MỤC LỤCMỞ ĐẦU Sự ra đời của pháp luật luôn gắn với sự ra đời của Nhà nước, bởi pháp luật là một trong những công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội cho dù ở bất cứ kiểu Nhà nướ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Sự ra đời của pháp luật luôn gắn với sự ra đời của Nhà nước, bởi pháp luật là một trong những công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội cho dù ở bất
cứ kiểu Nhà nước nào Tuy nhiên, thực tế thì các quan hệ xã hội trong cuộc sống
là hết sức phong phú, đa dạng, luôn có sự vận động và phát triển không ngừng
Do đó, không một hệ thống quy phạm pháp luật nào có thể dự trù hết cũng như chính xác và đầy đủ được tất cả các tình huống pháp lí sẽ phát sinh trong thực tế
Vì vậy, sẽ có những tình huống, sự kiện pháp lí phát sinh và khi được giải quyết tại Tòa án thì có những cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật hoặc những
Trang 2tình huống sẽ không có luật điều chỉnh gây khó khăn, không thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án Chính vì lí do đó, mà Án lệ ra đời
Chính vì lí do đó, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề lý luận liên quan đến pháp
luật và án lệ hiện nay, em xin chọn đề tài số 03 “Lý luận về pháp luật( bản chất, đặc trưng, các hình thức pháp luật) và liên hệ với tiền lệ pháp (hay còn gọi là án lệ) đang áp dụng tại Việt Nam” cho bài tiểu luận trên
NỘI DUNG
I.Lí luận về pháp luật
1.1.Bản chất của pháp luật nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận
và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước Pháp luật các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều có hai thuộc tính cơ bản đó là tính giai cấp và tính xã hội
Pháp luật mang tính giai cấp
Trang 3Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử, đã giải thích một cách đúng đắn khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, vì vậy pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người
Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quy phạm khác nhau, thể hiện ý chí
và nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn bộ xã hội
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tư” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị
Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có những nét riêng và cách biểu hiện riêng Ví dụ, trong pháp luật tư sản bản chất giai cấp được thể hiện một cách thận trọng, tinh vi dưới nhiều hình thức như quy định về mặt pháp lý những quyền tự do, dân chủ… nhưng thực chất pháp luật tư sản luôn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản và mục đích trước hết nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản hay pháp luật Xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng một xã hội mới trong đó mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, công bằng xã hội được bảo đảm
Pháp luật mang tính xã hội.
Pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành nên nó còn mang tính chất xã hội Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tùy thuộc vào hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn cụ thể), pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội
Trang 4Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội Hai thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với nhau Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp; ngược lại, cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội
Tuy nhiên mức độ đậm, nhạt của hai tính chất đó của pháp luật rất khác nhau
và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị xã hội trong mỗi nước, ở một thời kỳ lịch sử nhất định
1.2.Thuộc tính cơ bản của pháp luật
Thuộc tính của pháp luật là những dấu hiệu, tính chất riêng có của pháp luật
để qua đó phân biệt pháp luật với những hiện tượng xã hội khác như đạo đức, tập quán
Thứ nhất, pháp luật có tỉnh quyền lực nhà nước
Tính quyền lực nhà nước là đặc điểm riêng có của pháp luật Để thực hiện việc
tổ chức và quản lí các mặt của đời sống xã hội, nhà nước cần có pháp luật Các quy định pháp luật có thể do nhà nước đặt ra, cũng có thể được tạo nên từ việc nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự sẵn có trong xã hội như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo Với tính cách là những quy tắc xử sự, phảp luật chính là những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép của nhà nước đối với hành vi ứng
xử của các chủ thể trong xã hội Nói cách khác, pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước Thông qua pháp luật, nhà nước cho phép người dân được làm gì, không cho phép họ làm gì hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào Với quyền lực của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tổ chức thực hiện pháp luật, yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xậ hội phải thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo vệ pháp luật, trừng phạt người vĩ phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống
Thứ hai, pháp luật có tính quy phạm phổ biến.
“Quy phạm” nghĩa là khuôn thước, khuôn mẫu, chuẩn mực Các quy định của pháp luật là những khuôn mẫu, chuẩn mực định hướng cho nhận thức và hành vi của mọi người, hướng dẫn cách xử sự cho cá nhân, tổ chức trong xã hội Các chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do pháp luật dự liệu thì xử sự theo những khuôn mẫu mà nhà nước đã nêu ra Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các
tổ chức và cá nhân trong xã hội sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nào
Trang 5đó Phạm vi tác động của pháp luật rất rộng lớn, nó là khuôn mẫu ứng xử cho mọi cá nhân, tổ chức trong đời sống hàng ngày, nó điều chỉnh các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực của cuộc sống, pháp luật tác động đến mọi địaphưorng, vùng, miền của đất nước
Thứ ba, pháp luật có tính hệ thống.
Bản thân pháp luật là một hệ thống các quy phạm hay cạc quy tăc xử sự
chung, các nguyên tắc, các khai niệm pháp lí Pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội bằng cậch tác động lên cách xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội
đó, làm cho quan hệ phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn Mặc dù điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau, song các quy định của pháp luật không tồn tại biệt lập mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhaú, tạo nên một chỉnh thể thống nhất
Thứ tư, pháp luật có tính xác định về hình thức.
Pháp luật được thể hiện trong những hình thức xác định như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật Ở dạng thành văn, các quy định của pháp luật được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể, không trừu tượng, chung
chung, bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trên toàn xã hội
1.3.Các hình thức của pháp luật
Có ba hình thức pháp luật chủ yếu dưới đây:
Hình thức 1: Tập quán pháp là các phong tục, tập quán lưu truyền trong xã hội
đã được giai cấp thống trị thông qua nhà nước thừa nhận, nâng chúng lên thành pháp luật Không phải tất cả tập quán đều được nhà nước thừa nhận là nguồn của pháp luật
Hình thức 2: Tiền lệ pháp (còn gọi là án lệ) là việc nhà nước thừa nhận các bản án của Toà án hoặc quyết định của cơ quan hành chính làm căn cứ để giải quyết những sự việc tương tự xảy ra sau này
Hình thức 3: Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành dưới hình thức văn bản (pháp luật thành văn)
II Liên hệ hình thức tiền lệ pháp (án lệ) đang áp dụng tại Việt Nam
2.1 Đặc điểm của án lệ tại Việt Nam
Thứ nhất, chủ thể ban hành án lệ là Tòa án, chủ thể vận dụng pháp luật để giải
quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội Theo thông luật, Tòa án ngoài
Trang 6chức năng xét xử còn thực hiện hai chức năng: giải thích luật và làm luật Có nghĩa là nếu luật quy định không rõ hoặc luật không quy định đối với một quan
hệ xã hội mà Tòa án thấy cần thiết phải điều chỉnh, Tòa án sẽ thực hiện việc giải thích luật hoặc làm luật Tuy nhiên, không phải Tòa án nào cũng có quyền ban hành án lệ mà chỉ những Tòa án được quy định, thường tập trung vào Tòa án tối cao
Thứ hai, án lệ được hình thành trong quá trình xét xử của Tòa án,bằng bản án,
quyết định có hiệu lực của Tòa án Chính đặc điểm này tạo nên nét riêng biệt của
án lệ so với các nguồn luật khác Án lệ không giả định như quy phạm pháp luật, cũng như thừa nhận những cái có sẵn từ lâu như tập quán pháp mà do xuất phát
từ nhu cầu thực tế, từ vấn đề pháp lí tại 1 thời điểm nhất định để hình thành nguyên tắc Tuy nhiên, bản án nào được quy định là án lệ còn phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố
Thứ ba, bản án quyết định trở thành án lệ phải tính chuẩn mực, tạo ra nguyên
tắc trong quá trình xét xử Những chuẩn mực nguyên tắc đó được hình thành phổ biến thông qua quá trình giải thích pháp luật trong bản án, quyết định
Thứ tư, án lệ phải được dùng làm căn cứ giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra
sau này Án lệ hình thành từ vấn đề pháp lí vì vậy khi vụ việc xảy ra sau này có những tình tiết và vấn đề pháp lí tương tự sự việc ban đầu thì án lệ được áp dụng
Thứ năm, án lệ được tập hợp và được công bố theo một trình tự riêng do Tòa
án thực hiện Việc tập hợp công bố án lệ hoàn toàn riêng biệt với việc công bố các văn bản quy phạm pháp luật Từ việc đặt tên, cách thức sắp xếp và công bố
án lệ thực hiện theo một trình tự riêng
Thứ sáu, án lệ có tính cụ thể cao Chính vì án lệ hình thành trong quá trình xét
xử của Tòa án, từ bản án quyết định cụ thể của bản án đã tạo nên đặc điểm trên
Trang 7Nhờ tính cụ thể cao của cá nhân, tổ chức rất dễ dàng tiếp cận án lệ, có thể hiểu rõ quyền và nghĩa vụ trong trường hợp cụ thể, có thể dự đoán kết quả vụ án
2.2 Thực trạng của án lệ trong pháp luật hiện nay
2.2.1 Điểm tích cực của án lệ trong pháp luật hiện nay
Án lệ ngày càng có vai trò quan trọng trong pháp luật hiện nay Án lệ ra đời ở Việt Nam đã giúp đỡ rất nhiều trong hoạt động xét xử, đưa ra phán quyết của Tòa án
Thứ nhất, án lệ góp phần hoàn thiện pháp luật hiện hành
Đặc tính cố hữu đó của văn bản quy phạm pháp luật tạo nên tình trạng “lỗi thời” của pháp luật so với sự phát triển của đời sống Do đó, rất cần một cơ chế sáng tạo, linh hoạt nhằm bổ khuyết cho văn bản quy phạm pháp luật Và chính
án lệ giúp thổi một luồng sinh khí vào “thân xác” khô khan và bất động của những văn bản pháp lý, nhờ đó các đạo luật có được cuộc sống sinh động gắn liền với thực tiễn
Bằng hoạt động xét xử, tòa án mặc nhiên mở rộng việc áp dụng các đạo luật
ra ngoài phạm vi hoặc ý định ban đầu của nhà lập pháp, và chuẩn bị trước điều kiện cho việc điều chỉnh các đạo luật hiện hữu và thiết lập chương trình lập pháp cho tương lai Chính các án lệ sau khi đã trải qua quá trình tổng kết lâu dài sẽ được “chuyển hóa” vào các văn bản quy phạm pháp luật
Thứ hai, án lệ góp phần thực hiện nguyên tắc thống nhất trong áp dụng pháp
luật và bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật
Nếu pháp luật được áp dụng một cách khác nhau tùy thuộc vào các tòa án và địa phương thì không thể đảm bảo công lý, quyền con người Nó còn tạo cơ hội cho sự tùy tiện của các toà án Vì vậy, pháp luật cũng cần phải được áp dụng một cách bình đẳng đối với mọi chủ thể trong xã hội Nếu đối với các vụ việc tương
Trang 8tự nhau trong hoạt động xét xử các vụ án nhưng mỗi Tòa án áp dụng pháp luật khác nhau, thì sẽ vi phạm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Thứ ba, án lệ góp phần phát huy vai trò thực sự của Tòa án trong giải thích
pháp luật
Tòa án là cơ quan xét xử - tức là căn cứ vào pháp luật để đưa ra bản án, quyết định đối với những vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp giữa các chủ thể Như vậy, tòa án chỉ như một cơ quan áp dụng pháp luật đơn thuần Nhưng trên thực tế, để Tòa án phát huy vai trò của mình, cần trao cho Tòa án quyền giải thích pháp luật chứ không phải Ủy ban thường vụ Quốc hội, mới có cơ chế hữu hiệu để giải thích pháp luật hiệu quả nhất Áp dụng án lệ cũng chính là phương thức để giải thích pháp luật
Thứ tư, án lệ góp phần công khai hóa, minh bạch hóa trong hoạt động xét xử
vụ án hành chính
Án lệ góp phần công khai hóa, minh bạch hóa và phổ biến rộng rãi đường lối xét xử các bản án và quyết định của Tòa án các cấp, là sự thể hiện tính đúng đắn, chuẩn mực trong các bản án, quyết định của Tòa án Các bản án, quyết định của Tòa án được công bố công khai, rộng rãi để tất cả mọi người cùng biết, cùng nghiên cứu, có tác dụng nâng cao ý thức, hiểu biết pháp luật trong cộng đồng và
áp dụng chính xác, đúng đắn vào thực tế khi những sự kiện pháp lý đã xảy ra
2.2.2 Một số hạn chế của án lệ trong pháp luật hiện nay
Thứ nhất, số lượng án lệ ở Việt Nam chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu
của thực tiễn xét xử Trong khi số lượng án thụ lý mới ở mỗi cấp Tòa án năm sau luôn cao hơn năm trước Nên số lượng án lệ quá ít là khó khăn không nhỏ trong việc giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
Trang 9Thứ hai, vẫn còn nhiều trường hợp nảy sinh trong thực tiễn xét xử cần áp dụng
án lệ nhưng Tòa án còn lúng túng dẫn đến án lệ không phát huy được vai trò là nguồn bổ trợ trong hệ thống nguồn luật
Thứ ba, do là chế định mới, một số Tòa án chưa quan tâm đúng mức đến việc
rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án lệ nên còn chậm trễ trong việc gửi báo cáo kết quả rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án
lệ về Tòa án nhân dân tối cao
2.2.3.Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng án lệ ở Việt Nam
Trước hết, cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc ban hành án lệ;
cụ thể là cần bổ sung quy định của pháp luật tố tụng về giá trị pháp lý và nguyên tắc áp dụng, viện dẫn án lệ trong xét xử án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính; xây dựng Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình ban hành và áp dụng án
lệ, trong đó xác định cụ thể các tiêu chí đối với những bản án, quyết định có thể được lựa chọn, công nhận là án lệ; quy trình phát hiện, tuyển chọn án lệ; việc công bố các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật dự kiến sẽ hình thành án lệ trong tương lai trên các diễn đàn khoa học và phương tiện truyền thông để các đại biểu các cơ quan dân cử, các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn và nhân dân tham gia ý kiến Đồng thời, phải tiến hành việc thẩm định, thông qua và công bố án lệ; nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử; việc thay thế, hủy bỏ án lệ
Hai là, cần chuẩn bị tổ chức bộ máy và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu, giúp việc cho Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong công tác này theo hướng xác định rõ trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong việc giúp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện quy trình lựa chọn, ban hành và công bố án lệ trong từng lĩnh vực xét xử cụ
Trang 10thể; chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, phương tiện để tuyển chọn và phát hành án lệ
Ba là, tổ chức tập huấn, đào tạo kỹ năng viết bản án; kỹ năng biên tập án lệ; kỹ năng nghiên cứu, phân tích, áp dụng án lệ cho Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh tư pháp khác trong và ngoài Tòa án nhân dân
2.2.4.Ví dụ về áp dụng án lệ tại Việt Nam
Năm 2006, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao có quyết định giám đốc thẩm một vụ tranh chấp dân sự về lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian giữa ông T với bà K Sau này, nhiều tòa cấp dưới đã ngầm coi đây là một
án lệ và xử theo đường lối của bản án này
Số là bà K đã lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của ông T Khi bà K xây nhà, bà đã làm kiềng trên móng nhà của ông T nhưng ông T không phản đối trong suốt thời gian từ khi khởi công cho đến lúc hoàn thành (bốn tháng) Do nhà
bà K là nhà cao tầng, đã xây dựng hoàn thiện, giờ nếu buộc bà phải dỡ bỏ và thu hẹp lại công trình thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho bà
Xử vụ này, tòa cấp phúc thẩm đã không buộc bà K phải tháo dỡ phần tường nhà đè lên phía trên móng nhà ông T mà chỉ buộc bà bồi thường bằng tiền Trong quyết định giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán cho rằng tuyên xử như thế là hợp tình hợp lý Sau này khi gặp vụ án tương tự, các thẩm phán đều “liên tưởng” đến vụ này và tuy không nói ra nhưng ai cũng vận dụng đường lối thấu lý đạt tình đó để xét xử
KẾT LUẬN