IV. CƠ CHẾ XÂM NHIỄM CỦA VIRUS CÚM AH5N1 TRONG TẾ BÀO VẬT CHỦ Virus cúm AH5N1 kí sinh nội bào bắt buộc, quá trình xâm nhiễm và nhân lên của virus xảy ra chủ yếu ở các tế bào biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa của cơ thể nhiễm (Murphy, Webster, 1996; Nicholson et al., 2003), có những nét đặc trưng như sau: Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của HA và thụ thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm. Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidase. Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6 h). Sự tạo thành các hạt virus mới không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử, và rơi vào quá trình chết theo chương trình (apoptosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Webster, 1998; Uiprasertkul et al., 2007). Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNAdependent RNA transcription). Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Basler, 2007). Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNApolymerase. Các sợi này không được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine gắn mũ) ở đầu 5’ và 3’, chúng kết hợp với nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào. Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen của virus, và được enzyme PB2 gắn thêm 10 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus. Fener và cộng sự mô tả như sau: Virus xâm nhập vào tế bào chủ nhờ chức năng của pro HA thông qua hiện tượng ẩm bào(endosytosis) qua cơ chế trung gian tiếp nhận thụ thể. Thụ thể liên kết tế bào của virus cúm có bản chất acid sialic cắm sâu vào glycoprotein hay glycolipit của vỏ virus. Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ pH được điều hòa để giảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá tình hợp nhất màng tế bào và virus, sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời protein HA nhờ enzym peptidase và enzyme protease của tế bào. Lúc này nucleocapsid của virus đi vào nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào,chuẩn bị tổng hợp ARN, nguyên liệu hệ gen cho các virion mới. Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin. Các phân đoạn ARN hệ gen được mã hóa 1013 nucleotide đầu 5’ với nguyên liệu mã hóa từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tính enzyme PB2 của virus, ARN thông tin của virus sao chép trong nhân được vận chuyển ra nguyên sinh chất, được ribosome trợ giúp tổng hợp protein cấu trúc và protein nguyên liệu. Protein H,N,M2, ở lại trong nguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô và bộ máy golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm. Protein NS1,NP,M1 được vận chuyển vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệ gen mới được tổng hợp. Song song quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu, virus tiến tổng hợp nguyên liệu di truyền là các sợi ARN mới. Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi dương ARN toàn vẹn được tao ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên sơi âm ARN mới làm nguyên liệu. Các sơi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác làm khuôn tổng hơp ARN theo cơ chế như sợi ARN của virus đầu tiên. Các sợi ARN hệ gen được tao ra là một sợi hoàn chỉnh độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribocleocapsid ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được vận chuyển ra nguyên sinh chất rồi đưa đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với virus. Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboprotein với các protein cấu trúc (HA,NA,M2) tạo nên các hạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi: Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện tượng “nảy chồi” của virus. NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân tế bào để kết hợp với RNA thành RNP của virus. Sau cùng các RNP của virus được hợp nhất với vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa HA với thụ thể chứa sialic acid. Các NA phân cắt các liên kết này và giải phóng các hạt virus trưởng thành tiếp tục xâm nhiễm các tế bào khác (Murphy, Webster, 1996; Nayak et al., 2004).
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm, do nhóm virus cúm A, thuộc họOrthomyxoviridae gây ra, có khả năng lan truyền từ động vật sang người Nhóm virus cúm A có 16 phântype HA (H1 - H16) và 9 phân type NA (N1 - N9) có khả năng tái tổ hợp để tạo nên hàng trăm phân typekhác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh H5N1 thể độc lực cao (HPAI) vẫn đang là mối đe dọa chochăn nuôi và sức khỏe cộng đồng
I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VIRUS H5N1
Từ cuối năm 2003 đến tháng 6/2008, đã có 385 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó, 243 trườnghợp đã tử vong, chiếm 63,11%, trong đó Việt Nam và Indonesia là hai quốc gia có số người nhiễm và tửvong cao nhất Không giống như dịch cúm A/H5N1 giai đoạn 1996 - 2002, có thể khống chế bằng cáchtiệu diệt và loại trừ loài gia cầm trong vùng dịch để cắt đứt truyền lây, cúm A/H5N1 thể độc lực cao giaiđoạn 2003 đến nay, với sự xuất hiện nhiều genotype khác nhau, đặc biệt là genotype Z, lan truyền từ NamTrung Quốc đến các nơi khác trên thế giới Đây vẫn là thách thức đối với cộng đồng và cần nghiên cứu ứngdụng các phương pháp khác nhau để khống chế hiệu quả Tính gây bệnh của A/H5N1 thể độc lực caokhông chỉ giới hạn ở chức năng điểm cắt protease của HA và hoạt tính của NA, mà là hiệu ứng của sảnphẩm đa gen và khả năng tái tổ hợp tạo virus mới với đặc tính gây bệnh và độc lực khác nhau là vấn đề cầntính đến Hàng ngàn công trình nghiên cứu về cúm A nói chung và cúm A/H5N1 nói riêng, đặc biệt trong 5năm gần đây, trong đó có phát triển công nghệ và (các loại) vaccine gây miễn dịch cho gia cầm và chuẩn bịcho đại dịch có thể xảy ra ở người Về phương diện dịch tễ, tiến hóa, tạo biến chủng, biến đổi khángnguyên - miễn dịch, tính mẫn cảm và đề kháng với dược liệu, khác với nhiều virus khác ở gia cầm, viruscúm A/H5N1 có xu hướng đột biến nhanh để tạo nên nhiều biến chủng phân chia thành nhiều phân dòngkhác nhau và có tính thích ứng phổ rộng đối với loài mắc Vaccine được phát triển từ nhiều chủng viruscúm A/H5N1 bằng kỹ thuật hiện đại, trong đó có công nghệ di truyền ngược, đặc biệt vaccine từ chủngNIBRG-14 hứa hẹn tiềm năng phòng chống Trong bài tổng quan này, chúng tôi giới thiệu những đặc điểm
cơ bản của vấn đề virus học, sinh học phân tử và khái quát mối quan hệ kháng nguyên miễn dịch vaccine của cúm A/H5N1 Tóm lược những nghiên cứu của các nhà khoa học và tổ chức Việt Nam tại bốicảnh Việt Nam và trên nền virus cúm A/H5N1 của Việt Nam, trong đó có đóng góp của Viện Công nghệsinh học về gen học/protein học về gen kháng nguyên HA/NA và vaccine thế hệ mới cũng được giới thiêu
-II TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẦM
1.Khái quát bệnh cúm gia cầm
Cúm gia cầm (Avian Influenza, AI) là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm, do nhóm virus cúm
A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây là nhóm virus có biên độ chủ rộng, được phân chia thành nhiềuphân type khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus (de Wit,Fouchier, 2008) Nhóm virus cúm A có 16 phân type HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đếnN9), và sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các phân type HA và NA, về mặt lý thuyết, sẽ tạo ra nhiều phântype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàngđột biến trong gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA), hoặc trao đổi các gen kháng nguyên với nhau, trongquá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ Họ Orthomyxoviridae đã được phát hiệnbao gồm 4 nhóm virus, đó là: nhóm virus cúm A (Influenza A); nhóm virus cúm B (Influenza B); nhómvirus cúm C (Influenza C); và nhóm Thogotovirus Các nhóm virus khác nhau bởi các kháng nguyên bềmặt capsid, ở virus cúm A và B là Hemagglutinin (HA), ở virus cúm C là Hemagglutinin Esterase Fusion(HEF), và ở Thogotovirus là Glycoprotein (GP) (Murphy, Webster, 1996; Ito et al., 1998)
Trang 22.Tình hình dịch
giới
và phát sinh nhiều dưới dòng (sublineage) và nhóm/phân nhóm (clade) có độc lực rất cao (Horimoto, Kawaoka, 2001; Nicholson et al., 2003; Perkins, Swayne, 2003; Ligon, 2005) (Hình 1) Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959 Có thể gọi cúm A/H5N1 phân lập năm 1959 tại Scotland là virus cúm A/H5N1 cổ điển (danh pháp: A-Ck-Scotland-(59)(H5N1) (số đăng ký: X07869) Từ đó cho đến nay, H5 và N1 đã có thay đổi lớn xét về cấu trúc thành phần gen và kháng nguyên miễn dịch (Horimoto, Kawaoka, 2006) Sau gần 40 năm không phát hiện, cúm A/H5N1 xuất hiện tại Quảng Đông (1996), và Hồng Kông (1997) với biến đổi sâu sắc, không những gây chết gia cầm mà còn thích ứng và gây chết người bệnh Có thể coi dòng virus cúm A/H5N1 từ 1996 đến nay là cúm A/H5N1 hiện đại mới xuất hiện (de Jong, Hien, 2006) Đặc biệt, từ 2003 đến nay, virus H5N1 gây ra dịch cúm trên gia cầm tại Hồng Kông, Trung Quốc và lây lan sang hàng chục quốc gia trên thế giới
ở châu Á, châu Âu và châu Phi Cúm A/H5N1 giai đoạn 2003 đến nay, cơ bản về cấu trúc vẫn như trước
đó, nhưng xét về độc lực (tính gây bệnh), loài vật chủ nhiễm bệnh, tính kháng nguyên - miễn dịch và mức
độ truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác với nhiều biến chủng H5N1 trước đây (Hulse-Post et al., 2005; Subbarao, Luke, 2007; Zhao et al., 2008) (Hình 1)
Trang 3Hình 1: Bản đồ các quốc gia xảy ra dịch cúm A/H5N1 (WHO, tính đến 15/09/2008) Phần bôi đậm làvùngdịch cúm xảy ra trên gia cầm; phần bôi nhạt là vùng dịch cúm chỉ xảy ra trên chim hoang dã.
Bảng 1 Tổng số trường hợp nhiễm cúm gia cầm A/H5N1 ở người báo cáo cho WHO từ tháng 12/2003 đến
19/6/2008
Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc ChếtAzerbaija
Ghi chú: Số ca mắc bệnh bao gồm cả các ca tử vong WHO chỉ ghi nhận những ca được xác nhận bằng xét
nghiệm và được báo cáo chính thức Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới - WHO (tính đến tháng 6/2008)
Từ cuối 2005, cúm A/H5N1, chủ yếu là các chủng virus thuộc phân dòng Thanh Hải (nguồn gốc
vùng Bắc Trung Quốc) bắt đầu lan sang một số nước vùng Trung Á, trong đó có Nga, rồi tràn ngập Đông
Âu và xâm nhập vào các nước vùng Tiểu Á, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Bắc- Trung Phi, đặc biệt Ai
Cập và Nigeria là các nước chịu thiệt hại nhiều nhất (Salzberg, 2007) Nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan,trong hơn mười năm qua, trên thế giới đã có hàng trăm triệu gia cầm đã bị tiêu hủy, gây thiệt hại nặng nềcho ngành chăn nuôi và kinh tế Đặc biệt, số người nhiễm và tử vong do virus cúm A/H5N1, mỗi năm một
cao hơn, theo thống kê số người bị nhiễm cúm gia cầm H5N1 báo cáo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), từnăm 2003 đến tháng 6/2008, đã có tới 385 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó, 243 trường hợp đã tửvong chiếm tới 63,11% Việt Nam và Indonesia là các 2 quốc gia có số người nhiễm và tử vong cao nhất dovirus cúm A/H5N1 trên thế giới (Bảng 1) Trong số 16 nước có người chết do cúm gia cầm, Inonesia và
Trang 4Việt Nam được WHO xác định là quốc gia “điểm nóng” có thể cúm A/H5N1 có được các điều kiện thuậnlợi để tiến hóa thích nghi lây nhiễm và trở thành virus của người
3.Tình hình dịch bệnh cúm A/H5N1 ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm A/H5N1 bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở các tỉnh phía Bắc, sau
đó đã nhanh chóng lan tới hầu hết các tỉnh/thành trong cả nước chỉ trong một thời gian ngắn Đây là lần đầutiên dịch cúm gia cầm A/H5N1 xảy ra tại Việt Nam, có tới hàng chục triệu gia cầm bị tiêu hủy, gây thiệthại nặng nền tới nền kinh tế quốc dân Tính đến nay (tháng 10/2008), dịch cúm gia cầm liên tục tái bùngphát hàng năm tại nhiều địa phương trong cả nước, có thể phân chia thành các đợt dịch lớn như sau:
- Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 và 30/03/2004, dịch cúm xảy ra ở các tỉnh Hà Tây, Long An và TiềnGiang Dịch bệnh lây lan rất nhanh, chỉ trong vòng hai tháng đã xuất hiện ở 57/64 thành trong cả nước.Tổng số gà và thủy cầm mắc bệnh, chết và thiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 17% tổng đàn gia cầm.Trong đó, gà chiếm 30,4 triệu con, thuỷ cầm 13,5 triệu con Ngoài ra, có ít nhất 14,8 triệu chim cút và cácloại khác bị chết hoặc thiêu huỷ Đặc biệt, có 3 người được xác định nhiễm virus cúm A/H5N1 và cả 3 đã
tử vong trong đợt dịch này
- Đợt dịch thứ 2 từ tháng 4 đến tháng 11/2004: dịch bệnh tái phát tại 17 tỉnh, thời gian cao điểm nhất làtrong tháng 7, sau đó giảm dần đến tháng 11/2004 chỉ còn một điểm phát dịch Tổng số gia cầm tiêu hủyđược thống kê trong vụ dịch này là 84.078 con Trong đó, có gần 56.000 gà; 8.132 vịt; và 19.950 con chimcút Và đã có tới 27 người mắc bệnh virus cúm A/H5N1, trong đó có 9 ca tử vong - Đợt 3 từ tháng 12/2004cho đến tháng 15/12/2005: dịch cúm gà xảy ra trên 36 tỉnh thành trong cả nước Số gia cầm bị tiêu hủyđược Cục Thú y thống kê là 1,846 triệu con (gồm 470.000 gà, 825.000 thủy cầm và 551.000 chim cút) Vàonhững tháng cuối năm 2005, dịch cúm gà xảy ra trong tháng 10/2005 lan nhanh trong gần 40 tỉnh thành vàgiảm dần trong tháng 12/2005 - Sau một năm (2006), do áp dụng chương trình tiêm chủng rộng rãi cho cácđàn gia cầm trong cả nước, cùng với các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt, dịch cúm A/H5N1 khôngxảy ra ở Việt Nam Mặc dù vậy, đến 06/12/2006 dịch cúm gia cầm A/H5N1 đã tái bùng phát ở Cà Mau, sau
đó lan sang các tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ- Trong năm 2007, dịch bệnh tái phát tạiHải Dương vào ngày 17/02/2007 và được khống chế sau 1 tháng Tuy nhiên, đến ngày 01/05/2007 dịchbệnh tiếp tục tái phát tại Nghệ An, sau đó lan sang nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước Theo Báo cáo củaCục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đến ngày 10/06/2007 dịch đã xảy ra trên 16 tỉnh,thành phố (Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Hải Phòng, Bắc Giang, NinhBình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Quảng Nam, Hưng Yên, Thái Bình và Phú Thọ), và chỉ được khốngchế hoàn toàn vào 8/2007
- Gần đây, dịch bệnh lại tiếp tục tái bùng phát ở một số tỉnh phía Bắc vào tháng 3/2008 Cho đến tháng6/2008, dịch cúm gia cầm A/H5N1 về cơ bản đã được khống chế trên toàn quốc
III CẤU TẠO VIRUS CÚM A/H5N1
Virut cúm gia cầm có tên khoa học là avian influenza (H5N1) là phân nhóm của loài virus cúm A thuộc chi Influenzavirus A trong họ Orthomyxoviridae.
Tên gọi phân nhóm H5N1 là liên quan đến loại protein kháng nguyên trên vỏ virus: protein hemagglutininnhóm 5 (H5) và neuraminidase nhóm 1 (N1) Chữ H (hemaglutinin – chất ngưng kết hồng cầu) và N(Neuraminidase – enzim tan nhầy) là ký hiệu của 2 kháng nguyên gây nhiễm trên vỏ của hạt virus cúm A,giúp virus gắn vào thành tế bào và sau đó đột nhập vào tế bào hô hấp
Trang 5Hình ảnh virus cúm H5N1 dưới kính hiển vi điện tử
1 Khái quát chung virus cúm ( Influenza virus)
Virut cúm (Influenza virus) là thành viên họ Orthomyxoviridae, gồm 3 týp A, B và C Trong đó:
-Nhóm virus cúm A: gây bệnh cho chim, động vật có vú và người
-Nhóm virus cúm B :chỉ gây bệnh cho người
-Nhóm virus cúm C: gây bệnh người
Virut cúm A được chia thành nhiều phân týp dựa trên kháng nguyên bề mặt ngưng kết hồng cầu
Trang 6tập hợp các loại virut cúm A Virus H5N1 thuộc dòng virus cúm loại A có gen HA là H5 và gen NA1 làN1.
2 Cấu tạo của virus H5N1
VIRUS cúm A/H5N1 thuộc type A là 1 trong 4 nhóm của họ Orthomyxoviridae Cấu trúc bao gồm:
§§
Hạt virus(virion) có dạng hình cầu hoặc khối
đa diện có d=80-120nm, m=250 triệu dalton Phân tích thành phần hóa học một virion có chứa khoảng0,8 - 1,1% RNA; 70 - 75%
là protein; 20 - 24% lipid
và 5 - 8% là carbohydrase.Hạt virus có cấu tạo đơn giản
gồm vỏ (capsid), vỏ bọc ngoài (envelope), lõi RNA sợi đơn âm 10000- 15000 nu
2.1 Cấu tạo vỏ virus cúm A/H5N1:
Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền ARN của virus, bản chất cấu tạo là mànglipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hóa gắn các protein màng của virus Trên bề
các phân tử HA và NA (tỉ lệ khoảng 4HA/1NA) Các protein HA và NA quyết định tính kháng nguyên củatừng type virus Đây là 2 protein kháng nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm vật chủ
Trang 7của virus:
- HA có chức năng giúp virus bám dính vào tế bào cảm thụ và làm xâm nhập vật liệu di truyền của virusvào bên trong tế bào
- NA có chức năng thúc đẩy sự lắp ráp để giải phóng virus từ các tế bào cảm thụ
2.1.1.Cấu trúc và chức năng của protein HA
Hai protein HA và NA là các protein chính bề mặt capsid (major capsid protein) đặc trưng cho bản chấtcủa từng chủng virus cúm A (Murphy, Webster, 1996; Keawcharoen et al., 2005)
2.1.1.1 Cấu trúc HA (Hemagglutinin)
Protein hemagglutinin là một glycoprotein thuộc protein màng type I (lectin), có khả năng gây ngưngkết hồng cầu gà trong ống nghiệm (in vitro), kháng thể đặc hiệu với HA có thể phong tỏa sự ngưng kết đó,được gọi là kháng thể ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI- Hemagglutinin Inhibitory antibody) Có khoảng
400 phân tử HA trên bề mặt capsid của một virus, có vai trò quan trọng trong quá trình nhận diện virus vàkhởi động quá trình xâm nhiễm của virus vào tế bào chủ (Bender et al., 2001; Wagner et al., 2002) Phân tử
HA có dạng hình trụ, dài khoảng 130 ăngstron (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân(monomer) được tạo thành từ hai dưới đơn vị HA1(36 kDa) và HA2(27 kDa), liên kết với nhau bởi các cầunối disulfide (-S-S-) Các đơn phân sau khi tổng hợp đã được glycosyl hóa (glycosylation) và gắn vào mặtngoài capsid là dưới đơn vị HA2, phần đầu tự do hình chỏm cầu được tạo bởi dưới đơn vị HA1 chứa đựng
vị trí gắn với thụ thể thích hợp của HA trên bề mặt màng tế bào đích (Bosch et al., 1979; 1981; Wagner etal., 2002)
2.1.1.2 Chức năng protein HA
Sự kết hợp của HA với thụ thể đặc hiệu (glycoprotein chứa sialic acid) trên bề mặt màng tế bào, khởiđầu quá trình xâm nhiễm của virus trên vật chủ giúp cho virus xâm nhập, hòa màng và giải phóng RNA hệgen thực hiện quá trình nhân lên ở trong tế bào cảm nhiễm Quá trình kết hợp phụ thuộc vào sự phù hợpcấu hình không gian của thụ thể chứa acid sialic của tế bào đích với vị trí gắn với thụ thể này trên phân tử
HA của virus cúm, quyết định sự xâm nhiễm dễ dàng của virus ở các loài vật chủ khác nhau (Webster,1998; Wagner et al., 2002) Vị trí amino acid 226 (aa226) của dưới đơn vị HA1 được xác định là vị tríquyết định phù hợp gắn HA với thụ thể đặc hiệu của nó, ở hầu hết các chủng virus cúm A lưu hành trong tựnhiên vị trí này là Glycine, thích ứng với thụ thể Galα-2,3 sialic acid (chứa sialic acid liên kết với nhómhydroxyl (4-OH) của galactose ở góc quay α-2,3) của tế bào biểu mô đường hô hấp của chim và gia cầm(vật chủ tự nhiên của virus cúm A) Ngoài ra, một số vị trí amino acid khác: Glutamine 222, Glycine 224,hay cấu trúc SGVSS và NGQSGR cũng có sự liên quan chặt chẽ đến khả năng thích ứng với thụ thể chứasialic acid bề mặt màng tế bào chủ (Keawcharoen et al., 2005) Đặc biệt, một số chủng virus cường độc A/H5Nx; A/H7Nx lưu hành hiện nay có thể xâm nhiễm trên người, khi chúng có tải lượng cao trong đường
hô hấp (do tiếp xúc trực tiếp với chất thải hay gia cầm nhiễm bệnh) (Webster, 1998; Bauer et al., 2006; Hui
et al., 2008)
Trình tự mã hóa chuỗi nối, và thành phần chuỗi nối trên protein HA cũng như các vị trí amino acidliên quan đến khả năng gắn với thụ thể thích ứng, được coi là các chỉ thị phân tử trong nghiên cứu phân tíchgen kháng nguyên HA (Keawcharoen et al., 2005) Protein HA còn là kháng nguyên bề mặt quan trọng củavirus cúm A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA, và tham giavào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độclực của virus, là đích của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, cơ
sở điều chế các vaccine phòng cúm hiện nay (Bosch et al., 1982; Matrosovich et al., 1999; Keawcharoen etal., 2005 ; Horimoto, Kawaoka, 2006)
Trang 82.1.2 Cấu trúc và chức năng của Protein NA (neuraminidase)
2.1.2.1 Cấu trúc protein NA
Protein neurominidase còn gọi là sialidase (mã số quốc tế là E.C 3.2.1.18), là một protein enzyme cóbản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm A, mang tính kháng nguyên đặc trưngtheo từng phân type NA (Baigent, McCauley, 2001; Wagner et al., 2002) Có khoảng 100 phân tử NA xengiữa các phân tử HA trên bề mặt capsid hạt virus Phân tử NA có dạng nút lồi hình nấm, đầu tự do (chứavùng hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng, và phần kị nước gắnvào vỏ capsid (Castrucci, Kawaoka, 1993; Wagner et al., 2002)
2.1.2.2.Chức năng protein NA
Protein NA có vai trò là một enzyme cắt đứt liên kết giữa gốc sialic acid của màng tế bào nhiễm vớiphân tử cacbonhydrate của protein HA, giải phóng hạt virus ra khỏi màng tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lâynhiễm của virus trong cơ thể vật chủ, và ngăn cản sự tập hợp của các hạt virus mới trên màng tế bào Mặtkhác, NA tham gia vào phân cắt liên kết này trong giai đoạn “hòa màng”, đẩy nhanh quá trình cởi áo
“uncoating” giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương tế bào nhiễm, giúp cho quá trình nhân lên củavirus diễn ra nhanh hơn (Wagner et al., 2002) Ngoài ra, NA còn phân cắt các liên kết glycoside, giải phóngneuraminic acid làm tan loãng màng nhầy bề mặt biểu mô đường hô hấp, tạo điều kiện cho virus nhanhchóng tiếp cận tế bào biểu mô và thoát khỏi các chất ức chế không đặc hiệu Cùng với vai trò của khángnguyên HA, cả 3 khâu tác động trên của NA đều tham gia làm gia tăng độc lực gây bệnh của virus cúm A ở
cơ thể vật chủ Do đó, NA là đích tác động của các thuốc, hóa dược ức chế virus không đặc hiệu hiện nay,đặc biệt là Oseltamivir (biệt dược là Tamiflu) phong tỏa enzyme này, ngăn cản sự giải phóng hạt virus mớikhỏi các tế bào đích, bảo vệ cơ thể (Castrucci, Kawaoka, 1993; Aoki et al., 2007)
Bên cạnh đó, NA còn là một kháng nguyên bề mặt của virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịchcủa cơ thể chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tácdụng phong tỏa protein NA (Doherty et al., 2006) Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HAcủa virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cơ thể với virus cúm A, và là cơ sở điều chếcác vaccine phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm, nhằm ngăn chặn dịch cúm ở gia cầm và hạn chế lâytruyền sang người (Suarez, Schultz-Cherry, 2000; Wu et al., 2008b)
2.2.Hệ gen virus cúm A/ H5N1
Hệ gen virus cúm A là RNA sợiđơn âm (-)ssRNA, bao gồm 8 phânđoạn gen riêng biệt có 8§90 - 2341nucleotide mang tên từ 1-8 theo thứ
tự giảm dần của kích thước phân tử(hay được gọi theo tên protein màchúng mã hóa tổng hợp), mã hóa cho 11 protein khác nhau của virus gồm: HA, NA, M (M1 và M2), NP,
NS (NS1 và NS2), PA, PB1, PB1-F2 và PB2 ,(Murphy, Webster, 1996; Luong, Palese, 1992; Rabadan etal., 2006) Mỗi phân đoạn RNA của virus cúm A có cấu trúc xoắn bậc 2 α đối xứng dài 50 - 100 nm, đườngkính 9 - 10 nm, được bao bọc bởi nucleoprotein (NP) - bản chất là lipoprotein, tạo thành cấu trúcribonucleoprotein (RNP) Mỗi RNP kết hợp với 3 protein enzyme polymerase (PA, PB1 và PB2) chịu tráchnhiệm trong quá trình phiên mã và sao chép RNA của virus Các phân đoạn của hệ gen virus cúm A nối vớinhau bằng các cầu nối peptide tạo nên vòm (loop) tại giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, tạo ra một sợi RNA
Trang 9duy nhất có tổng độ dài từ 10.000- 15.000 bp (tuỳ theo từng chủng virus cúm A), chứa đựng khoảng 13,5kilobase thông tin di truyền và có cấu trúc xoắn α (α-helix) bên trong vỏ virus Hai đầu 5’- và 3’- sợi RNA
hệ gen virus có gắn thêm chuỗi nucleotide có tính bảo tồn cao giữa các phân type là: AGUAGAACAAGG… và 3’- UCG(U/C)UUUCGU CC (Luong, Palese, 1992; Murphy, Webster, 1996).Các phân đoạn gen của virus cúm A/H5N1
5’-Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzyme trong phức hợppolymerase (RNA transcriptase) của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao, bao gồm:
- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein enzyme PB2, là tiểu đơn vịthành phần trong phức hợp enzyme polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus.Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 84.103Da (trên thực tế là 87.103Da) (Murphy,Webster, 1996) Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí amino acid
627 ở protein PB2 (ở virus cúm gia cầm vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 40oC,còn ở virus thích nghi trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 37oC) (Subbarao, 1993;Wasilenko et al., 2008)
- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp enzyme PB1 - tiểu đơn vịxúc tác của phức hợp enzym polymerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũRNA (Murphy, Webster, 1996) Gần đây, đã có phát hiện thêm một protein (PB1-F2) được mã hóa bởi mộtkhung đọc mở khác của PB1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis (hiện tượng tế bào chết theo chươngtrình) (Uiprasertkul et al., 2007)
- Phân đoạn 3 (gen PA) có kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn cao, mã hóa tổng hợpprotein enzyme PA có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 83.103Da (trên thực tế là 96.103Da) PA
là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợpRNA của virus (Luong, Palese, 1992)
Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HA và NA) bề mặt capsid của virus, có tính khángnguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A, bao gồm:
- Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm A (ở A/H1N1 là 1778 bp,
ở H9N1 là 1714 bp, ở H5N1 là khoảng 1704 - 1707 bp) Đây là gen chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợpprotein HA - kháng nguyên bề mặt virus cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2 Vùng nối giữa HA1 vàHA2 gồm một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắtcủa enzym protease, và đây là vùng quyết định độc lực của virus (Bosch et al., 1979; Gambotto et al.,2008) Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 63.103Da (nếu không được glycosyl hóa) và 77.103Da(nếu được glycosyl hóa, trong đó HA1 là 48.103Da và HA2 là 29.103Da) (Luong, Palese, 1992;Keawcharoen et al., 2005)
- Phân đoạn 6 (gen NA) là một gen kháng nguyên của virus, có chiều dài thay đổi theo từng chủngvirus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi khoảng từ 1350 - 1410 bp) (Nguyễn Thị BíchNga, 2006) Đây là gen mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượngphân tử theo tính toán khoảng 50.103Da (trên thực tế là 50 - 60.103Da) Các nghiên cứu phân tử gen NAcủa virus cúm cho thấy phần đầu 5’- của gen này (hay phần tận cùng N của polypeptide NA) có tính biếnđổi cao và phức tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến quá trình thích ứng và gâybệnh của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau (Castrucci, Kawaoka, 1993; Baigent,McCauley, 2001; Wagner et al., 2002) Đặc trưng biến đổi của gen NA trong virus cúm A là hiện tượng độtbiến trượt-xóa một đoạn gen là 57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho độ dài vốn có trước đây
Trang 10của NA(N1) là 1410 bp còn 1350 bp (Castrucci, Kawaoka, 1993; Lê Thanh Hòa, 2006; Keawcharoen et al.,2005)
Các phân đoạn gen M, NP và NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng khác nhau của virus, có độdài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A, bao gồm:
- Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1556 bp, mã hóa tổng hợp nucleoprotein (NP) - thànhphần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ NP làmột protein được glycosyl hóa, có đặc tính kháng nguyên biểu hiện theo nhóm virus, tồn tại trong các hạtvirus ở dạng kết hợp với mỗi phân đoạn RNA, có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 56.103Da (trênthực tế là 50 - 60.103Da) (Luong, Palese, 1992; Murphy, Webster, 1996;Salzberg, 2007)
- Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước khoảng 1027 bp, mã hóa cho protein đệm (matrix protein - M)của virus (gồm hai tiểu phần là M1 và M2 được tạo ra bởi những khung đọc mở khác nhau của cùng mộtphân đoạn RNA), cùng với HA và NA có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của virus cúm A, cómối quan hệ tương tác bề mặt với hemagglutinin (Scholtissek et al., 2002) Protein M1 là một protein nền,
là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình
“nảy chồi” của virus (Luong, Palese, 1992; Murphy, Webster, 1996; Basler, 2007) Protein M2 là chuỗipolypeptide bé, có khối lượng phân tử theo tính toán là 11.103Da (trên thực tế là 15.103Da), là proteinchuyển màng - kênh ion (ion channel) cần thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởiáo” virus trình diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ (Scholtissek etal., 2002)
- Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein không cấu trúc (non structural protein), có độ dài ổnđịnh nhất trong hệ gen của virus cúm A, kích thước khoảng 890 bp, mã hóa tổng hợp hai protein là NS1 vàNS2 (còn gọi là NEP, nuclear export protein), có vai trò bảo vệ hệ gen của virus nếu thiếu chúng virus sinh
ra sẽ bị thiểu năng (Murphy, Webster, 1996; Sekellick et al., 2000) Độc tính của virus có sự liên quan vớigen không cấu trúc (non-structural gen) này được tìm thấy ở biến chủng A/H5N1/97 (Webster, 1998), trong
tự nhiên, việc đột biến xóa đi một phần gen có liên quan đến giảm độc lực (Zhu et al., 2008) NS1 có khốilượng phân tử theo tính toán là 27.103Da (trên thực tế là 25.103Da), chịu trách nhiệm vận chuyển RNAthông tin của virus từ nhân ra bào tương tế bào nhiễm, và tác động lên các RNA vận chuyển cũng như cácquá trình cắt và dịch mã của tế bào chủ NEP hay NS2, là gen hình thành từ hai đoạn gen (30 bp và 336 bp)
mã hóa loại protein có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 14.103Da (trên thực tế là 12x103Da),đóng vai trò vận chuyển các RNP của virus ra khỏi nhân tế bào nhiễm để lắp ráp với capsid tạo nên hạtvirus mới (Sekellick et al., 2000; Zhu et al., 2008)
Chức năng của từng gen trong cấu trúc của virus:
Gen Kích
Trang 111 2341 PB2
Là tiểu đơn vị của polymerase (RNA transcriptase), nhận diện mũchụp M7- GpppXm Nm của RNA tế bào chủ
2 2341 PB1 Là tiểu đơn vị xúc tác của polymerase (RNA transcriptase)
3 2233 PA Là tiểu đơn vị của polymerase (RNA transcriptase), tham gia
tổng hợp RNA
4 1778 HA Gắn kết virút vào thụ thể của tế bào (làm đông máu)
(Hemagglutinin)
5 1565 NP Nucleoprotein: là thành phần của phức phiên mã, vận chuyển
vRNA giữa nhân và tế bào chất
6 1413 NA Phóng thích virút (Neuraminidase)
7 1027 M1 Protein nền, là thành phần chính của virion
M2 Protein nội màng, kênh ion
Vận chuyển mRNA ra tế bào chất, dịch mã, là protein khánginterferon
NS2 Vận chuyển RNP ra khỏi nhân
IV CƠ CHẾ XÂM NHIỄM CỦA VIRUS CÚM A/H5N1 TRONG TẾ BÀO VẬT CHỦ
Virus cúm A/H5N1 kí sinh nội bào bắt buộc, quá trình xâm nhiễm và nhân lên của virus xảy ra chủ yếu
ở các tế bào biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa của cơ thể nhiễm (Murphy, Webster, 1996; Nicholson
et al., 2003), có những nét đặc trưng như sau:
- Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của HA và thụ thể thích ứng của nótrên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bàonhiễm
- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt sovới các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus rakhỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidase Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giảiphóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6 h) Sự tạo thành các hạt virus mớikhông phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử, và rơi vàoquá trình chết theo chương trình (apoptosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Webster, 1998;Uiprasertkul et al., 2007)
- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của
tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNAtranscription) Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Basler, 2007)
- Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen
Trang 12virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-polymerase Các sợinày không được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine - gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp vớinucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bàotương tế bào Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phânđoạn gen của virus, và được enzyme PB2 gắn thêm 10 - 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vậnchuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus.
§Fener và cộng sự
mô tả như sau:
§
Virus xâm nhập vào tế bào chủ nhờ chức năng của pro HA thông qua hiện tượng ẩm bào(endosytosis)qua cơ chế trung gian tiếp nhận thụ thể Thụ thể liên kết tế bào của virus cúm có bản chất acid sialic cắmsâu vào glycoprotein hay glycolipit của vỏ virus Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ pH được điều hòa đểgiảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá tình hợp nhất màng tế bào và virus, sự hợp nhất này phụ thuộc vào sựcắt rời protein HA nhờ enzym peptidase và enzyme protease của tế bào Lúc này nucleocapsid của virus đivào nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào,chuẩn bị tổng hợp ARN, nguyên liệu hệ gen cho các virionmới
Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin Các phân đoạn ARN hệgen được mã hóa 10-13 nucleotide đầu 5’ với nguyên liệu mã hóa từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tínhenzyme PB2 của virus, ARN thông tin của virus sao chép trong nhân được vận chuyển ra nguyên sinh chất,được ribosome trợ giúp tổng hợp protein cấu trúc và protein nguyên liệu Protein H,N,M2, ở lại trongnguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô và bộ máy golgi sau đó được cắmlên màng tế bào nhiễm Protein NS1,NP,M1 được vận chuyển vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệuARN hệ gen mới được tổng hợp
Trang 13Song song quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu, virustiến tổng hợp nguyên liệu di truyền là các sợi ARN mới Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợidương ARN toàn vẹn được tao ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nênsơi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sơi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virionmới, số khác làm khuôn tổng hơp ARN theo cơ chế như sợi ARN của virus đầu tiên Các sợi ARN hệ genđược tao ra là một sợi hoàn chỉnh độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nênribocleocapsid ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được vận chuyển ra nguyên sinh chất rồi đưa đến vị trímàng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với virus.
Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboprotein với các protein cấu trúc (HA,NA,M2) tạo nên cáchạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi:
Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên mặt ngoài của màng tếbào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện tượng “nảy chồi” của virus NP sau khi tổng hợp được vậnchuyển trở lại nhân tế bào để kết hợp với RNA thành RNP của virus Sau cùng các RNP của virus đượchợp nhất với vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa
HA với thụ thể chứa sialic acid Các NA phân cắt các liên kết này và giải phóng các hạt virus trưởng thànhtiếp tục xâm nhiễm các tế bào khác (Murphy, Webster, 1996; Nayak et al., 2004)
V CON ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN CỦA BỆNH CÚM A/H5N1
Bệnh cúm gia cầm là bệnh cúm gây bởi một týp virus cúm sống trên loài có lông vũ, nhưng có thể lâynhiễm sang nhiều loài động vật có vú
1 Các con đường lây truyền
1.1.Từ động vật sang người
Năm 1997, tiếpxúc với gia cầmsống trong vòng
1 tuần trước khi khởi phát bệnh có liên quan với bệnh ở người, trong khi ăn hoặc chế biến các sản phẩm giacầm hoặc tiếp xúc với người bị bệnh cúm A (H5N1) không gây nguy cơ đáng kể Tiếp xúc với gia cầmbệnh và làm thịt gia cầm có liên quan với huyết thanh dương tính với cúm A (H5N1) Trong đợt dịch mớiđây, phần lớn bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc trực tiếp với gia cầm, mặc dù không phải là những người làmnghề giết mổ gia cầm Nhổ lông và chế biến gia cầm bệnh, ôm gà chọi, ăn tiết canh vịt hoặc thịt gia cầmchưa nấu chín đều đã được nhắc tới Tình trạng lây bệnh sang thú thuộc loài mèo đã thấy trong một số vườnbách thú ở Thái Lan do sử dụng gà bệnh làm thức ăn cho hổ và báo và lây bệnh sang mèo nhà trong thínghiệm Trong điều kiện thí nghiệm cũng đã thấy hiện tượng lây bệnh giữa các con thú thuộc họ mèo Một