Nhà văn Turgenev đã nói rằng “Điển hình là con người cụ thể của một thời”. Đây là thủ pháp thường thấy trong văn học, xuất hiện ở nhiều tác phẩm,đặc biệt là giai đoạn văn học hiện thực phê phán.Điển hình hóa là thủ pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật đặc sắc, độcđáo, được miêu tả sinh động, hấp dẫn, khái quát được những nét bản chất nhất,quan trọng nhất của con người và đời sống. Ở các thể loại văn học khác nhau,sẽ có những nghệ thuật điển hình tương ứng với thể loại đó. Ví dụ: Thơ trữ tìnhsẽ có nghệ thuật điển hình thể hiện ở cảm xúc và tâm trạng (cảm xúc điển hìnhvà tâm trạng điển hình), các thể loại tự sự như truyện ngắn, tiểu thuyết thì việcđiển hình hóa sẽ được thể hiện ở nhân vật và hoàn cảnh (nhân vật điển hình,hoàn cảnh điển hình).
Trang 1BÀI GIỮA KÌ
VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM 2
NGHỆ THUẬT ĐIỂN HÌNH HÓA
NHÂN VẬT THÚC SINH TRONG TRUYỆN KIỀU
HƯỚNG DẪN: PGS TS ĐOÀN LÊ GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Khái lược về nghệ thuật điển hình hóa 1
2 Phân loại nhân vật Thúc Sinh 1
3 Phương thức điển hình hóa nhân vật Thúc Sinh 2
3.1 Giới thiệu nhân vật 3
3.2 Mối quan hệ với nhân vật Thúy Kiều 4
3.3 Mối quan hệ với nhân vật Hoạn Thư 13
4 Kết luận 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 31 Khái lược về nghệ thuật điển hình hóa
Nhà văn Turgenev đã nói rằng “Điển hình là con người cụ thể của một thời” Đây là thủ pháp thường thấy trong văn học, xuất hiện ở nhiều tác phẩm, đặc biệt là giai đoạn văn học hiện thực phê phán
Điển hình hóa là thủ pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật đặc sắc, độc đáo, được miêu tả sinh động, hấp dẫn, khái quát được những nét bản chất nhất, quan trọng nhất của con người và đời sống Ở các thể loại văn học khác nhau,
sẽ có những nghệ thuật điển hình tương ứng với thể loại đó Ví dụ: Thơ trữ tình
sẽ có nghệ thuật điển hình thể hiện ở cảm xúc và tâm trạng (cảm xúc điển hình
và tâm trạng điển hình), các thể loại tự sự như truyện ngắn, tiểu thuyết thì việc điển hình hóa sẽ được thể hiện ở nhân vật và hoàn cảnh (nhân vật điển hình, hoàn cảnh điển hình)
Cơ sở của điển hình nghệ thuật là điển hình xã hội, nghĩa là sự điển hình
ấy phải phản ánh một loại hiện tượng nào đó trong cuộc sống, phải gợi được cho người đọc hiện tượng của nó, cùng với sự liên tưởng từ hiện thực Và nhân vật điển hình sẽ thường khái quát số phận và tính cách của một loại người, một tầng lớp hay một giai cấp Đơn cử như Chí Phèo – nhân vật điển hình hóa cho hình ảnh người nông dân bị tha hoá trong xã hội phong kiến dưới ngòi bút của nhà văn Nam Cao, hay chị Dậu là người phụ nữ nông thôn điển hình về số phận
và tính cách ở nông thôn những năm trước cách mạng
2 Phân loại nhân vật Thúc Sinh
Theo Tác giả Trần Đình Sử: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” (Nguyễn Thị Kim Vân 2011, tr.13) Đối với từng góc độ và phương diện, ta có thể phân nhân vật ra thành nhiều loại khác nhau:
Xét từ góc độ kết cấu, hay về chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia nhân vật thành các loại như nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân vật phụ
Trang 4Hay nếu xét từ góc độ thể loại, có thể chia nhân vật làm ba loại nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch
Còn xét từ góc độ hệ tư tưởng (về quan hệ đối với lí tưởng), người ta thường chia nhân vật làm hai loại: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho những điều tốt đẹp trong xã hội, cho cái thiện, cho những lý tưởng sống cao quý và có thể coi là nhân vật lý tưởng Ngược lại, nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho cái ác, cái xấu xa, cái đáng bị lên án Nhân vật phản diện thường bị phê phán, phủ định bởi tác giả
và độc giả
Trong Truyện Kiều, ta cũng thấy được sự phân loại theo góc độ hệ tư
tưởng, bao gồm hai tuyến: chính diện (như Kim Trọng, Từ Hải, Thúy Kiều, v.v)
và phản diện (Mã Giám Sinh, Tú Bà, v.v) Ứng với mỗi tuyến, Nguyễn Du có
cách điển hình hóa nhân vật khác nhau Ngoài ra, trong Truyện Kiều còn có
tuyến nhân vật thứ ba, mà Đặng Thanh Lê cho rằng: “Có trường hợp nhân vật
có thể sắp xếp được thuộc cả hai loại vị trí chức năng một và hai” (Nguyễn Thị Kim Vân, 2011, tr.18), mà ta có thể hiểu nhân vật này là con người trung gian trong nhận thức lẫn hành động, và có thể thấy nhân vật Thúc Sinh là một đại diện Đối riêng với loại nhân vật này, Nguyễn Du cũng có cách thức điển hình hóa rất riêng biệt, khác hẳn với các kiểu nhân vật chính diện và phản diện
3 Phương thức điển hình hóa nhân vật Thúc Sinh
Đối với nhân vật trung gian, phương thức điển hình hóa của Nguyễn Du
là nhân vật không cần mô tả quá cụ thể về hình dáng, vẻ mặt,… bởi câu chuyện được kể, hoàn cảnh nhân vật được dựng lên không phải của riêng cá nhân, mà câu chuyện ấy thuộc về một nhóm người, một đẳng cấp xã hội ứng xử theo quy định đẳng cấp của họ Cái nhà văn cần quan tâm và đầu tư ở đây là tên tuổi, dòng dõi, nghề nghiệp, tính cách, ngôn ngữ và biểu hiện tâm lý của nhân vật ấy,
vì khi được khắc họa một cách rõ nét, nhà văn sẽ tạo nên một nhân vật điển hình cho một tầng lớp, giai cấp trong xã hội mà nhân vật thuộc về Trong đó, một trong những yếu tố được nhà văn chú ý mô tả là ngôn ngữ Ngôn ngữ
Trang 5thông thường sẽ chia thành hai loại: ngôn ngữ đối thoại với các nhân vật khác
và ngôn ngữ tâm lý nhân vật (độc thoại nội tâm) Tuy nhiên, đối với những kiểu nhân nhân vật trung gian, để điển hình hóa, nhà văn đã chia ngôn ngữ theo hình thức: ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong Đó là hai giọng điệu, hai cách ứng xử khác nhau, ngôn ngữ bên ngoài là cách mà nhân vật ứng xử với những tầng lớp giai cấp cao hơn nhằm giao tiếp sao cho đúng mực, cho nên
đó thường không phải là bản chất của anh ta; còn ngôn ngữ bên trong là cách
mà nhân vật giao tiếp với những người đồng đẳng hoặc thấp hơn mình, đây là khi mọi suy nghĩ, xúc cảm chân thật nhất của nhân vật được bộc lộ (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2006)
3.1 Giới thiệu nhân vật
Qua những câu thơ ở đầu đoạn Thúy Kiều gặp Thúc Sinh, tác giả đã nén một lượng thông tin vừa đủ trong sáu câu thơ để khái quát về đặc điểm diện mạo của chàng họ Thúc này:
“Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương”
Chỉ hai câu thơ tác giả đã giới thiệu được tên họ, dòng dõi của Thúc Sinh Người này tên Kỳ Tâm, họ là Thúc, vậy tên đầy đủ của Thúc Sinh là Thúc Kỳ Tâm Ở đây ta thấy được dụng ý của Nguyễn Du khi đặt tên cho nhân vật này: dùng họ “Thúc” tức “bó” (trong bó tay, bó buộc) thể hiện tính sợ vợ của anh chàng, còn “Kỳ Tâm” tức tâm lạ, cái tên thể hiện con người có lòng trắc ẩn Ngoài ra, Thúc Sinh thuộc nhà “nòi thư hương”, tức dòng dõi nhà Nho, ham
mê đọc sách Tuy nhiên chàng Thúc nối nghiệp cha, kiêm luôn cả việc buôn bán:
“Vốn người huyện Tích châu Thường Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Truy”
Hai câu thơ trên ý muốn nói, chàng Thúc quê quán ở huyện Tích, Thường Châu, nhưng nối nghiệp cha “theo nghiêm đường” mà chàng đến Lâm Truy để mở hiệu buôn Việc giới thiệu nhân vật như vậy, giúp người đọc nhận thấy được giai cấp xã hội của Thúc Sinh thuộc hạng thấp nhất, bởi tư tưởng Nho gia bấy giờ sắp xếp tầng lớp xã hội theo thứ tự Sĩ – Nông – Công – Thương, nhà buôn
Trang 6là những người tầm thường nhất xã hội Nhưng đổi lại, Thúc Sinh có một tài sản lớn, tiền bạc rất nhiều:
“Thúc Sinh quen thói bốc trời Trăm nghìn đổ một trận cười như không”
Ta có thể thấy được Thúc Sinh là điển hình cho một nhóm người thuộc dòng dõi nhà Nho nhưng lại theo nghiệp buôn bán và có tiền của dư dả Từ điều này
là cầu nối để gợi thêm một nét điển hình của anh ta, đó là Thúc Sinh - tầng lớp thương nhân có rất nhiều mối quan hệ giao thương Nguyễn Du có viết rằng:
“Chiến hòa, sắp sẵn hai bài Cậy tay thầy thợ, mượn người dò la”
Đây là lúc Thúc Sinh gặp Kiều, mong muốn đưa Kiều ra khỏi lầu xanh Thúc Sinh đã tính trước đường đi nước bước để thuận lợi rước Kiều về với mình, dù cho Tú Bà có “chiến” hay “hòa” thì anh chàng họ Thúc vẫn có thể lo liệu được
Lo liệu ở đây là dùng tiền của để “cậy tay thầy thợ”, để thuê “người dò la”, Thúc Sinh dùng tiền, dùng mối quan hệ để giải quyết vấn đề mình gặp phải Tính con buôn của anh thể hiện rõ nhất ở việc sắp xếp sự tình đâu đó rõ ràng, trót lọt để có được thứ mình muốn Việc rước Thúy Kiều ra khỏi lầu Ngưng Bích đối với Thúc Sinh chẳng phải chuyện gì khó
Qua đây ta thấy tác giả không cần mô tả về vẻ mặt, hình dáng hay trang phục của nhân vật nhưng ta vẫn nhận ra tầng lớp xã hội của nhân vật này, và chính đẳng cấp ấy, sẽ quy định lời nói, hành vi và cách đối đãi của nhân vật này với các nhân vật khác Đó chính là điểm độc đáo trong cách Nguyễn Du sử dụng nghệ thuật điển hình hóa với nhân vật Thúc Sinh (Trần Trọng Kim, 2020)
3.2 Mối quan hệ với nhân vật Thúy Kiều
* Ít nhiều có sự đồng cảm sâu xa vì Kiều cùng đẳng cấp thị dân
Đối với Thúy Kiều, Thúc Sinh mến mộ và có những đồng cảm nhất định Sau khi bị Sở Khanh lừa thì Thúy Kiều phải đành an phận, chấp nhận bước vào con đường của một kỹ nữ vâng lời Tú Bà Thúy Kiều nức danh, nổi tiếng gần
Trang 7xa làm say đắm biết bao người, khiến chàng Thúc Sinh theo cha từ huyện Tích Châu thường đến Lâm Tri mở hiệu buôn cũng nghe danh tiếng nàng Kiều Ban đầu khi tìm đến Thúy Kiều, với Thúc Sinh đơn thuần chỉ là những cuộc ăn chơi hưởng lạc ở chốn thanh lâu của những vị khách làng chơi:
“Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi, Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào.”
Dần dần, Thúc Sinh say đắm nhan sắc mỹ miều, lộng lẫy, sắc sảo của Kiều:
“Hải đường mơn mởn cành tơ, Ngày xuân càng gió, càng mưa càng nồng.”
Đây là sự hấp dẫn đến từ thể xác của một người phụ nữ xinh đẹp mà bất kì ai cũng có thể cảm nhận Tuy vậy, Thúc Sinh không chỉ say mê nhan sắc “khuynh nước khuynh thành” của Thúy Kiều mà ít nhiều cũng tìm được tiếng nói chung, một sự đồng cảm sâu xa vì cả hai cùng đẳng cấp thị dân, điều mà Thúc Sinh không thể tìm thấy ở Hoạn Thư
Chính vì cùng đẳng cấp, cùng với nhiều cuộc chuyện trò, ân ái nên cả hai
đã thấu hiểu nhau hơn, cả Thúc và Kiều đã không cầm lòng nổi nữa, lòng nàng
đã xiêu rồi, cả hai xem nhau như tri âm, tri kỷ, gắn bó thân mật hơn:
“Lạ gì thanh khí lẽ hằng, Một dây một buộc ai giằng cho ra.”
Thúc Sinh và Thúy Kiều yêu đương, say sưa nhau đó là lẽ thường của những kẻ đồng thanh đồng khí: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” vì cả hai cùng trẻ đẹp, cùng có tài nên sẽ dễ hiểu tâm ý của nhau Thúy Kiều nức tiếng hoa khôi, có tài cầm kì thi họa, còn Thúc Sinh cũng là một người hào hoa, phong nhã, đa tình mến mộ Kiều nên họ tâm đầu ý hợp cũng không có gì là lạ
Tình cảm của hai người dần dần sâu đậm, nghĩ đến những chuyện nghĩa tình dài lâu:
“Sớm đào tối mận lân la Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.”
Họ tìm đến gặp nhau không phải chỉ vì những chuyện trai gái thường tình nữa,
mà họ đã phải lòng nhau, say đắm đối phương, có sự chuyển biến tình cảm Trước đó, đã có lần Thúy Kiều thề nguyền dưới trăng với Kim Trọng Đó là
Trang 8một mối tình say đắm, mãnh liệt, trong sáng nhưng cũng không kém phần chủ động, táo bạo của một cặp xứng đôi vừa lứa: “người quốc sắc, kẻ thiên tài”, ngay từ cái nhìn đầu tiên họ đã bồi hồi, lưu luyến vì nhau Còn với Thúc Sinh, trước hết chàng là ân nhân xuất hiện cứu vớt cuộc đời Kiều ra khỏi chốn lầu xanh nhơ nhuốc, có thể đưa cuộc đời Kiều sang một trang mới với danh phận là người vợ lẽ, vừa là một người bạn tri âm, bạn đời thấu hiểu lòng nhau Thật không dễ dàng gì để khiến một người con gái xinh đẹp, thông minh, sắc sảo nhưng cũng đã chịu nhiều khổ cực, trải đời như Thúy Kiều bằng lòng thì ắt hẳn Thúc Sinh phải là một người ít nhiều thấu hiểu lòng nàng, đồng cảnh ngộ
Hai người ở bên nhau hưởng thụ những thú vui thanh nhã của những bậc văn nhân tài tử thời xưa:
“Khi gió gác khi trăng sân, Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ
Khi hương sớm khi trà trưa, Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn.”
Họ ngày đêm sớm tối quấn quýt bên nhau, một bước cũng không rời, say sưa uống rượu, ngâm thơ, đánh cờ, chơi đàn trong những khung cảnh lãng mạn có phong (gió), nguyệt (trăng), hương, trà Thúc Sinh dù không phải là một người danh giá, học thức được như Kim Trọng với “nền phú hậu, bậc tài danh” nhưng cũng là một người phong lưu, hiểu biết, yêu mến văn chương nghệ thuật tương đắc với Thúy Kiều Ái tình của họ khác hẳn ái tình của những người phàm phu tục tử mà được kết tinh từ những sự quan tâm, chia sẻ, tận hưởng những thú vui nghệ thuật Đó là một ái tình giữa những bậc tài tử, giai nhân, giữa những người cùng đẳng cấp thị dân
Hai người họ yêu nhau, say mê đắm đuối, thăng hoa trong những cuộc vui thú, càng quen thuộc, hiểu rõ tính tình thì càng quấn quýt, vướng vít nhau:
“Miệt mài trong cuộc truy hoan Càng quen thuộc nết càng dan díu tình.”
Đến khi Thúc Sinh nhìn thấy cảnh Thúy Kiều buông màn tắm, khi càng nhìn rõ người nàng thì càng ngợi khen không hết lời, đem tình ý của mình ngụ vào trong thơ:
Trang 9“Rõ màu trong ngọc trắng ngà!
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên
Sinh càng tỏ nét càng khen, Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường.”
Thúc Sinh liền viết ra một bài thơ luật đường vịnh Kiều tắm, bài thơ khen ngợi
vẻ đẹp trong trắng, ngọc ngà, thân thể thì lồ lộ phô bày hết những đường nét quyến rũ, hoàn mỹ như thể một pho tượng thập toàn thập mỹ do tạo hóa nhào nặn nên, chốn trần gian không có thân hình nào đẹp được đến thế của Kiều, vừa thể hiện được cái tình say đắm của Thúc Sinh (mặc dù xuất phát mang tính dục thể) và đồng thời nói đến cái tài làm thơ của chàng họ Thúc Sự tài hoa ấy đã được Thúy Kiều công nhận, khen ngợi, ví von:
“Nàng rằng: Vâng biết ý chàng
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu.”
Kiều khen tứ thơ hay, lời nào cũng đều quý đẹp như châu như ngọc, chữ cũng viết khéo đẹp như gấm thêu Thế mới thấy rằng, Thúc Sinh cũng là một người văn hay chữ tốt xứng với Thúy Kiều
Mối quan hệ giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều không đơn thuần chỉ là vấn
đề tình yêu cá nhân, sự say đắm về vẻ bề ngoài, mà sâu xa hơn họ là những con người cùng đẳng cấp thị dân với tâm hồn đồng điệu, có thể sẻ chia, bầu bạn, giãi bày Đó là điều mà Thúc Sinh không thể tìm thấy trong mối quan hệ với Hoạn Thư - một người vợ ở đẳng cấp cao hơn, nên Thúc Sinh luôn mang một mặc cảm, tự ti cảm thấy bị lấn lướt, coi thường mà chúng tôi sẽ trình bày trong phần mối quan hệ với Hoạn Thư phía sau
*Thiếu tinh tế, thiếu sắc sảo, nội tâm hời hợt
Mặc dù cùng đẳng cấp, cùng giãi bày tâm sự với nhau đã lâu, huống hồ Sinh lại là người chủ động đem lòng mến mộ cái tài sắc, thực tâm muốn gắn kết cùng Kiều Ấy thế mà lại không hề biết rõ về nguồn gốc, gia cảnh của nàng, nên đến khi làm thơ tặng Kiều, nàng nói vì nhớ quê nhà mà không họa vần được, Sinh mới ngớ ra:
“Rằng: “Sao nói lạ lùng thay!
Trang 10Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?”
Vì lâu nay chàng cứ ngỡ Kiều là con đẻ của Tú Bà nhưng thực thì Tú Bà
tự xưng là mẹ, vả lại trong số các cô gái ở thanh lâu thì Kiều là người được bà chiều chuộng hơn cả nên Thúc Sinh đã không biết rằng Kiều đang nhớ quê, nàng cũng có nỗi niềm riêng của mình Và dù hai người đã tâm đầu ý hợp, tình cảm cũng dần trở nên gắn bó, khắng khít nhưng thực lòng chàng Sinh vẫn chưa hoàn toàn biết rõ về Kiều Chàng Sinh tuy thực tâm, thực tình nhưng lại thiếu khả năng quan sát, suy xét nên thiếu sự tinh tế Đây cũng chính là đặc điểm của tầng lớp thị dân như Thúc Sinh
Khi được Thúc Sinh ngỏ lời, muốn lấy mình làm vợ lẽ, ban đầu Kiều còn chút nghi ngại vì Thúc Sinh đã có vợ cả nơi quê nhà, mà thế lực Hoạn Thư lại hơn hẳn chàng; thêm phần phận mình lại là gái lầu xanh, nàng e Thúc ông không đồng ý, sợ làm tổn thương thanh danh của chàng Nhưng rồi bằng những lời lẽ thuyết phục đáng tin cậy của Thúc Sinh, Kiều đành trao thân gửi phận cho chàng và thoát khỏi chốn lầu xanh Ấy vậy mà khi đã nên duyên vợ chồng, khi sống với nhau đã lâu, Nguyễn Du vẫn làm bật lên cái hời hợt của Thúc Sinh:
“Nửa năm hơi tiếng vừa quen”
Đến nửa năm trời, lẽ ra vợ chồng phải hòa hợp ân ái, biết tâm biết tính nhau, thì Thúc Sinh chỉ mới bắt đầu hiểu Kiều, và chừng ấy thời gian chỉ để bén tiếng quen hơi Quả thực Sinh có yêu Kiều, có sự đồng cảm dành cho nàng nhưng vẫn còn những cảm nhận chủ quan và sự hời hợt trong đời sống nội tâm,
mà Nguyễn Du chỉ bằng một câu đã thâu tóm được tính cách có phần đơn điệu của chàng Thúc
So sánh với Kim Trọng, ta sẽ tính cách có phần hời hợt của chàng Thúc Chàng Kim cũng yêu Thúy Kiều, cũng mến mộ cái tài sắc vẹn toàn của nàng, thế nhưng hoàn toàn khác với Thúc Sinh, khi chỉ vừa thoáng nhìn thấy nhau, Thúy Kiều – Kim Trọng như đã hiểu rõ lòng nhau, chỉ là chưa dám tỏ ra bên ngoài: