1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ các làng nghề ở tỉnh nam định ( nghiên cứu trường hợp làng nghề cơ khí xuân tiến, huyện xuân trường, tỉnh nam định)

20 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ các làng nghề ở Tỉnh Nam Định (Nghiên cứu trường hợp Làng nghề cơ khí Xuân Tiến, Huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam Định)
Tác giả Nguyễn Quỳnh Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Ngọc Ca
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 476,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ các làng nghề ở Tỉnh Nam Định nghiên cứu trường hợp Làng nghề cơ khí Xuân Tiến, Huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam Định Nguyễn Quỳnh Trang Trư

Trang 1

Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ các làng nghề ở Tỉnh Nam Định ( nghiên cứu trường hợp Làng nghề cơ khí Xuân Tiến, Huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam Định)

Nguyễn Quỳnh Trang

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn Thạc sĩ ngành: Quản lý khoa học và công nghệ

Mã số: 60 34 72 Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Ngọc Ca

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới công nghệ và làng nghề

Nhận diện những rào cản và phân tích thực trạng hoạt động sản xuất và đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định Đưa ra một số giải pháp thúc đẩy đổi

mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định

Keywords Đổi mới công nghệ; Sản xuất; Quản lý khoa học; Quản lý công nghệ;

Làng nghề cơ khí; Nam Định

Content

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu:

Tỉnh Nam Định có 94 làng nghề, mỗi năm các làng nghề đóng góp từ 13-15 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Đến năm 2004, công nghiê ̣p dân doanh làng nghề của Nam Đi ̣nh đã chiếm 50% giá trị sản xuất công nghiệp trên đi ̣a bàn tỉnh, giải quyết hàng trăm ngàn lao động, có nhiều nghề đã trở thành nguồn thu nhập chính

Hầu hết các làng nghề đều phổ biến tình trạng công nghệ và thiết bị sản xuất ở trình độ lạc hậu, chắp vá, mẫu mã cũ, kiến thức tay nghề không toàn diện, tiêu hao nhiều nguyên liệu, phát thải nhiều chất gây ô nhiễm ra môi trường, sức cạnh tranh kém Tuy nhiên vấn đề đổi mới công nghệ sản xuất của các làng nghề hiện nay vấp phải không ít những khó khăn, cần được nhận diện để từ đó có được các giải pháp phù hợp

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đổi mới công nghệ là nhằm đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh, do đó đây là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu trong thời gian gần đây

Trang 2

Đã có những nghiên cứu chỉ ra những rào cản đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nói chung, và trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng Tuy nhiên vẫn chưa có những nghiên cứu sâu tập trung vào việc nhận diện những rào cản thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề, để có thể đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ Riêng đối với các làng nghề tại tỉnh Nam Định cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nhận diện các rào cản trong thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề của tỉnh

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định,

từ đó đề xuất giải pháp khắc phục các rào cản để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các làng nghề ở tỉnh Nam Định

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các khó khăn trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ của các làng nghề ở tỉnh Nam Định

- Phạm vi không gian: Các làng nghề của tỉnh Nam Định, nghiên cứu sâu tại làng nghề cơ khí Xuân Tiến, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

- Phạm vi thời gian: 05 năm từ năm 2006 đến nay

5 Mẫu khảo sát:

- Mẫu khảo sát không gian: các cơ sở sản xuất tại làng nghề Xuân Tiến, nghiên cứu 5

cơ sở sản xuất (Công ty cổ phần Thanh Bằng, Công ty TNHH Nhật Việt, Doanh nghiệp tư nhân Tân Việt, Xí nghiệp cơ khí Quang Tuyến, Xưởng cơ khí Thế Sự)

- Hình thức khảo sát: Phỏng vấn sâu chủ hoặc người quản lý các doanh nghiệp/cơ sở sản xuất trên thông qua phiếu hỏi

6 Câu hỏi nghiên cứu:

- Yếu tố nào là rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề của tỉnh Nam Định?

- Làm thế nào để hạn chế các rào cản đó để thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định?

7 Giả thuyết nghiên cứu:

Việc chậm đổi mới công nghệ tại các làng nghề tỉnh ở Nam Định xuất phát từ các rào cản:

- Rào cản từ chính bên trong các làng nghề: Nhận thức không đầy đủ, trình độ nhân lực thấp, quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn, thiếu thông tin…

- Rào cản từ việc thiếu các chính sách đủ mạnh và từ trong công tác quản lý nhà nước đối với các làng nghề

8 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu

- Phương pháp quan sát thực tế

- Phương pháp phỏng vấn sâu

9 Kết cấu của luận văn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ LÀNG NGHỀ

1.1 Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ

Trang 3

1.2 Khái niệm về làng nghề

1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất và hoạt động đổi mới công nghệ của các làng nghề Việt Nam

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH NAM ĐỊNH

2.1 Hoạt động sản xuất và thực trạng công nghệ của các làng nghề ở tỉnh Nam Định

2.2 Những rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH NAM ĐỊNH

3.1 Giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, vận động các cơ sở sản xuất tại các làng nghề chú trọng đến đổi mới công nghệ

3.2 Giải pháp về hỗ trợ đào tạo nhân lực cho làng nghề

3.3 Giải pháp hỗ trợ về tài chính và đầu tư cho phát triển công nghệ theo nhu cầu thực tế của các làng nghề

3.4 Giải pháp hỗ trợ thông tin, và tư vấn tìm kiếm, lựa chọn công nghệ

3.5 Giải pháp tằng cường các chính sách hỗ trợ của nhà nước

3.6 Giải pháp quản lý nhà nước các làng nghề

KẾT LUẬN

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ LÀNG NGHỀ 1.1 Khái niệm về rào cản, công nghệ và đổi mới công nghệ

1.1.1 Khái niệm về rào cản

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “rào cản” có thể hiểu là việc ngăn, không cho vượt qua, là sự trở ngại, ngăn cách [http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn]

1.1.2 Khái niệm về công nghệ

Khái niệm “công nghệ” vốn dĩ là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau

Luật KH&CN năm 2000 có định nghĩa Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Còn theo Luật chuyển giao công nghệ 2006 thì Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

1.1.3 Khái niệm đổi mới công nghệ

Theo OECD: Đổi mới KH&CN có thể được xem như là biến đổi một ý tưởng thành sản phẩm mới có thể bán được hoặc thành quá trình vận hành trong công nghiệp, trong thương mại hoặc thành phương pháp mới về dịch vụ xã hội

Theo hội đồng tư vẫn KH&CN Anh: Đổi mới công nghệ là quá trình kỹ thuật, công nghiệp, thương mại nhằm marketing sản phẩm mới, nhằm sử dụng các quá trình kỹ thuật và thiết bị mới

Trang 4

1.2 Khái niệm về làng và làng nghề

1.2.1 Khái niệm làng

Làng vốn là một đơn vị hành chính trong hệ thống hành chính của các triều đại phong kiến nước ta trước đây Từ năm 1945, sau khi nước ta giành độc lập, theo hiến pháp 1946,

1959, 1980 và đặc biệt là Hiến pháp 1992 đã quy định rõ hệ thống chính quyền 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã Dưới xã tổ chức thành các thôn/ xóm/ bản và “khái niệm” làng để chỉ địa danh của một cụm dân cư gồm nhiều thôn/ xóm/ bản hợp thành

1.2.2 Khái niệm làng nghề

Khái niệm làng nghề hiện vẫn được hiểu và đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận

nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống Theo đó “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.”

1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất và hoạt động đổi mới công nghệ của các làng nghề Việt Nam

Theo nhà nghiên cứu Trần Minh Yến, trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International – Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống

Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề hiện Việt Nam đang có khoảng 2.790 làng nghề, thu hút 1,42 triệu hộ gia đình tham gia, với khoảng 1,35 triệu lao động chính và hàng triệu lao động phụ trong lúc nông nhàn Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%, tập trung tại Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ Kim ngạch xuất khẩu của khu vực làng nghề không ngừng tăng, từ 273,7 triệu USD (Năm 2000) lên 900 triệu USD (năm 2009)

Tính từ giai đoạn Cách mạng tháng 8, sau khi nước ta giành được độc lập đến nay, có thể chia lịch sử phát triển của các làng nghề như sau:

- Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác xã Tại một số làng nghề

đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước XHCN, với các hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ Chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa của các sản phẩm này đều được quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước Cũng chính trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một

- Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với sức

ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng Đồng thời hệ thống bao cấp đã ngày càng bộc lộ các điểm hạn chế khiến cho các hộ nông dân

Trang 5

và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát Nhiều làng nghề đã được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân

- Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển

- Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với sự dỡ bỏ cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế mà điển hình là việc Việt Nam gia nhập WTO đã giúp cho các thị trường của Việt Nam không ngừng được mở rộng Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, nhiều làng nghề mới đã được hình thành

Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005

Các thách thức hiện nay tại các làng nghề

Thách thức mà các làng nghề phải đối mặt chính là hiện nay các làng nghề còn phát triểu theo kiểu tự phát, mang tính phong trào, thiếu quy hoạch, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ sản xuất lạc hậu, trang thiết bị máy móc cũ kỹ, chắp vá không đảm bảo an tòan và các tiêu chuẩn về kỹ thuật, trình độ lao động còn yếu kém Sức cạnh tranh kém

do không có sự đầu tư và chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu cho mình, đồng thời do khâu sản xuất không đảm bảo các quy định về an toàn, vệ sinh dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp

Đồng thời, tình trạng thiếu vốn, thiếu thông tin về thị trường cũng là các vấn đề phổ biến tại hầu hết các làng nghề Bên cạnh đó, cơ sợ hạ tầng phục vụ cho phát triển làng nghề còn rất yếu và thiếu nên chưa phục vụ tốt được cho các khâu vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm

Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề cũng đang diễn ra rất nhức nhối tại các khắp các địa phương trên cả nước Hầu hết các làng nghề Việt Nam hiện nay đã và đang bị ô nhiễm

Cuối cùng, do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới các làng nghề lại càng phải chịu những ảnh hưởng nặng nề hơn do tình hình lạm phát tăng cao, giá cả leo thang, sản xuất đình trệ, thị trường tiêu thụ bị bó hẹp lại, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn…

Trong tình hình hiện nay, quan tâm và đầu tư cho đổi mới công nghệ chính là một giải pháp tối ưu nhằm tăng lực cạnh tranh cho các làng nghề

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI

CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Hoạt động sản xuất và thực trạng công nghệ của các làng nghề ở tỉnh Nam Định

2.1.2 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Nam Định

Nam Định nằm ở cực Nam châu thổ sông Hồng Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 1.652,29 km2, được chia thành 10 đơn vị hành chính

Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tuyến hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai - Hà Nội - Hải

Trang 6

Phòng, Hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và Vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ, có mạng lưới giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho Nam Định phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong vùng, cả nước và quốc tế Song mặt khác cũng là một thách thức lớn đối với Nam Định trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nưóc ngoài

2.1.2 Tổng quan về các làng nghề tỉnh Nam Định

Lịch sử hình thành và đặc điểm của làng nghề tỉnh Nam Định

Hiện nay theo thống kê của Sở Công thương tỉnh Nam Định có 94 làng nghề đang hoạt động, mỗi năm các làng nghề đóng góp từ 13 – 15 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, giải quyết việc làm cho một luợng lớn lao động trong tỉnh Năm 2004, công nghiệp dân doanh làng nghề của Nam Định đã chiếm 50% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Chính quyền tỉnh Nam Định luôn coi việc phát triển kinh tế làng nghề là nhiệm vụ quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Nam Định

Mô hình hình thành và phát triển làng nghề tỉnh Nam Định

Tương ứng với các giai đoạn lịch sử có thể tạm chia các mô hình hình thành và phát triển của các làng nghề tỉnh Nam Định như sau:

- Giai đoạn trước năm 1960: Làng nghề được hình thành do yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng của người dân , trước hết là đi ̣a bàn khu vực Mô hình tổ chức sản xuất của các cơ sở trong làng nghề giai đoạn này chỉ là mô hình hô ̣ sản xuất Sản xuất dựa vào sức người là chính, số lươ ̣ng và chủng loa ̣i sản phẩm ít , thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu ở địa bàn khu vực hoă ̣c trong nước Trong giai đoa ̣n này , mô hình hình thành và phát triển làng nghề đươ ̣c xác đi ̣nh như sau: Ông tổ nghề + Phường hô ̣i nghề = Làng nghề

- Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1990: quan hê ̣ sản xuất trong làng nghề đã có những bước phát triển cao hơn trước Dưới tác đô ̣ng của các chính sách phát triển kinh tế - xã

hô ̣i của Nhà nước , nhiều hợp tác xã tiểu thủ công nghiê ̣p đã được thành lâ ̣p Giai đoa ̣n này , các làng nghề truyền thống , làng nghề mới với hạt nhân là các hợp tác xã đã được hình thành

và phát triển mạnh Mô hình hình thành và phát triển làng nghề trong giai đoa ̣n này được xác

đi ̣nh là: Chủ nhiệm + Hợp tác xã + Sự hỗ trợ của nhà nước = Làng nghề

- Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: sau khi Luâ ̣t doanh nghiê ̣p tư nhân , Luâ ̣t công ty (sau này là Luâ ̣t doanh nghiê ̣p ) ra đời, nhiều làng nghề đã hình thành và phát triển dựa trên các nghề truyền thống và các nghề mới Giai đoa ̣n này chứng kiến sự lớn ma ̣nh cả về quy mô, sản lượng, chủng loại và chất lượng của sản phẩm làng nghề Mô hình làng nghề trong giai đoa ̣n này được xác định như sau : Doanh nhân + Doanh nghiê ̣p + Sự giúp đỡ của Nhà nước = Làng nghề

Trong thời gian vừa qua các làng nghề của tỉnh Nam Định đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và quy mô Các làng nghề được phân bố theo các huyện, thành phố như sau:

Bảng 1: Các làng nghề phân bố theo địa bàn hành chính huyện và thành phố năm

2010

Trang 7

TT Tên huyện,

thành phố

Số làng nghề

Tỷ lệ % so với tổng số làng nghề

Số làng nghề truyền thống

Tỷ lệ % so với tổng làng nghề truyền thống

Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển làng nghề CN-TTCN tỉnh Nam Định 2007

Bảng 2: Phân loại các làng nghề tỉnh Nam Định theo ngành nghề năm 2010

TT Tên ngành nghề

Số làng nghề

Tỷ lệ % so với tổng số làng nghề

Số làng nghề truyền thống

Tỷ lệ % so với làng

nghề truyền thống

Nguồn: Tổng hợp số liệu về làng nghề CN-TTCN tỉnh Nam Định năm 2010

Tính đến cuối năm 2006, số lao động sản xuất CN – TTCN của các làng nghề tỉnh Nam Định là 47.837 lao động trên tổng số 88.695 lao động của toàn bộ các làng nghề Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề chủ yếu là hộ cá thể Vì vậy lao động sử dụng trong các làng nghề chủ yếu là lao động gia đình ở các làng nghề, số lao động thuê ngoài chỉ chiếm 5% Thu nhập bình quân của người lao động từ trên 350.000 đồng tại các làng nghề sản xuất chiếu cói, nón lá đến 1.200.000 đồng tại các làng nghề cơ khí đúc

Trang 8

Năm 2006 giá trị sản xuất CN – TTCN tại các làng nghề tỉnh Nam Định đạt khoảng 732.162.000.000 đồng, giá trị xuất khẩu ước đạt 506.000 USD Giá trị sản xuất của các làng nghề ước đạt 650 tỷ đồng, thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là ở trong nước

Làng nghề đã góp phần tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh, trong đó năm sau lại cao hơn năm trước Cụ thể năm 2003 các làng nghề đã đóng góp vào ngân sách của tỉnh 41.298.000.000 đồng, năm 2004 là 56.351.000.000 đồng và năm 2005 là 67.000.000 đồng

Hiện tại các làng nghề của tỉnh vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn cả từ bên trong lẫn bên ngoài trong quá trình phát triển của mình Thiết bị, máy móc ở các làng nghề nhìn chung đều cũ, lạc hậu và chắp vá

2.1.3 Tổng quan về làng nghề cơ khí Xuân Tiến

Xã Xuân Tiến thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Nam Định Xuân Tiến là một trong những làng nghề cơ khí lớn nhất tại tỉnh Nam Định được hình thành khởi đầu từ nghề đúc đồng truyền thống

Trải qua thời gian, trước những đòi hỏi của thị trường, sức ép của cạnh tranh, để có thể tồn tại và thích ứng được với những yêu cầu ngày càng cao của thị trường, làng nghề Xuân Tiến đã mở rộng sản xuất sang các mặt hàng cơ khí vừa và nhỏ Hiện nay các cơ sở sản xuất của làng nghề đã cho ra đời các sản phẩm đòi hỏi không chỉ bàn tay tài hoa của người thợ mà còn đòi hỏi trình độ cao về kỹ thuật như máy đập lúa, máy bóc lạc, tách ngô, máy trộn

bê tông, máy ép gạch…

Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện cho việc phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội của địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân làng nghề Ông Mai Xuân Thành – Chủ tịch UBND xã Xuân Tiến ông Mai Xuân Thành cho biết: Tính đến năm 2003, Xuân Tiến là xã đứng đầu huyện Xuân Trường về số máy điện thoại trên 100 người dân, 100% người dân được dùng nước sạch, y tế đã được đưa đến từng thôn

Theo báo cáo tổng quan làng nghề Xuân Tiến thì đến năm 2003, cả xã có hơn 300 hô ̣ làm nghề thu hút trên 2.500 lao đô ̣ng, trong đó có 1 công ty cổ phần , 5 công ty trách nhiê ̣m hữu ha ̣n và 3 doanh nghiê ̣p tư nhân Đến năm 2009 tổng số doanh nghiệp trong xã đã lên tới con số 30 trong đó chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn Tính đến năm 2009, cả xã Xuân Tiến có tới 85% hộ dân hoạt động trong các ngành nghề cơ khí, dịch vụ Giá trị sản xuất công ngiệp – tiểu thủ công nghiệp của làng nghề Xuân Tiến trong năm 2010 đạt 41.300.000.000 đồng và giá trị xuất khẩu đạt 20.000 đô la Mỹ

Làng nghề cơ khí Xuân Tiến được xác định là đơn vị điển hình nhất về phát triển làng nghề của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nhưng đến nay cũng chỉ đang ở trong tình trạng nỗ lực ổn định, duy trì vị thế và có rất ít cơ hội phát triển mới Làng nghề Xuân Tiến đang phải đối mặt với không ít những khó khăn thách thức Các sản phẩm của làng nghề đang phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm khác trên thị trường, đồng thời do tình trạng nền kinh tế đang có nhiều khó khăn nên thị trường tiêu thụ sản phẩm đang ngày một co hẹp lại Một sản phẩm làm ra do phải cạnh tranh khốc liệt, nên giá thành phải giảm xuống mức tối

đa, trong khi đó do công nghệ sản xuất không hiện đại, mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ lại không được cải tiến, cập nhật thường xuyên dẫn đến việc sản phẩm sản xuất ra chất lượng,

Trang 9

hình thức chủ yếu vẫn dậm chân tại chỗ Sản phẩm sản xuất ra không thể tiêu thụ, tồn kho nhiều, vốn bị dồn lại một chỗ không thể quay hồi để tiếp tục đầu tư cho sản xuất

Để tồn tại làng nghề cần phải tiếp tục đầu tư, nghiên cứu để sản xuất thêm nhiều sản phẩm mới, nâng cao chất lượng để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của thị trường, đồng thời phải tìm cách để tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu và hạ giá thành sản phẩm

do sức ép cạnh tranh với các sản phẩm truyền thống của làng nghề đang ngày một lớn

Bên cạnh đó làng nghề Xuân Tiến cũng đang gặp phải một vấn đề đau đầu đó chính là

ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nếu tình trạng ô nhiễm làng nghề không được cải thiện thì

có thể khiến cho làng nghề phải đứng trước nguy cơ bị xóa sổ

Trước thực tế đó, làng nghề Xuân Tiến hiểu rằng phải chú trọng hơn nữa đến việc đầu

tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, gia tăng sức cạnh tranh cũng như để đảm bảo an toàn lao động, sản xuất thân thiện với môi trường

Tuy nhiên bài toán đổi mới công nghệ của làng nghề Xuân Tiến đang vấp phải vô số những rào cản khác nhau xuất phát từ tư duy, nhận thức, chất lượng nguồn nhân lực, nguồn vốn… cho đến những rào cản từ việc thiếu các chính sách đủ mạnh của nhà nước nhằm hỗ trợ cho làng nghề đổi mới công nghệ

2.2 Những rào cản trong thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định

2.2.1 Rào cản về mặt nhận thức

Rào cản thúc đẩy đổi mới công nghệ trước hết xuất phát từ chính các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề cũng như những lao động tại đây Xuất thân là người nông dân đã quen với nếp sống tiêu nông của người chủ sản xuất nhỏ đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất tại các cơ sở làng nghề nói chung, và việc đổi mới công nghệ nói riêng Họ chỉ nhìn thấy cái lợi truớc mắt mà không tính toán đến lợi ích lâu dài

Tại hầu hết các cơ sở sản xuất, người đứng đầu thường là các thành viên trong gia đình, lao động trong các cơ sở này phần nhiều là họ hàng, bạn bè Do đó cách thức hoạt động cũng mang đặc thù quản lý theo kiểu gia đình, nặng về tình cảm, cả nể mà thiếu đi tính rõ ràng, chuyên nghiệp trong hoạt động quản lý và sản xuất kinh doanh

Nhiều làng nghề truyền thống sử dụng lao động chỉ gói gọn trong gia đình, theo kiểu

“cha truyền con nối”, “gia truyền”, “bí truyền” không coi trọng việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, vô hình chung gây cản trở cho việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới, thúc đẩy đổi mới công nghệ

Các quyết định kinh doanh của người đứng đầu các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại các làng nghề đều mang nặng tính chủ quan, không căn cứ vào đặc điểm, nhu cầu của thị trường Họ không nhận thức đầy đủ được vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển Cho nên các làng nghề chỉ cố gắng để bán ra cái mình đang có chứ không phải cái mà thị trường đang cần

Ngay tại làng nghề Xuân Tiến – làng nghề tiêu biểu của tỉnh Nam Định, nơi tập trung rất nhiều các doanh nghiệp cơ khí sản xuất thì nhận thức về vấn đề đổi mới công nghệ cũng chưa tốt Đơn giản bởi ngay những người đứng đầu các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất này cũng đều có xuất phát điểm là người nông dân chưa qua đào tạo, thiếu những kiến thức cơ bản nhất về chuyên môn nghiệp vụ Trong điều kiện không có đủ thông tin và kiến thức về thị

Trang 10

trường và công nghệ, lại không được đào tạo bài bản thì nhận thức về đổi mới công nghệ của người dân sống tại các làng nghề lại càng yếu kém

2.2.2 Rào cản về quy mô sản xuất và trình độ nhân lực

Rào cản về quy mô sản xuất

Quy mô sản xuất tại các làng nghề ở Nam Định chủ yếu dừng lại ở quy mô nhỏ, phân tán không đồng đều, quy trình công nghệ sản xuất đơn giản, tinh xảo mang tính cổ truyền có

bí quyết riêng của mỗi nghề, mỗi làng qua từng giai đoạn Phần lớn sản xuất ở các làng nghề

là do tự phát, sản xuất theo các hộ riêng lẻ nên vốn đầu tư cho sản xuất khá khiêm tốn, các công nghệ đều phần lớn là thô sơ, lạc

Do không có quy hoạch nên cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc đầu

tư xây dựng nhà xuởng, kho bãi kiên cố, thay đó vào đó chủ yếu là mang tính chất tạm bợ, các chủ doanh nghiệp vì thế cũng ngại không muốn đầu tư để hiện đại và kiên cố nơi sản xuất, kinh doanh

Các cơ sở sản xuất phần lớn đều nằm lẫn cùng với khu dân cư, vừa là nơi sản xuất vừa là nơi ở, nên rất chật chội, tù túng, điều kiện an toàn, vệ sinh môi trường không được đảm bảo Các máy móc, trang thiết bị được sử dụng ở đây hầu hết được nhập khẩu từ Trung Quốc, hoặc Đài Loan, chỉ có một số ít là được nhập mới trong vòng năm trở lại đây, số còn lại có niên đại từ 10 – 20 năm, rất nhiều trong số đó khi hỏng hóc không có phụ tùng thay thế,

đã được chắp vá, và sửa chữa theo kiểu tận dụng

Tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở làng nghề, một người thường phải đảm đương nhiều vị trí, công việc khác nhau mà gần như không có sự phân công, chuyên môn hóa công việc Hầu hết các vị trí quan trọng như người đứng đầu chịu trách nhiệm lãnh đạo, quản lý mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh hay người làm sổ sách, kế toán, thu chi, công nợ,… trong các cơ sở này đều là các thành viên trong gia đình Ở các cơ sở này hầu như không có người chuyên trách về kỹ thuật, đảm nhiệm các công việc liên quan đến máy móc, thiết bị, kỹ thuật sản xuất,…

Rào cản về trình độ năng lực:

Rào cản về trình độ, năng lực của đội ngũ quản lý

Cả chủ và lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề phần lớn đều không có trình độ chuyên môn cao, không được đào tạo chính quy, bài bản Họ chủ yếu làm việc theo bản năng, kinh nghiệm cho nên gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp thu các kiến thức mới về công nghệ, cũng như gặp khó khăn trong việc tìm hiểu thị truờng công nghệ, mở rộng việc hợp tác, liên kết để thực hiện đổi mới công nghệ

Hiện nay, hầu hết đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở sản xuất tại làng nghề còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh và cạnh tranh quốc tế; trình độ ngoại ngữ và khả năng áp dụng tin học hóa cũng chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập

Tại làng nghề Xuân Tiến, theo ông Mai Xuân Thành – Chủ tịch UBNX xã Xuân Tiến cho biết, hầu hết các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở đây đều xuất phát từ người nông dân

đi lên, nhiều người thậm chí chưa tốt nghiệp hết cấp 3

Rào cản về trình độ năng lực của đội ngũ lao động

Ngày đăng: 24/01/2014, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển làng nghề CN-TTCN tỉnh Nam Định 2007. - Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ các làng nghề ở tỉnh nam định ( nghiên cứu trường hợp làng nghề cơ khí xuân tiến, huyện xuân trường, tỉnh nam định)
gu ồn: Báo cáo tình hình phát triển làng nghề CN-TTCN tỉnh Nam Định 2007 (Trang 7)
Bảng 2: Phân loại các làng nghề tỉnh Nam Định theo ngành nghề năm 2010 TT Tên ngành nghề  - Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ các làng nghề ở tỉnh nam định ( nghiên cứu trường hợp làng nghề cơ khí xuân tiến, huyện xuân trường, tỉnh nam định)
Bảng 2 Phân loại các làng nghề tỉnh Nam Định theo ngành nghề năm 2010 TT Tên ngành nghề (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w