1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận môn luật hiến pháp so sánh so sánh chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013

15 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 319 KB
File đính kèm Tieu luan ket thuc mon hoc LHPSS.rar (161 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, so sánh chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013, từ đó nêu lên quan điểm về nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt của chế định so sánh. 2.2. Mục tiêu cụ thể Xác định chế định của Nghị viện (Quốc hội) được quy định trong Hiến pháp hiện hành của mỗi quốc gia. So sánh chế định Nghị viện (Quốc hội), qua đó đánh giá và nêu lên được quan điểm về những điểm tương đồng và khác biệt của chế định so sánh

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HIẾN PHÁP SO SÁNH

SO SÁNH CHẾ ĐỊNH NGHỊ VIỆN CỦA HIẾN PHÁP NHẬT BẢN NĂM 1946

VỚI CHẾ ĐỊNH QUỐC HỘI CỦA HIẾN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013

Ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã ngành: 8380102

Họ và tên học viên: Nguyễn Trường Huyến

Mã số học viên: 911420055

Mã lớp: CH20LHP_BL9_2, khóa 9, đợt 2, năm 2020

GVHD: TS Nguyễn Thị Phương Hà

ISO 9001:2015

Trang 2

TRÀ VINH, NĂM 2021

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của tiểu luận

Có nhiều quan điểm và định nghĩa về Hiến pháp Tuy nhiên, hiểu một cách khái quát, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân

Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với hiến pháp Vị trí tối cao của hiến pháp là do nó phản ánh sâu sắc nhất chủ quyền của nhân dân và về nguyên

tắc phải do nhân dân thông qua (qua hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu ý

dân) Điều này khác với các đạo luật bình thường chỉ do quốc hội (nghị viện) gồm những

người đại diện do dân bầu và uỷ quyền xây dựng

Đại đa số Hiến pháp các nước (nếu không nói là tất cả) đều có một chương riêng quy định về Nghị viện (Quốc hội) Những quy định này là cơ sở để Nghị viện các nước ban

hành các luật, bản nội quy về tổ chức, hoạt động, quy trình làm việc của Nghị viện Với tính chất là đạo luật cơ bản của nhà nước, Hiến pháp các nước quy định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện, chức năng của Nghị viện, quy trình lập pháp, quy trình lập ngân sách, quyền và trách nhiệm của nghị sĩ

Khi mới xuất hiện, nghị viện chỉ là cơ quan giúp việc cho nhà vua sau đó thực sự có

ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác Mặc dù phải chia sẻ quyền lực nhà nước với giai cấp phong kiến, nhưng nghị viện – cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra có một ưu thế nhất định so với các cơ quan nhà nước khác

Theo lịch sử, sự phát triển nghị viện được phát triển theo bốn giai đoạn ứng với các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Bốn giai đoạn này cũng hình thành nên bốn mô hình của Quốc hội

- Thời kỳ của chế độ phong kiến, Quốc hội mới được hình thành chỉ là cơ quan giúp việc cho nhà vua

- Thời kỳ đầu chủ nghĩa tư bản – tư bản tự do cạnh tranh – là thời kỳ hoàng kim của nghị viện Nghị viện thật sự có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác Mặc dù lúc bấy

Trang 3

giờ có nhiều nước quyền lực nhà nước phải chia sẻ nhưng nghị viện vẫn có một ưu thế nhất định so với các cơ quan nhà nước khác

- Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thành chủ nghĩa đế quốc, chế

độ đại nghị bị khủng hoảng do sự lấn quyền của bộ máy hành pháp và nghị viện tư sản đã trở thành cơ quan hình thức, nơi bị bộ máy hành pháp thao túng Nghị viện trở thành nơi hợp lý hóa các quyết định đã rồi của các thế lực cầm quyền

- Hiện nay mặc dù nghị viện không còn vị trí pháp lý tối cao một cách tuyệt đối như thời hoàng kim như trước đây nhưng nó vẫn còn có một chỗ đứng xứng đáng nhất định không thể thiếu được trong hệ thống bộ máy nhà nước tư sản, được gọi với thuật ngữ là

“Nghị viện với vị trí hợp lý hóa” So với các cơ quan khác trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước của từng quốc gia, nghị viện có những đặc điểm rất đặc thù Trước hết, viện trong trong tất cả các cơ quan hợp thành bộ máy nhà nước của các chế độ tư bản và đang phát triển thành tư bản, nghị viện là cơ quan duy nhất đại diện do nhân dân với đủ các tầng lớp cư dân thành lập ra bằng phương pháp bầu cử Vì vậy khác với đại đa số các cơ quan nhà nước khác, nghị viện là cơ quan duy nhất có thành phần không thống nhất, chứa đựng trong mình các quan điểm và quyền lợi rất khác nhau, thậm chí còn là đối lập Nghị viện trở thành một thiết chế không thể thiếu được trong chế độ dân chủ Hay nói cách khác, tổ chức và hoạt động của quốc hội trở thành một tiêu chí của dân chủ

Quyền lập pháp được hình thành như là một trong ba quyền cơ bản: Lập pháp, hành pháp, tư pháp cùng được tổ chức và hoạt động cấu thành nên hoạt động của nhà nước So với các nhánh quyền lực hành pháp và tư pháp thì quyền lập pháp vẫn có những điểm mạnh hơn vì nó gắn với dân chủ nhiều hơn các quyền còn lại

Trước hết, quyền lập pháp này do các đại diện được nhân dân trực tiếp bầu ra, do vậy chức năng đại diện cho nhân dân là một trong những đặc trưng quan trọng của nghị viện Và sau đây là thành phần của lập pháp luôn luôn là những đại diện đông đảo hơn của hành pháp và tư pháp

Quyền lập pháp thuở ban đầu được dùng để chỉ các hành vi thảo luận và ban hành các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật, quyền này còn được gọi là quyền làm luật (ra luật), nhưng sau đó theo thời gian quyền làm luật được mở rộng sang các lĩnh vực khác như: giám sát, thành lập chính phủ - hành pháp, bỏ phiếu tín nhiệm hành pháp, thậm chí còn là xét xử cả các quan chức cao cấp… Tất cả những hành vi nói trên đều được hiểu trong phạm vi của quyền lập pháp, quyền của cơ quan được thành lập từ sự ủy thác của cử

Trang 4

tri, quyền này ngang ngửa và đối trọng với các quyền hành pháp và tư pháp.

Ngày nay, Quốc hội (nghị viện) đều thực hiện chức năng đại diện cho mọi tầng lớp

nhân dân của mình, bảo đảm cho việc bảo vệ các quyền lợi khác nhau trong mọi tầng lớp

xã hội của quốc gia, sau đó là chức năng giám sát hoạt động các cơ quan nhà nước, mà trong bộ máy nhà nước hiện đại không một cơ quan tổ chức nào có thể thực hiện được

Bên cạnh đó trước sau Quốc hội vẫn giữ vững chức năng lập pháp và thông qua ngân sách của mình Đó cũng là một trong nhiều chức năng vốn có của Quốc hội mà cũng không thể có cơ quan nhà nước nào thay thế được

Từ những phân tích trên, cho thấy việc so sánh chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có thể giúp hiểu rõ hơn chức năng của Hiến pháp, các thể chế Hiến pháp và các quan niệm Hiến pháp…Đặc biệt hiểu rõ hơn về chế định Nghị viện, chế định Quốc hội của Hiến pháp mỗi quốc gia, cụ thể trong phạm vi tiểu luận này là Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 và Hiến pháp Việt Nam năm 2013

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, so sánh chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013, từ đó nêu lên quan điểm về nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt của chế định so sánh

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định chế định của Nghị viện (Quốc hội) được quy định trong Hiến pháp hiện

hành của mỗi quốc gia

- So sánh chế định Nghị viện (Quốc hội), qua đó đánh giá và nêu lên được quan

điểm về những điểm tương đồng và khác biệt của chế định so sánh

3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến tiểu luận

Đã có một số bài viết trên các tạp chí, báo như:

- Bùi Ngọc Sơn (2014) “Luật hiến pháp so sánh trong thời đại toàn cầu hóa”,Tạp chí

nghiên cứu lập pháp,

[http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/207851/Luat-hien-phap-so-sanh-trong-thoi-dai-toan-cau-hoa.html] (truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2021).

Trang 5

- Nguyễn Ngọc Nghiệp và Nguyễn Tuấn Việt, (2021) “Vai trò của hiến pháp trong

việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân - Khảo sát trường hợp Nhật Bản”, Viện

Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, [https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/Vai-tro-cua-hien-phap-trong-viec-131] (truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2021).

- Trên các tạp chí, báo của một số tác giả có đề cập đến một số vấn đề liên quan đến

chủ đề này (phạm vi rất ít) Chưa đi sâu vào so sánh, đánh giá những điểm tương đồng và

khác biệt giữa chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp; thống

kê, so sánh; phân loại; phương pháp lịch sử

5 Phạm vi giới hạn tiểu luận

Trong phạm vi Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, Hiến pháp Việt Nam năm 2013, tập

trung nghiên cứu các vấn đề chế định Nghị viện (Quốc hội) Các thông tin được sử dụng

để nghiên cứu tập trung vào hai bản Hiến pháp nói trên

6 Đối tượng nghiên cứu

- Các chương, điều trong Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, tập trung vào chế định Nghị viện

- Các chương điều trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013, tập trung vào chế định Quốc hội

7 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần chính của luận văn gồm

có 2 chương:

Chương 1: Tổng quan về Hiến pháp Nhật Bản năm 1946

Chương 2: Những điểm tương đồng và khác biệt giữa chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIẾN PHÁP NHẬT BẢN NĂM 1946

1.1 Tổng quan về Hiến pháp Nhật Bản năm 1946

1.1.1 Bối cảnh

Trước khi Nhật đầu hàng Đồng minh (15/8/1945), Tuyên bố Postdam ra đời, trong

đó có đoạn: “Nhà nước Nhật phải gỡ bỏ mọi cản trở cản trở các xu hướng dân chủ trong nhân dân Nhật Tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do tư tưởng cũng như sự tôn trọng nhân quyền phải được thiết lập” Bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai đồng nghĩa với việc Nhật sẽ phải chịu sự chiếm đóng của quân Đồng minh Do đó, từ năm 1945 – 1952, Nhật chịu sự chiếm đóng của quân đội Mỹ, đứng đầu là Douglas MacArthur – Tư lệnh Tối Cao của các Lực lượng Đồng minh

Tại Hội nghị Potsdam, Douglas MacArthur cho rằng: Để đạt được mục đích dân chủ hóa nước Nhật thì nhất thiết phải sửa đổi Hiến pháp Minh Trị 1889

Theo đó, sau khi xem xét lại Hiến pháp Minh Trị, tháng 2/1946, phía Nhật Bản viết ra một

dự thảo hiến pháp, nhưng Douglas MacArthur không chấp nhận, coi đó là “bình cũ rượu pha” của Hiến pháp Minh Trị, không đáp ứng nhu cầu dân chủ hóa nước Nhật Cuối cùng ông đã ra lệnh cho văn phòng của mình thảo ra một bản hiến pháp hoàn toàn mới sao cho kịp xong trước phiên họp ngày 26/2/1946 của quân Đồng minh bởi ông không muốn

sự can thiệp của Liên Xô và các nước đế quốc khác nhúng tay vào nội tình Nhật Bản Cuối cùng, bản hiến pháp mới đã được thảo ra chỉ trong vòng một tuần bởi một hội đồng gồm

25 người Ba người trực tiếp chấp bút cho bản dự thảo hiến pháp này là thiếu tướng Courtney Whitney, trung tá kiêm luật sư Milo Rowell, nữ thông dịch viên Beate Sirota Gordon

Cuối cùng, sau những buổi bàn thảo quyết liệt vào tháng 3/1946, phía Nhật Bản cuối cùng đã chấp nhận dự thảo hiến pháp do phía Mỹ soạn Tướng Whitney còn nói rằng nếu nội các Nhật không có khả năng đưa ra một quyết định thích hợp, tướng MacActhur sẽ đem bản dự thảo này ra trưng cầu dân ý Thiên hoàng lúc bấy giờ là Hirohito, tuy không còn quyền hành nhưng đã viết thư trả lời chính thức ủng hộ hiến pháp mới Trong bản hiến

Trang 7

pháp năm 1946 này, Nhật hoàng được coi là biểu tượng của nhà nước và đoàn kết toàn dân, song đã bị tước mọi quyền hành thực Mọi hành vi của Nhật hoàng liên quan tới nhà nước phải được sự chấp thuận của nội các chính phủ do thủ tướng đứng đầu Một cấu trúc lập pháp quốc hội lưỡng viện được thành lập, trong đó thượng viện đóng vai trò thứ yếu Trừ hoàng gia Nhật, mọi quyền lợi của quý tộc khanh tướng bị bãi bỏ hoàn toàn Mùa thu năm 1946, đại đa số nhân dân Nhật Bản đã bỏ phiếu ủng hộ các đại biểu tán thành bản hiến pháp mới

Ngày 3 tháng 11 năm 1946, Hiến pháp mới của Nhật chính thức được Thiên hoàng công bố, và có hiệu lực vào 3/5/1947 (năm Showa thứ 22)

1.1.2 Về cấu trúc của bản hiến pháp

Gồm lời nói đầu, 11 chương, 103 điều khoản, cụ thể:

- Lời nói đầu: Nói về việc ai tạo ra hiến pháp và nguyên tắc chung trong việc xây dựng hiến pháp Điểm nhấn ở đây là ở hiến pháp này, nhân dân trở thành nền tảng, cơ sở trong việc xây dựng hiến pháp Hơn nữa, nhân dân Nhật Bản cam kết ủng hộ lí tưởng hòa bình “Nhân dân Nhật Bản mong muốn hòa bình vĩnh viễn… Chúng ta mong muốn có được một vị trí đáng kính trọng trong cộng đồng quốc tế đang ra sức duy trì hòa bình và loại bỏ vĩnh viễn chế độ chuyên chế và nô lệ, áp bức và bất công ra khỏi trái đất”

- Nội dung cơ bản của các chương như sau:

+ Thiên Hoàng (1-8): Thiên hoàng là biểu tượng của quốc gia và sự thống nhất của dân tộc Mọi hoạt động của Hoàng đế phải diễn ra trong khuôn khổ của hiến pháp

+ Từ bỏ chiến tranh (9): Nhật Bản phủ nhận vĩnh viễn chiến tranh như là một quyền tối cao của đất nước, từ bỏ đe doạ hoặc sử dụng vũ lực làm phương tiện giải quyết tranh chấp với các quốc gia khác

+ Quyền và nghĩa vụ của công dân (10-40): Công nhận quyền tự do, bình đẳng, yêu cầu, chính trị của dân Các quyền cơ bản của con người được hiến pháp đảm bảo và là những quyền vĩnh viễn và bất khả xâm phạm

Bên cạnh đó, người dân cũng phải thực hiện các nghĩa vụ như đóng thuế, không được tước đoạt quyền tự do,…

Trang 8

+ Quốc hội (41-64): Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp Quốc hội có 2 viện là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện, trong đó Hạ nghị viện có thẩm quyền hơn Thượng nghị viện

+ Nội các (65-75): Nội các thực hiện quyền hành pháp, chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội Đây là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của chính phủ, lập ra chính sách

và kế hoạch của chính phủ, chỉ đạo các Bộ, quản lý công tác đối nội và đối ngoại, nộp các

đề nghị về lập pháp lên Quốc hội nhân danh tiểu ban thực hiện

+ Tư pháp (76-82): Quyền tư pháp do Toà án tối cao và các Toà án cấp dưới sử dụng Toà án tối cao có quyền quyết định cuối cùng tính hợp hiến của các đạo luật và các văn bản quy phạm

+ Tài chính (83-91): Quyền quản lí tài chính quốc gia thực hiện theo quyết định của Quốc hội

+ Tự trị địa phương (92-95): Chế độ tự quản địa phương được thiết lập rộng rãi Các quan chức địa phương đều do dân cử và có nhiều quyền hạn hơn trong thuế và pháp luật

+ Sửa đổi Hiến pháp (96): Việc sửa đổi Hiến pháp thì một mình Quốc hội không thể làm được mà quốc dân phải bỏ phiếu tán thành hay phản đối

+ Đạo luật tối cao (97-99): Hiến pháp này chính là “đạo luật tối cao”, do đó Thiên hoàng, bộ trưởng, nghị viện quốc hội, thẩm phán, tất cả đều phải có nghĩa vụ tuân theo hiến pháp này

+ Điều khoản bổ sung (100-103)

1.1.3 Hiến pháp được xây dựng dựa trên nguyên tắc

- Dân chủ: Tức là dân làm chủ, toàn dân trị nước, dân có quyền quyết định trị nước,

và Quốc hội chính là đại diện cho quốc dân, do dân bầu ra Vì vậy, Quốc hội chính là người thay mặt quốc dân để quyết định việc nước Đây gọi là “dân chủ theo chế độ đại biểu” Một kiểu dân chủ nữa là “dân chủ trực tiếp” Trong hiến pháp lần này có giả sử nếu như có sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể quyết định được mà phải bỏ phiếu để biết từng người dân phản đối hay đồng ý Khi đó, quốc dân trực tiếp quyết định việc nước vì vậy đây được gọi là cách làm “dân chủ trực tiếp” Hiến pháp mới chọn hai

Trang 9

cách trị nước là dân chủ theo chế độ đại biểu và dân chủ trực tiếp nhưng chủ yếu là dân chủ theo chế độ đại biểu, dân chủ trực tiếp chỉ giới hạn trong những việc quan trọng nhất

Như vậy, với Hiến pháp này, quyền lực của Thiên hoàng bị hạn chế, và quyền tối thượng từ Thiên hoàng sang tay Quốc hội – cơ quan của nhân dân thông qua bầu cử Lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, quyền tối ca thuộc về nhân dân, Thiên hoàng chỉ đóng vai trò tượng trưng cho đất nước Đây là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất Vai trò của Thiên hoàng đơn giản chỉ là biểu tượng của quốc gia và tượng trưng cho sự thống nhất dân tộc

- Hòa bình: Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở phủ định khuynh hướng quân phiệt, xâm lược trong quá khứ và quán triệt nguyên tắc hòa bình Điều 9 của Hiến pháp quy định Nhật Bản từ bỏ chiến tranh, mong muốn một nền hòa bình, an ninh, tôn trọng chính nghĩa, không dùng vũ lực để tranh chấp quốc tế Nhật Bản sẽ không bao giờ duy trì các lực lượng lục quân, hải quân, không quân hay các tiềm năng quân sự khác Nước Nhật không được quyền tham chiến

Nguyên tắc này đã đánh dấu một bước chuyển biến mới của Nhật từ đế quốc quân phiệt thành một nước hòa bình, từ bỏ lực lượng quân sự riêng, từ bỏ chiến tranh

+ Tôn trọng các quyền cơ bản của mỗi công dân: Đó là các quyền tự do sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền khiếu nại, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng,… Đó là những “quyền đặc biệt và bất khả xâm phạm”

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CHẾ ĐỊNH NGHỊ VIỆN

VỚI CHẾ ĐỊNH QUỐC HỘI CỦA HIẾN PHÁP

2.1 Điểm tương đồng

Chế định Nghị viện của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 với chế định Quốc hội của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có những tương đồng nhất định, đó là: Đều được quy định

cụ thể trong Hiến pháp mỗi nước; Quốc hội mỗi nước đều là cơ quan đại biểu cao nhất ở cấp trung ương do nhân dân cả nước bầu ra theo những trình tự và thủ tục hợp hiến; toàn

Trang 10

bộ quyền lực lập pháp theo Hiến pháp chỉ được trao cho Quốc hội mà không trao cho cơ quan nào khác

- Đều nắm quyền lập pháp và quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước mình do Hiến pháp quy định

- Có quyền sửa đổi Hiến pháp

- Đều thành lập các ủy ban của Quốc hội hay Nghị viện nhắm giám sát các hoạt động của Chính phủ

- Thủ tướng Chính phủ đều do Quốc hội hay Nghị viện bầu ra

- Làm ra tất cả các luật cần thiết để cho Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội hay Nghị viện quyết định quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại thuế

- Quốc hội hay Nghị viện quyết định vấn đề chiến tranh hay hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia

- Hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đại đa số

2.2 Điểm khác biệt

- Nghị viện Nhật Bản có vị trí pháp lý hoàn toàn ổn định theo quy định của Hiến pháp Nhật Bản suốt hơn 70 năm tồn tại Vị trí pháp lý của Quốc hội Việt Nam có sự biến thiên nhất định theo các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là từ sau bản Hiến pháp năm

1946 Qua các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam, vị trí pháp lý của Quốc hội càng thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là ngày càng nâng cao hơn vị trí tối cao của Quốc hội trong hệ thống các cơ quan nhà nước

- Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, chế định Quốc hội được quy định tại Chương IV Hiến pháp Việt Nam năm 2013, chế định về Quốc hội được quy định tại Chương V

- Khác với Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 (Nghị viện theo cơ cấu lưỡng viện gồm

Hạ viện và Thượng viện), Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định Quốc hội có cơ cấu

một viện

Ngày đăng: 30/01/2022, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w