giả tạo, lố lăng
“ Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ Xương già da cóc có đau không?”
Trong bài Hỏi thăm quan tuần mất cướp, Nguyễn Khuyến đã thẳng thắn “hỏi thăm” tên quan tuần, ngày trước thì hoành hành cướp bóc dân nghèo để rồi giờ lại bị tên cướp chẳng biết từ đâu đánh cho lại còn mất đồ Nguyễn Khuyến đã trực tiếp phê phán cái thói tham lam, hèn hạ của không chỉ tên quan tuần trong bài thơ mà còn cả những tên quan lại xấu xa thời bấy giờ Hay trong bài Phố hàng Song của nhà thơ Tú Xương ông viết rõ làm dẫn xác đáng cho một cái hiện thực thối nát, có mỗi một con phố thôi mà lại không biết bao nhiêu tên quan tham chức, tham tiền
“Ở phố hàng Song thật lắm quan
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang”
b Lên án những thói hư tật xấu của xã hội và con người trong thời buổi loạn lạc Bên cạnh vấn đề về xã hội khắc nghiệt, bất công, Tú Xương và Nguyễn Khuyến còn tập trung chế giễu những thói hư tật xấu bê bết của xã hội Cả hai nhà thơ đều nhận thấy giữa thời buổi đất nước loạn lạc, tình thế khó khăn, mọi giá trị đều xếp sau đồng tiền Cả hai nhà nho đều nhìn thấy thực trạng tệ hại, bi thương ấy, con người sống sa đọa, trụy lạc, lớp lớp thì bị chế độ thực dân tiêm nhiễm vào đầu những thói xấu, thói quen hư hỏng để dẫn đến nước mất nhà tan, nhân dân thì cũng mù mịt thông tin, không còn khả năng, nhân thức để quan tâm đến đất nước bấy giờ Mô hình con người thực dụng, không làm việc mà chỉ ăn chơi, hưởng thụ, xu nịnh, chỉ mong đạt được lợi ích cũng là tuýp đề tài phổ biến mà cả Tú Xương và Nguyễn Khuyến đều hướng đến trong thơ ca của mình Nguyễn Khuyến lên án, oán trách và răng đe, đem sự trách móc giễu cợt của mình vào cái hiện thực xã hội đang dần băng hoại cả những giá trị đạo đức, đồng tiền giờ đây là thứ trên tất thảy mọi điều
“Nổi tiếng mượn màu son phấn mụ Đem thân chuộc lấy tội tình cha
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?
Đời trước làm quan cũng thế a?”
Còn đối với Tú Xương cũng vậy, ông cũng xót xa trước tình thế con người hiện tại, sa đọa trụy lạc, xã hội thay đổi thì con người cũng đã theo đó mà đổi thay hoàn toàn
c Đối tượng hướng đến đa dạng, trong đó lấy chính bản thân mình để tự trào, châm biếm
Đối tượng châm biếm và trào phúng của cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều hết sức đa dạng, phong phú, trước hết cả hai đều tự lấy bản thân mình ra làm tiền đề Ví
dụ để đưa đến những hình ảnh giễu cợt cười khinh cho cái xã hội, con người và bọn
Trang 7quan lại bấy giờ Ở Nguyễn Khuyến ông đưa bản thân mình vào từng dòng thơ vừa để
“tự lên án” bản thân mình, từ đó bóc trần hiện thực thối nát đương thời, ông không ngần ngại mà nói về mình, phơi bày mình rõ ràng trong thơ ca, nhẹ nhàng như châm biếm cũng đầy sâu sắc và thâm thúy:
“Nghĩ lại mình cũng gớm nhỉ, Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”
Ông đưa mình trực tiếp vào bài tự trào, từ đó thể hiện nụ cười chua chát về thực tại, nhất là nơi chốn quan trường, mọi thứ đều bằng đồng tiền, giả tạo và thối nát, bảng vàng, hư vinh, tất cả đều bằng đồng tiền mà mua được, thực tế chẳng có tài cán hay một sự nỗ lực nào Qua cách lấy bản thân đưa vào thực tế thay vì bằng cách chọn các nhân vật khác để đưa vào thơ mà giễu cợt thì Nguyễn Khuyến cũng đã phần nào khẳng định được giá trị, vị trí và tài năng của mình
Đối với dòng thơ tự trào của mình, Tú Xương cũng giống như Nguyễn Khuyến, phơi bày toàn bộ bản thân, kể cả tật xấu để đưa vào văn chương của mình, dẫu như thế là phá vỡ dáng vẻ uy nghiêm của nhà nho, đó cũng chính là sự bức phá mà ông có được Tính xấu mà Tú Xương đưa vào văn chương cũng thể hiện được đó là những thứ đã xuất hiện và tồn tại vô cùng phổ biến trong xã hội đáng thương trách này Bọn quan lại hay nhiều người phù phiếm luôn tạo cho mình một lớp ngụy trang hoàn hảo, học thức địa vị, tạo nên cái vẻ ngoài đạo mạo, nhưng tiếc thay, tất cả cũng chỉ là giả mạo
mà thôi Tú Xương đã phóng đại mình, để qua đó mà cười cợt, châm biếm cái xã hội đang tha hóa không phanh Ông trau chuốt nhưng cũng giản dị, ông tự chê trách mình như một đứa con của vợ, thất bại, vô tích sự và chẳng biết làm gì, cũng qua đó mà phản ánh nhiều con người cũng có lối sống sa đọa, chỉ ưa phụ thuộc, hưởng thụ:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng”
2.2 Điểm khác biệt giữa tiếng cười của Nguyễn Khuyến và Tú Xương
2.2.1 Đối tượng châm biếm
Nguyễn Khuyến
a Đối tượng châm biếm trong thơ Nguyễn Khuyến: Người danh giáo bị tha hóa
Những quan lại Nho giáo bị tha hóa, ham tiền, những thầy đồ mất tư cách Như trong bài thơ Tiến sĩ giấy:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!”
Ở 4 câu đầu ta thấy, tác giả như miêu tả về hình ảnh của các bậc tiến sĩ danh giá trong
xã hội Nho giáo xưa Để đạt đến danh tiến sĩ, người học phải trải qua biết bao nhiêu năm tháng dùi mài kinh sử, và với chí là giúp nước giúp dân Nhưng trong bài thơ này, Nguyễn Khuyến như cười khinh miệt những hình thức bên ngoài làm nên phong thái của một tiến sĩ, xem đó như một món đồ chơi Tầng lớp quan lại thời kì này như bù nhìn, mà không giúp gì được cho đất nước
Trang 8
Hay trong bài Lời vợ anh phương chèo:
“Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”
Cách nói châm biếm một xã hội nhố nhăng, tôn ti trật tự phong kiến chẳng còn giá trị
gì cả Vua quan lúc này chỉ như những “tên hề”, chứ chẳng còn mang lại ích lợi cho đất nước trong tình cảnh đang bị thực dân hóa Những tên quan, tên vua cũng chỉ giữ cho mình cái danh nhưng bên trong dường như rỗng tuếch
Nguyễn Khuyến còn châm biếm bọn quan lại ham mê tiền trong bài Tặng đốc học
Hà Nam:
“Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp, Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên…
Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt, Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.”
Bọn quan tham nhũng ấy không quan tâm đến việc phụng sự đất nước như những gì được dạy trong sách Thánh hiền Bọn quan ấy cậy thế, cậy quyền mà ra sức vơ vét, tìm mọi cách làm thế nào có nhiều tiền vào túi Tầng lớp vua quan một thời được tôn trọng nhưng giờ đây đã trở nên tầm thường vì đạo đức ngày một suy đồi
Những thầy đồ ngày càng mất tư cách cũng là đối tượng châm biếm của Nguyễn Khuyến như trong bài Thầy đồ mắc lừa gái Trong tâm thức của người xưa, thầy đồ mang một vai trò, vị trí quan trọng trong việc giáo dục, dạy dỗ Nhưng trong bài thơ này, Nguyễn Khuyến có cái nhìn châm biếm, mỉa mai những thầy đồ có thói “trăng hoa”, ham mê sắc dục, mất hết tư cách của một nhà Nho thanh liêm, khiết tịnh
b Tự trào bất lực, hữu danh vô thực
Đối tượng châm biếm tiếp theo là chính bản thân Nguyễn Khuyến Đứng trước một
xã hội có quá nhiều sự thay đổi đột ngột, những giá trị cũ không còn chỗ đứng, ngay
cả những người có tài như ông cũng không được trọng dụng Một số sáng tác mang tính tự trào, như trong bài Tự trào:
“Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng”
Tự trào chính bản thân, cười cho cái số phận của mình Có tài, có sức nhưng lại không thể dụng để giúp nước, cứu dân Một đời không màng danh lợi, chỉ mong góp công phục quốc nhưng tất cả cũng chỉ là mộng ảo
Mà nói đến cái tự trào, tự châm biếm bản thân thì nổi bật nhất là bài Tiến sĩ giấy Bài thơ không chỉ châm biếm cái chức danh “tiến sĩ” ảo, có danh nhưng không có tài của một bộ phận hám danh, mê công danh Thì hơn hết, bài thơ là một “tràn tự cười” chính bản thân Nguyễn Khuyến Chính địa vị của ông cũng là đối tượng cho cái cười của ông Tự cười cho chính bản thân bất lực trường thời cuộc, địa vị hiện tại cũng không giúp ích được gì cho đất nước Cái danh vị đó không còn được quý trọng mà chỉ như một món đồ chơi Điệu cười nghe sao mà vừa mỉa mai, vừa đắng cay thế
c Những người đàn bà ham tiền, cậy thế, trắc nết
Lấy Tây, lấy quan già nhưng vẫn ham danh giá cũ Những phẩm hạnh của người phụ
nữ xưa dường như là bị xóa mờ mà thay vào đó là sự ham mê địa vị, danh giá Bọn phụ nữ ấy chấp nhận lấy Tây để mong muốn cái những vinh hoa, sung sướng như
Trang 9trong bài Lấy Tây,Tặng bà Hậu Cẩm Hay kể cả những người đàn bà mà Nguyễn Khuyến gọi là hạng “đĩ”, ưa những thú vui dung tục, tầm thường Những người đàn bà
“vứt” bỏ lễ tiết, chạy theo hư danh, để rồi khi vỡ mộng thì lại quay về cố hương:
“Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời, Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
…
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín, Còn một phương để nhịn lấy chồng.”
(Đĩ cầu Nôm) Tóm lại: Đối tượng châm biếm, mỉa mai của Nguyễn Khuyến là những giai cấp, tầng lớp cũ khi đứng trước sự thay đổi chóng mặt của thời đại, buộc phải gia nhập xã hội mới với những vấn đề nhức nhối, làm băng hoại đạo đức cũng như sự xuống cấp trầm trọng của chế độ Nho giáo lỗi thời
Tú Xương
Đối tượng của tiếng cười trong thơ Tú Xương là những người thành thị bị tha hóa
a Tầng lớp quan lại cấp thấp, bất tài, nhố nhăng
Như trong bài Đùa ông Phủ:
“Tri phủ Xuân Trường được mấy niên, Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên
Chữ “thôi” chữ “cứu” không phê đến, Ông chỉ quen phê một chữ “tiền”!”
Những bọn quan lại hám tiền, bất tài không quan chữ gì khác ngoài chữ tiền Chúng không phê chuẩn những tấu sớ theo đúng bổn phận của chúng nhưng chỉ chăm lo cho túi tiền, cho những lợi ích cá nhân vô cùng tham lam
Bọn quan lại ấy tài năng không biết đến đâu nhưng lại ăn chơi trát tán, đam mê cờ bạc như trong bài Chế ông Đốc học:
“Ông về đốc học đã bao lâu,
Cờ bạc rong chơi rặt một màu!
Học trò chúng nó tội gì thế,
Để đến cho ông vớ được đầu?”
b Các sĩ tử dốt nát
Khác với hình ảnh sĩ tử trong thời cực thịnh của Nho giáo đạo mạo, tài năng Bọn sĩ
tử trong thơ trào phúng của Tú Xương là bọn dốt chữ Nho, vô cùng bất tài Tú Xương giễu cợt cái danh xưng “thầy đồ” quá dễ đạt được, đến cả một thằng bán sắt dù không học gì mà cũng có thể làm thầy đồ như trong bài Giễu ông Đồ Bốn ở phố Hàng Sắt:
“Hỏi thăm quê quán ở nơi mô?
Không học mà sao cũng gọi đồ?
Ý hẳn người yêu mà gọi thế, Hay là mẹ đẻ đặt tên cho!
Áo quần đĩnh đạc trông ra cậu,
Ăn nói nhề nhàng nhác giọng Ngô
Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt, Mũi nó gồ gồ trán nó giô.”
Trang 10Cả những bọn sĩ tử hay chính những người canh thi dưới con mắt của Tú Xương đều dốt nát, chẳng biết chữ gì vậy mà làm chủ việc thi cử như trong bài Chế ông huyện Đ Qua đó, đủ cho ta thấy một nền giáo dục đang dần xuống cấp bởi sự gian dối:
“Thánh cắt ông vào chủ việc thi, Đêm ngày coi sóc chốn trường qui
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy?
Bá ngọ thằng ông biết chữ gì!”
c Tự trào nghèo, ăn bám
Về tiểu sử, Tú Xương nhiều lần thi không đỗ, nhà nghèo túng Vì vậy, ý thức được vấn đề của mình, ông làm nhiều bài thơ tự trào để cười chính mình.Ông cười cho chính cái nghèo túng của chính mình Nhà đông con nhưng hoàn cảnh thì nghèo nàn Ông mỉa mai, giễu cợt cho chính ông, vốn là một người chồng thân dài vai rộng vậy
mà lại ăn bám vợ mình, để vợ phải nuôi Ví dụ trong hai bài thơ sau:
“Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ Đem chuyện trăm năm trở lại bàn.”
(Quan tại gia)
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.”
(Thương vợ)
d Bọn đàn bà thị dân hám danh, dâm đãng
Những người đàn bà thị dân mới lấy quan, lấy Tây không chỉ vì hám tiền, danh vọng
mà còn là do thói mê dâm đãng
“Cô Ký sao mà đã chết ngay?
Ô hay, trời chẳng nể ông Tây!
Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày
Gớm gan cho những cô con gái Còn rủ rê nhau lấy các thầy!”
(Mồng Hai tết viếng cô Ký) Những người đàn bà thành thị vì danh vọng mà làm bất chấp làm mất đi thanh danh, phẩm hạnh Chúng dường như bị “đĩ hóa”, ngủ với nhiều người, vô cùng dâm loằng, đáng bị khinh miệt
e Dân thành thị mới: lố lăng, kệch cỡm
Trong thời buổi thị dân hóa, bọn người cũ dần trở thành thị dân tân tiến tuy nhiên những giá trị đạo đức suy đồi nhường chỗ cho đồng tiền lên ngôi Chúng tha hồ phô trương khoe khoang, ham thích hưởng lợi mà chẳng quan tâm đến tình cảnh đất nước đang bị xâm lược Hình ảnh phô trương ấy trong bài Mừng năm mới:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối, Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu: