Các quốc gia Lực lượng lao động ngàn người Tỷ lệ biết chữ trên 15 tuổi % Tỷ lệ tuyển sinh dạy nghề trong trung học phổ thông % Lương bình quân USD Năng suất lao động USD tính Quy đổ
Trang 1HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – PHÂN TÍCH TRÊN GÓC ĐỘ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
-
Hà Nam Khánh Giao - Đinh Kiệm
Tóm tắt
ASEAN là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu về thương mại
và đầu tư đối với Việt Nam Cuối năm 2015, các nước ASEAN chính thức bước vào sân chơi mới: Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community- AEC) với mục đích tạo lập một thị trường chung và cơ sở thống nhất cho các quốc gia, thúc đẩy thông thương tự do hàng hóa- dịch vụ- đầu tư, chuyển dịch lao động có tay nghề trong ASEAN Việt Nam thuộc nhóm chậm phát triển trong ASEAN, được dự báo có thể đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt về kinh tế và nguồn lao động Trong bài viết này, các tác giả chỉ tập trung phân tích các yếu
tố tác động, những cơ hội và thách thức trên lĩnh vực thị trường lao động Qua
đó, gợi ý một số giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và đối phó với những thách thức trong tiến trình hội nhập AEC
Từ khóa: Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Thị trường lao động Việt Nam
JOINING ASEAN ECONOMIC COMMUNITY- FROM THE EYE OF VIETNAM LABOR MARKET
Abstract
ASEAN is one of the most important partners on commerce and investment for Vietnam At the end of 2015, ASEAN countries joined the new game of ASEAN Economic Community- AEC which aims at building up a common market and the unique base for all countrties, enhancing free flow of goods services, and investments, transferring the skilled labors in ASEAN Vietnam is in the group of developing countries in ASEAN, being forecasted will face the fierce competition of economics development and labor In this article, the authors concentrate on analyzing the factors, the opportunities and threats
on the labor market From that, the authors hope to raise some solutions to grab the chances and overcome the difficulties on the way of joining AEC
Key words: ASEAN Economic Community, Vietnam labor market
I- Vài nét về Cộng đồng Kinh tế ASEAN
1- Lịch sử hình thành
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Associate of South East Asian Countries- ASEAN) được chính thức thành lập ngày 8/8/1967, ban đầu với 5
Trang 2nước: Thailand, Malaysia, Indonesia, Philippines, và Singapore, nhằm mục tiêu
đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường
hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực
Từ 1984 đến 1999, ASEAN được bổ sung thêm 5 thành viên: Brunei (1984),
Việt Nam (1995), Laos và Myanmar (1997), Cambodia (1999) Đến nay,
ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên với quy mô diện tích 4.436 triệu km2, dân
số khoảng 625,1 triệu người với hơn 300 triệu người trong lực lượng lao động,
tổng giá trị GDP 2.398,5 tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa
2.512 tỷ USD
Bảng 1: Thông tin tổng hợp về các nước ASEAN Các quốc
gia
Dân số (triệu người)
GDP (Tỷ USD)
GDP/người (USD)
Kim ngạch XNK (tr
USD)
Chỉ số cạnh tranh kinh tế toàn cầu (so sánh với 144 nước)
Indonesia 248,8 862,6 3.467 369.180,5 34/144
Malaysia 29,9 312,1 10.421 434.261,6 20/144
Philippines 99,4 269,0 2.707 119.10,9 52/144 Singapore 5,4 297,9 55.183 783.265,5 2/144 Thailand 68,3 387,5 5.678 478.247,3 31/144 Vietnam 89,7 171,2 1.909 264.774,0 68/144
Nguồn: ASEAN Statistics 2013, Xếp hạng năng lực cạnh tranh 2014(Diễn đàn
KT thế giới)
2- So sánh tương quan với Việt Nam
Bảng 1 cho thấy vị thế Việt Nam (VN) còn rất hạn chế trong khối, về
kinh tế xếp thứ 5, về thương mại xếp thứ 5, về năng lực cạnh tranh toàn cầu so
trong khối xếp thứ 7, về dân số VN có số lượng vượt trội lên hàng thứ 3, chỉ sau
Indonesia và Philippines Tuy nhiên, VN có thế mạnh vượt trội, dân số đang vào
thời kỳ cơ cấu dân số vàng, đây là một lợi thế về nguồn nhân lực cho hoạt động
phát triển kinh tế (Trần Văn Thọ, 2012)
Bảng 2: Các chỉ tiêu về lao động trong khu vực ASEAN
Trang 3Các quốc
gia
Lực lượng lao động (ngàn người)
Tỷ lệ biết chữ trên 15 tuổi (%)
Tỷ lệ tuyển sinh dạy nghề trong trung học phổ thông (%)
Lương bình quân (USD)
Năng suất lao động (USD tính Quy đổi sức mua PPP)
Vietnam 53,246 93,4 14,7 181 5.440
Nguồn: ASEAN Statistics 2013, ASEAN Community 2015: Managing
integration for better jobs and shared prosperity
Tương quan chung về nguồn nhân lực: Việt Nam có lợi thế về nguồn lực
lao động (lực lượng lao động đứng thứ 2/10 nước), tỷ lệ người biết chữ trên 15
tuổi đứng hàng thứ 5 (tương đương với Thailand), về năng suất lao động trong
khối, VN xếp thứ 7, bằng 50,31% so với năng suất bình quân của ASEAN (chỉ
hơn Laos, Cambodia và Myanmar) Lương bình quân của lao động VN xếp hàng
thứ 5, thấp hơn Singapore gần 20 lần, thấp hơn Thailand gần 2 lần, thấp hơn
Malaysia gấn 3,5 lần và so với Philippines thấp hơn gần 1,2 lần (số liệu năm
2013)
II-Đặc điểm nguồn lao động Việt Nam trước thềm gia nhập AEC
1-Về nguồn lao động
Việt Nam có những lợi thế nhất định, nhất là về quy mô lao động cơ cấu
lao động trẻ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến giữa năm 2014, quy
mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 53,8 triệu người, trong
đó số người trong độ tuổi lao động là 47,52 triệu người Tỷ lệ lao động khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản là 47,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng
20,8%; khu vực dịch vụ là 32,1%
Bảng 3: Tỷ lệ lao động Việt Nam phân theo các cấp đào tạo chuyên môn
kỹ thuật (%)
Trang 4Danh mục 2010 2011 2012 2013 2014
Chưa qua đào tạo chuyên môn
kỹ thuật
Dạy nghề
Trung cấp chuyên nghiệp
Cao đẳng
Đại học trở lên
85,4
3,8 3,4 1,7 5,7
84,5 4,0 3,7 1,7 6,1
83,4 4,7 3,6 1,9 6,4
82,1 5,3 3,7 2,0 6,9
81,8 4,9 3,7 2,1 7,6
Nguồn: TCTK, 2015
Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động là 2,18%,
trong đó khu vực thành thị là 3,59% và nông thôn 1,54% Tỷ lệ lao động thiếu
việc làm: 2,75%, trong đó khu vực thành thị là 1,48% và nông thôn 3,31% Tỷ
lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo: 17,9% Phân theo
trình độ kỹ thuật: dạy nghề:5,3%, Trung cấp chuyên nghiệp: 3,7%, Cao đẳng:
2,0% và đại học trở lên:6,9% Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được
yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật
của Việt Nam đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết
các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê
chuyên gia nước ngoài
Sơ đồ 1: Biểu thị năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam
so với các nước ASEAN và Trung Quốc
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán và vẽ dựa trên số liệu của ASEAN Statistics
2013, ASEAN Community 2015
2- Về năng suất lao động của lao động Việt Nam
5.93 4.83
4.4
4.32 4.35 4.17
4.3 3.69
3.82
5.39 4.38 3.31
3.85 3.19 3.61 2.97 3.07
3.19
0 1 2 3 4 5 6
Singapore
Malysia
Brunei
Trung quốc
Thái lan Indonesia
Philippines Việt Nam
Campuchia
Chỉ số về giáo dục đại học và đào tạo nguồn nhân lực
Chỉ số về sáng kiến-sáng tạo
Trang 5Ba nước trong khối ASEAN có tổng lực lượng lao động chiếm tỷ trọng hơn 70% là Indonesia (40%), Phillippines (16%) và VN (15%) Lực lượng lao động này khi được tự do di chuyển trong thị trường chung sẽ là nhân tố cơ bản
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước thành viên AEC Tuy nhiên, theo đánh giá của ILO/ADB, năng suất lao động của Việt Nam vẫn bị còn tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực
Hình 1: Biểu thị năng suất lao động của các nước ASEAN
Hình 1: Biểu thị năng suất lao động của các nước ASEAN
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa trên số liệu của ILO/ADB 2015
Một hạn chế của thị trường lao động VN do xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, do vậy, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp, đạt khoảng 30% Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu hết chưa qua đào tạo Theo cách tính của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, lao động qua đào tạo nghề (gồm cả dạy nghề chính quy và thường xuyên, phi chính quy, dạy nghề dưới 3 tháng và dạy nghề tại doanh nghiệp) chiếm khoảng 34% tổng lực lượng lao động nhưng trên thực tế, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và còn khoảng cách khá lớn so với các nước phát triển trong khu vực Thống kê về năng suất lao động của Tổng Cục Thống kê (năm 2013) cho biết, năng suất lao động xã hội chung của Việt Nam là 68,7 triệu đồng/người, trong đó ngành nông lâm nghiệp thủy sản 27 triệu đ/người, ngành công nghiệp xây dựng 124,2 triệu đ/người, ngành dịch vụ 92,6 triệu đ/người
Trang 6Dựa vào đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank- WB), nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của VN chỉ đạt 3,79 điểm - xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB; trong khi Hàn Quốc là 6,91;
Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94 Chất lượng lao động thấp nên năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương, chỉ tiêu này của VN thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần
và Hàn Quốc 10 lần Năng suất lao động của VN bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan Trong giai đoạn 2002-2007, năng suất lao động tăng trung bình 5,2% mỗi năm Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng năng suất trung bình hằng năm của Việt Nam chậm lại, chỉ còn 3,3% VN còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác Theo thống kê của Tổ chức thực hiện thi IELTS (Hệ thống kiểm tra sự thành thạo tiếng Anh quốc tế theo thang điểm 0-9) thì thí sinh VN có điểm trung bình là 5,78, thuộc vào nhóm các nước có điểm trung bình thấp, đứng sau Indonesia (5,97), Phillippines (6,53), Malaysia (6,64) Những hạn chế, những yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (năm 2011 xếp thứ 65/141 nước xếp hạng)
Nguồn nhân lực có chất lượng thấp có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) đã chỉ rõ: “Chất lượng giáo dục nhìn chung thấp, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu của người học, chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế, là một trong những nguyên nhân làm hạn chế chất lượng nguồn nhân lực của đất nước… Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề,…”
III- Nhìn nhận những cơ hội
Hình thành AEC tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế - xã hội mà các nước ASEAN rất mong đợi, khi hình thành thực thể kinh tế lớn hơn, việc kết nối xây dựng một ASEAN thống nhất, ít bị chia cắt, sẽ giúp các nhà đầu tư quốc
tế nhìn ASEAN như là một sân chơi chung, một công xưởng chung ở đó có nguồn lực tổng thể kinh tế thống nhất, đặc biệt là nguồn nhân lực có kỹ năng, đông về số lượng với giá còn tương đối rẻ
Đón nhận những cơ hội này đối với VN, theo các khảo sát mới đây, các tiếp cận còn rất hạn chế Theo Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), khi điều
Trang 7tra về nhận thức và sự quan tâm của doanh nghiệp đến AEC, phần lớn các doanh nghiệp VN có hiểu biết và nhận thức rất hạn chế về AEC, đặc biệt đối với những thách thức sẽ đối mặt khi tham gia vào AEC năm 2015 Nhiều doanh nghiệp không lường trước được những sức ép cạnh tranh khi tham gia vào sân chơi mới, từ đó không có những chuẩn bị cần thiết và kịp thời để khỏi rơi vào thế bị động Tuy nhiên, phải nhìn nhận, khi hội nhập chúng ta cũng sẽ đón nhận những
cơ hội thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và thị trường lao động nói riêng Xét về cơ hội, VN chiếm tới hơn 15% tổng lực lượng lao động 300 triệu người của AEC, sẽ giúp cho các lao động VN có thêm cơ hội việc làm hơn, đặc biệt đối với những đối tượng lao động có tay nghề, chuyên môn cao vì ACE được thống nhất hình thành trên cơ sở cam kết cho phép sự luân chuyển lao động, việc này một mặt sẽ tạo cơ hội cho dịch chuyển lao động có chuyên môn
kỹ thuật cao, một mặt lại tạo ra những thách thức lớn cho lao động yếu hoặc thiếu kỹ năng Bước đầu AEC chỉ cho phép những đối tượng lao động thuộc nhóm có chất lượng, được đào tạo chuyên môn vững hoặc có trình độ đại học trở lên, có khả năng ngoại ngữ thông thạo, nhất là tiếng Anh thuộc trong 8 ngành gồm dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, kế toán, kiến trúc, giám sát thi công, nha sĩ, bác sĩ, và du lịch (thỏa thuận MRAs)
Đối với thị trường lao động VN, theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc
tế (ILO), khi tham gia vào AEC số việc làm của VN sẽ tăng thêm 14,5% vào năm 2025; có sự gia tăng cơ hội việc làm mạnh mẽ ở những ngành như sản xuất lúa gạo, xây dựng, vận tải, dệt may và chế biến lương thực Trong giai đoạn 2015-2025, nhu cầu đối với việc làm cần tay nghề trung bình nhìn chung sẽ tăng cao nhất, ở mức 28%, lao dộng có trình độ kỹ năng thấp là 23% và lao động có
kỹ năng cao sẽ tăng 13%, như vậy, về mặt xã hội sẽ tạo nhiều cơ hội cải thiện cuộc sống của hàng triệu người
Khi hội nhập AEC, VN còn có cơ hội về lợi thế cạnh tranh lao động giá
rẻ với các ngành dệt may, giày da và một số lĩnh vực sản xuất nông nghiệp như
hồ tiêu, cà phê, thủy hải sản Bên cạnh đó, có thể tận dụng được nguồn lao động chất lượng cao từ một số ngành được đánh giá là ngành có trình độ chất lượng cao của Việt Nam như công nghệ thông tin, điện tử, bưu chính viễn thông…
IV- Nhận diện những thách thức:
Những ưu điểm về nguồn lao động như trên đã mang lại nhiều triển vọng phát triển cho thị trường lao động VN, bên cạnh đó còn tồn tại những thách thức không nhỏ, có thể chỉ ra là:
Về nguồn lao động: nguồn lao động VN đông nhưng không tinh, là rào
cản lớn nhất trong tiến trình hội nhập, thống kê cho thấy lao động của VN chiếm
đa số là lao động giản đơn (nguồn lao động đã qua đào tạo nghề chỉ đạt
Trang 830-34%) Thực tế, xuất khẩu lao động 5 năm qua số lượng lớn, nhưng nguồn kiều hối thu về so sánh chỉ đạt mức thấp Ngay tại thị trường VN, cụ thể ở các khu chế xuất, khu công nghiệp, hoặc các doanh nghiệp tuyển dụng số lượng công nhân đông đều phải tốn thời gian đào tạo lại, nhưng tỷ lệ đạt chất lượng vẫn không như mong muốn
Về cơ cấu lao động: chưa hợp lý, mất cân đối nghiêm trọng giữa đào tạo
và sử dụng về trình độ, về ngành nghề của nguồn lao động, dù rằng đa dạng hóa nguồn nhân lực được đào tạo sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa sản xuất của nền kinh tế Đào tạo đại học về lý thuyết sẽ cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho xã hội nhưng nghịch lý nhiều năm qua việc học chưa tương xứng với trình độ, kiến thức, kỹ năng được đào tạo dẫn đến tình trạng có bằng cấp cao nhưng không tìm được việc làm đang là vấn đề nổi cộm hiện nay Đào tạo nguồn lao động chất lượng cao và chuyên môn kỹ thuật (CMKT) nhiều năm qua rất được xã hội quan tâm, tuy nhiên chúng ta thiếu một kế hoạch tổng thể có căn
cơ về phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô Trước hết cần dự báo nhu cầu, xây dựng mục tiêu đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, CMKT cho các ngành dựa theo cơ cấu, số lượng yêu cầu, nhưng thời gian qua hoạt động đào tạo của chúng ta mang tính tự phát, chỉ có kế hoạch đào tạo cục bộ ở từng trường, từng trung tâm và mỗi địa phương nhưng thiếu hẳn một kế hoạch đào tạo tổng thể cấp vùng, quốc gia mang tính dài hạn
Như vậy, thực trạng nguồn lao động được phân tích ở trên cho thấy trong thế hội nhập đang tồn tại sự bất cân xứng xét về tổng thể chung lực lượng lao động, chúng ta vừa thiếu, vừa yếu, vừa kém đa dạng trên cả ba mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu đây là một thách thức cần được nhanh chóng tháo gỡ
Kinh tế VN với cơ cấu chính là nông nghiệp, cơ cấu lao động vẫn còn
nhiều bất hợp lý Theo Tổng cục Thống kê, cơ cấu lao động lĩnh vực nông nghiệp chiếm trên 47%, nhưng tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường chính thức còn thấp, có khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa qua đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực VN còn thấp đây là thách thức phải đối mặt Chất lượng nguồn nhân lực VN còn thấp và có khoảng cách khá lớn so với các nước trong khu vực (xem bảng 2) Năng suất lao động VN thuộc nhóm thấp nhất ở châu Á-Thái Bình Dương nhưng chậm được cải thiện Tốc độ tăng bình quân năng suất lao động qua các thời kỳ so với trong khối ASEAN đứng hàng thứ 5, nhìn chung không ổn định suốt thời kỳ từ 2007-2013 (năm cao nhất đạt 6,5%/năm, năm thấp nhất đạt 3,1%) VN đang còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo khả năng cạnh tranh chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm khác Thêm
Trang 9vào đó, trình độ ngoại ngữ của người lao động chưa cao nên cũng tạo ra rào cản trong quá trình hội nhập
Thời cơ khi chúng ta hội nhập AEC sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm nhưng đòi hỏi các tiêu chuẩn cao hơn đối với người lao động, ngoài kiến thức chuyên môn bắt buộc, cần có khả năng giao tiếp, sử dụng máy tính, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xử lý thông tin và lập báo cáo Để đáp ứng yêu cầu cao trong môi trường cạnh tranh, người lao động VN phải có ý thức cầu tiến, mở rộng kiến thức nghề nghiệp, nâng cao tư duy khoa học, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, áp dụng công nghệ mới, không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp… Theo nghiên cứu của ILO/ADB, lao động VN thiếu chuyên môn, chưa được đào tạo, các kỹ năng được trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại Lao động VN thường bị đánh giá thấp
về kỹ năng ngoại ngữ cùng kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả Qua thực tế, đội ngũ nhân sự cao cấp của VN so với các nước trong khu vực vẫn còn khoảng cách khá lớn, trình độ lao động VN còn hạn chế về kỹ năng nghề đang gây khó khăn trong việc tiếp thu ứng dụng trình độ khoa học công nghệ khi tham gia thị trường chung Ngoài ra, hiểu biết về văn hóa doanh nghiệp và pháp luật nước bạn của lao động VN cũng còn hạn chế, cùng với tinh thần làm việc theo nhóm
và tác phong công nghiệp chưa tốt cũng là điểm yếu tạo ra một thách thức không nhỏ cho việc hội nhập quốc tế
V- Một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả nguồn lao động của Việt Nam
để hội nhập AEC và TPP có hiệu quả
Trong bối cảnh hội nhập sâu và rộng để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nhân lực VN trên thị trường lao động trong nước và quốc tế, nhất là khi tham gia AEC, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về giáo dục nghề nghiệp (GDNN) cho toàn
xã hội, đặc biệt trên tầm vĩ mô, các cấp từ TW đến địa phương cần nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của GDNN trong phát triền nguồn nhân lực (NNL) Trong chiến lược quốc gia, vùng về quy hoạch phát triển nhân lực thời kỳ
2016-2020 và tầm nhìn đến 2030 cần chú trọng chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực của Bộ, ngành, địa phương phù hợp với định hướng hội nhập quốc tế
và mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước Trong đó, phải ưu tiên đầu tư trong lĩnh vực GDNN xem đây là giải pháp đầu tư cho phát triển bền vững
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về GDNN, các cơ chế chính sách
về dạy nghề, học nghề Cần có chính sách đãi ngộ, thu hút lực lượng phát triển GDNN như chính sách đối với người lao động qua đào tạo nghề nghiệp, chính sách đào tạo liên thông, hỗ trợ người học nghề,… Đổi mới mạnh mẽ về thể chế
Trang 10chính sách liên quan đến thị trường lao động, đến đào tạo nghề đối với các cấp Trong GDNN, đặc biệt chú trọng đến chủ trương xã hội hóa trong đào tạo nghề nghiệp đối với doanh nghiệp thông qua việc xây dựng cơ chế xã hội hóa để doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động tham gia xây dựng, đánh gía, điều chỉnh chương trình đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập và đánh giá năng lực người học Tất cả hướng đến mục tiêu gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động cùng sự tham gia của doanh nghiệp Xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa GDNN với thị trường lao động cả ở cấp độ vĩ mô và cấp cơ sở để bảo đảm cho hoạt động của hệ thống GDNN hướng vào việc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của từng địa phương, từng ngành, nâng cao hiệu quả chung của toàn xã hội về sử dụng nguồn nhân lực
Thứ ba: Căn cứ vào Luật Lao động đã được ban hành, xây dựng các trung
tâm hướng nghiệp tại các thành phố lớn hoặc vùng kinh tế để giúp tư vấn về việc làm, giúp cho các đối tượng là lao động trẻ, những sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp, học sinh cuối cấp, sinh viên mới vào trường xác định rõ ràng và đúng đắn về định hướng nghề nghiệp phù hợp với sở thích, khả năng và điều kiện của mình
Thứ tư, quy hoạch hệ thống cơ sở GDNN phù hợp với định hướng, mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, ngành, địa phương Tập trung xây dựng các cơ sở đào tạo nhân lực chất lượng cao ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế động lực, khuyến khích hợp tác đào tạo với các cơ sở GDNN có vốn đầu tư nước ngoài, các khu chế xuất, các khu công nghiệp Trong quy hoạch cần chú trọng khuyến khích thực hiện chính sách xã hội hóa, tập hợp đa dạng các nguồn lực xã hội cho đào tạo phát triển nghề nghiệp bao gồm: nhà nước, doanh nghiệp, người học, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong đó nguồn ngân sách nhà nước là quan trọng Ngoài ra để khuyến khích phát triển công tác GDNN nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn, đất đai, thuế đối với các cơ sở đào tạo nghề ngoài nhà nước
Thứ năm, soát xét đổi mới cơ cấu GDNN trong hệ thống giáo dục quốc
dân, chuyển hệ thống GDNN khép kín thành hệ thống đào tạo mở, linh hoạt, liên thông giữa các thành tố của hệ thống và liên thông với các bậc học khác của hệ thống giáo dục quốc dân (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng) Đổi mới cơ cấu
hệ thống GDNN trên cơ sở khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với bối cảnh của đất nước và xu thế chung của các nước trong khu vực (AEC) và trên thế giới
Thứ sáu, tập trung phát triển đội ngũ giáo viên/giảng viên GDNN, chuẩn
hóa về trình độ đào tạo, kỹ năng và sư phạm nghề theo các cấp độ (quốc gia, khu vực và quốc tế), theo trình độ đào tạo Xây dựng chương trình đào tạo phù