Sự hiện hữu và chất lượng của các thể chế chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của một quốc gia.. Cạnh đó, có những thể chế khác mang tính chính th
Trang 11
Chương 7 THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Nội dung chính của Chương
7.1 Thể chế chính trị
7.2 Nhà nước - thể chế trung tâm của chính trị
-
Chính trị học hiện đại ngày càng quan tâm hơn đến các thể chế chính trị Sự hiện hữu và chất lượng của các thể chế chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của một quốc gia Chương này sẽ trình bày các vấn đề khái quát về thể chế chính trị, một nội dung cơ bản của chính trị học Sau đó, một số khía cạnh liên quan đến nhà nước, với tư cách một thể chế chính trị trung tâm sẽ được phân tích
7.1 Khái quát về thể chế chính trị
7.1.1 Khái niệm thể chế và thể chế chính trị
Thể chế (institution) chỉ các quy tắc, quy định, phương thức thực thi các công việc khác
nhau Các quy tắc này, có thể chính thức hay không chính thức, đã được chấp nhận rộng rãi và có khả năng dự đoán trước Nói cách khác, thể chế là những mô hình xử sự thường xuyên mang tính
ổn định, có thể dự đoán trước
Có những thể chế không chính thức, không có các luật lệ quy định rõ, như gia đình, họ tộc, tầng lớp xã hội Cạnh đó, có những thể chế khác mang tính chính thức hơn với các luật lệ quy định với các tổ chức được củng cố, như nhà nước, đảng phái, hiến pháp, truyền thông đại chúng, xã hội dân sự
James G March and Johan P Olsen đã đưa ra định nghĩa: “Một thể chế là một tập hợp tương đối bền vững các quy tắc và thực hành có tổ chức, được hòa lẫn vào các cấu trúc về ý nghĩa
và nguồn lực mà tương đối bất biến khi đối diện với sự thay đổi các cá nhân, và tương đối bền vững trước các ưu tiên và mong đợi đặc thù của cá nhân và sự thay đổi các hoàn cảnh bên ngoài”1
Douglass C.North, trong tác phẩm có tính tiên phong của mình xuất bản năm 1990, đưa ra định nghĩa: “Thể chế là các quy tắc của trò chơi trong một xã hội hoặc, chính thức hơn, là những hạn chế do con người nghĩ ra để hình thành sự tương tác của con người Do đó, chúng cấu trúc các khuyến khích trong trao đổi giữa con người, cho dù là chính trị, xã hội hay kinh tế Thay đổi thể chế
1 James G March & Johan P Olsen, Elaborating the ‘‘New Institutionalism’’ trong R A W Rhodes, Sarah A
Binder, Bert A Rockman, Oxford Handbooks of political institutions, Nxb ĐH Oxford 2006, tr.3
Trang 22
định hình nên cách xã hội phát triển qua thời gian và do đó là chìa khóa để hiểu các thay đổi lịch sử”2 Theo ông, các thể chế làm giảm sự không chắc chắn bằng cách cung cấp một cấu trúc cho cuộc sống hàng ngày Chúng hướng dẫn cho sự tương tác của con người, trong việc chào hỏi bạn
bè, lái xe ô tô, đi chợ, thành lập doanh nghiệp, hoặc làm bất cứ điều gì, chúng ta biết hoặc có thể dễ dàng học cách thực hiện các nhiệm vụ này Chúng ta sẽ dễ dàng thấy được sự khác biệt giữa các thể chế khi thực hiện các giao dịch tương tự ở các quốc gia khác nhau
Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010, với chủ đề Các thể chế hiện đại, cũng xác định “thể chế
là các qui định theo đó các cá nhân, công ty và nhà nước tác động lẫn nhau”3 Báo cáo này đã tập trung vào hai lĩnh vực là phân cấp trao quyền và trách nhiệm giải trình, cho rằng đó là “hai khía cạnh của thể chế hiện đại và là những khía cạnh đổi mới quan trọng nhất của Việt Nam trong hai thập kỷ vừa qua”4
Theo nghĩa hẹp, thể chế dùng để chỉ các cơ quan, tổ chức, hay còn được gọi là các thể chế quản trị Chẳng hạn khi thảo luận về các thể chế nhà nước (state institutions), người ta đề cập đến các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, bộ máy hành chính, chế độ liên bang
Thể chế chính trị là các quy tắc, luật chơi trong lĩnh vực chính trị Bên cạnh các thể chế kinh
tế, xã hội và văn hóa, thể chế chính trị có vai trò quan trọng định hình nên một cộng đồng, quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của cộng đồng đó Thể chế chính trị là những “giới hạn” hay “hạn chế” (constraints) đối với các hành vi và tương tác chính trị Nói chung, các giới hạn, hay khung khổ, khuôn khổ, cũng được cho là “một chìa khóa tiếp cận chính trị học”5
Trong khi khái niệm thể chế là trọng tâm của nhiều phân tích chính trị, có sự khác biệt lớn trong các chuyên ngành khác nhau về việc các loại quy tắc và quan hệ nào được coi là “thể chế” Hơn nữa, các cách tiếp cận thể chế chính trị khác nhau khi hiểu về các khía cạnh: (i) bản chất của các thể chế, như các quy tắc tổ chức trong đó các chủ thể chính trị hiện đại hoạt động; (ii) các quá trình chuyển cấu trúc và quy tắc thành các ảnh hưởng chính trị; và (iii) các quá trình chuyển hành vi của con người thành các cấu trúc, quy tắc và thiết lập, duy trì, biến đổi hoặc loại bỏ các thể chế6
2 Douglass C North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Nxb Cambridge, 1990,
trang 3
3 Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 - Các thể chế hiện đại, Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn
các nhà tài trợ cho Việt Nam, 2009, trang i
4 Như trên
5 Robert E Goodin và Hans-Dieter Klingemann (biên tập), A New Handbooks of Political Science, Nxb ĐH
Oxford, 1996, trang 17
6 R A W Rhodes, Sarah A Binder, Bert A Rockman, Oxford Handbooks of political institutions, Nxb ĐH Oxford,
2006, tr.4
Trang 33
Thuật ngữ “chủ nghĩa thể chế” (institutionalism) thường chỉ một cách tiếp cận chung khi nghiên cứu các thể chế chính trị, một tập hợp các ý tưởng lý thuyết và các giả thuyết liên quan đến các mối quan hệ giữa các đặc điểm thể chế và các chủ thể, thực hành và biến động chính trị Chủ nghĩa thể chế nhấn mạnh bản chất nội sinh và cấu trúc xã hội của các thể chế chính trị - tập hợp các cấu trúc, quy tắc và tiêu chuẩn hoạt động có vai trò tự trị nhất định trong đời sống chính trị7
Các thể chế kinh tế và chính trị có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia Ngoại trừ một số nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên quá ưu đãi, chưa có quốc gia nào có thể trở thành quốc gia có thu nhập cao mà không có những thể chế kinh tế và chính trị mạnh Các chỉ số tổng hợp, như Chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) cho thấy sự quan hệ chặt chẽ giữa thứ hạng cao về chất lượng thể chế với sự thịnh vượng của quốc gia Ở các nền kinh tế phát triển, bên cạnh có hệ thống thể chế kinh tế tốt (thông tin về giá cả, quyền tài sản, thực thi hợp đồng, chính sách cạnh tranh…), cũng có các hệ thống thể chế chính trị phát triển (coi trọng tiếng nói của người dân, đề cao trách nhiệm giải trình của nhà nước, tôn trọng các quyền tự do dân sự và chính trị…)8
Đối với chính trị, các thể chế chính trị định hình nên luật chơi, các quy tắc giữa các chủ thể chính trị Đối với phát triển kinh tế, các thể chế chính trị cũng có vai trò “không cần tranh cãi” Daron Acemoglu, James A Robinson đã đưa ra lý thuyết khái quát về vai trò của các thể chế dung hợp đối với sự thịnh vượng của mỗi quốc gia Từ kinh nghiệm của nhân loại, các thể chế chính trị dung hợp tôn trọng dân chủ và điều hành hiệu quả các thể chế kinh tế dung hợp Ngược lại các thể chế chính trị khai thác, độc đoán thường hiện diện song hành với các thể chế kinh tế khai thác, chỉ tập trung vào việc tước đoạt tài nguyên, mang lại sự giàu có cho một nhóm nhỏ Trong khi đó, các thể chế kinh tế dung hợp bảo vệ các quyền con người và tự do, cung cấp các dịch vụ công bằng, bình đẳng Nếu các thể chế kinh tế dung hợp đụng phải các thể chế chính trị khai thác thì sớm muộn cũng bị biến đổi, triệt tiêu9
Vì thể chế chính trị có vai trò quan trọng trong việc định hình các hành vi chính trị, cách tiếp cận thể chế thường được sử dụng để giải thích về các hành vi, sự kiện, biến cố chính trị Thể chế và chủ nghĩa thể chế là những công cụ hữu ích cho việc hiểu và cải thiện các hệ thống chính trị
Tuy nhiên, ngoài với tiếp cận thể chế (cấu trúc), còn hai cách tiếp cận phổ biến khác là tiếp cận chủ thể (xem xét vai trò của các tác nhân, chủ thể chính trị - như lãnh đạo, lãnh tụ và quần chúng – tương tác với nhau) và tiếp cận cộng đồng văn hóa (xem xét cộng đồng chính trị với các giá trị, quan điểm, kinh nghiệm và tầm nhìn chung) Cả ba cách tiếp cận này có thể cùng được sử dụng
7 Như trên
8 Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế họach và Đầu tư Việt Nam, Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công
bằng và dân chủ (Báo cáo tổng quan), Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016, tr 92- 93
9 Daron Acemoglu, James A Robinson, Tại sao các quốc gia thất bại (Tái bản lần thứ 6), Nxb.Trẻ, 2016
Trang 44
để bổ sung cho nhau Chẳng hạn, khi đánh giá diễn biến của Cách mạng tháng 10 Nga (1917), hay
sự sụp đổ của Liên Xô (1991) sẽ là thiếu sót nếu chỉ xem xét các yếu tố thể chế (cấu trúc) kinh tế, chính trị, xã hội mà không xem xét đến vai trò cá nhân của V.I.Lênin hay Mikhail Gorbachev
7.1.2 Những thể chế chính trị cơ bản
Nghiên cứu về các thể chế chính trị là một nội dung căn bản của chính trị học Plato, Aristotle và nhiều triết gia về sau đã không ngừng tìm kiếm những loại thể chế chính trị mang lại sự tốt đẹp cho con người và xã hội Trong tác phẩm “Chính trị luận”, Aristotle đã nêu ra hàng loạt câu hỏi như: Đâu là dạng thức tốt nhất cho một cộng đồng chính trị? Nhà nước là gì? Hiến pháp các thành bang có gì khác nhau? Hạnh phúc của cá nhân và nhà nước có mối quan hệ như thế nào10?
Thể chế chính trị là các cấu trúc của một hệ thống chính trị nhằm thực thi công việc cai trị Tham khảo cách định nghĩa của các nhà kinh tế học về thể chế kinh tế, Paul Brooker phân loại các thể chế chính trị thành: các thể chế môi trường (các quy tắc, luật chơi) và các thể chế quản trị (các chủ thể, bao gồm các thể chế tạo lập, áp dụng chính sách) Các thể chế quản trị quan trọng gồm các
tổ chức hành chính quan liêu; các hội đồng, ủy ban và văn phòng; các mạng lưới hình thành chính sách11 Theo cách hiểu này, các thể chế chính trị không chỉ là các quy tắc, luật chơi như cách hiểu của Douglass C North
Rothstein đã xác định có bốn loại thể chế chính trị cần thiết cho cộng đồng theo đuổi các lợi ích của mình Thứ nhất là thể chế cần cho việc quyết định tập thể về các quy định liên quan đến lợi ích chung (thể chế tạo ra quy tắc) Loại thể chế thứ hai cần có để áp dụng các quyết định (các thể chế áp dụng quy tắc) Loại thể chế thứ ba cần có để giải quyết các tranh chấp liên quan đến cách hiểu các quy tắc chung, đã được thiết lập bởi thể chế thứ nhất, trong các trường hợp cụ thể (các thể chế giải thích quy tắc) Cuối cùng, loại thể chế thứ tư có vai trò xử lý, trừng phạt những người vi phạm quy tắc (các thể chế bảo đảm thực thi quy tắc)12
Một số thể chế chính trị cơ bản là nhà nước, hiến pháp, chế độ pháp quyền (thượng tôn pháp luật), chủ nghĩa liên bang, bầu cử, đảng chính trị và xã hội dân sự (civil society) Francis Fukuyama, trong tác phẩm “Nguồn gốc của trật tự chính trị” (2011), đã tập trung phân tích lịch sử phát triển của ba nhóm thể chế chính trị mà ông cho là quan trọng nhất: nhà nước (vai trò tập trung quyền lực), chế độ pháp quyền (vai trò giới hạn quyền lực) và trách nhiệm giải trình (bảo đảm cho quyền lực phục vụ lợi ích của người dân) Theo nhận định khá độc đáo của ông, nhà nước hiện đại (nhà nước “phi cá nhân”, tuyển dụng bộ máy hành chính dựa trên các tiêu chí về chức năng, chứ không
10 Aristotle, Chính trị luận (Nông Duy Trường dịch), Nxb Trí thức, 2018
11 Paul Brooker, Non-Democratic Regimes (Xuất bản lần thứ 3), Nxb Palgrave Macmillan, 2014, tr.150
12 Bo Rothstein, Chapter 4- Political Institutions: A Overview, trong Robert E Goodin và Hans-Dieter
Klingemann (biên tập), “A New Handbooks of Political Science”, Nxb ĐH Oxford, 1996, tr.133
Trang 55
phải do nhà vua lựa chọn dựa trên sự thân quen, dòng tộc) đầu tiên xuất hiện tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ III tr.CN, khi nhà Hán bắt đầu tổ chức các cuộc thi tuyển quan lại Cạnh đó, trách nhiệm giải trình không chỉ bao gồm những khía cạnh thủ tục như sự giám sát của nghị viện đối với nhà vua (như xuất hiện ở nước Anh từ thế kỷ XVII) hay bầu cử, mà có cả khía cạnh mang tính đạo đức (như việc đào tạo đề cao các nghĩa vụ, trách nhiệm trước dân chúng đối với các vị vua và quan lại ở Đông Á)13
Ngoài các thể chế tồn tại trong phạm vi mỗi quốc gia còn có các thể chế quốc tế, các thể chế xuyên quốc gia Đó có thể là các tổ chức liên chính phủ (toàn cầu hay khu vực) như Liên hợp quốc,
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Liên minh Châu Âu (EU), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), hoặc tổ chức phi chính phủ Các thể chế quốc tế này có thể đặt ra các quy tắc buộc các thành viên phải tuân thủ, qua
đó, chúng phần nào hạn chế chủ quyền của các quốc gia
Xuất phát từ các bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử, cũng như do sự sáng suốt, lựa chọn của con người, sự khác biệt về thể chế chính trị giữa các quốc gia là rất lớn Một số ví dụ về sự
đa dạng của thể chế chính trị giữa các nước là:
- Hình thức chính thể: đại nghị - tổng thống;
- Hình thức cấu trúc: đơn nhất - liên bang;
- Cơ quan lập pháp: một viện - lưỡng viện;
- Hệ thống đảng: một đảng - hai đảng - đa đảng;
- Hệ thống bầu cử: đại diện theo tỷ lệ và đa số;
Sự khác biệt về thể chế chính trị cũng rất lớn giữa các quốc gia dân chủ và chuyên chế Theo Robert Dahl, một nền dân chủ cần có các thể chế như bầu cử tự do, công bằng và định kỳ, quyền tự
do biểu đạt, các nguồn thông tin đa dạng, quyền tự chủ của các tổ chức, quyền công dân Trong khi
đó, có nhận xét rằng các chế độ phi dân chủ thường duy trì các quy tắc chính thức trong hiến pháp
và pháp luật, nhưng lại dựa vào các quy phạm không chính thức của chế độ để giới hạn cách thức
mà các quy tắc hiến pháp, pháp luật đó được giải thích và áp dụng, đôi khi giả vờ áp dụng giống như đóng kịch, hoặc thậm chí bỏ qua các quy tắc chính thức (hình thức)14
Như vậy, vai trò của mỗi loại thể chế ở các nước là khác nhau Việc hiện diện cùng loại thể chế ở các quốc gia khác nhau không có nghĩa là các thể chế đó có cùng quyền năng, giá trị Chẳng hạn như các đảng chính trị có vị trí, vai trò, ảnh hưởng rất khác ở một nước phương Tây so với ở Trung Quốc
13 Francis Fukuyama, Nguồn gốc của trật tự chính trị, Nguyễn Khắc Giang dịch, Nxb Tri thức, 2021
14 Paul Brooker, Non-Democratic Regimes (Xuất bản lần thứ 3), Nxb Palgrave Macmillan, 2014, tr.150
Trang 66
Do tầm quan trọng của chúng, hoàn thiện, cải cách thể chế nói chung, cải cách thể chế chính trị nói riêng, là yêu cầu đặt ra với mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và chuyển đổi, bao gồm cả Việt Nam15 Một số rào cản thể chế đối với sự phát triển tại Việt Nam đã được chỉ
ra trong một nghiên cứu bao gồm: “tình trạng tham gia quá nhiều của nhà nước vào hoạt động kinh tế; tình trạng quyền lực nhà nước bị cát cứ, manh mún; sự thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu trong bộ máy chính quyền; sự hạn chế về trọng lượng tiếng nói của dân chúng, cũng như sự tham gia rất hạn chế của người dân trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách” 16 Các thể chế này cần được cải thiện mới có thể tăng cường năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước, tạo nên một trụ cột vững chắc, cùng với hai trụ cột khác (kinh tế thịnh vượng và xã hội công bằng) góp phần hình thành nên một tương lai tốt đẹp
Như đã đề cập ở trên, có nhiều thể chế chính trị khác nhau, trong số các thể chế đó, nhà nước - thực thể chính trị, pháp lý có chủ quyền trên một phạm vi lãnh thổ - luôn có vai trò trung tâm Cạnh đó, một số thể chế chính trị khác được thảo luận kỹ tại các chương khác nhau trong giáo trình này nên Chương này sẽ chỉ tập trung vào thể chế nhà nước trong mục tiếp theo
7.2 Nhà nước – thể chế chính trị trung tâm
7.2.1 Khái niệm nhà nước
Tầm quan trọng của nhà nước khó có thể bị bác bỏ Thế giới chúng ta đang sống chịu ảnh hưởng bao trùm bởi các nhà nước Từ việc đăng ký khai sinh đến khai tử, đăng ký kết hôn, nộp thuế, sử dụng hộ chiếu để đi lại giữa các quốc gia, đời sống cá nhân đều liên quan đến nhà nước Tuy vậy, việc tìm ra một định nghĩa chung, hay xác định các thuộc tính, bản chất của nhà nước là việc không dễ dàng
Thuật ngữ “nhà nước” trong nhiều ngôn ngữ châu Âu có nét tương đồng (“state” trong tiếng Anh, “stato” trong tiếng Ý, “estado” trong tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, “état” trong tiếng Pháp, “Staat” trong tiếng Đức), và được cho là cùng bắt nguồn từ từ gốc Latinh “status”, nghĩa là điều kiện, hoàn cảnh
Nhà nước là một thực thể chính trị, pháp lý có chủ quyền trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Dù có những cách định nghĩa, tiếp cận về nhà nước khác nhau, một số thành tố căn bản cấu thành nhà nước đã được công nhận tương đối rộng rãi Bốn thành tố, hay còn được gọi là bốn đặc điểm, đó là:
- Lãnh thổ: các nhà nước đều có một lãnh thổ với biên giới xác định;
15 Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 - Các thể chế hiện đại, Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư
vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 2009
16 Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế họach và Đầu tư Việt Nam, Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công
bằng và dân chủ (Báo cáo tổng quan), Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016, tr 98
Trang 77
- Dân cư: mỗi nhà nước đều có một số lượng dân cư với sự ổn định tương đối;
- Chính quyền: mỗi nhà nước đều có một chính quyền trung ương;
- Chủ quyền: các nhà nước đều có chủ quyền, đảm bảo khả năng tự quyết, không bị can thiệp từ bên ngoài vào các công việc nội bộ
Ngoài các thành tố trên, một số thành tố khác cũng được nhắc đến Chẳng hạn như sự công nhận của các quốc gia khác, hay quyền lực sử dụng bạo lực một cách chính đáng để duy trì trật tự (M.Weber)
Trong số bốn thành tố căn bản nêu trên, chủ quyền được coi là “đặc tính nổi bật của nhà nước hiện đại” và là “khái niệm then chốt trong sự phát triển về mặt lịch sử của tư tưởng chính trị hiện đại”17 Các nhà tư tưởng như Jean Bodin (1530-1596) và William Blackstone (1723 -1780) đã
có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của khái niệm này Chủ quyền thường được phân chia theo hai cách, thành chủ quyền pháp lý và chủ quyền chính trị, hoặc chủ quyền nội bộ và chủ quyền đối ngoại Chủ quyền pháp lý khẳng định thẩm quyền pháp lý tối cao bên trong một cộng đồng chính trị, trong khi chủ quyền chính trị khẳng định vị trí tối cao của nhà nước trong việc thực thi sức mạnh cưỡng chế18
Đã có nhiều lý thuyết khác nhau giải thích nguồn gốc, sự xuất hiện của nhà nước Bên cạnh quan điểm nhấn mạnh vai trò của quyền tư hữu, sự hình thành các giai cấp và phát triển thương mại,
có quan điểm lý giải động cơ hình thành nhà nước là để bảo vệ an toàn cá nhân trong hoàn cảnh chiến tranh, hay từ nhu cầu cần có thể chế để làm trọng tài, giải quyết các tranh chấp, hoặc để có thể huy động, tập trung dân cư canh tác nông nghiệp
Có nhiều cách để phân loại các nhà nước Có thể phân loại theo hình thức cấu trúc (nhà nước liên bang hay đơn nhất), hoặc theo hình thức chính thể (nhà nước cộng hòa hay quân chủ); cũng có thể phân loại nhà nước theo mức độ dân chủ (nhà nước dân chủ hay chuyên chế, độc tài)
7.2.2 Vai trò chính trị của nhà nước
Vai trò của nhà nước đã gây tranh cãi trong suốt lịch sử nhân loại, giữa các lý thuyết gia, cũng như giữa các chính trị gia Xuất phát từ những quan niệm về vai trò của nhà nước, đã có nhiều
mô hình tồn tại trong lịch sử: nhà nước như người gác đêm, nhà nước tối thiểu, nhà nước kiến tạo phát triển, nhà nước dân chủ xã hội, nhà nước tập thể hóa, nhà nước toàn trị Các quan niệm về vai trò nhà nước đã có sự dao động từ tối thiểu (chủ nghĩa vô chính phủ) đến tối đa, bao trùm toàn bộ đời sống xã hội (chủ nghĩa toàn trị)
17 Tudor Jones, Các nhà tư tưởng và các ý tưởng chính trị hiện đại: Một dẫn nhập lịch sử, Nhóm tinh thần khai minh
dịch, Nxb Trí thức, tr.33
18 Như trên, tr.37-38
Trang 88
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin, chức năng của nhà nước
đã có sự thay đổi đáng kể Tuy vậy, tính chính trị của các hoạt động nhà nước dường như không thay đổi Hoạt động của các cơ quan công quyền luôn gắn với quyền lực công, cũng như trực tiếp hay gián tiếp hướng đến duy trì, củng cố quyền lực của bản thân nhà nước và lực lượng cầm quyền
Đối với dân chủ, nhà nước có vai trò tiền đề quan trọng Sự xuất hiện của dân chủ thông thường đã đòi hỏi sự hiện diện của nhà nước, hầu hết các cuộc chuyển đổi tử chuyên chế sang dân chủ diễn ra ở nơi đã có nhà nước Nhà nước đã được nhận định là “một phần thưởng trong chính trị”19 Bởi lẽ, tranh chấp nhằm chiếm được vị trí kiểm soát nhà nước luôn dẫn đến sự đối đầu giữa các chủ thể chính trị Nhiều trường hợp đó là sự đối đầu chính trị giữa một bên là những người thúc đẩy dân chủ, một bên là những kẻ bảo vệ chế độ cũ
Các thể chế nhà nước có ảnh hưởng đáng kể đối với sự tham gia của người dân vào lĩnh vực công Trong số các điều kiện của dân chủ, theo Micheal J.Sodaro, các thể chế nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu Dưới nhiều chế độ chuyên chế, các thể chế nhà nước đóng vai trò là “lò ấp” của dân chủ20 Như tại nước Anh trong thế kỷ XIII, Nghị viện đã trở thành “vũ khí thể chế” để tầng lớp tinh hoa gây áp lực, đấu tranh đòi hỏi giới hạn quyền lực của hoàng tộc
Trong xã hội hiện đại, khuôn khổ pháp luật do cơ quan lập pháp có vai trò chính yếu trong việc xây dựng nên có vai trò thiết yếu cho sự vận hành của bản thân bộ máy nhà nước và các chủ thể đa dạng của xã hội Tại các quốc gia, pháp luật về bầu cử, thành lập và hoạt động của các hiệp hội, đảng chính trị, các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp, lập hội…chính là khuôn khổ của sân chơi bình đẳng cho các chủ thể chính trị, giống như thị trường là sân chơi của các doanh nghiệp Cơ quan hành pháp có vai trò bảo đảm cho việc thực thi pháp luật, các quy tắc chung đó trong thực tiễn Cơ quan tư pháp có vai trò giải thích các quy tắc, giải quyết các tranh chấp xảy ra liên quan đến cách hiểu, việc thực thi các quy tắc Nếu không có sự độc lập, các tòa án không thể đảm nhiệm được vai trò quan trọng này Đôi khi, phán quyết của tòa án giải quyết tranh chấp trong tiến trình bầu cử có vai trò quyết định chính trị gia nào là người thắng cử
Các thể chế nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo lập các thể chế kinh tế, xã hội và văn hóa, nhất là các quy tắc, quy định liên quan đến các lĩnh vực này Chẳng hạn, các thể chế kinh
tế bao gồm các quy tắc, quy định về sở hữu, kinh doanh và đầu tư, các chủ thể kinh tế, cũng như thủ tục, phương thức tổ chức, thực thi pháp luật kinh doanh Nếu không tạo lập được khuôn khổ pháp luật tốt bảo vệ sở hữu, thực thi các hoạt động đầu tư, kinh doanh, bảo vệ và tổ chức khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, sẽ không thể có được môi trường kinh doanh bình đẳng, thu
19 Michael J.Sodaro, Comparative Politics: A Global Introduction (Second edition), Nxb McGraw Hill, 2004,
tr.208-209
20 Như trên, tr.209
Trang 99
hút các nhà đầu tư Không có sự phát triển kinh tế, tạo việc làm và mang lại sự thịnh vượng cho người dân, bản thân tính chính danh của lực lượng cầm quyền sẽ bị tổn hại Thông qua các quyết định chính trị, các thể chế nhà nước phân phối các lợi ích kinh tế21
Trong những bối cảnh tiêu cực, các thể chế nhà nước trở thành những kẻ thù của dân chủ, tự
do, thịnh vượng và tiến bộ xã hội Cơ quan lập pháp tại các chế độ chuyên chế, độc tài đã thông qua các đạo luật giới hạn, triệt tiêu không gian của các đối thủ chính trị, tước đoạt tự do ngôn luận, hội họp, lập hội của người dân khiến họ không còn các phương tiện chính trị, cũng như gây tổn hại cho
sự tự chủ và nhân phẩm của mỗi cá nhân Bộ máy hành pháp, hành chính, cũng như các tòa án, đặt
ưu tiên hàng đầu vào việc loại trừ, gạt bỏ, hạ thấp uy tín của các đối thủ chính trị Sự thiếu độc lập,
tự chủ là đặc trưng của tòa án tại các quốc gia chuyên chế Cạnh đó, để duy trì tính chính danh, thúc đẩy kinh tế, thương mại và xã hội, các cơ quan hành chính và tòa án cũng có thể có được mức độ tự chủ trong giới hạn
Trong khi các tòa án có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với chính trị, đã được gọi là xu hướng
“tư pháp hóa chính trị”, năm chức năng cơ bản của các tòa án trong các chế độ chuyên chế đã được chỉ ra là: i) Thiết lập sự kiểm soát xã hội và gạt các đối thủ chính trị ra ngoài lề; ii) Củng cố tính chính danh “hợp pháp” của chế độ; iii) Tăng cường sự tuân thủ của cơ quan hành chính trong bộ máy quan liêu của chính quyền và giải quyết vấn đề phối hợp giữa các phe phái cạnh tranh nhau trong phạm vi chế độ; iv) Tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư; và v) Áp dụng các chính sách có thể gây tranh cãi, chừng nào chúng vẫn giữ khoảng cách chính trị với các yếu tố cốt lõi của chế
độ22
Dưới chế độ Đức quốc xã (1933 – 1945), cả bộ máy nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, hành chính, đều tập trung phục vụ các mục tiêu chính trị của Hilter và Đảng Quốc xã (NSDAP) đặt ra Báo chí chỉ được phép viết về những nội dung mà Bộ Tuyên truyền yêu cầu, các hội đoàn phải thông báo cho Bộ này về những người có tư tưởng khác biệt Bộ Giáo dục tổ chức viết lại chương trình, sách giáo khoa nhằm xuyên tạc lịch sử, truyền bá tư tưởng phân biệt chủng tộc, sùng bái cá nhân và tham vọng bành trướng lãnh thổ Bộ Chiến tranh và Bộ Ngoại giao tập trung cho việc chuẩn bị và tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược Luật pháp cho phép bãi nhiệm mọi công chức và thẩm phán vì lý do “không đáng tin cậy về chính trị” Các tòa án thường xuyên bị can thiệp, các phiên tòa có thể bị hủy bỏ, bản án đối với những người chống đối đảng, lãnh đạo
21 Ở đây có thể nói, nhiều khía cạnh của kinh tế là chính trị V.I.Lênin từng cho rằng “Chính trị là sự thể hiện tập trung
của kinh tế”, và “Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại” V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tập 45,
tr.147
22 Tom Ginsburg, Tamir Moustafa, Rule By Law: The Politics of Courts in Authoritarian Regimes, Nxb Đại học
Cambridge, 2008, tr.4
Trang 1010
hoặc nhà nước đều phải được xét duyệt lại để bảo đảm sự “hành động không khoan nhượng” hoặc mức án bị điều chỉnh23
Cho dù có sự đa dạng của các chủ thể, nhà nước luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống chính trị quốc gia Theo những cách tích cực hoặc tiêu cực, các thể chế nhà nước đã và đang có tiếng nói chủ chốt định hình không gian chính trị cho các chủ thể đa dạng trong xã hội
7.2.3 Mối quan hệ dân sự và quân sự
Để bảo vệ quốc gia trước sự tấn công của ngoại bang, cũng như tiến hành các cuộc chiến tranh, các nhà nước thành lập và duy trì lực lượng quân đội Trên thế giới, Bộ quốc phòng luôn là một trong những bộ quan trọng nhất, dành được nhiều nguồn lực trong chính phủ Các nghị viện cũng có ủy ban quốc phòng (quân vụ) để theo dõi lĩnh vực này Chính sách quốc phòng của quốc gia luôn là một chủ đề được quan tâm và gây tranh cãi trong giới chính trị gia và công chúng
Trừ một vài ngoại lệ, như Vatican hay Puerto Rico (hiện nay không có lực lượng quân đội riêng), các quốc gia đều nỗ lực xây dựng lực lượng quốc phòng hùng mạnh Trong lịch sử, sức mạnh của quốc gia thường được đo bằng sức mạnh của quân đội và quân sự Từ thời Hy Lạp cổ đại, Plato đã rất đề cao vai trò của tầng lớp “vệ quốc” trong tác phẩm “Cộng hòa” Ở Trung Quốc cổ đại, trong tác phẩm “Binh pháp Tôn Tử”, Tôn Vũ đã nhận định “binh là việc lớn của nước”, nước yên hay nguy là nhờ đến quân đội
Quân đội là một thể chế chính trị đặc biệt, có nhiều đặc trưng khác với các tổ chức dân sự Nổi bật nhất là khả năng độc quyền sử dụng vũ khí hạng nặng và năng lực cưỡng chế mạnh mẽ của quân đội Cạnh đó, quân đội luôn được tổ chức chặt chẽ, có tính kỷ luật, phục tùng cao, khả năng hành động, phản ứng nhanh chóng Tại nhiều quốc gia, quân sự thường được coi là “đứng trên”,
“đứng ngoài” chính trị, theo nghĩa quân đội có vai trò bảo vệ an ninh và sự toàn vẹn của nhà nước, bảo vệ lợi ích của toàn bộ quốc gia, chứ không vì lợi ích của một phe phái nào Tuy nhiên, điều này cũng không loại trừ nguy cơ quân sự can thiệp vào chính trị, đặc biệt là khi giới quân nhân cho rằng lợi ích của quốc gia bị đe dọa24
Chịu ảnh hưởng bởi các bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa khác nhau, quân đội các nước có văn hóa quân sự và những đặc điểm khác nhau Tại một số nước, quân đội có tính chuyên nghiệp Tại các nước khác, việc tham gia quân đội là bắt buộc đối với mọi công dân đến độ tuổi nhập ngũ Nhìn chung, các vai trò chính của quân đội đã được nhắc đến là:
- Một công cụ tiến hành chiến tranh;
23 Jacques Delarue, Lịch sử Gestapo, Nxb Công an Nhân dân, 2003, trang 129; William L.Shirer, Sự trỗi dậy và
suy tàn của Đế chế thứ ba - Lịch sử Đức Quốc xã, Nxb Thông tin và truyền thông, 2019, tr.391-403, 417-419
24 Andrew Heywood, Politics (Third edition), Nxb Palgrave Macmillan, 2007, tr.402