1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận quá trình nhận thức của đảng về chủ nghĩa xã hội ở việt nam

35 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 269,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội Việt Nam từ Đại hội VII 1991 đến Đại hội XII 2016 Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, về đường lối chiếnlược luôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

  

Tiểu luận môn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Đề tài: Quá trình nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội ở Việt

Nam

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên:

Lớp:

Hồ Chí Minh, năm 2022

Trang 2

3 Đánh giá 23

3.1 Đảng ta đã nhận thức rõ ràng hơn về mô hình và phương hướng áp dụng chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam 24

3.2 Quá trình nhận thức của Đảng ta đối với mục tiêu và bản chất của công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội ngày càng đầy đủ hơn 253.3 Nhận thức về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng Cộng sản Việt Nam 263.4 Nhận thức về động lực của sự phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt 26Nam 26

4 Bài học lịch sử và liên hệ thực tiễn 27

Kết luận 31

Trang 3

MỞ ĐẦU

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức và lãnh đạo mọithắng lợi của cách mạng Việt Nam Trải qua 12 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi kỳ đạihội là một mốc son chói lọi phản ánh sự trưởng thành của Đảng và cách mạng Việt Namdưới sự lãnh đạo của Đảng Những thắng lợi đó đều bắt nguồn từ việc Đảng Cộng sản ViệtNam đã nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,tham khảo kinh nghiệm quốc tế xuất phát từ thực tiễn đất nước, có nhiều tìm tòi, sáng tạotrong nhận thức lý luận, nhất là trong thời kỳ đổi mới để từ đó vạch ra đường lối cáchmạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại.1

Công cuộc đổi mới đó đến nay đã diễn ra gần 30 năm, đạt được nhiều thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng Một trong những thành tựu to lớn là Đảng và nhân dân

ta nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càngrõ nét và sâu sắc Trong 85 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào,Đảng ta vẫn luôn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dântộc Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt đường lối cáchmạng Việt Nam Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng đếnnay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng củaĐảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, làcon đường tất yếu của cách mạng Việt Nam Từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận,nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càngsáng tỏ hơn

Do đó, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Phân tích làm rõ quá trình nhậnthức của Đảng về chủ nghĩa xã hội Việt Nam từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII(2016)” để nghiên cứu, nhằm qua đó thấy được quá trình trưởng thành của Đảng ta trongnhận thức về chủ nghĩa xã hội, đồng thời đưa ra một số đánh giá và rút ra bài học từ nhữngnội dung đã thực hiện

Trang 5

Thứ tư, là một chế độ xã hội hiện thực tốt đẹp, xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạnđầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.2

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạtđộng kinh tế và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sửdụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiêntiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất, đối với các nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, cần thiết phải

có thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Thứ hai, đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, giữa chủ nghĩa

tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ nhất định - quá độ chính trị, thời kỳ cảibiến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ

Trang 6

nghĩa cộng sản.3

Tại Việt Nam, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

2 Quá trình nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội Việt Nam từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII (2016)

Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, về đường lối chiếnlược luôn kiên định, kiên trì xây dựng, không ngừng hoàn thiện nhận thức lý luận về chủnghĩa xã hội và định hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong nhữngđiều kiện lịch sử khác nhau.4 Quá trình nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội Việt Namphần nào được thể hiện qua định hướng của mỗi kỳ đại hội từ Đại hội VII (1991) đến Đạihội XII (2016) cho thấy sự phát triển và từng bước trưởng thành qua từng giai đoạn

Nhóm tác giả phân tích quá trình nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội Việt Nam

từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII (2016) chủ yếu dựa trên nhận thức về mô hình chủnghĩa xã hội gắn với các đặc trưng, bên cạnh đó là những nhận thức về mục tiêu, bản chất,động lực và phương hướng áp dụng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, từ đó thấy được cùng với

sự phát triển của công cuộc đổi mới, Đảng đã có những nhận thức ngày càng sâu sắc vềchủ nghĩa xã hội phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống

2.1 Đại hội lần thứ VII (1991) đổi mới toàn diện, đồng bộ, đưa đất nước tiến lêntheo con đường xã hội chủ nghĩa

Từ ngày 24 đến 27/6/1991, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội lần thứ VII diễn ra trong bốicảnh tình hình trong nước và quốc tế đang có nhiều diễn biến phức tạp Sự khủng hoảngtrầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự chống phá nhiều phíavào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản khiến một bộ phậnnhững người cộng sản trên thế giới trong đó có Việt Nam hoang mang dao động.5 Đấtnước ta khi ấy phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượng thù địch trong

và ngoài nước, vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề nóng bỏng

Trang 7

chưa được giải quyết.6

Dựa vào việc nhận thức lại một cách đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chủnghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, kết hợp với những kinhnghiệm của thế giới và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, đặc biệt là từ khitiến hành công cuộc đổi mới (1986), Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường Đây là lần đầu tiên chủ nghĩa xã hộiViệt Nam được đề cập tới một cách có hệ thống dưới hình thức luận đề

Thứ nhất, xác định sáu đặc trưng của mô hình xã hội chủ nghĩa ở nước ta bao gồm:

Về chính trị: là xã hội do nhân dân lao động làm chủ

Về kinh tế: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế

độ công hữu tư liệu sản xuất

Về văn hóa: có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Về con người: được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công; được làm việc theonăng lực, hưởng theo lao động; có cuộc sống ấm no, có tự do hành phúc, có điều kiện pháttriển toàn diện cá nhân

Các dân tộc trong nước: bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Về đối ngoại: có quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị với nhân dân các nước trên thếgiới

Đó là những đặc trưng bản chất hay mục tiêu cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam mà nhân dân ta xây dựng và hướng tới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nhữngđặc trưng đó vừa thể hiện tính phổ biến theo học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội,vừa thể hiện tính đặc thù dân tộc, mang đặc điểm của thời đại Việc nhận thức sáu đặc

Trang 8

trưng của xã hội chủ nghĩa trước hết là nhận thức được những thuộc tính bản chất của chủnghĩa xã hội.

Thứ hai, Cương lĩnh khẳng định bốn vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng ViệtNam:

- Độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn củacách mạng Việt Nam

- Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, làkim chỉ nam cho hành động của Đảng

Cụ thể theo Nghị quyết 01 của Bộ chính trị (1992) về công tác lý luận đã khẳng địnhtính khoa học và sự trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời làm rõtoàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh từ khái niệm, đến cơ sở hình thành, quá trình phát triển vànội dung Việc chính thức bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh cho nền tảng tư tưởng của Đảng

là đánh dấu một bước tiến mới, một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận chothấy Đảng ta đã nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ ChíMinh Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn

đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩaMác - Lênin vào thực tiễn của nước ta, đồng thời là sự kế thừa và phát triển các giá trịtruyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

- Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước và xãhội

- Phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế tổng quát của nước ta

Bên cạnh đó, những mục tiêu cơ bản rút ra từ sáu đặc trưng, chủ nghĩa xã hội cũngđược thể hiện một cách cụ thể hóa trong một số Nghị quyết

- Nghị quyết trung ương 2 (1991) về cải cách bộ máy nhà nước khẳng định quyền

Trang 9

lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công phối hợp giữa ba cơ quan lập pháp –hành pháp – tư pháp; tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinhdoanh, theo đó nhà nước quản lý kinh tế bằng chính sách và luật pháp, việc tổ chức sảnxuất kinh doanh giao cho doanh nghiệp; xây dựng nhà nước pháp quyền quản lý theonguyên tắc tập trung - dân chủ.

- Nghị quyết trung ương 7 (1994) về công nghiệp hóa – hiện đại hóa khẳng định đây

là quá trình làm thay đổi toàn diện, triệt để các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lýkinh tế, văn hóa từ sử dụng lao động phổ thông là chính sang sử dụng sức lao động vớicông nghệ hiện đại, phương pháp tiên tiến, năng suất cao

- Nghị quyết trung ương 3 (1992) về đối ngoại đặt ra yêu cầu nắm vững tính hai mặtvừa hợp tác vừa đấu tranh trong đối ngoại Theo đó kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chínhvới chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vừa xây dựng lực lượng, giữ vững độc lập tự chủ, vừa đaphương hóa, đa dạng hóa thông qua việc tham gia hợp tác khu vực, mở rộng quan hệ vớicác nước và các tổ chức quốc tế, trước tiên là các nước trong khu vực ASEAN và châu Á

Từ những bài học và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đườnglối đổi mới, đúng như nhận định của Đảng nêu ra tại Đại hội lần thứ X, nhận thức củachúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn,

hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản nhất.7 Tạo ranhững thay đổi to lớn trên nhiều mặt, nước ta thoát khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế – xãhội

2.2 Đại hội VIII (1996) tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII diễn ra từ ngày 28/06/1996 đến ngày01/07/1996 ở Hà Nội, trong bối cảnh đất nước đã trải qua việc thực hiện công cuộc đổi mớiđược đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI sau hơn 10 năm và đạt được

Trang 10

những thắng lợi to lớn, được nhân dân trong nước và quốc tế ủng hộ Trong kỳ Đại hộinày, Đảng đã tiến hành hai nhiệm vụ quan trọng.

Thứ nhất, Đảng ta đã bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí của công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Đảng xác định rõ hơn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, hướng đến mục tiêu “xâydựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủnghĩa”8, từ đó khẳng định tiếp tục nắm vững và triển khai hai nhiệm vụ chiến lược là xâydựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời đưa nước ta sang thời kỳ phát triểnmới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện hai nhiệm vụtrên, Đảng xác định cần sở hữu cơ sở vật chất hiện đại; cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các nềnnông nghiệp, công nghiệp nặng nhẹ, và dịch vụ; quan hệ sản xuất phải phù hợp và tiệm cậnvới trình độ chuyên môn cũng như năng lực của lực lượng sản xuất Đồng thời nâng caođời sống vật chất và tinh thần, xây dựng nền quốc phòng an ninh vững mạnh

Đặc biệt nêu quan điểm về quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xem đây là sựnghiệp của toàn dân, của các thành phần kinh tế Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai tròthen chốt và khoa học công nghệ là động lực Đồng thời tiếp tục nhấn mạnh độc lập tự chủ

đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế Đặc biệt lấy việc phát huy nguồn lực con người làmyếu tố phát triển nhanh và bền vững, kết hợp linh hoạt giữa phát triển kinh tế với xây dựngquốc phòng, đảm bảo dựng nước đi đôi với giữ nước

Thứ hai, căn cứ vào những định hướng đã xác định, Đại hội VIII đề ra Kế hoạch 5năm

1996-2000 nhằm hiện thực hóa mục tiêu

Theo đó:

- Đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ

- Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Trang 11

- Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bềnvững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội.

- Cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Nhằm cụ thể

kế hoạch 5 năm, nhiều nghị quyết đã được ban hành:

- Nghị quyết 02-NQ/HNTW năm 1996 về định hướng chiến lược phát triển khoa học

và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 doBan Chấp hành Trung ương Đảng ban hành đã xác định giáo dục đào tạo và khoa học côngnghệ là quốc sách hàng đầu

- Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 29/12/1997 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa VIII khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huynội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại hóa,phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000

- Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17/10/1998 Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VIII về nhiệm vụ kinh tế, xã hội năm 1999 xác định văn hóa

là nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,tiên tiến về mặt nội dung – hình thức – phương tiện truyền tải; xây dựng nền văn hóa thốngnhất đa dạng; huy động nguồn lực xây dựng văn hóa bao gồm nguồn lực từ nhà nước, xãhội lẫn bên ngoài

- Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 02/02/1999 Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấphành Trung ương Đảng (khoá VIII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tácxây dựng Đảng hiện nay khẳng định việc xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)(1999) về một số vấn đề về tổ chức, bộ máy và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sáchnhà nước

Sau 5 năm thực hiện kế hoạch, thông qua công tác tổng kết, đánh giá, kiểm điểm,

Trang 12

Đại hội đã nêu lên được các bài học đáng chú ý về đổi mới Theo đó, công cuộc đổi mớiphải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ ngay từđầu giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm từ đó từngbước đổi mới chính trị một cách có hiệu quả; hơn hết cần nâng cao vai trò lãnh đạo củaĐảng cũng như sự đoàn kết của nhân dân.

Nhìn chung, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã đánh dấu bước ngoặt, đưađất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựngnước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân ta, vì tình hữu nghị và sự hợp tác với nhândân các nước trên thế giới Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc vàtương lai của đất nước vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ XXI

2.3 Đại hội IX (2001) phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa

Ðại hội lần thứ IX của Ðảng họp từ ngày 19/4 đến 22/4/2001, tại Thủ đô Hà Nội.Đại hội tiếp tục thực hiện và bổ sung cương lĩnh Đại hội VII với chủ đề “Đại hội của trítuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới"

Đại hội đã tiến hành thảo luận, làm rõ một số nội dung:

Thứ nhất, đã nhận thức sâu sắc hơn về nền kinh tế thị trường, có những định nghĩa

và mục tiêu rõ ràng Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là pháttriển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Thứ hai, con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể rút ngắn được nhờ lợi thếcủa một quốc gia kế thừa Từ bài học của các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa - hiện đạihóa trên thế giới như Pháp, Mỹ, Hàn Quốc , Đảng xác định để đạt được thành quả đáng

kể trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, họ không cần tuần tự các bước thực hiện mà tiếp

Trang 13

cận ngay và áp dụng hiệu quả thành tựu mới nhất.

Thứ ba, Đảng xác định nội dung đấu tranh giai cấp là bảo vệ độc lập dân tộc, chủnghĩa xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xóa đói giảm nghèo… Việc xácđịnh nội dung đấu tranh giai cấp toàn diện, nâng cao nhận thức khoa học về đấu tranh giaicấp sẽ góp phần đấu tranh phòng chống những quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủnghĩa Mác – Lênin, bảo vệ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ tư, Đảng xác định bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa có nghĩa là bỏ qua việc xáclập địa vị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, về

cơ bản chính là: “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúcthượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạtđược dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanhlực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”

Thứ năm, xác định đại đoàn kết toàn dân tộc đóng vai trò động lực chính đối vớithành công của sự nghiệp xây dựng và đổi mới chủ nghĩa xã hội Đại đoàn kết dân tộc làmột giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúctrong suốt mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đoàn kết đã trở thành mộtđộng lực to lớn để dân tộc vượt qua bao biến cố, thăng trầm của thiên tai, địch họa, để tồntại và phát triển bền vững

Thứ sáu, nêu lên sáu thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh

tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và bổ sung thành phầnkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Nhằm cụ thể những nội dung trên, nhiều nghị quyết đã được ban hành:

Nghị quyết trung ương 3 năm 2001: chủ trương sắp xếp nâng cao hiệu quả củadoanh nghiệp Nhà nước: số lượng tập đoàn, đưa ra tiêu chí của tập đoàn, nên để lại và cổphần hóa doanh nghiệp nào,…

Trang 14

Nghị quyết trung ương 5 năm 2002: nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khuyến khíchkinh tế tư nhân: giải thể những hợp tác xã không còn hiệu quả,…

Nghị quyết trung ương 7 năm 2003: phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc: muốnxây

dựng được thì phải xóa bỏ hằn thù quá khứ, chân thành hợp tác, khoan dung độlượng

Đại hội IX của Đảng có ý nghĩa trọng đại mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội,vượt qua thách thức tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựngmột nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2.4 Đại hội X (2006) huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, sớm đưa đất nước rakhỏi tình trạng kém phát triển

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục thực hiện và bổ sung cương lĩnh vớichủ đề “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàndân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kémphát triển”

Đại hội đã tiến hành làm rõ một số nội dung:

Thứ nhất, bổ sung mô hình chủ nghĩa xã hội của Đại hội VII

Đề cập đến xã hội do “nhân dân” làm chủ, thay cho khái niệm "nhân dân lao động"trong Đại hội VII vì nhân dân mới là phạm trù bao quát và cao quý nhất, một phạm trùchính trị chủ đạo trong học thuyết cách mạng Nhân dân là toàn thể dân tộc, không phânbiệt giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp, vị thế xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo… cùngtham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Như vậy “nhân dân” là một khái niệmtiến bộ và tổng quát hơn nhiều so với “nhân dân lao động”

Đề cập đến nền tế kinh phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan

hệ sản xuất phù hợp, khác với "chế độ công hữu tư liệu sản xuất" trong Đại hội VII Nước

Trang 15

ta đã từng quá nhấn mạnh sở hữu tư liệu sản xuất theo hướng tập thể hóa (công hữu) cho

đó là nhân tố hàng đầu của quan hệ sản xuất mới, từ đó người lao động bị biệt lập với đốitượng lao động Quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời với lực lượng sản xuất Hậu quả làsản xuất bị kìm hãm, đời sống nhân dân đi xuống nhanh chóng Nhận thức được sai lầmtrong thời kỳ trước, Nhà nước ta đặt chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinhdoanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế,các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sửnhân loại Chính sự vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển củalực lượng sản xuất đã đem đến nhiều thành tựu đáng kể Thực tiễn cho thấy con đườngchúng ta đang đi là đúng đắn và đạt nhiều thành tựu quan trọng, vượt qua giai đoạn lịch sửnhạy cảm

Thứ hai, con người được giải phóng khỏi áp bức và bất công, được làm việc theonăng lực, hưởng theo lao động Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Bên cạnh đó Nhà nước đề cập đến quan hệ hòa bình, hợp táchữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới, đến Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Mục đích lớn nhất mà ta hướng tới là

“Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”

Thứ ba, nêu lên định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường với bốn nội dungchính:

- Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

- Phát huy vai trò của kinh tế Nhà nước

- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động

- Thực hiện tốt các hình thức phân phối

Trang 16

Thứ tư, xác định đường lối công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tiến hành gắn côngnghiệp hóa

- hiện đại hóa đất nước với kinh tế tri thức Đảng xác định một số lĩnh vực phảigắn với kinh tế tri thức như nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ, xây dựng cơ cấu lao động,bảo vệ tài nguyên môi trường Bên cạnh đó, phải gắn bó với kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế để tiếp thu hiệu quả và phù hợp những tiến bộ văn minh nhân loại

Nhằm cụ thể những nội dung trên, nhiều nghị quyết đã được ban hành:

- Nghị quyết trung ương 3 năm 2006: về phòng chống tham nhũng và lãng phí:đây là vấn đề nhạy cảm và gây nhức nhối cho nước nhà đến tận ngày nay

- Nghị quyết trung ương 4 năm 2006: về chính sách phát triển kinh tế nhanhgắn với bền vững: có lúc phát triển nhanh quá phải hạ xuống để đảm bảo tính bền vững

- Nghị quyết trung ương 5 năm 2007: về công tác báo chí trong tình hình mới:báo chí là công cụ, phải tham gia tuyên truyền giáo dục, đấu tranh chống tiêu cực

- Nghị quyết trung ương 6 năm 2008: về xây dựng giai cấp công nhân, hoànthiện thể chế kinh tế thị trường: Đảng ta (i) khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp lãnhđạo để cnh-hđh, đánh giá thực trạng về số lượng, trình độ, cơ cấu, việc làm, đời sống,…mới nêu ra được giải pháp để xây dựng giai cấp này; bên cạnh đó là (ii) hoàn thiện thể chế,tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển, rà soát lại những quy định của luật pháp, tạomôi trường pháp lý cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển

- Nghị quyết trung ương 7 năm 2008: về công tác thanh niên, xây dựng đội ngũtri thức, phát triển nông nghiệp – nông dân – nông thôn: (i) đối với công tác thanh niên,Đảng đánh giá vai trò của thế hệ trẻ, đánh giá thực trạng đội ngũ thanh niên và công tácthanh niên hiện tại tồn tại nhiều tích cực và khó khăn để có giải pháp; (ii) gọi là "đội ngũ"

mà không gọi là "tầng lớp" tri thức bởi vì sẽ bao trùm được đội ngũ tri thức VN định cư ởnước ngoài để đánh giá thực trạng, sự đóng góp,… để có giải pháp phát triển; (iii) bên cạnh

Trang 17

đó ba mặt nông nghiệp – nông dân – nông thôn có quan hệ chặt chẽ với nhau.

- Chính phủ đưa ra những chủ trương: ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát,đảm bảo an sinh xã hội,…

- Nghị quyết trung ương 9 năm 2008: Phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học –công

nghệ, giữ vững quốc phòng – an ninh, bảo vệ tài nguyên – môi trường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng có ý nghĩa trọng đại, các văn kiệnđược thông qua tại Đại hội “là kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân ta, là sựtổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 20 năm đổi mới” Thành công của Đại hội đánh dấumột mốc son trên chặng đường hơn 76 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng, mở ra một thời

kỳ phát triển mới của công cuộc đổi mới

2.5.Đại hội XI (2011) tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu củaĐảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước

Đại hội lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 12 đến 19/01/2011, tại Thủ đô Hà Nội.Bên cạnh việc đánh giá kết quả các nội dung đã thực hiện, Đại hội bổ sung, phát triểnCương lĩnh năm 1991, đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2011 - 2015, tổng kết Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010), cũng như 20 năm thực hiện Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Chủ đề của Đại hội là: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu củaĐảng, phát huy sức mạnh dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới Tạo nền tảng đểđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổsung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đãkhẳng định: Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

Ngày đăng: 04/02/2022, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Đức, ‘Vững tin vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay’ Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (26/8/2021)<https://bit.ly/3BMZOea> truy cập ngày 13/10/2021 Khác
3. ‘Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng’ Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Khác
4. TS. Nguyễn Đình Hòa, ‘Về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội qua Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam’ Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (30/09/2015) <https://bit.ly/3DW80JX> truy cập ngày 13/10/2021 Khác
5. Lê Hữu Nghĩa, ‘8 đặc trưng CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng’vietnamplus.vn Khác
6. GS. TS. Trần Văn Phòng, ‘Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị’ Tuyên giáo (30/8/2021) <https://bit.ly/3je5vdM> truy cập ngày 14/10/2021 Khác
7. PGS, TS. Nguyễn Trọng Phúc, ‘Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xã hội chủ nghĩa qua 90 năm ra đời và phát triển’ Học viện Báo chí và Tuyên truyền (23/01/2020) <https://bit.ly/2YW91Cy> truy cập ngày 18/10/2021.Danh mục sách:1. Giáo trình CNXHKH, tr.63 Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 71 Khác
3. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.75 Khác
5. Bộ Công an - Học viện chính trị Công an nhân dân: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo cấp phòng, quận, huyện trong Công an nhân dân, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2014 Khác
6. Nguyễn Tốt, ‘Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta’ Tạp chí khoa học Cảnh sát nhân dân, số 09/2015, tr.5 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2011, tr.70.22 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w