1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại hải phòng

16 437 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng
Tác giả Đào Thị Tư Duyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hữu Thụ
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 364,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm

Trang 1

Nhu cầu việc làm của người dân ở một số

vùng đô thị hóa tại Hải Phòng

Đào Thị Tư Duyên

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn Thạc sĩ ngành: Tâm lý học; Mã số: 60 31 80 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hữu Thụ

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhu cầu và nhu cầu việc làm Khái quát sơ

bộ về địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tượng hướng tới

và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia đình Đánh giá mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Đưa ra một số kiến nghị về tâm lý – xã hội giúp chính quyền địa phương tạo ra

việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm của người dân

Keywords Tâm lý học công nghiệp; Tâm lý học việc làm; Đô thị hóa; Hải Phòng

Content

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Việc làm gắn liền với sự tồn tại, phát triển và hạnh phúc gia đình của người dân ở vùng đô thị hóa

- Việc chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ khiến không ít người dân ở vùng đô thị hóa rơi vào cảnh thiếu hoặc chưa có việc làm đồng thời làm nảy sinh nhiều

tệ nạn xã hội

- Hải Phòng là thành phố mà quá trình đô thị hóa diễn ra rất nhanh Để người dân nơi đây được hưởng thế mạnh của quá trình này một cách tốt nhất thì nghiên cứu về nhu cầu việc làm của họ là điều hết sức quan trọng

Những lý do trên là động lực thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nhu

cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng” dưới góc nhìn của tâm

lý học xã hội

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu, các mức độ của nhu cầu việc làm cũng như một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại

Trang 2

Hải Phòng Từ đó đề xuất một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp nhà nước đưa ra các chính sách phát triển việc làm góp phần thỏa mãn nhu cầu việc làm cho người dân ở vùng đô thị hóa

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu lý luận

- Đọc và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu, nhu cầu việc làm để làm rõ một số khái niệm cơ bản của đề tài như: Khái niệm nhu cầu, khái niệm nhu cầu việc làm, khái niệm nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa để hoàn thành

cơ sở lý luận của đề tài

- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu của Đảng, nhà nước về việc làm và tạo việc làm cho người dân vùng đô thị hóa

3.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia đình

- Đưa ra một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp chính quyền địa phương đưa ra giải pháp tạo việc làm và cơ hội việc làm cho người dân

4 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng được biểu hiện qua: Nhận thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm

5 Khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu là 162 người dân, trong đó 55 người dân ở huyện An Lão, 53 người dân ở huyện Tiên Lãng, 54 người dân ở huyện Vĩnh Bảo và 7 cán bộ địa phương

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu nhu cầu việc làm của người dân ở một

số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện ở nhận thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm Đồng thời nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng

6.2 Phạm vi địa bàn: Đề tài chỉ nghiên cứu ở 3 huyện: Huyện An Lão, huyện Tiên

Lãng, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng

6.3 Phạm vi khách thể: Đề tài chỉ nghiên cứu những người dân đang ở trong độ tuổi

lao động (từ 18 đến 45 tuổi)

7 Giả thuyết nghiên cứu

Phần lớn người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng có nhu cầu việc làm ở mức độ trung bình, một số người nhu cầu việc làm đạt mức độ cao nhưng hầu hết trong số họ nhu cầu việc làm chưa được thỏa mãn thực sự Nhu cầu này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, bao gồm cả chủ quan (nhận thức, động cơ, hứng thú, tâm thế sẵn sàng…) và khách quan (điều kiện thỏa mãn, mức độ quan tâm của chính quyền địa phương, chế độ đãi ngộ…), trong đó yếu tố chủ quan giữ vai trò chủ đạo

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trang 3

Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài để tìm hiểu sâu hơn những khái niệm công cụ nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài

8.2 Phương pháp chuyên gia

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nâng cao sự hiểu biết về lĩnh vực mà mình nghiên cứu cũng như cách thức tiến hành nghiên cứu

8.3 Phương pháp quan sát

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thu thập những thông tin mà phiếu bảng hỏi chưa làm được

8.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Chúng tôi sử dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở nhằm thu thập thông tin chính, liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn

8.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

Để có thêm thông tin chân thực, rõ ràng và chính xác phục vụ việc nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số câu hỏi phỏng vấn sâu người dân và chính quyền địa phương

8.6 Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý

Phương pháp này được thực hiện nhằm phản ánh rõ nét hơn về mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng và nguyên nhân của mức độ đó

8.7 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học

Chúng tôi sử dụng công thức tính trung bình, tính phần trăm và sử dụng phần mềm SPSS để phân tích, xử lí kết quả thu được từ phiếu điều tra bằng bảng hỏi

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU VIỆC LÀM 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý học ngoài nước

Chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý hoc Mỹ J.Watson (1878 - 1895) sáng lập và được Skinner phát triển triệt để Tâm lý học hành vi cho rằng: Tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi cơ thể Hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài, nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích nào đó, nó được thể hiện bằng công thức hành vi nổi tiếng S - R

Sau này, các đại biểu tâm lý hoc hành vi mới đưa vào công thức S - R một biến số O - biến số trung gian đó là: Nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống… các tác giả này giải thích rằng: O là biến số trung gian có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích vào cơ thể

Freud (1856 - 1939) đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người” Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên và như thế tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này

sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người “Khát dục” trong Phân tâm học không có

ý nói đến việc thỏa mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi hỏi thỏa mãn những khát khao mãnh liệt Những mong muốn này được thỏa mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu Khi một khát vọng nào đó chưa được thỏa mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên đến tột đỉnh”

Trang 4

Erich Fromm nhà Phân tâm học mới quan niệm: “Nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con

người, đó là những nhu cầu:

1 Nhu cầu quan hệ người - người

2 Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người

3 Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo

4 Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa

5 Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu

A Maslow (1908 - 1970) được xem là người sáng lập và dẫn đầu trào lưu chủ nghĩa nhân văn trong tâm lý học Mỹ Theo Maslow, con người có 5 nhu cầu gốc (những nhu cầu khác đều phát sinh từ những nhu cầu này) được sắp xếp thành bậc thang theo thứ bậc từ thấp lên cao, chúng hoạt hóa và điều khiển hành vi con người Bậc thang đó bao gồm:

1 Physiological: Nhu cầu sinh học như: Ăn, uống, nghỉ ngơi…

2 Safety/security: Nhu cầu an toàn

3 Belonginess and Love: Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương

4 Esteem: nhu cầu được tôn trọng

5 Actualization: Nhu cầu tự thể hiện

Theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhu cầu ở bậc thấp hơn (liền kề) phải được thỏa mãn đến mức độ nhất định.Việc thỏa mãn nhu cầu ở bậc thang thấp hơn sẽ kích thích người ta nghĩ tới việc phải thỏa mãn nhu cầu ở bậc cao hơn Vì vậy, về nguyên tắc ở cùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong nhân cách của mỗi người

Herry Murray khẳng định: “Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người” Do ảnh hưởng của phân tâm học nên ông cho rằng nhu cầu quy định xu hướng nhân cách đều xuất phát từ nguồn năng lượng libido vô thức

Carl Rogers (1902 - 1987) là nhà trị liệu tâm lý nổi tiếng với liệu pháp “thân chủ

trọng tâm” Trong nghiên cứu của mình ông đã đề cập đến vai trò của nhu cầu về sự quan tâm tích cực tới việc phát triển “cái tôi” của đứa trẻ Nhu cầu về sự quan tâm tích cực được hiểu là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương, được ủng hộ từ những người khác, đặc biệt là từ

mẹ và những người thay thế mẹ khi trẻ ở tuổi sơ sinh Hành vi của trẻ được điều khiển tùy thuộc vào tính chất, nội dung và mức độ của sự thừa nhận, yêu thương và ủng hộ mà trẻ nhận được từ những người khác Ông cũng nhấn mạnh, nhu cầu về sự quan tâm tích cực có tính chất tương hỗ Khi một người tự đòi hỏi mình phải làm việc để đáp ứng nhu cầu của ai đó về

sự quan tâm tích cực cũng được người đó thoả mãn

Philip Kotler khi nghiên cứu về nhu cầu trong hoạt động quản trị kinh doanh đã đưa

ra quan điểm để phân biệt nhu cầu, mong muốn và yêu cầu Theo ông, nhu cầu là trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thỏa mãn cơ bản nào đó của cơ thể, tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể và nhân thân của con người

Ông cũng chia nhu cầu thành 5 kiểu khác nhau:

1 Nhu cầu được nói ra

2 Nhu cầu thực tế

3 Nhu cầu không được nói ra

4 Nhu cầu được thích thú

Trang 5

5 Nhu cầu thầm kín

D N Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết nghiên cứu về nhu cầu Ông

cho rằng: “Không có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực”

X.L Rubinstein khẳng định: Khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế giới

đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể, tức là phải có mối quan hệ thống nhất giữa hai yếu

tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan (của chủ thể) trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu

P.X Ximonov thì cho rằng: Trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt

thông tin về khả năng thoả mãn sẽ nảy sinh những rung cảm âm tính làm tăng năng lượng nhu cầu Tuy nhiên, kết quả hành vi lại không thuận lợi, kết quả dương tính sẽ làm giảm tổng thể các hành động thoả mãn nhu cầu Theo ông, đặc điểm nhu cầu phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoả mãn nhu cầu

A.N.Leonchiep cho rằng: Nhu cầu với tính chất là sức mạnh nội tại thì chỉ có thể được

thực thi trong hoạt động Ông phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì như vậy sẽ coi nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động theo sơ đồ: Nhu cầu - hoạt động - nhu cầu Mối liên

hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động

Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng: “Khi đối tượng của nhu cầu xuất hiện, được nhận biết (được cảm nhận, được hình dung hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động tức là trở thành động cơ Hay nội dung đối tượng của nhu cầu chính là động cơ của hoạt động Một hoạt động diễn ra bao giờ cũng hướng vào việc đạt mục đích, đạt kết quả ở một mức độ nhất định Động cơ của hoạt động chính là cái nhu cầu đã được đối tượng hóa và được hình dung trước dưới dạng các biểu tượng của kết quả hoạt động”

Như vậy, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về nhu cầu và họ đều đưa ra những quan điểm và dẫn chứng chứng minh cho tính đúng đắn của nó dựa trên cách tiếp cận của riêng mình Tuy nhiên, quan điểm về nhu cầu của các nhà Tâm lý học Xô Viết dường như được nhiều nhà khoa học đồng thuận hơn cả Ở Việt Nam hiện nay, khi nghiên cứu về nhu cầu cũng lấy quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết làm nền tảng

Trong nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ về nhu cầu việc làm công nghệ thông tin chỉ ra rằng: Nhu cầu về các nhà chuyên nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) đang dâng lên nhanh hơn mong đợi Bùng nổ của công nghệ thông tin trong kinh doanh toàn cầu nơi "dây chuyền giá trị" được kết nối từ khách hàng tới nhà chế tạo và nhà cung cấp và gần đây với thị trường ứng dụng di động đã làm tăng thêm nhiều nhu cầu đối với việc thiếu hụt công nhân

1.2 Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý học trong

nước

Đề cập đến quan niệm của các nhà Tâm lý học Việt Nam về nhu cầu, chúng ta có thể tìm thấy qua một số tập sách như: Tâm lý học Liên Xô - Tuyển những bài báo, Nxb Tiến Bộ năm 1978, Tâm lý học Vưgôtxki, Nxb Giáo Dục năm 1997 của tác giả Phạm Minh Hạc, Tâm

lý học, Nxb ĐHQGHN năm 2000 của tác giả Bùi Văn Huệ, Tâm lý học đại cương, Nxb ĐHSPHN năm 2003 của tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Tâm

lý học đại cương, Nxb Giáo Dục năm 1989 của tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy

Trang 6

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển”

Nhu cầu cũng có thể được định nghĩa là: “Trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy các đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân”

Trong Tâm lý học quản trị kinh doanh, tác giả Nguyễn Hữu Thụ đưa ra quan niệm về

nhu cầu như sau: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý, mong muốn của cá nhân đòi hỏi phải thỏa

mãn để tồn tại và phát triển”

Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh và Trần Trọng Thủy lại viết rằng: “ Để tồn tại

và phát triển cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết (không thể thiếu) cho mình Sự đòi hỏi ấy là nhu cầu của cá nhân Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện tượng hoặc những cái khác Khi nhu cầu không được thoả mãn, ở chủ thể sẽ xuất hiện trạng thái căng thẳng, cảm xúc âm tính”

Như vậy, các nhà Tâm lý học trong nước đã khẳng định nhu cầu là hình thức tồn tại giữa cơ thể sống và thế giới xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực Mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác động vào đối tượng nhằm thoả mãn nhu cầu Với ý nghĩa đó, nhu cầu được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại

và phát triển của mình và xuất hiện như là nguồn gốc tạo ra tính tích cực hoạt động Nhu cầu được thoả mãn sẽ tạo ra nhu cầu mới ở mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thoả mãn nhu cầu này sẽ làm phát triển nó và nảy sinh ra nhu cầu khác cao hơn nữa

Bên cạnh các tập sách viết về nhu cầu còn có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu trên khách thể là học sinh, sinh viên của các tác giả như Nguyễn Thạc, Hoàng Thị Thu Hà,

Hà Thị Hòa Bình… Ngoài ra, cũng có khóa luận, luận văn, luận án của các bạn sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh nghiên cứu về nhu cầu Chúng ta có thể kể đến:

Luận án tiến sĩ của tác giả Lã Thị Thu Thủy, cán bộ Viện Tâm lý học được thực hiện năm 2006 với đề tài: “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức trẻ” Tác giả Hà Thị Hòa Bình, năm 2001 đã làm đề tài luận văn tiến sĩ tâm lý học mang tên “Nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền”

Năm 2003, Hoàng Thị Thu Hòa với luận án tiến sĩ mang tên “Nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm”

Nhu cầu việc làm là nhu cầu được làm việc, được hoạt động, nó là nhu cầu cấp cao, được con người sáng tạo ra và có sự tham gia mạnh mẽ của ý thức, nó khác với nhu cầu sinh học Hoạt động là yếu tố hiện thực hóa nhu cầu, là bằng chứng thể hiện và khẳng định giá trị tồn tại của con người, không ai sống mà không hoạt động, không làm việc Bởi thế nhu cầu việc làm có ở bất kỳ cá nhân nào trong xã hội và mức độ thiết thân, thường trực của nó ở mỗi

cá nhân khác nhau là khác nhau

1.3 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.3.1 Khái niệm nhu cầu

1.3.2 Khái niệm việc làm

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”

1.3.3 Khái niệm nhu cầu việc làm

1.3.3.1 Khái niệm

Trang 7

Nhu cầu việc làm là những mong muốn, đòi hỏi của con người về việc làm cần phải được thỏa mãn để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản thân và gia đình Nhu cầu việc làm mang tính xã hội cao, được con người ý thức rõ ràng và thể hiện giá trị xã hội của cá

nhân

1.2.3.2 Bản chất của nhu cầu việc làm

1.3.4 Khái niệm nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa

1.3.4.1 Khái niệm đô thị hóa

1.3.4.2 Khái niệm người dân ở vùng đô thị hóa

1.3.4.3 Khái niệm nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa

Nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa là những mong muốn, đòi hỏi có việc làm ổn định để tồn tại và phát triển của người dân vốn ở những vùng nông thôn nay được chuyển thành vùng đô thị hóa

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm

1.4.1 Yếu tố khách quan

- Gia tăng dân số vùng đô thị hóa

- Chính sách tạo việc làm cho người dân tại các vùng đô thị hóa

- Văn hóa làng - xã

1.4.2 Yếu tố chủ quan

- Nhận thức của cá nhân

- Trình độ tay nghề

- Tâm thế sẵn sàng của cá nhân

- Tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cá nhân

TIỂU KẾT Như vậy, ở chương 1 chúng tôi đã làm rõ về mặt lý luận của đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu với những nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý học ngoài nước, nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý học trong nước Đồng thời làm rõ một số khái niệm công cụ của đề tài gồm có: Khái niệm nhu cầu, khái niệm việc làm, khái niệm nhu cầu việc làm, khái niệm nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa và một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm với yếu tố chủ quan và khách quan

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Một vài nét về địa bàn nghiên cứu

2.2 Tổ chức nghiên cứu

2.2.1 Về mặt lý luận:

Đọc và phân tích quan điểm của các nhà tâm lý học trong và ngoài nước để xây dựng

cơ sở lý luận cho đề tài, đồng thời làm rõ các khái niệm công cụ của đề tài Đọc các quyết định, chính sách của Đảng và nhà nước về việc đô thị hóa để hiểu biết sâu sắc về vấn đề nghiên cứu

2.2.2 Về mặt thực tiễn

- Tiến hành nghiên cứu thực tiễn để thu thập thông tin một cách chính xác, khách quan và khoa học nhằm chỉ ra thực trạng nhu cầu việc làm, các yếu tố ảnh hưởng và một số biện pháp tâm lý nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng

Trang 8

- Kế hoạch thực hiện:

Từ tháng 1/2011 đến tháng 4/2011 đọc tài liệu, hoàn thành cơ sở lý luận của đề tài

Từ tháng 5/2011 đến tháng 7/2011 xây dựng bộ công cụ điều tra thực tế

Từ tháng 8/2011 đi cơ sở điều tra thực tế

Tháng 9/2011 xử lý kết quả điều tra

Tháng 10/2011 đến 2/2012 viết kết quả nghiên cứu

Từ tháng 3 đến tháng 11/2012 bảo vệ đề tài nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Mục đích: Thu thập dữ liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Cách thức tiến hành: Chọn lọc những tài liệu liên quan đến đề tài (công trình nghiên

cứu khoa học của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nước), luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các bài báo, tạp chí, các trang web liên quan đến đề tài nghiên cứu Đọc, phân tích, khái quát, tổng hợp các tài liệu đã chọn lọc và đưa ra kết luận

2.3.2 Phương pháp chuyên gia

- Mục đích: Tham khảo ý kiến của người có chuyên môn, kiến thức về lĩnh vực mà

mình nghiên cứu để đưa ra hướng nghiên cứu đúng đắn

- Cách tiến hành: Lựa chọn chuyên gia chuyên sâu về lĩnh vực mà mình nghiên cứu,

đề nghị được trợ giúp, được tham khảo ý kiến của họ về những kiến thức và kỹ năng cần thiết

để thực hiện đề tài một cách có hiệu quả

2.3.3 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Nhằm thu thập thêm thông tin mà phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và

phương pháp phỏng vấn sâu chưa làm được

- Cách thức tiến hành: Quan sát không tham dự, quan sát ở nhà văn hóa xã, nhà văn

hóa thôn trong buổi họp tổ dân phố, họp thôn Chủ yếu quan sát thái độ của người dân trong buổi họp, nội dung trao đổi của buổi họp

2.3.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

* Mục đích: Chỉ ra định lượng thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số

vùng đô thị hóa tại Hải Phòng

* Nội dung nghiên cứu của bảng hỏi: Để khảo sát thực trạng nhu cầu việc làm của

người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng, đề tài thiết kế bảng hỏi gồm 11 câu, trong đó:

Câu hỏi về nhận thức bao gồm: Câu 1, câu 2, câu 4, câu 5

Câu hỏi về đối tượng hướng tới là câu 7

Câu hỏi về hành động cụ thể là câu 8

Câu hỏi về mức độ ảnh hưởng là câu 9

Câu hỏi về thông tin cá nhân là câu 11

Câu hỏi mở được đan xen vào các câu hỏi đóng để thu được thông tin phong phú hơn Các câu hỏi mở bao gồm: Câu 3, câu 6, câu 10 và câu 11

* Cách thức cho điểm như sau:

Các câu hỏi mức độ đều được cho điểm từ 3 xuống 1, cụ thể là:

Mức độ đồng tình: Rất đồng tình: 3 điểm

: Đồng tình: 2 điểm

: Không đồng tình: 1 điểm

Trang 9

Mức độ thuận lợi : Rất thuận lợi: 3 điểm

: Thuận lợi: 2 điểm

: Không thuận lợi: 1 điểm

Mức độ khó khăn: Rất khó khăn: 3 điểm

: Khó khăn: 2 điểm

: Không khó khăn: 1 điểm

Mức độ mong muốn: Rất mong muốn: 3 điểm

: Mong muốn: 2 điểm

: Không mong muốn: 1 điểm

Mức độ thường xuyên: Rất thường xuyên: 3 điểm

: Thường xuyên: 2 điểm

: Không thường xuyên: 1 điểm

Mức độ ảnh hưởng: Rất ảnh hưởng: 3 điểm

: Ảnh hưởng: 2 điểm

: Không ảnh hưởng: 1 điểm

Với cách cho điểm như trên thì điểm thấp nhất là 1 và cao nhất là 2, ĐTB của ba mức

độ là 0.7 Do đó, chúng tôi có thang đánh giá nhu cầu việc làm như sau:

Từ 1.0 đến dưới 1.7 điểm ứng với mức độ thấp

Từ 1.7 đến dưới 2.4 ứng với mức độ trung bình

Từ 2.4 đên 3.0 ứng vơi mức độ cao

2.3.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

* Mục đích:

+ Lý giải những nguyên nhân bản chất của nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa tại Hải Phòng

+ Khẳng định các kết quả nghiên cứu của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Khai thác sâu hơn nội dung cần nghiên cứu ở khách thể

* Nội dung phỏng vấn sâu:

- Phiếu phỏng vấn sâu gồm 3 phiếu

+ Phiếu phỏng vấn sâu 1: Dành cho chính quyền địa phương

+ Phiếu phỏng vấn sâu 2: Dành cho người dân chưa có việc làm

+ Phiếu phỏng vấn sâu số 3: Dành cho người dân đã có việc làm (Xem phụ lục 2, 3, 4)

* Cách thực hiện

Phỏng vấn sâu 43 người, trong đó:

+ 12 người dân ở huyện An Lão, Hải Phòng

+ 12 người dân ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng

+ 12 người dân ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng

+ 3 cán bộ huyện An Lão, Hải Phòng

+ 2 cán bộ huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng

+ 2 cán bộ huyện Tiên Lãng, Hải Phòng

* Nguyên tắc phỏng vấn:

- Tạo không khí thân mật giữa người nghiên cứu và khách thể phỏng vấn

+ Đề cập đến vấn đề cần phỏng vấn một cách khéo léo, dễ hiểu

+ Chủ động khai thác, thảo luận về những vấn đề mà câu hỏi đặt ra

Trang 10

+ Phỏng vấn theo câu hỏi đã chuẩn bị sẵn

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý

* Mục đích:

Nhằm làm rõ sự khác biệt về các mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng và nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt đó

* Cách thức thực hiện:

Chọn 2 khách thể nổi bật nhất thể hiện sự khác biệt về mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng bao gồm: Có nhu cầu việc làm ở mức độ cao, có nhu cầu việc làm ở mức độ thấp

2.3.7 Phương pháp xử lý kết quả bằng thống kê toán học

- Mục đích: Tìm ra kết quả định lượng cho vấn đề mình nghiên cứu

- Cách tiến hành: Mã hóa thông tin, nhập dữ liệu, thực hiện các thao tác tính toán

phần trăm, điểm trung bình, mối tương quan trên phần mềm SPSS 16.0 để khẳng định và tăng cường độ tin cậy của kết quả thu được

TIỂU KẾT

Với những kiến thức được trình bày ở trên, chúng tôi đã giới thiệu vài nét về địa bàn nghiên cứu, thực hiện tổ chức nghiên cứu bao gồm nghiên cứu về mặt lý luận và nghiên cứu

về mặt thực tiễn, phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp chuyên gia, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý, phương pháp chuyên gia, phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học sử dụng phần mềm SPSS 16.0

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 3.1 Thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng

3.1.1 Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức

3.1.1.1 Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức về ý nghĩa của việc làm đối với người dân trong vùng

Vị trí thứ nhất là “giúp cá nhân nuôi sống bản thân và gia đình”, đạt ĐTB là 2.87 với 87.6% khách thể “rất đồng tình”

Đứng ở vị trí thứ hai là ý nghĩa “làm cho cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc” với ĐTB là 2.77, đây cũng là điểm số thể hiện sự đồng tình ở mức độ cao

“Làm cho con người vui vẻ, năng động và sáng tạo” là ý nghĩa thứ ba của việc làm với 76.6% “rất đồng tình”, 22.2% “đồng tình” và 1.2% khách thể “không đồng tình” Ý nghĩa này đạt ĐTB là 2.76 - tương ứng với sự nhận thức ở mức độ cao

Như vậy, những khách thể mà chúng tôi nghiên cứu nhận thức về ý nghĩa của việc làm ở mức độ cao Khi so sánh mối tương quan giữa các nội dung phản ánh ý nghĩa của việc làm với những người có việc làm và chưa có việc làm chúng tôi không thấy có sự khác biệt đáng kể Tuy nhiên, những ý nghĩa liên quan đến sự sống của từng cá nhân và gia đình nhận được nhiều ý kiến “rất đồng tình” và “đồng tình” hơn những ý nghĩa khác

3.1.1.2 Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng về giá trị của việc làm đối với bản thân và gia đình

Ngày đăng: 24/01/2014, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w