1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện Tài chính

84 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 909 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình giáo dục thể chất trong nhà trườngluôn được đổi mới để phù hợp với điều kiện của từng trường, từng địa phương...Công tác giáo dục thể chất trong trường học thực sự giữ vị tr

Trang 1

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ.Các quốc gia đều phấn đấu vươn lên nhằm khẳng định vị thế của mình trên trườngquốc tế, sự cạnh tranh giữa các nước trở lên ngày càng quyết liệt Trước bối cảnh đóĐảng ta đã nhận thức rõ “Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại cùng với xuthế hoá đời sống kinh tế thế giới là cơ hội thuận lợi để phát triển đồng thời cũng làmột thách thức gay gắt đối với các nước, nhất là đối với các nước chậm phát triển

về kinh tế như nước ta Việc nâng cao nhận thức đối với giáo dục đào tạo và khoahọc, công nghệ có tính quyết định tới việc phát huy nhân tố con người” Trong vănkiện đại hội VIII của Đảng cũng nêu rõ: “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học vàcông nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu… chuẩn bị tốt hành trang chothế hệ trẻ đi vào thế kỉ 21.” [2], đồng thời khẳng định: “Sự cường tráng về thể chất

là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ vàvật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xãhội, của các cấp, các ngành, các đoàn thể” [2] Cũng tại văn kiện này, Đảng đãquyết định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triểnmạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự pháttriển nhanh và bền vững ” Xuất phát từ quan điểm trên, luật giáo dục đã chỉ rõ:

“Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khoẻ,thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội…[4]” Để đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra, công tác giáo dục thể chất đượccoi là một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Trong những năm qua, với sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước, Bộ giáodục - đào tạo, công tác giáo dục thể chất và thể dục thể thao trong nhà trường các

Trang 2

cấp đã có sự phát triển mạnh mẽ Chương trình giáo dục thể chất trong nhà trườngluôn được đổi mới để phù hợp với điều kiện của từng trường, từng địa phương Công tác giáo dục thể chất trong trường học thực sự giữ vị trí quan trọng trong việcđào tạo những trí thức phát triển toàn diện, có năng lực chuyên môn giỏi, có sứckhoẻ tốt để đáp ứng được yêu cầu của xã hội

Học viện Tài chính, tiền thân là Trường cán bộ Tài chính - Kế toán Ngân hàngTrung ương được thành lập năm 1963, năm 1976 đổi tên thành Trường Đại học Tàichính - Kế toán Hà Nội, với nhiệm vụ cơ bản là đào tạo và nghiên cứu khoa học, tạonguồn cung cấp lực lượng cán bộ đại học và sau đại học về lĩnh vực tài chính - kếtoán cho đất nước và cho hai nước Lào, Campuchia Ngày 17/8/2001 Thủ tướngChính phủ có Quyết định số 120/2001/QĐ-TTg thành lập Học viện Tài chính trên

cơ sở sáp nhập 3 đơn vị: Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội, Viện Nghiêncứu Tài chính và Trung tâm Bồi dưỡng Cán bộ Tài chính

Song song việc đầu tư, phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo, Học viện Tàichính luôn mở rộng hợp tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu với các Viện, TrườngĐại học nước ngoài nhằm nâng cao vị thế của Học viện không chỉ trong đào tạo mà

cả trong nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên tăng cường năng lực đội ngũ cán

bộ giảng dạy của nhà trường Đến nay, Học viện Tài chính đã trở thành trung tâmđào tạo và nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành và của đất nước

Công tác GDTC ở Học viện Tài chính trong những năm qua đã được sự quantâm của Đảng ủy, Ban Giám đốc đạt được nhiều tiến bộ, gặt hái nhiều thành công.Song thực tế những năm qua chúng tôi nhận thấy công tác giảng dạy GDTC cho các

em sinh viên học viện còn nhiều bất cập, ý thức trong việc tập luyện còn kém, ítnhiều ảnh hưởng tới kết quả học tập chuyên môn của các em Chính vì vậy việc tìmkiếm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên học viện tài chính lànhu cầu cấp thiết đối với Học viện tài chính

Việc nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viêntrong các trường học ở Việt Nam đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu Kết quảnghiên cứu của các tác giả về công tác giáo dục thể chất trường học có ý nghĩa tolớn trong việc nâng cao chất lượng công tác GDTC cho sinh viên Tuy nhiên cácgiải pháp và các đề tài nghiên cứu và đề xuất phải phù hợp với đặc điểm của từng

Trang 3

trường với sở thích, năng lực của sinh viên và thực tiễn cho đến nay vẫn chưa cócông trình nào nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên ởHọc viện Tài chính, do vậy không thể áp dụng các kết quả đã nghiên cứu áp dụngcho sinh viên Học viện Tài chính.

Xuất phát từ lý do trên, với mong muốn đóng góp một phần vào sự phát triểncủa Học viện, nâng cao chất lượng trong giờ giảng dạy GDTC cho sinh viên, chúngtôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện Tài chính”

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng những mặt còn hạn chế trong công tác GDTC ởHọc viện Tài chính, đề tài xác định nguyên nhân dẫn đến những mặt còn hạn chế,

tiến hành lựa chọn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên

Học viện Tài chính, góp phần thực hiện thành công sứ mệnh đào tạo của Học viện

Mục tiêu nghiên cứu

1 Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất ở Học viện Tài chính

2 Lựa chọn và ứng dụng các giải pháp giáo dục thể chất cho sinh viên Học

viện Tài chính

3 Đánh giá hiệu quả về những giải pháp đã lựa chọn nhằm nâng cao chấtlượng GDTC tại Học viện Tài chính

Giả thuyết khoa học

Hiệu quả về chất lượng GDTC cho sinh viên Học viện Tài chính phụ thuộcvào nhiều yếu tố, nhưng qua nghiên cứu tìm hiểu công tác đào tạo GDTC tại Họcviện có chất lượng chưa cao là do nhiều nguyên nhân Nhưng giả thuyết đưa ranguyên nhân lớn nhất là chưa có các giải pháp cụ thể và Học viện chưa thực sựđánh giá cao về tầm quan trọng công tác GDTC Nếu đưa ra được các giải pháp phùhợp có tính khoa học, tính chiến lược và thực tiễn áp dụng trên khách thể nghiêncứu thì chất lượng GDTC ở Học viện sẽ tốt hơn

Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài đã đề cập và đề xuất những vấn đề khoa học mới (về lý thuyết và thựctiễn) như sau:

Trang 4

Những vấn đề có tác dụng bổ sung, hoàn chỉnh làm phong phú thêm vốn kiếnthức trong lĩnh vực khoa học thể dục thể thao

Đề tài đã đánh giá được thực trạng công tác GDTC ở Học viện Tài chính,phân tích điểm mạnh, điểm yếu về thực trạng từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp

để phỏng vấn lựa chọn các giải pháp tối ưu ứng dụng vào thực nghiệm

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Những nội dung sáng tạo và phát triển có cơ sở khoa học dựa trên thành tựu đã

có nhằm giải quyết những yêu cầu thực tiễn trong các hoạt động thể dục thể thaotrường học Đề tài đã căn cứ vào các văn bản quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;Căn cứ vào thực tế mô hình phát triển của Học viện về đội ngũ, cơ sở vật chất trangthiết bị, quy mô đào tạo… để xây dựng các biện pháp trong những giải pháp đượclựa chọn Từ đó ứng dụng vào trong công tác đào tạo nhằm nâng cao chất lượngcông tác GDTC ở Học viện Tài chính

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề về giáo dục thể chất cho sinh viên

1.1.1 Những khái niệm có liên quan [17,18,24]

Giải pháp: “Đưa ra cách giải quyết một vấn đề nào đó mang tính chiến

lược”

Giải pháp: Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện Khoa học Xã hội

Việt Nam thì giải pháp có nghĩa là: “Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.

Chất lượng: Chất lượng không chỉ là một đặc tính đơn lẻ mà toàn bộ tất cả

các đặc tính quyết định mức độ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng

Chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục không phải chỉ được đo bằng

những kiến thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến (kỹ xảo điện ảnh không thay thế được

hành vi con người khách quan) mà không cần những kiến thức nào khác (như có một số nhà khoa học yêu cầu phải hủy bỏ các nội dung học tập đại cương mang

tính xã hội nhân văn do không mang lại lợi ích cơm áo)

Thể chất: “Thể chất là chất lượng cơ thể con người Đó là những đặc trưng

về hình thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn

và các thời kỳ kế tiếp nhau theo quy luật sinh học Thể chất được hình thành và pháttriển do bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động”

Giáo dục thể chất: “Giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những

nhiệm vụ giáo dục-giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cảcác dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chứchoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm”

Phát triển thể chất: “Phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi

các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt cảcuộc sống cá nhân của nó”

1.1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất trường học

Hiến pháp Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại Điều 61nêu: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triểnnguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn

Trang 6

đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học làbắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; pháttriển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, họcphí hợp lý

Từ cuối năm 1950 đã có chương trình giảng dạy Giáo dục thể chất trong nhàtrường nhằm đảm bảo sức khỏe, hoàn thiện thể chất, năng lực vận động, bồi dưỡngnhân cách cho học sinh – sinh viên Công tác Giáo dục thể chất trường học từngbước trưởng thành và có nhiều khởi sắc cùng các mặt đức dục, trí dục

Năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 133/TTg về công tác Thể dục thểthao trong giai đoạn mới, có đoạn ghi: "Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt coi trọngviệc Giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy Thể dục thểthao nội khóa, ngoại khóa, có quy chế bắt buộc các nhà trường, nhất là các trườngđại học phải có sân bãi, phòng tập Thể dục thể thao, có định biên hợp lý Bộ Giáodục và Đào tạo bổ nhiệm một Thứ trưởng chuyên trách chỉ đạo công tác Giáo dụcthể chất trường học"

Chỉ thị 133/TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định quan điểm của Đảng

và sự quan tâm chỉ đạo của Nhà nước đối với công tác Thể dục thể thao và giáo dụcthể chất hết sức đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và trong từnggiai đoạn lịch sử Văn bản đã nêu rõ: "Công tác Giáo dục thể chất trong nhà trườngcần đặc biệt coi trọng Nội dung giảng dạy Thể dục thể thao nội khóa, ngoại khóacần được cải tiến cho phù hợp" Điều này cho thấy giáo dục phát triển thể chất chocon người rất quan trọng Nó vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuậtcần được đầu tư nghiên cứu Việc nghiên cứu sự phát triển thể chất của con ngườitrong giá trị tổng thể của các giá trị văn hóa đạo đức, thể chất, tinh thần làm nềntảng để phát huy hiệu quả các mặt giá trị khác

Văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Cùngvới khoa học và công nghệ, Giáo dục và đào tạo là chìa khóa để mở cửa, để đấtnước bước vào tương lai với đội ngũ tri thức khoa học vững vàng Nghị quyết đãđịnh hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 xác định giáo dục đào tạo là quốc sách

Trang 7

hàng đầu, nhằm xây dựng lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể lực,trong sáng về đạo đức và phong phú về tinh thần”

Để từng bước củng cố, phát triển đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục thểchất nói riêng và thể thao Việt Nam nói chung, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã raChỉ thị số 36 CT - TƯ ngày 24/03/1994 về công tác Thể dục thể thao trong giaiđoạn mới Trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục thể chất trong trườnghọc các cấp Chỉ thị đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối vớiviệc chăm lo về thể chất - sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là trong học sinh - sinhviên với môi trường điều kiện giáo dục thuận lợi Phát triển nền Thể dục thể thaoViệt Nam cần phải chú trọng đặc biệt đến giáo dục thể chất và thể thao trường học.Đây là cơ sở vững chắc của thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao

Triển khai Nghị quyết đại hội Đảng IX, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉthị số 17/CT - TW năm 2002 "về phát triển Thể dục thể thao đến năm 2010" Chỉ thịtiếp tục yêu cầu đổi mới công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp cụ thểlà: "Đẩy mạnh hoạt động Thể dục thể thao trong trường học, tiến tới bảo đảm mỗitrường học đều có giáo viên Thể dục thể thao chuyên trách và lớp học thể dục đúngtiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất, xem đây là mộttiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia"

Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về công tácThể dục thể thao, trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng côngtác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đến năm 2020: “Hoàn thiện bộmáy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao;tăng cường cơ sở vật chất, những mũi đột phá chiến lược để phát triển kinh tế xã hộiđất nước đến năm 2020 là: “ Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhânlực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dụcquốc dân; gắn kết chặt chẽ việc phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứngdụng khoa học công nghệ Cần tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trườngvăn hóa lành mạnh, chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng,trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thứcchấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ Làm tốt công tác giáo dục thế chấttrong trường học Phát triển mạnh phong trào Thể dục thể thao đại chúng, tập

Trang 8

trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn thể thao thành tích cao mà nước ta có

ưu thế; Kiên quyết chống tiêu cực trong thi đấu thể thao

Giáo dục thế chất trong nhà trường là một trong những mặt hữu cơ của quátrình giáo dục chung bao gồm: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm

mỹ, giáo dục kỹ thuật và giáo dục thể chất Đánh giá giáo dục thể chất kết hợp vớicác mặt giáo dục khác Công tác Thể dục thể thao cần coi trọng, nâng cao chấtlượng giáo dục trong trường học, tổ chức và hướng dẫn, vận động đông đảo nhândân rèn luyện hằng ngày Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã xác định mục tiêu đếnnăm 2020, nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp, Muốn đạt được mục tiêunày, chúng ta phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xây dựng lại cơ cấu đội ngũ lao độngphục vụ phát triển kinh tế Trong thành công của sự nghiệp này, đòi hỏi người laođộng phải chuẩn bị tốt về mặt thể chất Chăm lo con người về mặt thể chất là tráchnhiệm của toàn xã hội, của tất cả các ngành các cấp, các đoàn thế, trong đó có Giáodục và Đào tạo, Y tế và Thế dục Thể thao Giáo dục - đào tạo đóng vai trò chủ yếutrong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đặt nền tảng choviệc đổi mới và phát triển khoa học công nghệ Nhiệm vụ trọng tâm của hệ thốnggiáo dục thể chất các trường đào tạo trình độ cao đẳng, đại học là phát triển thể lực

và trang bị kiến thức, kỹ năng tự rèn luyện thân thể, trang bị các năng lực tham giacác hoạt động ngoài giờ Đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, giáo dục và đào tạothường xuyên phải đổi mới về chất lượng đào tạo, mục tiêu, nội dung, phương pháp

và hình thức tổ chức đào tạo, phù hợp với những thay đổi kinh tế xã hội và gâydựng mối quan hệ giữa đào tạo và nguồn nhân lực và sử dụng lao động trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong thời đại ngày nay thời đạicủa nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người là một trong những nhân tố quan trọngquyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội và thế hệ trẻ chỉ thực sự trở thành độnglực của sự phát triển kinh tế đất nước khi được giáo dục đúng đắn và khoa học,cũng như được chuẩn bị tốt về thể lực Mục tiêu đào tạo trong trường Cao đẳng, Đạihọc là đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề cao, sức khỏe tốt, có phẩm chất đạođức, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phát triểntoàn diện, giáo dục thế chất là một trong những nội dung bắt buộc của giáo dục đàotạo

Trang 9

Luật Thể dục thể thao năm 2018 tại Điều 4 quy định Chính sách của Nhànước về phát triển thể dục, thể thao nêu rõ: Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thaonhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đờisống văn hóa, tinh thần cho Nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thểthao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Tăng dần đầu tư ngân sách nhà nước, dành quỹ đất và có chínhsách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng nhân lực,phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thểthao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng thể dục thể thao, phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới Điều 20nêu: Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằmcung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập

và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt độngthể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theophương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằmtạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếuthể thao Điều 21 khoản 1: Nhà nước có chính sách dành đất đai, đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường, bảođảm đủ giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các cấp học và trình độ đào tạo;

ưu tiên phát triển môn bơi, võ cổ truyền và các môn thể thao dân tộc [10]

Luật giáo dục được Quốc hội Khoá IX Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 02/12/1998 và Pháp lệnh thể dục thể thao được Uỷ ban thường

vụ Quốc hội thông qua tháng 9 năm 2000 quy định: Nhà nước coi trọng thể dục thểthao trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho các tầng lớp thanh thiếuniên, nhi đồng giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viênđược thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học Thể dụcthể thao trường học bao gồm việc tiến hành chương trình giáo dục thể chất bắt buộc

và tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho người học Nhà nước khuyếnkhích và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện thể dục thể thao phù hợp với đặcđiểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi Giáo dục thể chất là bộ phận quan trọng đểthực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn

Trang 10

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa.

Luật giáo dục năm 2019 xác định mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàndiện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghềnghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dântộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềmnăng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhânlực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

1.1.3 Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất cho sinh viên

1.1.3.1 Mục đích của giáo dục thể chất cho sinh viên

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định và đặt đúng vị trí của giáo dục thể chấtđối với thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên Theo đó, giáo dục thể chất là một trong 5mặt giáo dục, là phương tiện để đào tạo nhân cách phát triển toàn diện con người

Căn cứ vào chủ trương giáo dục, trong khi giải quyết các nhiệm vụ chuẩn bịnghề nghiệp cho cán bộ và giáo dục, họ trở thành những người tích cực xây dựng chủnghĩa xã hội, trường cao đẳng - đại học phải đảm bảo rèn luyện thể lực cho sinh viên

Tác dụng của giáo dục thể chất và các hình thức sử dụng giáo dục thể chất cóchủ đích áp dụng trong các trường đại học, cao đẳng là toàn diện Sự tiến bộ của kỹthuật, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và lượng thông tin mới ngày càngnhiều làm cho lao động, học tập của sinh viên ngày càng trở nên nặng nhọc hơn,căng thẳng hơn Giáo dục thể chất và thể thao trường học là phương tiện hợp lý hóachế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động trongtất cả các thời kỳ học tập tại trường Cho nên tầm quan trọng của giáo dục thể chất

và Thể thao trường học cũng tăng lên một cách nhanh tương ứng Ngoài ra còn cần

Trang 11

phải đảm bảo tiếp tục chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị chuyên môn nghiệp vụphù hợp với những điều kiện ngành nghề trong tương lai.

Mục đích của giáo dục thể chất cho sinh viên là góp phần đào tạo đội ngũcán bộ khoa học kỹ thuật cho đất nước có thể chất cường tráng, có tri thức và taynghề cao, có nhân cách của con người Việt Nam, đáp ứng được nhu cầu của nềnkinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa

Vai trò to lớn của giáo dục thể chất trong sự nghiệp đào tạo đại học ở nước tađược thể hiện rõ nét ở các đặc điểm sau:

Giáo dục thể chất là một mặt giáo dục toàn diện cho sinh viên, tạo cho đấtnước lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinhthần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng mọi yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Giáo dục thể chất có vai trò chủ động nâng cao sức khoẻ, thể chất, năng lựcvận động cho sinh viên, nâng cao hiệu quả học tập chuyên môn nghiệp vụ

Giáo dục thể chất góp phần xây dựng đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh,ngăn chặn tệ nạn xã hội, tăng cường giao lưu hiểu biết lẫn nhau giữa các trường, cácngành nghề và các vùng, mở rộng khả năng hoà nhập với sinh viên các nước trongkhu vực và thế giới

Giáo dục thể chất là môi trường giáo dục, rèn luyện đạo đức và ý chí chothanh niên, phát hiện và bồi dưỡng các tài năng thể thao cho đất nước[ 3,4,5]

1.1.3.2 Nhiệm vụ của Giáo dục thể chất cho sinh viên

Công tác giáo dục thể chất cho sinh viên các trường đại học nhằm giải quyết

3 nhiệm vụ cơ bản là [3,4,5]:

a Giáo dục cho sinh viên về đạo đức và nhân cách con người Việt Nam.Rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, năng động và sáng tạotrong học tập, xây dựng cuộc sống lành mạnh, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa

b Hình thành và hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản một số mônthể thao và trang bị cho sinh viên những tri thức chuyên môn như: lý luận cơ bản vềtập luyện và thi đấu thể thao và trang bị cho họ những tri thức cần thiết về việc sử

Trang 12

dụng các phương tiện, phương pháp trong giáo dục thể chất để tự tập và có thể tổchức hướng dẫn tập luyện cho mọi người.

c Phát triển cơ thể hài hoà, cân đối, củng cố và tăng cường sức khoẻ, xâydựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu như: hút thuốc lá,uống rượu bia… Rèn luyện thân thể để đạt những chỉ tiêu thể lực quy định cho từngđối tượng và năm học, trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi

Những nhiệm vụ chung kể trên sẽ được thực hiện cụ thể hóa tùy thuộc vào trình

độ chuẩn bị ban đầu, trạng thái thể thao, chí hướng và năng lực cá nhân của sinh viên,cũng như tùy thuộc vào những đặc điểm của hoạt động nghề nghiệp sau này

Đối với những sinh viên có mong muốn được hoàn thiện sâu hơn ở môn thểthao tự chọn, thì nhiệm vụ chung của giáo dục thể chất sẽ được cụ thể hóa theo cácnhiệm vụ đào tạo thể thao Trong khi làm việc với những sinh viên này cần đặc biệtchú ý đến việc đào tạo những hướng dẫn viên và trọng tài thể thao

Trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo những chuyên gia mà hoạt độngnghề nghiệp đòi hỏi phải có trình độ chuẩn bị thể lực chuyên môn (các nhà địa chất,những chuyên gia vận tải đường hàng không và đường thủy, quân sự…) chươngtrình giáo dục thể chất sẽ hướng vào kế hoạch đào tạo nghề nghiệp thực dụng

1.2 Văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục thể chất trường học

Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 09 năm 2008, ban hành quyđịnh về việc đánh giá, xếp loại thể lực của học sinh, sinh viên Việc đánh giá, xếp loạithể lực của học sinh, sinh viên nhằm mục đích đánh giá kết quả rèn luyện thể lực toàndiện của người học trong nhà trường; điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục thểchất phù hợp với các trường ở các cấp học và trình độ đào tạo; đẩy mạnh việc thườngxuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốccho học sinh, sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế Việc đánh giá, xếp loại thểlực học sinh, sinh viên phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính của học sinh, sinh viêntrong nhà trường ở các cấp học và trình độ đào tạo Việc đánh giá, xếp loại thể lựchọc sinh, sinh viên được phân theo lứa tuổi từ 6 tuổi đến 20 tuổi Học sinh, sinh viên

từ 21 tuổi trở lên sử dụng các chỉ số đánh giá của lứa tuổi 20 Các cơ sở giáo dục vàđào tạo chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện quyđịnh này đối với các phòng giáo dục và các cơ sở giáo dục thuộc quyền quản lý và

Trang 13

tổng hợp báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo định kỳ hàng năm Các phòng giáo dục vàđào tạo chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện quyđịnh này tại các cơ sở giáo dục thuộc quyền quản lý và tổng hợp báo cáo sở giáo dục

và đào tạo định kỳ hàng năm Các cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm chuẩn bị về cơ sởvật chất, lực lượng cán bộ, giáo viên, giảng viên đảm bảo cho công tác đánh giá đượcthuận lợi, an toàn và hiệu quả Có kế hoạch kiểm tra, đánh giá, xếp loại thể lực họcsinh, sinh viên cụ thể hàng năm, bố trí thời gian tổ chức kiểm tra hợp lý, ghi và lưu hồ

sơ kết quả việc đánh giá, xếp loại thể lực của mỗi học sinh, sinh viên, tổng hợp vàbáo cáo cơ quan quản lý trực tiếp định kỳ hàng năm [5]

Vấn đề phân loại sức khỏe sinh viên cũng được quy định cụ thể theo cácnhóm tương đối đồng nhất để tiến hành Giáo dục thể chất cho học sinh một cách cóhiệu quả

Việc phân loại sức khoẻ là phức tạp và khó khăn, vì ngày nay, sức khoẻ đượchiểu là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần, tâm lý xã hội chứ không phải

là người không có bệnh

Có nhiều cách phân loại sức khoẻ Thông thường theo Bộ Y tế chia sức khoẻthành loại: tốt, trung bình, yếu (loại A,B,C) và tuy chưa có cuộc tổng điều tra sứckhoẻ toàn dân, nhưng trên cơ sở điều tra mẫu năm 1992, số người đạt sức khoẻ loại

A là 20 %, loại B 65% và loại C 15%

Sinh viên thường có độ tuổi từ 18 - 23 Đây là độ tuổi "bẻ gẫy sừng trâu'', độtuổi đạt đỉnh cao nhất về tầm vóc và thể lực Theo kết quả điều tra năm 1992 của Bộ

Y tế 11.000 nam thành viên độ tuổi 18 thì chiều cao trung bình là 161,51 5,58 cm

và cân nặng trung bình là 47,79 5,0 kg Cũng theo cuộc điều tra, người ta phân loạisức khoẻ thanh niên thành 5 loại với kết quả như sau:

Loại 1 là sức khoẻ rất tốt có 18% tổng số điều tra

Loại 2 là tốt có 20 %

Loại 3 là sức khoẻ khá 25 %

Loại 4 là sức khoẻ trung bình 25 %

Loại 5 là sức khoẻ yếu 12%

Trang 14

Từ những vấn đề nêu trên, trong thực tiễn Giáo dục thể chất cho sinh viênnhững năm qua thường chia sinh viên về 3 nhóm tập luyện thể dục thể thao theo 3mức độ sức khoẻ, đó là :

Nhóm cơ bản (hay nhóm khoẻ) gồm những sinh viên có sức khoẻ loại 1 - 3

(rất tốt, tốt và khá) Ở đây bao gồm những sinh viên đã được tập luyện thể dục thểthao hoặc chưa được tập luyện thể dục thể thao thường xuyên

Nhóm thể thao nâng cao bao gồm những học sinh ở nhóm cơ bản mà đã có

quá trình tập luyện thể dục thể thao một cách thường xuyên, hệ thống trong nhữngnăm phổ thông

Nhóm đặc biệt, hay nhóm yếu gồm những sinh viên có sức khoẻ từ loại 4 - 5

(trung bình và yếu) Đối với nhóm khoẻ có thể áp dụng bình thường nội dungchương trình các phương tiện và phương pháp Giáo dục thể chất vốn có cho mọi đốitượng Riêng nhóm nâng cao và nhóm yếu cần phải có những Phương pháp "đốixử" đặc biệt, đặc thù cho phù hợp với điều kiện từng nhóm

Số học sinh của nhóm yếu được ghép thành lớp riêng của từng khoá (hoặc

của các lớp có chuyên ngành gần nhau trong những nơi không có tổ chức khoa) đểtập luyện Nội dung, phương pháp tổ chức giảng dạy, tiêu chuẩn kiểm tra đánh giákết quả học tập và kểm tra thể lực có khác nhau, theo hướng thấp hơn yêu cầuchung Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào diễn biên sức khoẻ, thể lực và bệnh tất của sinhviên mà giáo viên thể dục thể thao kết hợp với bác sĩ của trường quyết định chuyểndần sinh viên nhóm này sang nhóm cơ bản, bình thường khác

Trong nhóm nâng cao, có những sinh viên có thể thể lực rất khoẻ, lại được

luyện tập thể dục thể thao có hệ thống ở phổ thông, có sinh viên đạt tiêu chuẩn đẳngcấp vận động viên hoặc đạt tiêu chuẩn giỏi trong kiểm tra đánh giá xếp loại thể lực;

Do đó giáo viên thể dục thể thao cần soạn thảo nội dung chương trình cao hơn bìnhthường, tổ chức các giờ học theo hướng huấn luyện thể thao để tiếp tục nâng caothành tích thể thao cho họ Tất nhiên nhóm này chỉ áp dụng ở những trường có điềukiện tốt về cơ sở vật chất, giáo viên và thường là những trường có truyền thốngphong trào thể dục thể thao quần chúng

Trong hệ thống các trường dạy nghề, bên cạnh việc đảm bảo chương trìnhgiáo dục thể chất chung và phân nhóm sinh viên tập luyện thể dục thể thao như vừa

Trang 15

nêu ở trên, thì xu hướng nổi trội trong giáo dục thể chất ở đây là phát triển thể dụcnghề nghiệp, lựa chọn nội dung giảng dạy và phương tiện tập luyện theo hướngphục vụ trực tiếp cho các nghề trong tương lai mà các sinh viên đó sẽ đảm nhiệm

Sinh viên được tổ chức luyện tập theo đơn vị lớp học Số sinh viên thuộcnhóm đặc biệt được ghép thành lớp riêng dựa trên tổ chức khoa (hoặc các lớp cóchuyên ngành gần nhau, ở những nơi không có khoa) để luyện tập Nội dung,phương pháp tổ chức, giảng dạy, tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá kết quả học tập và thểlực trong mỗi nhóm sinh viên cần có yêu cầu khác nhau để phù hợp với tình trạngsức khỏe và giới tính

Căn cứ diễn biến về sức khỏe, thể lực và bệnh tật, sinh viên có thể phảichuyển nhóm học tập theo quyết định của bác sỹ và giáo viên thể dục thể thao vàocuối mỗi học kỳ

Quyết định số 1611/QĐ-BGDĐT ngày 10/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và đào tạo về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 17/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổngthể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016 - 2020 vàđịnh hướng đến năm 2025, với một số nội dung như sau:

Giai đoạn 2017 - 2020: Biên soạn các tài liệu hướng dẫn phát triển vận động

cho trẻ Mầm non; hướng dẫn tập luyện thể dục, thể thao cho học sinh phổ thông, tậpthể dục buổi sáng, thể dục giữa giờ cho học sinh, sinh viên Tổ chức tập huấn vềGiáo dục thể chất cho trẻ em Mầm non, góp ý chương trình giáo dục Phổ thông,môn học Giáo dục thể chất các cấp: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổthông Tổ chức tập huấn đổi mới phương pháp giáo dục phát triển thể chất cho trẻ

em và phương pháp dạy học thể dục (Giáo dục thể chất) ở các trường Tiểu học,Trung học cơ sở, Trung học phổ thông; đổi mới phương pháp, nội dung kiểm tra,đánh giá công tác Giáo dục thể chất đối với giáo dục phổ thông Tổ chức kiểm traviệc xây dựng cơ sở vật chất (bao gồm nhà tập, sân tập, trang thiết bị, dụng cụ )phục vụ Giáo dục thể chất và thể thao trường học, gắn với triển khai Quy hoạch hệthống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục, thể thao quốc gia tại các địa phương Tổ chứctập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp dạy vàhọc cho đội ngũ giáo viên, giảng viên TDTT trong nhà trường [ 13,18,43]:…

Trang 16

Định hướng đến năm 2021-2025: Tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo nâng cao

chất lượng hiệu quả giáo dục thể chất trong các nhà trường Chỉ đạo các sở giáo dục

và đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học chỉ đạo và tổ chức cho học sinh, sinh viênthường xuyên tham gia tập luyện thể dục, thể thao, đạt tiêu chuẩn đánh giá, xếp loạithể lực theo độ tuổi; thường xuyên tổ chức các hoạt động thi đấu thể thao cho họcsinh, sinh viên, duy trì tập luyện thể dục buổi sáng, thể dục giữa giờ Tiếp tục chỉđạo, kiểm tra các địa phương đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụphục vụ Giáo dục thể chất và thể thao trường học; hai ngành Giáo dục và Thể thaophối hợp khai thác, sử dụng các công trình thể thao trên địa bàn phục vụ Giáo dụcthể chất và thể thao trường học [13,18,43]

Kế hoạch 398/KH-BGDĐT ngày 09/5/2019 về việc thực hiện Kết luận của Bộtrưởng Phùng Xuân Nhạ tại hội nghị “Nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất và thểthao trường học trong ngành Giáo dục” với các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối vớicông tác giáo dục thể chất và thể thao trường học cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhàgiáo, học sinh, sinh viên trong toàn ngành Giáo dục

2 Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá mônhọc giáo dục thể chất; tăng cường các môn thể thao tự chọn, tạo điều kiện chongười học được lựa chọn môn thể thao yêu thích để tập luyện

3 Phát triển phong trào thể thao trường học, theo hình thức tự chọn các mônthể thao phù hợp với sở thích, đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi của học sinh, sinh viên

và điều kiện thực hiện tại địa phương, nhà trường

4 Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũnhà giáo, trong đó tập trung đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giámôn học giáo dục thể chất; hướng dẫn sử dụng trang thiết bị giáo dục và tài liệu dạy

và và học môn giáo dục thể chất

5 Nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của các trường sư phạm thể dục thểthao, theo hướng trang bị kỹ năng, kiến thức, phát triển phẩm chất năng lực củangười học và người dạy; mở rộng quy mô đào tạo về các chuyên ngành trong lĩnhvực giáo dục thể chất và hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội;

Trang 17

nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giáo dục thểchất trong cả nước.

6 Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo phục vụ công tác giáo dụcthể chất và thể thao trường học, chú trọng đẩy mạnh xã hội hóa công nghiệp hóagiáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học

7 Hưởng ứng phát động của Bộ trưởng: duy trì nền nếp tập thể dục buổisáng, thể dục giữa giờ cho học sinh, sinh viên, đảm bảo 100% học sinh tham gia tậpluyện thường xuyên, hàng ngày Các thầy giáo, cô giáo phải là những tấm gương vềtập luyện thể dục thể thao để học sinh noi theo Tăng cường dạy hơi và học bơi,phòng chống đuối nước, động viên, khuyến khích học sinh học bơi và tham gia tậpluyện các môn thể thao Đẩy mạnh phong trào tập luyện thể dục thể thao trong nhàtrường Thành lập các câu lạc bộ thể dục thể thao trong nhà trường tạo sân chơi bổích thu hút đông đảo học sinh, sinh viên và cán bộ, giáo viên tham gia

Công văn số 3833/BGDĐT-GDTC hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dụcthể chất, thể thao và y tế trường học năm học 2019 - 2020 nêu rõ: Nâng cao chấtlượng Giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học nhằm nâng cao sức khỏe,phát triển thể lực, trang bị kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quentập luyện thể dục thể thao, thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinhviên; củng cố, kiện toàn và tăng cường hiệu quả hoạt động y tế trường học, đẩymạnh công tác chăm sóc sức khỏe, tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, đảm bảođiều kiện tổ chức hiệu quả môn học Giáo dục thể chất, các hoạt động thi đấu thểthao học sinh ,sinh viên, nhà giáo, cán bộ quản lý; nâng cao năng lực, trình độchuyên môn cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý làm công tác Giáo dục thể chất,thể thao và y tế trường học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất,thể thao và y tế trường học Tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình môn học Giáodục thể chất, đảm bảo thời lượng, phù hợp về nội dung, hình thức Đổi mới phươngpháp theo hướng phát triển năng lực học sinh - sinh viên, tạo sự hứng thú, yêu thíchcủa học sinh - sinh viên đối với Giáo dục thể chất Thực hiện nghiêm việc kiểm tra,đánh giá thể lực học sinh - sinh viên theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18tháng 09 năm 2008 Chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên thể dụcđáp ứng yêu cầu thực hiện hiệu quả chương trình môn học Giáo dục thể chất thuộc

Trang 18

chương trình giáo dục phổ thông mới; thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ và hướng dẫn sử dụng trang thiết bị giáo dục, họcliệu dạy và học cho cán bộ, giáo viên, giảng viên làm công tác Giáo dục thể chất vàthể thao trường học Đẩy mạnh phong trào tập luyện thể thao trong nhà trường, tạođiều kiện cho học sinh - sinh viên, cán bộ nhà giáo được thường xuyên tham gia tậpluyện, thi đấu nhằm duy trì, nâng cao sức khỏe, thể lực phục vụ tốt cho hoạt độnggiảng dạy, nghiên cứu khoa học; Đẩy mạnh việc thành lập và duy trì hiệu quả hoạtđộng các câu lạc bộ thể thao trong các cơ sở giáo dục;

Thực hiện tốt công tác giáo dục thể chất cho học sinh các cấp từ mầm nonđến đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân (công lập và ngoài công lập) là việclàm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược con người, chuẩn bị hành trangcho thế hệ trẻ bước vào thời kỳ đổi mới Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu củamọi người nói chung và là mục tiêu của mỗi Quốc gia cần đạt được trong quá trìnhgiáo dục học sinh; là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Vì vậy,chăm lo về thể chất cho học sinh trong nhà trường là trách nhiệm của toàn xã hội,của các cấp, các ngành, các đoàn thể, trong đó Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Y tế là những bộ phận thường trực

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trongtrường học Cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khóa, ngoại khóa; quyđịnh tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở mỗi cấp học, có quy định bắt buộctrong các trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi, phòng tập thể dục thểthao; có định biên hợp lý và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giáo viên thể dụcthể thao, đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tuyêntruyền, giáo dục nâng cao nhận thức đúng đắn của toàn xã hội về vị trí, vai trò, ýnghĩa tác dụng to lớn của giáo dục thể chất và các hoạt động thể thao trường họctrong mục tiêu giáo dục toàn diện nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con ngườiphục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xâydựng chương trình, tài liệu giảng dạy thể dục thể thao, nghiên cứu, điều tra banhành tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh và thể chất người Việt Nam từ 7

Trang 19

tuổi đến 35 tuổi Cơ quan giáo dục và mỗi trường học phải đảm bảo nội dung vàthời gian giảng dạy thể dục thể thao nội khoá, thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập và kết quả rèn luyện thân thể của học sinh theo tiêu chuẩn rèn luyện thânthể.

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếptục xúc tiến kế hoạch xây dựng lực lượng thể thao thành tích cao theo các hướngbán chuyên nghiệp trong học sinh, sinh viên và các trung tâm thể dục thể thao đểsắp xếp chương trình mục tiêu cấp Nhà nước và phát triển thể thao Việt Nam giaiđoạn mới

Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dụcnhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáodục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân;đào tạo những người lao động có tay nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tựhào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nướcmạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và

hệ thống văn bằng Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học,phổ cập giáo dục trung học cơ sở, xóa nạn mù chữ; phát triển các hình thức trườngquốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáodục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiênbảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặcbiệt khó khăn Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản HồChí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có tráchnhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng

1.2.1 Nội dung của công tác giáo dục thể chất trường học

Căn cứ theo Luật giáo dục 2019; Luật thể dục thể thao 2018; Quyết định53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 09 năm 2008; Chương trình môn học giáo dụcthể chất do Bộ Giáo dục và đào ban hành năm 2018, nội dung của công tác giáo dụcthể chất trường học như sau:

Trang 20

1 Thực hiện giờ thể dục nội khóa tối thiểu 2 tiết/1tuần theo đúng chươngtrình quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo cho từng cấp bậc học

2 Tổ chức tập luyện và kiểm tra, đánh giá và xếp loại thể lực cho học sinhtheo lứa tuổi mỗi năm 1 lần Để giúp nâng cao hiệu quả việc hình thành kỹ năng kỹxảo vận động, trong giờ học cần tổ chức các hoạt động tập luyện một cách phù hợp

và hiệu quả Đồng thời phải tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả tập luyện của họcsinh theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể Qua đó mới đánh giá được hiệu quả củaviệc dạy học, sự phù hợp của nội dung, bài tập, lượng vận động…

3 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa theo hình thức các câu lạc bộ tự chọntrong trường học Thời gian học các giờ học chính khóa chỉ 45 phút/ 1 tiết học, vìvậy không đảm bảo cho việc hình thành kỹ năng kỹ xảo cho học sinh 1 cách tốtnhất Cũng như không thể nâng cao được sức khỏe, thể lực cho người học Vì vậycần tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong nhà trường dựa trên sự lựa chọn củahọc sinh

4 Ổn định hệ thống thi đấu thể thao của học sinh theo chu kỳ năm và nhiềunăm Hiện nay hệ thống thi đấu thể thao của học sinh, sinh viên hàng năm có cáccuộc thi học sinh giỏi môn Thể dục thể thao, 4 năm một lần có các cuộc thi Thể dụcthể thao toàn quốc (Hội khỏe phù đổng, Đại hội thể thao sinh viên…) Việc ổn định

hệ thống thi đấu theo từng cấp sẽ giúp cho công tác Giáo dục thể chất và thể thaotrong trường học có sự chuẩn bị chu đáo về nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất…từ

đó nâng cao được hiệu quả của Giáo dục thể chất và thể thao trong trường học

1.2.2 Các hình thức giáo dục thể chất trường học [13,18,43]:…

1.2.2.1 Giờ Thể dục thể thao nội khóa trong trường học

Là hoạt động bắt buộc theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo Dấu hiệuquan trọng nhất của hình thức lên lớp là nhà chuyên gia – giáo viên giữ vai trò chủđạo trong việc trực tiếp tổ chức và điều khiển hoạt động giáo dục – học tập Giáoviên được trang bị một hệ thống tri thức, các kỹ năng kỹ xảo, có trách nhiệm đối vớikết quả của quá trình giáo dục – học tập trước Nhà nước và xã hội

Về mặt biện chứng mà nói, sự tác động tương hỗ giữa giáo viên và học sinhtạo điều kiện tốt nhất cho quá trình Giáo dục thể chất Thông thường, các giờ họcđược tiến hành trong hệ thống các buổi tập theo thời khóa biểu của trường học Đặc

Trang 21

điểm của hình thức buổi tập lên lớp là thành phần người tập cố định và tính đồngnhất theo lứa tuổi, theo các nhóm học Tham gia một cách có hệ thống trong hoạtđộng chung, những người tập đoàn kết với nhau trong một tập thể, và đó cũng làmột nhân tố rất quan trọng để giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục cũng nhưnhiệm vụ giáo dưỡng trong quá trình Giáo dục thể chất.

Giờ học lên lớp phải được xây dựng phù hợp với những nguyên tắc sư phạmchung, phù hợp với những nguyên tắc về phương pháp chung của hệ thống Giáodục thể chất Việt Nam Các nguyên tắc này được cụ thể hóa và bổ sung thêm nhữngyêu cầu sau đây: Tác động của giờ học phải toàn diện, đạt các yêu cầu về giáo dục,giáo dưỡng và nâng cao sức khỏe Việc giảng dạy và giáo dục người tập phải đượcthực hiện trong suốt quá trình giờ học từ phút đầu tiên đến phút cuối cùng Trongcác giờ học lên lớp cũng như các giờ học khác cần tránh các khuân mẫu cứng nhắc

về phương pháp Nội dung và phương pháp của các giờ học phải đa dạng, phù hợpvới các nhiệm vụ phải thường xuyên tăng lên, với quá trình biến đổi diễn ra trong

cơ thể người hoc, với những thay đổi của điều kiện xung quanh Phải căn cứ vàođặc điểm có nhân của người tập và lôi cuốn họ tham gia tập luyện đều đặn Chỉ cóvậy mới đạt được sự thống nhất của quá trình giáo dục - học tập trong suốt thời giandài, và nhờ đó tránh được việc loại bớt một số học sinh, tránh được hiện tượng xuấthiện học sinh kém trong tập thể lớp học Các nhiệm vụ đặt ra trong các giờ học phải

cụ thể, để có thể giải quyết được ngay trong giờ học đó Nhờ việc thực hiện nhữngnhiệm vụ cụ thể có tính chất từng phần mà những nhiệm vụ của của quá trình giáodục - học tập được giải quyết Tuy nhiên chỉ có thể đạt mục tiêu trong trường hợpgiải quyết tốt mỗi giờ học và thực hiện sự kế thừa chúng một cách có tổ chức

Nhờ có hình thức tập luyện lên lớp có thể điều hỉnh được quá trình Giáo dụcthể chất Vì chính các hình thức tập luyện lên lớp là các hình thức cơ bản để xâydựng chương trình Giáo dục thể chất bắt buộc, nhất là ở các trường phổ thông Hệthống các giờ học trong khuân khổ của một khóa học phụ thuộc vào kế hoạch họctập, chương trình, biểu đồ của quá trình giảng dạy học tập, vào thời khóa biểu họctập và chế độ hoạt động chung của nhà trường Việc phân chia thời kỳ của quá trìnhdạy học trong các trường phổ thông và các cơ sở học tập khác ở mức độ đáng kể cóảnh hưởng đến việc tổ chức các buổi tập Giáo dục thể chất

Trang 22

1.2.2.2 Hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa

Ở một mức độ đáng kể, Giáo dục thể chất tiến hành theo hình thức buổingoại khóa Đó là điều dễ hiểu, bởi vì thời gian học tập giờ chính khóa chỉ chiếmmột khoảng thời gian tương đối ngắn trong đời của mỗi cá nhân Thí dụ trong 12năm học phổ thông, học sinh chỉ được học khoảng 850 giờ học Thể dục thể thaochính khoá Trong khi đó thời gian tập luyện Thể dục thể thao ngoại khoá nhiều gấpbội

Tập luyện ngoại khóa trong trường học là hình thức tập luyện được xây dựngdựa trên sự tự nguyện của học sinh nhằm củng cố sức khoẻ, duy trì và nâng cao khảnăng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và giáo dục các tố chất thể lực và ý chí,tiếp thu các kỹ năng, kỹ xảo vận động Bên cạnh đó, các hoạt động ngoại khóa trongtrường học được xây dựng tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và các hoạt độngchung của từng trường

Các buổi học ngoại khóa thường có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn

so với buổi tập chính khoá Hình thức tập luyện này đòi hỏi ý thức kỷ luật, tinh thầnđộc lập và sáng tạo cao Nhiệm vụ cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khóa chủ yếuphụ thuộc vào sở thích và hứng thú cá nhân Cũng như buổi tập chính khoá, cấu trúcbuổi tập ngoại khóa phải đảm bảo phát động cơ thể dần dần, tạo điều kiện tốt chothực hiện hoạt động chính và kết thúc hợp lý Nhiều quy tắc, thủ pháp mà giáo viên

đã sử dụng trong giờ học chính khoá cũng có thể áp dụng ở đây Đồng thời, do nộidung buổi tập ngoại khóa cũng có nét khác biệt nên cách tổ chức tập luyện có đặctrưng riêng

Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong trường học đạt hiệu quả, nângcao chất lượng Giáo dục thể chất trong trường học, cần được thực hiện dựa trên việcđảm bảo các yêu cầu sau đây: Các hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa phảiphong phú, phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tế Các trường học, các cơ sởgiáo dục cần trang bị đầy đủ các cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho các hoạt độngGiáo dục thể chất ngoại khóa Đội ngũ giáo viên cần không ngừng nâng cao nănglực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo đáp ứng nhu cầu để hướng dẫn có chấtlượng khi tổ chức các hoạt động ngoại khóa Tăng cường và nâng cao chất lượng

Trang 23

tuyên truyền các hoạt động ngoại khóa đến học sinh Để học sinh hiểu rõ hơn tácdụng của các hoạt động ngoại khóa Giáo dục thể chất trường học.

1.2.2.3 Giáo dục thể chất ngoài nhà trường

Ngoài các hình thức Giáo dục thể chất thể chất trong trường học, để hìnhthành và nâng cao các năng lực, kỹ năng kỹ xảo vận động cho học sinh, chúng tacòn sử dụng rộng rãi các hình thức Giáo dục thể chất ngoài nhà trường

Việc tổ chức Giáo dục thể chất ngoài trường học được thực hiện trên cơ sởnhững luận điểm cơ bản sau đây: Phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ và nguyên tắcGiáo dục thể chất, thực hiện chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn rèn luyệnthân thể cho lứa tuổi Có sự liên hệ và phối hợp chặt chẽ của tất cả các ngành, cơquan, tổ chức quan tâm trực tiếp đến hoạt động này cũng như của gia đình và xãhội Kế thừa kết quả Giáo dục thể chất trong trường học giúp cho trường học tăngcường, nâng cao và mở rộng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo vận động, tổ chức nghỉngơi lành mạnh cho học sinh Sử dụng các hình thức hoạt động đa dạng, phù hợpvới sự ham thích, đặc điểm lứa tuổi và trình độ thể lực của học sinh; sắp xếp hợp lýcác hình thức hoạt động chủ yếu theo kế hoạch Thường xuyên dựa trên kỷ luật tựgiác, sự ham thích và lợi ích của người tập Bảo đảm sự chỉ đạo về phương pháp vàviệc kiểm tra y học có chất lượng đối với tất cả các hình thức cơ bản về tập luyệnThể dục thể thao ngoài trường học

Thể dục thể thao ngoài Nhà trường có những đặc điểm sau: Thể dục thể thaongoài Nhà trường do các đơn vị như cơ quan Thể dục thể thao Nhà nước, Đoànthanh niên, Công đoàn, Hội phụ nữ đứng ra tổ chức Cơ sở hoạt động Thể dục thểthao của các tổ chức này thường là ở trường Thể dục thể thao thanh thiếu niên,Trung tâm Thể dục thể thao, Cung văn hóa, câu lạc bộ Thể dục thể thao, Sân thểthao, điểm luyện tập, bể bơi, cũng như ở các công viên, hồ Những chỗ này là nơitiến hành tập luyện, huấn luyện, thi đấu và vui chơi giải trí Gầy đây Thể dục thểthao ngoài Nhà trường còn được không ít tư nhân hoặc tổ chức tư nhân đứng rathành lập, góp phần không nhỏ vào việc thu hút học sinh tham gia tập luyện ngoạikhóa Thể dục thể thao ngoài Nhà trường được tổ chức dựa vào nguyên tắc tựnguyện được tập hợp lại để tổ chức tập luyện tập thể, theo nhóm hoặc tự cá nhânđộc lập tập luyện Thể dục thể thao ngoài Nhà trường tiến hành vào thời gian rỗi

Trang 24

(ngoài giờ học hoặc ngày nghỉ) Nội dung và hình thức rất phong phú, có thể tập ởmột môn, và cũng có thể tập ở nhiều môn khác nhau tuỳ thời gian, nhu cầu và điềukiện cho phép Kinh phí hoạt động v ngoài Nhà trường là từ các nguồn thu khácnhau, trong đó không thể không có học phí của học sinh đóng góp

Thể dục thể thao ngoài Nhà trường có 3 hình thức: có tổ chức lãnh đạo, tự tổchức hoặc tự cá nhân độc lập tiến hành Các hình thức đó được cụ thể hóa như sau:Các câu lạc bộ Thể dục thể thao, các cơ sở Thể dục thể thao ngoài công lập, cácđiểm dịch vụ Thể dục thể thao tại nơi cư trú Các trường lớp năng khiếu thể thao docác trung tâm Thể dục thể thao quận (huyện) hoặc các ngành, các đoàn thể quầnchúng tổ chức Các trường đào tạo vận động viên kể cả các công sở ngoài công lập

Hệ thống thi đấu thể thao quần chúng do cơ quan Thể dục thể thao hoặc các ngànhphối hợp tổ chức định kỳ hằng năm

1.2.2.4 Giáo dục thể chất tại gia đình

Như mọi người đều biết, vai trò của gia đình trong việc Giáo dục thể chất đốivới các em là rất to lớn và quan trọng Gia đình cần phải tạo những điều kiện thuậnlợi để giữ gìn và củng cố sức khỏe, tăng cường và phát triển thể lực bình thườngcho các em, điều đó chỉ có khả năng khi việc Giáo dục thể chất của gia đình đượctiến hành hợp lý Điều kiện đầu tiên làm cho cuộc sống gia đình có ảnh hưởng tốtđối với sức khỏe của các em - đó là tạo những điều kiện sống bình thường hợp vệsinh, trong cuộc sống gia đình phải tuân thủ những quy tắc vệ sinh cá nhân và cộngđồng Cụ thể: Tổ chức hợp lý chế độ sinh hoạt của các em Chế độ chung của mộtngày đêm (phân bố thời gian hợp lý trong suốt một ngày đêm để ngủ, ăn, uống, cáchình thức hoạt động khác, nghỉ ngơi) phải được xác định trên cơ sở tính toán đếnlứa tuổi và các đặc điểm cá nhân của các em, những điều kiện sinh hoạt, giáo dục vàhọc tập của chúng Tuân thủ các yêu cầu vệ sinh trong môi trường sống (không khítrong lành và chỗ để các em học tập, chơi, ăn ngủ phải sạch sẽ; nội dung các tròchơi phải lành mạnh; kích thước, hình thức và chất lượng của đồ chơi và các đồdùng hằng ngày trong gia đình phải hợp vệ sinh; địa điểm chơi, học tập phải đủ ánhsáng…)

Do đó, một trong những nhiệm vụ của gia đình là ở chỗ làm sao dạy các em

có những tập quán giữ vệ sinh cá nhân và công cộng ngay từ khi còn bé cho đến lúc

Trang 25

hình thành những thói quen ổn định Đó là một quá trình lâu dài đòi hỏi phải có sựhợp tác của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội Thói quen tuân thủ thời gianbiểu hợp lý trong gia đình là cái cốt lõi để hình thành nhiều tập quán vệ sinh Tậplàm quen với một chế độ sinh hoạt nghiêm chỉnh không những sẽ mang lại hiệu quảđối với việc củng cố sức khỏe, mà đồng thời có ý nghĩa giáo dục quan trọng, vì rằngđiều đó có tác động giáo dục đối với tính tổ chức, tính kỷ luật Tập duy trì nghiêmchỉnh chế độ sinh hoạt hợp lý trong gia đình, các em sẽ tự giác chuyển thói quen đósang chế độ hoạt động chung.

Việc giáo dục tư thế chính xác cho các em phần lớn phụ thuộc vào bố mẹ Cóthể hình thành và củng cố tư thế bằng cách cho các em thực hiện hệ thống các bàitập vệ sinh và các bài tập thể lực khác tại nhà, tạo cho các em những đồ dùng (bàn,ghế học tập) phù hợp, quan tâm thường xuyên đến tư thế cơ thể chính xác của cáccon trong khi ăn, chuẩn bị bài và các buổi học khác ở nhà Phụ huynh phải giảnggiải cho các em ý nghĩa của tư thế chính xác dưới hình thức dễ hiểu và tiến hành có

hệ thống việc kiểm tra, đặc biệt là khi cần phải đề phòng sửa chữa những sai lệchcủa tư thế bằng những động tác chỉnh hình chuyên môn

Rèn luyện cơ thể bằng các yếu tố thiên nhiên là một trong các yếu tố cơ bảncủa Giáo dục thể chất đối với trẻ em ở gia đình Việc rèn luyện chỉ có thể mang lạikết quả khi được tiến hành thường xuyên và dần dần tăng thêm lượng vận động.Cần phải kết hợp một cách hợp lý việc rèn luyện bằng các yếu tố thiên nhiên vớicác động tác thể lực Dần dần các em sẽ tự hình thành thói quen với việc thực hiệnrèn luyện ở nhà, nếu bố mẹ giải thích cho các em biết rõ lợi ích và dạy cho chúngbiết sử dụng chính xác các cách rèn luyện khác nhau Bố mẹ cần tiếp thu những lờikhuyên của bác sĩ và giáo viên thể dục của trường về các giải pháp tắm không khí,tắm nắng và sử dụng nước để giúp các em rèn luyện nâng cao sức khỏe

Tập luyện trong cuộc sống gia đình của học sinh là một sự bổ sung cần thiết

và quan trọng đối với chế độ hoạt động của các em Trong điều kiện giáo dục giađình, người ta thường sử dụng và áp dụng các bài tập đó như sau:

Trò chơi vận động: Các trò chơi này do bố mẹ hay do bản thân các em tự tổchức Bố mẹ phải theo dõi để các trò chơi không mang đính đơn thuần mà trước hết

Trang 26

là phục vụ cho việc củng cố sức khỏe, giúp phát triển các năng lực thể chất và tâm

lý, hình thành đạo đức cho học sinh

Thể dục sáng: Học sinh nhỏ tuổi thường tập dưới sự giúp đỡ của người lớn.Các em ở lứa tuổi lớn hơn (từ 10 - 11 tuổi) phải biết tự mình thực hiện các bài tậpbuổi sáng mà trong chương trình học Tiểu học và Trung học cơ sở quy định Nhữngviệc đó cũng không thoát khỏi sự cần thiết phải giúp đỡ và kiểm tra của bố mẹ

Các bài tập mang tính chất thể thao: Việc lựa chọn các bài tập này phụ thuộcvào sự say mê thể thao của các phụ huynh và những điều kiện để tập luyện tại nơi

cư trú Hiện nay ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để các em có thể tự tậpluyện dưới sự hướng dẫn của bố mẹ như các bài tập bơi lội, chạy, các môn bóng…

Đi dạo và tham quan: thường được tiến hành giới hạn trong thời gian mộtngày Là vận động (độ dài của hành trình, tốc độ di chuyển…) được xác định tùythuộc vào lứa tuổi của các em, vào lời khuyên của bác sĩ và của hướng dẫn viên.Kết hợp với đi dạo (đi bộ, đi xe đạp) người ta còn sử dụng những bài tập đa dạng tạichỗ nhằm mục đích củng cố sức khỏe và giáo dục

Ít phút thể dục: Mục đích cơ bản của ít phút thể dục là nghỉ ngơi tích cựcgiữa lúc chuẩn bị bài học ở nhà Ít phút thể dục gồm 2 - 3 động tác thể lực đơn giảnnhất Trẻ em 6 - 9 tuổi cứ cách 30 - 35 phút học tập liên tục thì cần phải có cácđộng tác này một lần Còn các em lớn tuổi hơn thì cứ 45 phút lại tập một lần Ít phútthể dục giúp “thanh toán” mệt mỏi về trí lực, hồi phục năng lự hoạt động, giữ gìn tưthế chính xác khi ngồi, viết và đọc

Thực hiện các bài tập thể dục thể thao ở nhà Bố mẹ cần phải kiểm tra việcthực hiện cac bài tập có chính xác hay không Có thể lấy các thành phần của nhữngbài tập đó bổ sung cho thể dục vệ sinh hoặc bổ sung cho ít phút thể dục

Sự hợp tác giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan ngoài nhà trường trongviệc Giáo dục thể chất cho các em được tiến hành dưới những hình thức phong phú.Học sinh ngoài việc tham gia các hình thức Giáo dục thể chất trong trường học còntham gia họat động Giáo dục thể chất ngoài nhà trường và ở gia đình mà mình hamthích Chúng giúp thỏa mãn nguyện vọng Thể dục thể thao của bản thân và làmphong phú thêm sinh hoạt đa dạng của học sinh, tăng cường sự hiểu biết về kinhnghiệm tự nhiên và xã hội, bồi dưỡng những hành vi và phẩm chất tốt đẹp và phát

Trang 27

triển tài năng của học sinh Thể dục thể thao gia đình là một bộ phận của giáo dụcgia đình Theo mức sống vật chất và tinh thần ngày càng phong phú Thể dục thểthao ngoài trường học và Thể dục thể thao gia đình ngày càng phát triển và tác dụngcủa chúng ngày thêm to lớn.

Vì vậy, những mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan ngoàinhà trường trong việc Giáo dục thể chất đối vưới học sinh là hết sức đa dạng.Những mối quan hệ đó tạo thành một cấu trúc thống nhất của tổ chức giáo dục xãhội

1.2.3 Yêu cầu giáo dục thể chất trường học

1.2.3.1 Giáo dục thể chất phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội

Giáo dục thể chất là bộ phận cấu thành của giáo dục Nhà trường và cũng là bộphận cấu thành của Giáo dục thể chất trong trường học Sự phát triển của Giáo dục vàGiáo dục thể chất trường học đều do sự phát triển của kinh tế - xã hội của Quốc gia, thậmchí của mỗi khu vực, địa phương chi phối và phải phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xãhội nước nhà, địa phương, khu vực Mục tiêu dạy học Giáo dục thể chất do nhu cầu xãhội cũng như do mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục và Thể dục thể thao đương thời quyđịnh bởi vì nhu cầu xã hội quyết định phương hướng của dạy học Thể dục thể thao Mặtkhác điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và giáo viên dạy học cho Giáo dục thể chất trườnghọc lại không vượt qua giới hạn của điều kiện khách quan cho phép (trình độ phát triểnkinh tế - xã hội, quy mô và trình độ văn hóa, giáo dục và Khoa học kỹ thuật)

Do mỗi quốc gia có sự khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội và nhiều mặt khácnhau nữa, nên mục tiêu, nội dung và hình thức dạy học Giáo dục thể chất trường họccũng không giống nhau Vì vậy, dạy học Giáo dục thể chất phải phù hợp với yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và địa phương nhưng đồng thời cũng phải chú

ý học tập nhưng kinh nghiệm quí báu và tiên tiến của các nước, áp dụng phù hợp vàohoàn cảnh dạy học Giáo dục thể chất nước ta

1.2.3.2 Giáo dục thể chất phù hợp với với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh, sinh viên [5,28,29].

Đối tượng dạy học Giáo dục thể chất là học là học sinh và hiệu quả dạy họccũng phản ánh ở cơ thể học sinh Nhưng học sinh bên cạnh những cái chung vẫn cónhững sự khác biệt về đặc điểm phát triển thể lực và năng lực vận động, cũng như

Trang 28

những năng lực tiếp thu… Để dạy học có hiệu quả, việc sắp xếp nội dung, phương tiện,phương pháp và thủ đoạn dạy học Thể dục thể thao đều phải xuất phát từ đặc điểm tâmsinh lý lứa tuổi, đặc điểm giới tính khác nhau đồng thời phải phù hợp với trạn thái thểlực, năng lực vận động và năng lực tiếp thu… của học sinh, có thế mới làm cho trình

độ tâm – sinh lý thể lực và năng lực vận động của học sinh không ngừng phát triển

Trong dạy học Thể dục thể thao thầy và trò kết hợp với nhau trên 3 mặt: cảmnhận, tư duy và thực tiễn Trong 3 mặt đó không thể thiếu một Cảm nhận là sự bắt đầucủa nhận thức, là cơ sở để hình thành biểu tượng động tác; Tư duy là sự nhận thức lýtính, là khâu mấu chốt để nắm vững khái niệm động tác còn thực tiễn lại là lộ trình tấtyếu của sự vận dụng và củng cố nhận thức, hoàn thiện kỹ thuật động tác, phát triển cơthể, tăng cường thể chất, bồi dưỡng tư tưởng, phẩm chất và hành vi tốt đẹp Thực tế đóphản ánh quy luật khách quan của con người nhận thức sự vật

1.2.3.3 Giáo dục thể chất phù hợp với các quy luật hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động [5,28,29]

Để nắm vững bất kỳ một kỹ năng động tác nào, học sinh đều phải trải qua mộtquá trình phát triển từ chưa biết, từ không thành thạo đến thành thạo, từ chưa củng cốđến củng cố Hay nói cách khác, quá trình học tập động tác phải trải qua 3 giai đoạn:giai đoạn hình thành động tác; giai đoạn cải tiến nâng cao và giai đoạn củng cố vậndụng như ý Trong dạy học động tác khác nhau để vận dụng các phương pháp thủ đoạndạy học khác nhau có thể mới mang lại hiệu quả

1.3 Chương trình môn học và các hình thức giáo dục thể chất cho sinh viên

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất cho sinh viên, vấn đềxây dựng nội dung chương trình, hình thức và Phương pháp tập luyện thể dục thểthao luôn có vị trí quan trọng nhất Tất nhiên, nội dung chương trình phải thườngxuyên được cải tiến, đổi mới cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội

và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới

1.3.1 Chương trình môn học giáo dục thể chất [4].

Theo thông tư 12/2018/TT-BLĐTBXH ban hành chương trình môn học Giáodục thể chất thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo trình độtrung cấp, trình độ cao đẳng Thông tư 25/2015/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 10 năm

Trang 29

2015 quy định về chương trình môn giáo dục thể chất thuộc các chương trình đàotạo trình độ Đại học cụ thể như sau:

Điều 3 Mục tiêu

Chương trình môn học giáo dục thể chất đại học nhằm cung cấp kiến thức,

kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen tập luyện thể dục, thể thao để nângcao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả nănghọc tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tin thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục toàn diện

Điều 4 Khối lượng kiến thức

Khối lượng kiến thức của chương trình môn học Giáo dục thể chất mà ngườihọc cần tích lũy tối thiểu là 3 (ba) tín chỉ Cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thểkhối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo

Điều 5 Tổ chức xây dựng chương trình

1 Giám đốc đại học, học viện; Hiệu trưởng trường đại học (sau đây gọichung là Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học) quyết định số lượng thành viên thamgia và ra quyết định thành lập tổ soạn thảo chương trình môn học Giáo dục thể chất(sau đây gọi là Tổ soạn thảo) Thành phần Tổ soạn thảo là những người am hiểu vềgiáo dục thể chất và có năng lực xây dựng và phát triển chương trình, gồm: một sốgiảng viên giáo dục thể chất; đại diện khoa hoặc bộ môn giáo dục thể chất; đại diệnphòng đào tạo và một số nhà khoa học, chuyên gia giáo dục về thể dục, thể thao ởtrong và ngoài cơ sở đào tạo

2 Tổ soạn thảo có nhiệm vụ:

a) Căn cứ vào các quy định về giáo dục thể chất hiện hành, xây dựng mụctiêu chung và mục tiêu cụ thể từng học phần; xác định cấu trúc, xây dựng các họcphần thuộc chương trình môn học Giáo dục thể chất, bao gồm các học phần bắtbuộc và các học phần tự chọn; phương thức đánh giá;

b) Thiết kế đề cương chi tiết các học phần; xác định yêu cầu về lý thuyết vàthực hành của từng học phần; xác định điều kiện đảm bảo chất lượng, an toàn chongười học, người dạy khi thực hiện các học phần;

c) Tổ chức hội thảo lấy ý kiến về chương trình môn học Giáo dục thể chất;

Trang 30

d) Hoàn thiện dự thảo chương trình môn học Giáo dục thể chất trên cơ sởtiếp thu các ý kiến phản hồi và trình hội đồng khoa học và đào tạo của cơ sở đào tạoxem xét, tiến hành các thủ tục thẩm định.

Điều 6 Thẩm định và ban hành chương trình

1 Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học ra quyết định thành lập Hội đồng thẩmđịnh chương trình môn học Giáo dục thể chất và các điều kiện đảm bảo triển khaidạy học (sau đây gọi là Hội đồng thẩm định) Hội đồng thẩm định gồm ít nhất 03(ba) thành viên có trình độ từ Thạc sĩ trở lên, đúng ngành về giáo dục thể chất hoặchuấn luyện thể thao; các thành viên Tổ soạn thảo không tham gia Hội đồng thẩmđịnh

2 Hội đồng thẩm định, gồm: chủ tịch, ủy viên thư ký và các ủy viên phảnbiện, trong đó có ít nhất 02 (hai) người ngoài cơ sở đào tạo

3 Hội đồng thẩm định thực hiện thẩm định chương trình môn học Giáo dụcthể chất và các điều kiện đảm bảo chất lượng để triển khai dạy học; kết luận thôngqua hay không thông qua chương trình môn học Giáo dục thể chất của cơ sở giáodục đại học

4 Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học ban hành chương trình môn học Giáodục thể chất trên cơ sở kết luận của Hội đồng thẩm định và đề nghị của hội đồngkhoa học và đào tạo

Điều 7 Đánh giá kết quả học tập

Việc đánh giá các học phần, đánh giá kết quả học tập chương trình môn học Giáodục thể chất được quy định cụ thể trong chương trình môn học và theo các quy địnhtại khoản 4 Điều 8 của Thông tư này; không tính vào điểm trung bình chung học tậpcủa học kỳ, năm học hay khóa học

Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học công nhận kết quả học tập cho người học sau khi

đã hoàn thành chương trình môn học Giáo dục thể chất

Điều 8 Tổ chức thực hiện chương trình

1 Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức biênsoạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình theo chương trình môn học Giáo dục thể chất

để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập; tổ chức cập nhật, đánh giá chương trìnhmôn học Giáo dục dục thể chất theo quy định hiện hành, phù hợp với điều kiện thực

Trang 31

tiễn và các tiến bộ của khoa học chuyên ngành; công bố công khai chương trìnhmôn học Giáo dục thể chất ngay từ đầu khóa học để người học có thể lựa chọn cáchọc phần và đăng ký học tập; bố trí giảng viên, đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng cácyêu cầu của chương trình môn học Giáo dục dục thể chất và việc luyện tập thể dục,thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực cho người học, đảm bảo thực hiệnmục tiêu giáo dục toàn diện và các nội dung khác quy định tại Thông tư này.

2 Giảng viên có trách nhiệm kiểm tra và kiến nghị với cơ sở giáo dục đạihọc về các điều kiện đảm bảo chất lượng, đảm bảo an toàn dạy học trước khi tổchức dạy học

3 Giảng viên và người học có quyền từ chối không tham gia giảng dạy, họctập khi các điều kiện an toàn được xác định trong chương trình môn học Giáo dụcthể chất không đảm bảo

4 Người học là người khuyết tật hoặc không đủ sức khỏe học một số nộidung trong chương trình môn học Giáo dục thể chất được xem xét miễn, giảmnhững nội dung không phù hợp hoặc được học các nội dung thay thế phù hợp Thủtrưởng cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể việc miễn, giảm và quy định các nộidung học tập thay thế đối với người khuyết tật, người không đủ sức khỏe học tập

1.3.2 Các hình thức Giáo dục thể chất cho sinh viên [4].

Có 4 hình thức cơ bản là: Giờ học Giáo dục thể chất; tự tập luyện thể dục thểthao của sinh viên; thể dục vệ sinh trong ngày và các hoạt động thể dục thể thaoquần chúng trong nhà trường

Trang 32

1.3.2.2 Giờ tự tập của sinh viên

Là hoạt động không bắt buộc, được tiến hành theo sở thích, nhu cầu của sinhviên Các cá nhân có thể tự tập hoặc tập theo nhóm, tổ Các hoạt động bao gồm: cácmôn thể thao, Picnic, tham quan, du lịch cũng có thể coi là giờ tự tập của sinh viên

1.3.2.3 Thể dục vệ sinh

Thể dục chống mệt mỏi do cá nhân hoặc tổ chức lớp và được tiến hành hàngngày ở nhà, ký túc xá hoặc giữa giờ học Đây là hình thức bổ trợ cho công tác Giáodục thể chất đối với sinh viên

1.3.2.4 Các hoạt động thể dục thể thao quần chúng

Ngoài giờ học bao gồm việc tập luyện theo các câu lạc bộ thể thao, các đội đạibiểu thể thao của lớp, khoa, trường Thông thường đây là những hạt nhân để tham giahoạt động thi đấu thể thao trong trường và ngoài trường và họ cũng là những người gópphần nâng cao chất lượng phong trào thể thao quần chúng trong sinh viên

Để đánh giá chất lượng công tác Giáo dục thể chất của sinh viên, thường sửdụng 2 chỉ tiêu cơ bản là: Điểm môn học thể dục thể thao trong trường và điểmkiểm tra tiêu đánh giá xếp loại thể lực theo qui định của Bộ

Để đánh giá phong trào thể thao quần chúng trong nhà trường, thường có cácchỉ tiêu về số câu lạc bộ thể thao, số đội thể thao, thành tích tham gia thi đấu thểthao, số vận động viên thể thao là sinh viên cũng như cơ sở vật chất phục vụ tậpluyện thể dục thể thao ở mỗi trường

1.4 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý và tâm lý lứa tuổi 18 - 22 [9,34]

1.4.1 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý

Trong giáo dục thể chất, các chức năng về sinh lý rất quan trọng trong giảngdạy và huấn luyện Đặc điểm cơ bản của lứa tuổi 18 - 22 là cơ thể các em đã pháttriển gần hoàn thiện như người trưởng thành Là giai đoạn qua thời kỳ dậy thì nêncác mặt về sinh lý cơ thể chậm lại và ổn định

Hệ tuần hoàn

Cơ năng hoạt động của tim được vững vàng, cơ năng điều tiết hoạt động củatim đi vào ổn định, sức co bóp của tim mạch nhưng hoạt động quá nhiều và căngthẳng cũng nhanh gây mệt mỏi nhất là đối với các em nữ Tần số co bóp của timgiảm dần theo lứa tuổi Ở trẻ sơ sinh tần số co bóp của tim khoảng 135 - 140

Trang 33

lần/phút, đến 14 - 16 tuổi tần số này giảm xuống còn 70 - 80 lần/phút, người namtrưởng thành mạch đập trung bình 175,7 ± 4.4 lần/phút, người nữ trưởng thànhmạch đập trung bình 177,5 ± 8.93 lần/phút Huyết áp tâm thu của nam là117,5mmHg, huyết áp tâm thu của nữ là 110,2mmHg Giá trị trung bình dung tíchsống của nam khoảng 4124ml, của nữ khoảng 2871ml.

Sợi cơ tim của các em đã đủ lớn, tính đàn hồi trung bình, dung tích và thểtích tim đạt đủ kích thước của người trưởng thành do đó nhịp tim chậm hơn so vớitrẻ em Mặc dù kích thước của tim đã đạt chỉ số người trưởng thành nhưng trongquá trình tập luyện và thi đấu do phải căng thẳng về tâm lý đồng thời phải vận độngtích cực nên trong quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, tim phải đập nhanh hơn

để đưa máu và oxy vào các cơ quan nội tạng bên trong Chính vì thế trong quá trìnhtập luyện cần tuân thủ nguyên tắc tăng dần lượng vận động, đồng thời có những bàitập phù hợp với lứa tuổi giới tính, tới giai đoạn này mọi cơ chế phát triển dần chậmlại chính vì vậy cần có phương pháp tập luyện vượt ngưỡng giới hạn

Với lượng vận động lớn cơ thể của các em lại hồi phục nhanh hơn so với trẻ

em nhưng sau các lượng vận động nhỏ thì người lớn hồi phục chậm hơn so với trẻ

em Thể tích của dòng máu tính trên kg trọng lượng giảm dần theo lứa tuổi, tuổicàng lớn thì thể tích tâm thu và thể tích phút càng cao

Hệ hô hấp

Cơ cấu phổi của các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các ngăn buồngtúi phổi lớn, các cơ hô hấp mạnh, dung lượng khí mỗi lần thở lớn, sự điều tiết của

hệ thần kinh trung ương đối với việc trao đổi khí được bền vững và nhịp nhàng Tần

số hô hấp sẽ giảm xuống dần ở giai đoạn trưởng thành Độ sâu hô hấp tăng dần theolứa tuổi Ở trẻ 7 - 8 tuổi khí lưu thông vào khoảng 160 - 280ml trong khi khí lưuthông của người lớn là 400 - 500ml tức là hơn gấp 2 - 3 lần Dung tích sống củaphổi đạt tới 3 - 3,5 lít, dung tích sống của lứa tuổi 18 - 22 này cao hơn so với trẻ em,tuy nhiên nếu dung tích sống tương đối thì chỉ số của trẻ nhỏ cao hơn người lớn.Điều hòa hô hấp thần kinh trở nên hoàn chỉnh hơn, quá trình trao đổi chất diễn ramạnh hơn, nhưng càng lớn thì sự trao đổi chất giảm dần

Thông khí phổi tăng dần theo lứa tuổi Dung tích sống, thông khí phổi tối đa

ở các em tập luyện thể thao thường xuyên đều cao hơn các em không tập luyện

Trang 34

cùng lứa tuổi Trạng thái hấp thụ oxy tương đối cao và hoạt động hấp thụ oxy tối đa(VO2max) của trẻ em thấp hơn lứa tuổi trưởng thành.

Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện cần có những bài tập phù hợp vàcách thở đúng Mặt quan trọng hơn là việc tập luyện những bài tập phát triển mạnh

mẽ, cân đối, toàn diện các cơ hô hấp, phát triển hoàn thiện lồng ngực cả ba chiều:Trên - dưới, trước - sau, phải - trái, nhằm đáp ứng yêu cầu lượng vận động

Hệ thần kinh

Sự phát triển trí tuệ được tiếp tục, chức năng của hệ thần kinh đạt tới sự pháttriển hoàn toàn Khát vọng đạt kết quả cao trong các hoạt động, đặc biệt là hoạtđộng thể dục thể thao

Bộ máy sinh dục

Bộ phận sinh dục đã hoàn thiện, các tuyến nội tiết, trong đó các tuyến sinh dục

đã kết thúc sự hình thành Vì thế sự giáo dục thói quen vệ sinh, tập luyện thể thao, giáodục quan hệ rất quan trọng trong việc giáo dục giới tính

Hệ vận động

Ở hệ vận động đặc điểm chú ý đến hình thái cơ thể Số lượng lớn các nghiêncứu trong và ngoài nước cho thấy, thành tích quốc tế xuất sắc có quan hệ mật thiếtvới đặc điểm hình thể của sinh viên, đặc biệt một số chỉ tiêu về chiều cao, cân nặng,

nó không những phản ánh quá trình phát dục của cơ thể sinh viên mà còn thống nhấtvới sự phát dục các cơ quan tổ chức của cơ thể: Cơ bắp, thể tích tim, dung tích sốngtrong trạng thái bình thường đều tăng theo sự phát triển của chiều cao, cân nặng Ởgiai đoạn này nếu được tập luyện thể thao đúng cách cộng thêm các chế độ dinhdưỡng tốt thì các chỉ số trên vẫn còn phát triển tới 25 tuổi

Lứa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển mạnh cả tinh thần lẫn thể chất Sựphát triển về mặt giải phẫu của chiều cao chậm dần so với lứa tuổi thiếu niên Cấutrúc xương của lứa tuổi này đã được vững vàng, lao động hay tập luyện nặng cũng

dễ dàng vượt qua mệt mỏi Thực hiện lượng vận động ngắt quãng mang tính thểchất đè nén gần tối đa thúc đẩy sự phát triển chiều dài Độ cứng của xương đã hìnhthành trừ những xương ống to và xương trở nên vững chắc hơn, ít bị cong vẹo Đếngiai đoạn này thì khối lượng xương và cơ bắp phát triển tương đương nhau nhưnglứa tuổi này tập luyện thể thao đúng cách thì chiều cao trung bình cũng chỉ trong

Trang 35

khoảng 5 - 7 cm Ở lứa tuổi sinh viên lượng cơ đạt tới 43 - 45% khối lượng chung

và đã có chất lượng mới, sức mạnh cơ tăng Việc tập luyện một cách hệ thống vàtoàn diện thông thường có đầy đủ thời gian cho quá trình biến đổi đặc biệt mạnh mẽtrong lứa tuổi thiếu niên, nhằm ngăn chặn sự sai lệch giữa các quá trình tổ chứctrong cơ thể

Trải qua giai đoạn dậy thì các cơ quan trong cơ thể đã phát triển gần nhưtoàn diện như người trưởng thành Chính vì thế ở giai đoạn này các chỉ số về hệ vậnđộng phát triển ít thậm chí ngừng phát triển Vì vậy tập luyện thể thao phải cóphương pháp để giải quyết độ trơ lì của các cơ trong vận động, các bài tập phongphú, đa dạng và hấp dẫn đảm bảo sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực, tăngcường phát triển cơ bắp bằng những bài tập với cường độ lớn trở lên

Sự hoàn thiện các chức năng trong cơ thể lứa tuổi sinh viên đặt nền tảng choviệc tập luyện thể dục thể thao Những năng lực thực hiện các trình độ thể lực nhưnhanh, mạnh, bền, khéo léo và khả năng phối hợp vận động được phát triển cóchiều hướng tốt và đạt hiệu quả cao

1.4.2 Đặc điểm tâm lý

Các nghiên cứu khoa học và thực tiễn đã chứng minh rằng tâm lý biểu hiệnrất phong phú, đa dạng, là cơ chế cơ bản điều khiển hành vi vận động trong toàncuộc sống của con người nói chung và hoạt động thể dục thể thao nói riêng Cùngvới các nhân tố khác về thể lực và kỹ - chiến thuật thì tâm lý là bộ phận hợp thànhcủa cái gọi là “năng lực thể thao”, là cơ sở của thành tích trong thể thao

Các chức năng tâm lý phát triển phụ thuộc vào đặc điểm các môn thể thao vàtrình độ tập luyện của người tập

Đặc điểm tâm lý của vận động viên bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: Sự pháttriển thể chất, môi trường, điều kiện sống nơi học tập và sinh hoạt trong cuộc sốnghàng ngày Lứa tuổi 18 - 22 sau giai đoạn dậy thì các cơ quan hệ thống trong cơ thể

đã dần hoàn thiện như người trưởng thành về mặt thể chất lẫn tinh thần Ở lứa tuổinày các em gần như là tự quyết định làm tất cả những gì mà mình cho là đúng và cómột chút liều lĩnh, táo bạo trong suy nghĩ và hành động Tâm lý lứa tuổi này cũngrất phức tạp và không đồng đều, được thể hiện như sau:

Trang 36

Tư duy

Các phương pháp tư duy trừu tượng và logic, có phân tích các quy luật trong

tự nhiên và xã hội Từ những phương pháp đó tạo điều kiện đánh giá bản chất sựviệc một cách chính xác, chứa đựng một trình độ cao hơn về chất của các quá trìnhnhận thức và học tập Các em có thể phân tích quá trình thực hiện động tác của bảnthân và người khác

1.5.Thực trạng giáo dục thể chất ở các trường Đại học và Cao đẳng nước ta hiện nay [3,4]

Theo điều tra của Bộ GD&ĐT về công tác giảng dạy nội khoá cho thấy nhìnchung khối các trường Đại học và Cao đẳng đảm bảo về chương trình và thời giangiảng dạy (95%) có giảng viên chuyên trách về GDTC, có sân tập, dụng cụ tốithiểu Tuy nhiên chất lượng giờ dạy trên lớp vẫn còn thấp, nhiều nơi chỉ là hìnhthức

Hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên: Việc rèn luyện thường xuyên củasinh viên chưa trở thành thói quen cho sinh viên, số lượng sinh viên tham gia tậpluyện TDTT ngoại khóa chiếm tỉ lệ thấp, hầu hết các trường chưa thực hiện chươngtrình TDTT ngoại khoá một cách nghiêm túc, chưa có sự phối hợp giữa nhà trường

và Bộ môn GDTC để tổ chức chương trình TDTT ngoại khóa có hiệu quả

Đội ngũ giảng viên thể dục thể thao: Trình độ chuyên môn của các giảng viên

đã có sự tiến bộ, tỷ lệ giảng viên được đào tạo sau đại học và tiến sĩ tăng Tuy nhiên

Trang 37

do quan điểm về xây dựng quy mô và chất lượng giảng viên thể dục thể thao trongtrường học còn chưa được nhất quán từ trung ương đến địa phương, chưa có địnhbiên và định chuẩn giảng viên TDTT thống nhất trong trường học, ở một số trườnggiảng viên giảng dạy chưa có giảng viên trong biên chế (chỉ thuê theo thời vụ), nênchất lượng giảng dạy không cao Hệ thống chính sách, chế độ với giảng viên TDTTcòn thiếu, chưa được giải quyết kịp thời, việc bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp

vụ của giảng viên chưa được quan tâm đúng mức

Thực trạng về tổ chức, quản lý GDTC và thể thao trường học: Hệ thống tổchức quản lý nhà nước còn chưa đồng bộ, nhận thức về vị trí môn học GDTC trongnhà trường của các cấp quản lý giáo dục còn có nhiều hạn chế, chưa tạo được điềukiện đồng bộ về cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học Ở nhiều trường còn bỏ giờdạy học, cắt xén chương trình GDTC

Sự hiểu biết và nhận thức về môn học GDTC của sinh viên chưa đúng đắn.Sinh viên chưa hiểu được vai trò của GDTC đối với con người trong quá trình giáodục con người phát triển toàn diện Do đó việc tham gia học môn GDTC đối vớinhiều sinh viên chỉ mang tính đối phó, hoặc chỉ để hoàn thành môn học Chính vì lý

do đó mà hiệu quả môn GDTC trong các trường hiện nay chưa cao, chưa phát huyhết vai trò, tác dụng trong công tác giáo dục con người toàn diện Vì thế chưa lôicuốn số đông học sinh - sinh viên tham gia tập luyện ngoại khoá, Thể dục ngoạikhoá chưa trở thành thói quen trong sinh viên và chiếm tỷ lệ rất nhỏ

1.6 Một số công trình nghiên cứu thể chất cho học sinh, sinh viên

Nghiên cứu để nâng cao thể chất cho con người đã và đang được nhiều nhàkhoa học quan tâm, với mong muốn cải tiến thể chất cho con người, góp phần xâydựng một đất nước giàu đẹp, phồn thịnh và phát triển Vì vậy trong những năm qua

đã có nhiều công trình nghiên cứu về các phương pháp để nâng cao thể chất ngườiViệt Nam, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu cho học sinh - sinh viên với tínhkhoa học và thực tiễn cao

Do điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam khác biệt đáng kể so với các nướctrên thế giới và do sự mới mẻ của công tác này ở Việt Nam nên khi triển khai côngtác GDTC đã gặp không ít khó khăn, bỡ ngỡ Trước tình hình đó, Đảng và Nhànước trực tiếp là Bộ GD&ĐT và ngành TDTT đã có những sự chỉ đạo sát sao Mặt

Trang 38

khác, từ thực tiễn đó đã cuốn hút đông đảo các nhà khoa học, các cán bộ nghiên cứu

đi sâu nghiên cứu các vấn đề về GDTC khắc phục dần khó khăn và nâng cao chấtlượng GDTC ở trường học các cấp, trong đó có các trường Đại học, Cao đằng vàTrung học chuyên nghiệp

Các công trình nghiên cứu này rất đa dạng và phong phú, điển hình là cáccông trình nghiên cứu trong những năm gần đây như sau:

Nguyễn Thị Linh (2011) "Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả

giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Thương mại Hà Nội"; Nguyễn Thế

Việt (2011) “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh

viên Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Việt Bắc” Nguyễn Thị Lợi (2017)

“Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường

Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh”; Phạm Tuấn Anh (2017) “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Kỹ thuật

Y - Dược Đà Nẵng”

Các công trình nghiên cứu trên đều đưa ra được các giải pháp, giải pháp phùhợp với điều kiện để tiến hành công tác giáo dục thể chất cho sinh viên cơ sở đào tạocủa mình như: Cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ, đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạymôn học, sự quan tâm của đảng ủy, ban giám hiệu nhà trường đối với công tác giáodục thể chất trong trường học Kết quả nghiên cứu đã có ý nghĩa nhất định trong việcthực hiện và hoàn thành sứ mệnh đào tạo của nhà trường, góp phần đắc lực trong sựnghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vừa có trình độ chuyên môn giỏi, vừa có

đủ sức khỏe để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình khi được xã hội giao phó

Tổng quan các vấn đề nghiên cứu cho những nhận xét sau:

Công tác GDTC trường học đều nhằm mục đích nâng cao sức khoẻ, thể lực chothế hệ trẻ, xem đây là nhiệm vụ chiến lược của mỗi quốc gia Hầu hết các nước đều coitrọng kiểm tra và đánh giá sức khoẻ, thể lực và kết quả môn học TDTT của sinh viên.Như vậy, việc lựa chọn các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên là điềukiện tất yếu trong quá trình học tập của sinh viên

Khi nghiên cứu tham khảo các nguồn tư liệu nghiên cứu khác nhau (như đãnêu ở trên), đề tài bước đầu đã xác định được cách thức cần phải tiến hành khi thực

Trang 39

hiện công việc lựa chọn các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viênHọc viện tài chính Vấn đề này được đề tài trình bày cụ thể ở phần chương 3.

Năng lực thể chất của con người là quá trình biến đổi các tính chất hình thái vàchức năng của cơ thể trong suốt cả cuộc đời Quá trình phát triển này có tính quyluật và phụ thuộc vào 2 yếu tố cơ bản là bẩm sinh, di truyền và yếu tố xã hội (Điềukiện sống, chế độ sinh hoạt lao động học tập, vui chơi giải trí, chế độ dinh dưỡng vàđặc biệt là chế độ giáo dục thể chất)

Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên luôn được Đảng và Nhà nước quantâm, nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết về công tác GDTC được ban hành kịp thờivới nhu cầu đổi mới trong công cuộc xây dựng đất nước ta giai đoạn hiện nay.GDTC là bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần xây dựngcon người mới nhằm đáp ứng nhu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nănglực thể chất ở nước ta được tiến hành, tuy nhiên chủ yếu đây là những công trìnhnghiên cứu mang tính đặc trưng cho nhiều đối tượng nên không thể phân tích mộtcách cụ thể, chi tiết đi sâu vào đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở những số liệu đãtrích dẫn và tổng hợp cho thấy Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu và test của các nướctrong khu vực, thế giới để kiểm tra thể lực nhân dân, xây dựng hệ thống tiêu chuẩnRLTT Các chỉ tiêu, test và luôn được đổi mới để phù hợp với trình độ phát triểnthể chất của nhân dân và đáp ứng được đòi hỏi của xã hội đối với việc xây dựngchiến lược phát triển con người mới nước ta giai đoạn đầu thế kỷ XXI

Trang 40

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu nhằm mục đích giải quyết mụctiêu 1 và 2 của đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan mang tính lý luận vàthực tiễn các tài liệu như: Nghị quyết, văn kiện của Đảng nhà nước về TDTT, Nghịquyết của ngành TDTT, quản lý học TDTT và các văn kiện sách báo khác Đây làviệc tiếp nối bổ sung những luận cứ khoa học và tìm hiểu một cách triệt để nhữngvấn đề có liên quan đến giải pháp nhằm nâng cao đến hiệu quả GDTC

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm

Để thu thập số liệu cho đề tài, chúng tôi đã soạn ra các phiếu phỏng vấn cácthầy cô trong Ban giám đốc, các thầy cô là giảng viên dạy GDTC, sinh viên trongHọc viện tìm hiểu chất lượng dạy và học của giảng viên và sinh viên, phiếu phỏngvấn được xây dựng theo nội dung sau

- Các yếu tố tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng tới chất lượng giờ học của sinhviên

- Cơ sở vật chất, thiết bị tập luyện ở Học viện

- Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ học

- Những môn thể thao các em ưa thích

- Nội dung chương trình giảng dạy và nội giờ học GDTC

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp này được sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu nhằm quan sátcác hoạt động tập luyện của sinh viên trong giờ học GDTC Từ đó rút ra được nhậnđịnh về trình độ thể lực của sinh viên làm căn cứ cho việc lựa chọn các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Học viện Tài chính

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Các test mà đề tài sử dụng chủ yếu được lựa chọn từ bộ tiêu chuẩn đánh giáthể lực áp dụng mới nhất cho sinh viên Nội dung kiểm tra căn cứ vào Quy định vềviệc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên hiện nay do Bộ GD&ĐT quy định

Ngày đăng: 03/02/2022, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích (1998), Tâm lý học nhân cách, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1998
3. Bộ giao thông vận tải (1990), Bài giảng lý thuyết và bài tập lý thuyết thống kê, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý thuyết và bài tập lý thuyết thống kê
Tác giả: Bộ giao thông vận tải
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1990
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2018), Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2018
5. Bộ Giáo dục và đào tạo (2015), Quy định về chương trình môn học Giáo dục thể chất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học. (Thông tư Số: 25/2015/TT-BGDĐT, ngày 14 tháng 10 năm 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về chương trình môn học Giáo dục thểchất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học". (Thông tưSố: 25/2015/TT-BGDĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2015
6. Bộ Giáo dục và đào tạo (2008), Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên,(quyết định số 53/2008/QĐ - BGĐT ngày 18/9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực họcsinh, sinh viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2008
7. Dương Nghiệp Chí (1991), Đo lường thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1991
8. Hoàng Chúng (1982), Phương pháp toán thống kê trong khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp toán thống kê trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1982
9. Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí (2006), “Xây dựng tiêu chuẩn rèn luyện thân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam”, Tạp chí khoa học thể thao, Viện khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Xây dựng tiêu chuẩn rèn luyệnthân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam"”, Tạp chí khoa học thểthao
Tác giả: Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí
Năm: 2006
11. Lưu quang Hiệp, Vũ Chung Thuỷ, Lê Đức Chương, Lê Hữu Hưng (2000), Y học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y họcTDTT
Tác giả: Lưu quang Hiệp, Vũ Chung Thuỷ, Lê Đức Chương, Lê Hữu Hưng
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2000
12. Trịnh Trung Hiếu (2001), Lý luận và phương pháp giáo dục thể dục thể thao trong nhà trường, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: luận và phương pháp giáo dục thể dục thể thaotrong nhà trường
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2001
13. Nô vi cốp A.Đ, Matvêép L.P (1979), Lý luận và phương pháp GDTC Tập 1, Nxb TDTT, Hà Nội. (Dịch giả Đoàn Thao, Lê Văn Lẫm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp GDTC
Tác giả: Nô vi cốp A.Đ, Matvêép L.P
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1979
14. Nô vi cốp A.Đ, Matvêép L.P (1980), Lý luận và phương pháp GDTC, Nxb TDTT, Hà Nội. (Dịch giả Đoàn Thao, Lê Văn Lẫm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp GDTC
Tác giả: Nô vi cốp A.Đ, Matvêép L.P
Nhà XB: NxbTDTT
Năm: 1980
15. Nguyễn Thị Lợi (2017), “Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng giáo dụcthể chất cho sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Lợi
Năm: 2017
16. Nguyễn Thế Việt (2011), “Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Việt Bắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng giáo dụcthể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Việt Bắc
Tác giả: Nguyễn Thế Việt
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Hiền ( 2012), “Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng giáodục thể chất cho sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
18. Hà Thị Hải Thi (2012), “Nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động TDTT ngoại khoá nhằm phát triển thể lực cho sinh viên không chuyên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động TDTT ngoạikhoá nhằm phát triển thể lực cho sinh viên không chuyên Trường Caođẳng Sư phạm Hà Tây
Tác giả: Hà Thị Hải Thi
Năm: 2012
19. Nguyễn Thị Nhàn (2011) "Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC chosinh viên trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
20. Phạm Tuấn Anh (2017), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáodục thể chất cho sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Năm: 2017
22. Nguyễn Thị Hảo(2011), "Nghiên cứu lựa chọn bài tập nâng cao thể lực của nữ sinh viên Học viện An ninh nhân dân theo tiêu chuẩn chiến sỹ Công an khoẻ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lựa chọn bài tập nâng cao thể lực của nữsinh viên Học viện An ninh nhân dân theo tiêu chuẩn chiến sỹ Công ankhoẻ
Tác giả: Nguyễn Thị Hảo
Năm: 2011
23. P.Ph. Lexgaphơtơ (1991), Tuyển tập tác phẩm sư phạm, tập I, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm sư phạm, tập I
Tác giả: P.Ph. Lexgaphơtơ
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w