Tuy nhiên, có thể thấy rằng các nghiên cứu xã hội học về thanh niên, vị thành niên hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản, tình yêu, hôn nhân hay cá
Trang 1Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi
15- 17 về bình đẳng giới và các yếu tố
tác động Trần Thị Phương Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Minh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận thức,
vị thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc phân tích nhận thức của trẻ vị thành niên về bình đẳng giới Mô tả thực trạng nhận thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở Việt Nam hiện nay về vấn đề bình đẳng giới Cụ thể là: Nhận thức về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình (vai trò của người vợ và người chồng, sự phân công lao động trong gia đình, mối quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng qua các quyết định…) Phân tích các nhân tố tác động đến nhận thức của trẻ vị thành niên (từ 15- 17 tuổi) về bình đẳng giới Cụ thể: Các nhân tố từ phía bản thân vị thành niên (giới tính); các nhân tố gia đình (học vấn cha mẹ, nơi ở, mức sống…)
Keywords Xã hội học; Bình đẳng giới; Trẻ vị thanh niên
về giới Việc đẩy mạnh các hoạt động về giới đã tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức cũng như hành động của xã hội trước những vấn đề bất bình đẳng giới
Tuy nhiên cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và tình trạng bất bình đẳng giới là một trong những thách thức chính về phát triển đối với Việt Nam Trước hết, đó là những định kiến giới ở nhiều tầng lớp xã hội coi trọng nam giới hơn phụ nữ Nhìn chung, nhận thức về bình đẳng giới của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế Trong nhiều trường hợp, những quan niệm bất bình đẳng giới được khái quát hoá và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã hội Trong khi điều kiện kinh tế đang thay đổi nhanh chóng thì các chuẩn mực, giá trị văn hoá liên
Trang 2quan đến vai trò giới dường như thay đổi rất chậm chạp [19; tr.11] Do đó, cuộc chiến đấu chống lại bất bình đẳng giới ở Việt Nam đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao nhận thức người dân về bình đẳng giới
Vị thành niên là giai đoạn quá độ từ trẻ con sang người lớn, đây cũng là giai đoạn diễn ra sự học tập, thích nghi và lựa chọn các giá trị, chuẩn mực một cách mạnh
mẽ Quá trình nhận thức, hình thành nhân cách ở giai đoạn này giữ vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người và chịu sự chi phối không nhỏ từ ý thức hệ chủ đạo đang tồn tại trong xã hội Nhóm vị thành niên ở độ tuổi từ 15 đến 17 phần lớn vẫn đang là học sinh, những hiểu biết xã hội và nhận thức của các em về bình đẳng giới chủ yếu thông qua quan sát, học hỏi từ cha mẹ, thầy cô và mọi người xung quanh Vì thế, nhận thức không đầy đủ sẽ dẫn tới việc nhóm vị thành niên này tiếp thu một cách thụ động các chuẩn mực, định kiến giới Mặt khác, quá trình xã hội hoá vai trò giới được chia thành 3 giai đoạn, mà theo đó, ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn ở tuổi vị thành niên, trẻ em bắt đầu có ý thức hơn về giới do quá trình xã hội hoá toàn diện hơn [13; tr 47]
Nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu
tố Ngay từ gia đình, sự định hướng của cha mẹ về lối sống, chuẩn mực, học tập, lao động- nghề nghiệp và trong cả sự đầu tư của cha mẹ đối với con cái cũng thường có sự phân biệt tương đối rõ ràng về giới Trong nhiều gia đình, công việc do trẻ em đảm nhận thường có sự phân biệt rõ ràng theo vai trò giới Chính yếu tố này có thể dẫn tới nhận thức của các em về chuẩn mực cho từng giới trong phân công lao động gia đình
Tuy nhiên, có thể thấy rằng các nghiên cứu xã hội học về thanh niên, vị thành niên hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản, tình yêu, hôn nhân hay các vấn đề về học tập, lao động- việc làm; nhận thức đối với bình đẳng giới còn ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu Chính vì thế, tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới là hết sức cần thiết
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận thức, vị thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
- Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc phân tích nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới
Trang 3- Mô tả thực trạng nhận thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở Việt Nam hiện nay về vấn đề bình đẳng giới
- Phân tích các nhân tố tác động đến nhận thức của vị thành niên (từ 15- 17 tuổi) về bình đẳng giới
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Vị thành niên hiện nay quan niệm như thế nào về sự phân công lao động và quyền quyết định trong các công việc gia đình giữa nam giới và phụ nữ, người vợ và người chồng?
- Có sự khác biệt trong nhận thức về bình đẳng giới giữa những vị thành niên ở các hoàn cảnh khác nhau về mức sống, nơi ở, trình độ học vấn của cha mẹ, giới tính của vị thành niên không?
- Mô hình phân công lao động của cha mẹ và mô hình quyền quyết định các công việc trong gia đình của cha mẹ có ảnh hưởng đến quan điểm của vị thành niên về
sự phân công lao động và quyền quyết định giữa nam giới và phụ nữ trong gia đình không?
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của một bộ phận vị thành niên Việt Nam độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình vẫn tiếp tục duy trì quan niệm về sự phân công lao động và quyền quyết định các công việc giao đình theo mô hình truyền thống
- Nữ vị thành niên có nhận thức về bình đẳng giới tốt hơn nam vị thành niên; Nhóm vị thành niên ở khu vực thành thị, nhóm có mức sống cao hơn, nhóm vị thành niên có cha mẹ trình độ học vấn cao hơn có nhận thức tốt hơn so với các nhóm vị thành niên còn lại
- Vị thành niên trong những gia đình có sự bình đẳng giữa cha và mẹ trong phân công lao động và quyền quyết định các công việc gia đình có nhận thức tốt hơn
về sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các công việc này so với nhóm còn lại
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Phương pháp luận chung: Tiếp cận từ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về các vấn đề giới Đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và những chính sách, văn bản pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới
- Phương pháp luận chuyên biệt: Sử dụng một số lý thuyết xã hội học như: Lý thuyết về Giới và Phát triển, lý thuyết về vai trò xã hội
Từ đó vận dụng các lý thuyết này vào việc giải thích nhận thức của vị thành niên Việt Nam hiện nay về bình đẳng giới, sự biến đổi trong nhận thức và các yếu tố tác động đến nhận thức về bình đẳng giới của nhóm xã hội này
Trang 45.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp
Đề tài “Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi 15 đến 17 về bình đẳng giới và các yếu tố tác động” sử dụng phương pháp phân tích số liệu có sẵn từ Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống
kê, Viện Gia đình và Giới phối hợp thực hiện điều tra trên địa bàn 64 tỉnh/ thành phố trong cả nước với tổng số mẫu là 9.300 hộ gia đình, chia ra làm 3 nhóm đối tượng: nhóm từ 18 đến 60 tuổi, nhóm từ 61 tuổi trở lên và nhóm vị thành niên từ 15-17 tuổi
Các thông tin chi tiết về Cuộc điều tra này có thể tham khảo trong Kết quả điều
tra Gia đình Việt Nam năm 2006 hoặc tham khảo trên website của Tổng cục Thống
và quyết định công việc trong gia đình, khuôn mẫu truyền thống, khu vực sinh sống,
sự ảnh hưởng của các nhóm bạn bè, giáo dục của nhà trường,
6 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên Việt
Nam độ tuổi từ 15 đến 17 Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn
ở tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình
- Khách thể nghiên cứu: Nhóm vị thành niên từ 15 đến 17 tuổi
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: 64 tỉnh/ thành phố trên cả nước
Phạm vi thời gian: Năm 2006
7 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần bổ sung những nghiên cứu về nhận thức đối với vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là nhận thức của nhóm vị thành niên
- Cung cấp những luận giải khoa học cho việc đánh giá hiệu quả của công cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Luận văn “Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi 15 đến 17 về bình đẳng giới và các yếu tố tác động” chủ yếu chú trọng đến nghiên cứu, tìm hiểu nhằm
phát hiện cái mới trong nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới và những yếu tố
có ảnh hưởng đến nhận thức Do đó, trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ này, chúng tôi không nhấn mạnh đến việc đưa ra các kiến nghị, giải pháp cho vấn đề nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm vị thành niên
Ở Việt Nam, vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi Thanh niên là từ 16 - 24 tuổi Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 [11; tr.1]
Đối tượng của cuộc nghiên cứu này là vị thành niên trong độ tuổi từ 15- 17 vì những lý do sau: Đây là nhóm tuổi phù hợp nhất để tiến hành điều tra (vì độ tuổi từ 15-
17 có thể được xem là tương đối lớn để trả lời các câu hỏi được thiết kế trong bảng hỏi
mà không cần sự có mặt của cha mẹ) Trong luận văn này, thuật ngữ vị thành niên được dùng để chỉ nhóm tuổi từ 15- 17
1.1.1.2 Khái niệm nhận thức
Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển hiện đại về Xã hội học, “Nhận thức là quá
trình trong đó cá nhân nhận biết và lý giải môi trường sống của mình Nhận thức bao gồm tất cả các quá trình mà nhờ nó cá nhân tìm được tri thức, bao gồm quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ghi nhớ, tìm tòi, tưởng tượng, phán xét” [18; tr 56]
Khái niệm nhận thức trong luận văn này được dùng với nghĩa là quá trình mà nhóm vị thành niên hiểu biết ý nghĩa và giá trị về bình đẳng giới và tiếp nhận, học hỏi được những tri thức khoa học về bình đẳng giới biểu hiện ở trình độ hiểu biết, tri thức
về bình đẳng giới Từ góc độ xã hội học, khái niệm nhận thức nói đến quá trình nhận thức về xã hội thông qua các tương tác xã hội, ví dụ nhận thức về bình đẳng giới qua tương tác giữa các thành viên trong gia đình Đó là sự hiểu biết của vị thành niên về các quan niệm, giá trị, chuẩn mực liên quan đến mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong các khía cạnh của đời sống xã hội
1.1.1.3 Khái niệm Bình đẳng giới
Theo Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới là nam và nữ có vị trí, vai trò ngang
nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
Trong đề tài luận văn này, chúng tôi sử dụng quan điểm về bình đẳng giới với nhận thức giới, theo đó, bình đẳng giới là nam giới và nữ giới được tạo điều kiện tối đa
để phát huy khả năng của họ cũng như thụ hưởng các thành quả đó có tính tới những yếu
tố khác biệt tự nhiên giữa nam giới và nữ giới
1.1.2 Những lý thuyết xã hội học vận dụng trong đề tài
1.1.2.1 Lý thuyết về Giới và Phát triển
Lý thuyết về Giới và Phát triển dựa trên quan niệm rằng sự khác biệt giữa nam
và nữ nhất thiết phải được giải thích bằng hai khái niệm đi liền nhưng có sự tách biệt
Trang 7rõ ràng Thứ nhất, đó là sự khác biệt về đặc điểm sinh học, còn gọi là giới tính, liên quan chủ yếu đến vai trò sinh sản Thứ hai là đặc điểm xã hội, còn gọi là giới, có liên quan đến các yếu tố thể chế chính trị, tôn giáo, văn hoá, kinh tế,… Trong hai nhóm đặc điểm này, các yếu tố xã hội có vai trò quyết định đối với bản chất của các tương quan giữa nam và nữ trong gia đình và xã hội Nếu một gia đình (tương tự như một xã hội)
đã xây dựng được các quan hệ tôn trọng và bình đẳng giữa vợ và chồng thì đó không phải
là do các đặc điểm sinh học của mỗi cá nhân mà do quá trình giáo dục của cha mẹ, của nhà trường, do môi trường sống và làm việc được tạo dựng bởi các chính sách cụ thể, bởi các cơ hội mà xã hội mang lại cho mỗi người với tư cách là phụ nữ và nam giới và cuối cùng do những nỗ lực của bản thân từng người
Áp dụng lý thuyết về giới trong nghiên cứu này sẽ cho ta thấy được sự tác động của các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội đến quan niệm, nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới Theo đó, vị thành niên chịu sự tác động từ chính khuôn mẫu trong gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội, từ đó dẫn đến những quan niệm khác nhau trong các vấn đề như phân công lao động, vai trò của từng giới và mối quan hệ quyền lực của nam giới và nữ giới trong các quyết định gia đình…
1.1.2.2 Lý thuyết vai trò xã hội
Lý thuyết vai trò xã hội trong xã hội học được đề cập nhiều nhất khi giải thích
về các vấn đề giới Quan điểm này nhấn mạnh rằng những hành vi ứng xử của con người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các vai trò xã hội mà họ đóng (Eagly, 1987)
Tuổi vị thành niên là bước đệm để một đứa trẻ bước vào cuộc sống của người trưởng thành, ở đó họ phải đảm nhận các vai trò, ở các vị trí khác nhau, một mặt là do
sự phấn đấu của từng cá nhân, một mặt là tiếp nhận những vai trò theo khuôn mẫu truyền thống Ở lứa tuổi vị thành niên, các em đã biết giúp đỡ gia đình theo khả năng cũng như sự phân công vai trò cho từng đối tượng Cũng ở chính giai đoạn này, các em
đã học hỏi và từng bước hình thành nên nhận thức của mình về bình đẳng giới thông qua các vai trò của mình đảm nhiệm cũng như khuôn mẫu vai trò được giáo dục qua các khuôn mẫu trong gia đình và ngoài xã hội
Định kiến giới tồn tại trong từng xã hội đã ảnh hưởng đến nhận thức của mỗi người trong đó về vị trí, vai trò gán cho từng giới Những định kiến này đã áp đặt trong nhận thức của vị thành niên, qua đó giáo dục khuôn mẫu bất bình đẳng giới cho họ Do
đó, cần thiết phải có sự thay đổi khuôn mẫu giáo dục truyền thống sang khuôn mẫu hiện đại về giới Vị thế của người phụ nữ không phải là vị thế cố định mà là vị thế áp đặt đối với người phụ nữ Để thay đổi được vị thế này, sự thay đổi trong nhận thức của
vị thành niên là sự khởi đầu cần thiết Chính vì thế, giáo dục giới cho vị thành niên là vấn đề đặc biệt quan trọng
Một số thuật ngữ cơ bản trong lý thuyết vai trò là thuật ngữ sự mong đợi về vai trò và chuẩn mực, sự đánh giá vai trò và sự trừng phạt Tuy nhiên đây lại chính là
Trang 8những rào cản lớn để xoá bỏ đi những nhận thức mang tính bất bình đẳng giới Theo thuyết vai trò, nhiều sự khác biệt giới là sản phẩm của các vai trò xã hội khác nhau được nam giới hoặc phụ nữ chiếm lĩnh Thuyết vai trò cũng nêu ra ý tưởng là các vai trò xã hội thường dẫn đến những khuôn mẫu xã hội Điều này gợi ý rằng có thể dần xoá bỏ những khuôn mẫu giới không phù hợp bằng vào việc thay đổi các vai trò giới
trong thực tế
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA VỊ
THÀNH NIÊN 2.1 Đặc điểm vị thành niên và các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
Nơi ở: Cuộc nghiên cứu tiến hành điều tra vị thành niên trên cả nước, trong đó
vị thành niên sống ở nông thôn chiếm tỉ lệ 78,2%, vị thành niên sống ở thành thị là 21,8% Tỉ lệ này cũng tương ứng với tỉ lệ phân bố dân số nông thôn- đô thị ở nước ta hiện nay
Giới tính: Giới tính của vị thành niên tham gia phỏng vấn có sự phân bố tương
đối đồng đều cho cả hai giới, trong đó nữ vị thành niên là 1205 em (chiếm tỉ lệ 49,1%)
và nam vị thành niên là 1247 em (chiếm tỉ lệ 50,9%)
Độ tuổi: Trong 2452 em tham gia cuộc điều tra, vị thành niên 15 tuổi chiếm
27,7% số người được phỏng vấn, vị thành niên 16 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 38,9% và
vị thành niên 17 tuổi là 33,4%
Mức sống: Luận văn phân tích mức sống thành 3 nhóm chính: Nhóm có mức
sống từ khá trở lên (gồm 2 nhóm giàu có, khá giả) có 303 em, chiếm tỉ lệ 12,4%; Nhóm có mức sống trung bình có 1673 em, chiếm tỉ lệ 68,2% và nhóm có mức sống nghèo và rất nghèo có 472 em, chiếm tỉ lệ 19,2%
Trình độ học vấn của bố và mẹ vị thành niên: Vị thành niên có bố mẹ ở trình
độ học vấn THCS chiếm tỉ lệ cao nhất là 45,7%, tiếp đến là có bố mẹ trình độ học vấn
TH là 25,4%, PTTH là 14,9%, từ trung cấp trở lên là 7,8%, mù chữ là 6,2%
2.2 Nhận thức về bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình
2.2.1 Nhận thức về bình đẳng giới trong công việc gia đình
Theo mô hình phân công lao động truyền thống, đàn ông làm việc bên ngoài gia đình, còn công việc của phụ nữ là ở trong gia đình Với nhận định, người chồng lo kiếm tiền là chủ yếu, còn vợ chăm sóc con và làm các công việc nội trợ, tỉ lệ vị thành niên đồng tình với quan điểm này chiếm 54,9% Trong khi đó đối với nhận định ngược lại, nếu người vợ lo kiếm tiền là chủ yếu, còn chồng chăm sóc con và làm các công việc nội trợ thì tỉ lệ đồng tình tương ứng là 4,4% Đây là sự chênh lệch tương đối lớn, cho thấy quan điểm phân công lao động truyền thống vẫn còn bảo lưu mặc dù đã có sự cải thiện đáng kể
Trang 9Số liệu điều tra cho thấy, có 89,4% vị thành niên cho rằng công việc nội trợ thích hợp với phụ nữ, 0,5% trả lời là thích hợp với nam giới, 10% là cả nam giới và phụ nữ Hầu như vai trò của nam giới trong các công việc nội trợ không đáng kể Xã hội có thể chấp nhận việc đi làm kiếm tiền của người phụ nữ nhưng không chấp nhận được việc họ có thể đóng vai trò trụ cột kinh tế và rất ít người nhìn nhận về việc nam giới cần chia sẻ nhiều hơn với phụ nữ trong công việc nội trợ
Khi tìm hiểu về việc chăm sóc trẻ em, tỉ lệ vị thành niên cho rằng công việc này thích hợp với nữ giới chiếm 79,8%, thích hợp với nam giới chiếm 0,7%, thích hợp với
cả nam giới và nữ giới chiếm 19,2% Điều này cho thấy sự bảo lưu trong một bộ phận lớn vị thành niên quan niệm truyền thống coi “thiên chức” của người phụ nữ là sinh đẻ thì cũng gắn với việc chăm sóc, dạy dỗ trẻ em trong gia đình Và phải chăng trong quan niệm của nhiều người, chính từ quãng thời gian “mang nặng đẻ đau” khiến người phụ nữ trở nên khéo léo, thích hợp với việc chăm sóc trẻ nhỏ hơn là nam giới?
Mặc dù vậy, lại có sự thay đổi rõ rệt khi tìm hiểu về người thích hợp với công việc chăm sóc người già, người ốm Tuy có sự chênh lệch đáng kể trong nhận định về vai trò hai giới trong chăm sóc người già/ người ốm (tương ứng với nam là 2% và nữ
là 48,2%) nhưng tỷ lệ vị thành niên cho rằng chăm sóc người già, người ốm thích hợp với cả hai giới (49,2%) cao hơn đáng kể so với các công việc khác như nội trợ (10%)
và chăm sóc trẻ em (19,2%)
Sự khác biệt này lại càng thể hiện rõ sự bất bình đẳng trong phân công lao động gia đình giữa nam và nữ Nếu như chăm sóc người già, người ốm là công việc phù hợp với cả hai giới thì không có lý do gì để cho rằng chăm sóc trẻ em là công việc chủ yếu phù hợp với phụ nữ Như vậy không phải nam giới không làm được những công việc chăm sóc trong gia đình, mà họ đã không nhìn nhận rằng đó cũng là trách nhiệm của
họ
Tóm lại, theo quan điểm của nhiều vị thành niên hiện nay, phụ nữ là người thích hợp hơn với những công việc trong gia đình như nội trợ, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người già ốm Đặc trưng của phân công vai trò giới truyền thống trong gia đình là người chồng giữ vai trò trụ cột về kinh tế, còn người vợ làm nội trợ
2.2.2 Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế
Khi tìm hiểu quan điểm về người thích hợp với các công việc liên quan đến các hoạt động tạo thu nhập, chúng ta thấy được vai trò chủ yếu của nam giới trong lĩnh vực này, đồng thời cũng thấy ở đây sự phân công lao động theo giới rõ rệt Cụ thể, 33,8%
vị thành niên cho rằng việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình là phù hợp với nam giới trong khi chỉ có 4% cho rằng đó là việc phù hợp với nữ giới
Những số liệu này cho thấy, trên thực tế, dù người phụ nữ có đóng góp quan trọng trong kinh tế gia đình nhưng theo quan niệm của nhiều người, vai trò này vẫn chưa được thừa nhận đúng với đóng góp của họ
Trang 10Bên cạnh đó, có một vai trò ngầm dành cho phụ nữ đó là “quản lý đời sống trong gia đình”, nữ giới chủ yếu phải đảm đương các công việc trong gia đình, do vậy,
họ cũng đồng thời là người giữ tiền để chủ động trong các sinh hoạt hằng ngày của gia đình Vì vậy, có 65,4% vị thành niên trả lời việc giữ tiền là công việc thích hợp với phụ nữ, 7,8% cho rằng thích hợp với nam giới Tỉ lệ này cũng phản ánh phần nào quan niệm về bản tính của người phụ nữ là chặt chẽ còn bản tính của nam giới là phóng khoáng, do đó phụ nữ phù hợp hơn với việc giữ tiền
2.2.3 Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động giao tiếp
Thực tế ở cộng đồng và xã hội, phụ nữ vẫn ít có tiếng nói trong các công việc quan trọng Điều này bắt nguồn từ vị trí thấp của phụ nữ trong các cấp lãnh đạo và niềm tin phổ biến rằng phụ nữ thì ít quyết đoán và có trình độ nhận thức thấp nên dễ
“nói sai” Trong xã hội tồn tại định kiến cho rằng chuyện chính trị là lĩnh vực của nam giới Thêm vào đó, trong hầu hết các gia đình, nam giới thường làm chủ hộ, do đó họ
sẽ được mời tham gia họp nhiều hơn phụ nữ
Kết quả điều tra cho thấy, tỉ lệ vị thành niên cho rằng việc tiếp khách lạ hay thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền là công việc phù hợp với nam giới chiếm tỉ
lệ tương đối cao (tương ứng 60,1% và 72,5%), trong khi phụ nữ giữ vai trò rất nhỏ (tương ứng 3,7% và 1,9%) Những số liệu này tương tự với kết quả của một cuộc điều tra đã có trước đó về nhận thức của nam thanh niên về người nên giữ vai trò chính
trong các hoạt động giao tiếp trong gia đình [14; tr.60]
Như vậy, nhận thức truyền thống về phân công lao động theo giới vẫn được bảo lưu ở các vị thành niên độ tuổi 15- 17 Trong đó, nam giới được cho là thích hợp với những công việc như sản xuất kinh doanh, làm kinh tế, thay mặt gia đình đối nội, đối ngoại… Các công việc nội trợ, chăm sóc người già, trẻ em vẫn được cho là công việc của phụ nữ Số liệu điều tra cho thấy trong nhận thức của nhóm vị thành niên này đã
có sự bình đẳng hơn về trách nhiệm trong hoạt động kinh tế, lao động sản xuất nhưng chưa có sự bình đẳng trong các công việc gia đình
2.3 Nhận thức về bình đẳng giới trong quyền quyết định các vấn đề của gia đình
2.3.1 Nhận thức về quyền quyết định trong các vấn đề chi tiêu
Điều tra với 2452 vị thành niên ở độ tuổi 15- 17, khi hỏi về việc sau khi lập gia đình, ai nên là người quyết định chính trong việc chi tiêu, nếu chỉ so sánh giữa vợ và chồng trong các quyết định thì sẽ thấy sự chênh lệch không nhỏ giữa người vợ và người chồng trong các nội dung chi tiêu khác nhau Người vợ là người quyết định trong các chi tiêu hằng ngày chiếm tỉ lệ tương đối cao (77%) nhưng tỉ lệ quyết định trong các nội dung chi tiêu được cho là chi tiêu lớn như mua bán/ xây sửa nhà đất hay mua các đồ đạc đắt tiền lại chiếm tỉ lệ rất thấp (tương ứng là 0,7% và 6%) Trong khi
đó, người chồng thì ngược lại, tỉ lệ vị thành niên cho rằng người chồng nên là người