Xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống và xã hội về chất lượng nguồn nhân lực, từ mục tiêu, vị trí, vai trò bộ môn và thực tiễn dạy học Lịch sử ở trường THPT, cùng với sự trăn trở với
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Hoạt động học tập là một khâu của quá trình dạy học Trong học tập thì lấy
tự học làm cốt lõi Tự học là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm đạt đến một mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại Sự nỗ lực
đó của con người bao gồm cả tư duy, trí tuệ, động cơ tâm lí, thái độ tình cảm Hay nói cụ thể hơn, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng cá nhân Và theo đó, kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào năng lực tự học của mỗi người Có thể thấy rằng, tự học là một vấn đề quan trọng, là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy chỉ là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học
Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành “xã hội học tập” và việc phát triển một nền “giáo dục suốt đời” càng có ý nghĩa Việc học tập suốt đời giúp con người luôn cập nhật những kiến thức, những hiểu biết mới có ý nghĩa về mặt xã hội, chính trị, văn hóa, góp phần tích cực trong việc xây dựng xã hội bền vững Trong việc học, tự học là vấn đề cốt lõi để giải quyết vấn đề học tập suốt đời Nhưng vấn đề đặt ra là tự học như thế nào? Hình thành năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông (THPT) ra sao đối với từng môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng cũng là vấn đề cần phải bàn luận Trong xã hội hiện đại, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, sự cùng nổ của cuộc cách mạng 4.0 đã có tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục nói chung và quá trình tự học nói riêng, thì việc hướng dẫn, giáo dục và hình thành năng lực tự học cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng của người thầy Chỉ có dạy cách học và học cách tự học, tự sáng tạo mới đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội
Hiện nay, giáo dục cũng như các ngành kinh tế xã hội khác đang gặp phải những khó khăn, thách thức lớn do dịch bệnh Covid – 19 gây ra Từ trường hợp được ghi nhận đầu tiên ngày 23/1/2020, đến nay Việt Nam đã trải qua bốn đợt dịch, trong đó, đợt dịch thứ 4 (từ 27/4/2021) đang diễn ra hết sức phức tạp tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam Do dịch bệnh, nhiều địa phương đã
Trang 2phải thực hiện giãn cách xã hội, do vậy, rất nhiều trường học phải chuyển từ dạy – học trực tiếp sang trực tuyến Việc học sinh tạm dừng đến trường đã đặt ra khó khăn và thách thức lớn đối với các nhà trường trong việc duy trì chất lượng giảng dạy Trong bối cảnh đó, việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh nói chung lại càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết
Xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống và xã hội về chất lượng nguồn nhân lực, từ mục tiêu, vị trí, vai trò bộ môn và thực tiễn dạy học Lịch sử ở trường THPT, cùng với sự trăn trở với nghề, lòng nhiệt tình mong muốn các em học sinh luôn hứng thú và say mê bộ môn Lịch sử nhiều hơn, cũng như giúp các em tự học tốt môn Lịch sử trong giai đoạn dịch bệnh Covid -19, tác giả đã quyết định tiến hành triển khai giải pháp trong dạy học môn Lịch sử như sau:
Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến (Hiện trạng dạy – học Lịch
sử ở trường THPT trước khi tạo ra sáng kiến)
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu, đặc biệt qua thực trạng dạy – học trong tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, tác giả nhận thấy việc rèn luyện năng lực
tự học nói chung và năng lực tự học môn Lịch sử nói riêng cho học sinh trong các nhà trường trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Để nắm rõ về thực trạng tự học của học sinh, tác giả đã tiến hành điều tra tại một số trường THPT và thu được kết quả
về tình hình thực tế như sau:
* Về phía giáo viên
Việc học tập môn Lịch sử là quá trình nhận thức biến những kiến thức khoa học lịch sử tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại, được lựa chọn thành kiến thức của mình Trong giảng dạy môn Lịch sử, hầu hết giáo viên đã cố gắng thay đổi phương pháp dạy học, sử dụng nhiều kĩ thuật dạy học hiện đại theo hướng phát triển năng lực người học, lấy người học làm trung tâm Trong quá trình đó, giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và định hướng các hoạt động, giúp học sinh tự học, tự lĩnh hội kiến thức Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở các trường
Trang 3THPT hiện nay, giáo viên vẫn chủ yếu giảng giải, minh họa, cho ghi chép vì lo học sinh không có tài liệu để ôn thi Nhiều giáo viên chưa thực sự thay đổi phương pháp dạy học phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hóa các hoạt động của học sinh để tạo cho các em suy nghĩ, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức Vì thế, nhiều học sinh không nắm được nội dung cốt lõi của bài mà chỉ học một cách máy móc, dẫn đến việc khi trả lời câu hỏi chưa tóm tắt được nội dung theo ý hiểu của mình, không chắt lọc được kiến thức, phụ thuộc vào sách giáo khoa hay vở ghi Việc này, căn bản đã hạn chế vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh Trong quá trình thực hiện bài dạy, nhiều giáo viên tiến hành hoạt động khởi động chưa hiệu quả, chưa nêu được vấn đề cần nhận thức của bài học, điều này làm giảm sự tập trung chú ý của học sinh đối với bài học ngay từ hoạt động đầu tiên Khi kết thúc bài học, nhiều giáo viên chưa dành thời gian thích hợp để hướng dẫn học sinh tự học ở nhà một cách chu đáo, vì thế, hiệu quả tự học của học sinh chưa cao
Khi dịch Covid – 19 xuất hiện, nhiều trường học nằm trong vũng giãn cách
xã hội phải chuyển sang hình thức học trực tuyến, cả giáo viên và học sinh đều bỡ ngỡ và gặp rất nhiều khó khăn Hầu hết, giáo viên đều đã cập nhật và sử dụng các phần mềm dạy học trực tuyến như zoom, out meeting, olm.vn, shub – classroom Tuy nhiên, do hạn chế tiếp xúc trực tiếp, hạn chế trong việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học, nhiều giáo viên vẫn lúng túng trong việc hướng dẫn, tổ chức cho học sinh hình thành kiến thức mới Tình hình đó cho thấy, nếu giáo viên không có giải pháp trong việc rèn năng lực tự học cho học sinh thì không thể hoàn thành mục tiêu của môn học
* Về phía học sinh
Hiện nay học sinh chán học sử, tỏ thái độ thờ ơ, đối phó với bộ môn là thực trạng phổ biến Qua điều tra thực tế các trường THPT trên địa bàn huyện về thực trạng học môn Lịch sử của học sinh từ khi dịch Covid – 19 xuất hiện, tác giả thu được một số một số kết quả như sau:
- Đại bộ phận học sinh học một cách thụ động, chủ yếu dựa vào tài liệu giáo viên cho ghi chép để học thuộc, dẫn đến tình trạng học sinh học thuộc được kiến
Trang 4thức nhưng không tường minh, vì vậy không biết kết nối các kiến thức cũ để có kiến thức mới
- Học sinh học chủ yếu chỉ để đối phó với thi cử, kiểm tra nên ý thức học để
tự giải quyết vấn đề chưa trở thành động lực trong học tập, chưa chủ động làm phong phú thêm kiến thức cho bản thân
- Việc học trên lớp còn mang tính chất một chiều, nghĩa là chủ yếu giáo viên truyền thụ kiến thức (đặc biệt đối với khối lớp 12 – do yêu cầu thi cử), học sinh rất
ít khi trình bày ý kiến của mình, vì cho rằng kiến thức của mình yếu kém, không
đủ tự tin để trình bày
- Do quan niệm môn chính, môn phụ, các em thường tập trung vào các môn
tự nhiên hay các tổ hợp có nhiều cơ hội việc làm, nên không chú trọng đến môn Lịch sử, nhiều học sinh lười học, chưa có niềm say mê, chưa ham thích và chưa có
ý thức tự học Học sinh đến lớp hầu như không chuẩn bị bài, trên lớp ít chú ý, khi
có câu hỏi thảo luận hoặc xuất hiện các tình huống có vấn đề, nhiều học sinh không tham gia động não nên việc học không đạt hiệu quả cao
- Khi dịch Covid – 19 xuất hiện, nhiều trường phải tạm dừng đến trường và chuyển sang hình thức dạy – học trực tuyến Nhiều học sinh chưa chuẩn bị được các điều kiện về công nghệ thông tin để học Trong quá trình học, do đường truyền mạng kém, cả giáo viên và học sinh thường bị out ra khỏi lớp, điều này làm cho việc học bị gián đoạn Giáo viên cũng khó có thể sát xao với từng học sinh, khó quản lí được việc học trước màn hình máy tính hoặc điện thoại của học sinh Thêm vào đó, tình trạng học sinh học online một cách đối phó diễn ra khá phổ biến, nhiều học sinh đăng nhập vào lớp nhưng chưa có ý thức học nghiêm túc, còn làm việc riêng, chưa tập trung, chú ý vào bài giảng Tất cả những yếu tố đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy rằng, hơn bao giờ hết, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, việc rèn luyện năng lực tự học Lịch sử cho học sinh là một việc làm cần thiết và là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng của người thầy để đảm bảo duy trì chất lượng dạy và học Lịch sử Rèn luyện năng lực tự học Lịch sử cho học sinh có vị trí quan trọng trong việc đào tạo người lao
Trang 5động có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, giúp học sinh đào sâu, củng cố , mở rộng kiến thức khi phải học trực tuyến Đó cũng là biện pháp thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử trong tình hình dịch bệnh, tiếp tục thực hiện mục tiêu đào tạo và phát triển toàn diện con người
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến (Biện pháp rèn luyện năng lực
tự học Lịch sử cho học sinh)
Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh bao gồm những nội dung sau:
- Trang bị cho học sinh những kiến thức về phương pháp học tập bộ môn Đặc trưng của kiến thức lịch sử là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, hệ thống.Vì vậy, con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh phải đi từ nghiên cứu sự kiện, tạo biểu tượng để hình thành khái niệm, rút ra qui luật và bài học lịch sử Giáo viên cần căn cứ vào đặc trưng này để hình thành và rèn luyện cho học sinh phương pháp học tập bộ môn, trong đó có phương pháp tự học
- Hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tự học ở trên lớp (trong trường hợp học trực tiếp tại trường), ở nhà (trong cả trường hợp học trực tiếp và trực tuyến), và các hoạt động ngoại khóa (nếu có điều kiện tổ chức)
- Năng lực tự học lịch sử còn bao gồm cả yếu tố thái độ, đạo đức như ý chí, lòng quyết tâm, tính kiên trì, tinh thần vượt khó trong học tập
Các nội dung trên có quan hệ mật thiết, đan xen vào nhau Thông qua rèn luyện các kĩ năng tự học, giáo viên sẽ trang bị cho học sinh kiến thức và phương pháp học tập bộ môn Nếu giáo viên có kiến thức lịch sử uyên thâm, phương pháp giảng dạy hay nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian tự học, không nỗ lực, không tích cực, tự giác thì kết quả học tập sẽ không cao
Để rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh, giáo viên có thể sử dụng các biện pháp như sau:
2.1 Trường hợp học trực tiếp trên lớp
Trong trường hợp tình hình dịch bệnh ổn định, học sinh vẫn được đến trường, việc rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh diễn ra ngay khi
ở trên lớp, ở nhà và khi tham gia các hoạt động ngoại khóa Khi hoạt động dạy –
Trang 6học diễn ra bình thường trên lớp, giáo viên có thể rèn luyện năng lực tự học cho học sinh theo các biện pháp như sau:
* Thứ nhất, rèn luyện cho học sinh biết tự điều chỉnh khi nghe giảng để nắm vững các kiến thức cơ bản cần hình thành
Nội dung của mỗi bài học là rất nhiều, trong vòng một tiết học, học sinh không thể ghi chép hết tất cả những nội dung giáo viên truyền đạt, mà cần phải biết chắt lọc những nội dung chủ yếu, cốt lõi nhất Để giúp học sinh làm được điều này giáo viên cần:
- Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ ràng và định hướng phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện giúp học sinh hình dung các công việc cần phải thực hiện để giải quyết được nhiệm vụ được giao Điều này thể hiện
ở việc xây dựng tình huống học tập trong hoạt động khởi động, nêu vấn đề trước mỗi nội dung bài học, gợi ý, định hướng cho học sinh về cách thức thực hiện nhiệm vụ,
* Ví dụ: Khi dạy Bài 3: Các nước Đông Bắc Á, lớp 12 – chương trình
chuẩn, trong hoạt động khởi động, giáo viên cho học sinh quan sát lược đồ khu
vực Đông Bắc Á, yêu cầu học sinh quan sát và trả lời các câu hỏi:
+ Đây là khu vực nào? Kể tên các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực
+ Tình hình các nước trong khu vực trước chiến tranh thế giới thứ hai có điểm gì nổi bật? (Với câu hỏi này học sinh sử dụng kiến thức đã được hình thành năm lớp 11 để trả lời)
+ Giáo viên nêu vấn đề: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình khu vực
có những chuyển biến như thế nào?
Qua hoạt động khởi động nêu trên, giáo viên đã giao nhiệm vụ cho học sinh một cách rõ ràng, học sinh có thể sử dụng kiến thức địa lí, sự hiểu biết của bản thân và kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề đó Tuy nhiên, trong vấn đề cuối cùng: Những biến đổi của khu vực sau chiến tranh thế giới thứ hai thì những hiểu biết và kiến thức của học sinh chưa đủ để giải quyết, tình huống đó đã tạo ra một rào cản của nhận thức, vì vậy sẽ tạo được hứng thú lớn của học sinh khi vào bài mới
Trang 7- Kích thích học sinh tích cực, độc lập suy nghĩ, tự hình thành kiến thức cơ bản thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở, hướng dẫn, vận dụng trình bày nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh làm việc nhóm để giúp học trình trả lời được vấn đề của mục hay toàn bài
* Ví dụ: khi học bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
tháng Tám (1939 – 1945) Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, lớp 12 – chương trình chuẩn, tìm hiểu về hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương tháng 11/1939 và tháng 5/1941, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu bằng cách lập bảng so sánh như sau:
Nội dung Hội nghị 11/1939 Hội nghị 5/1941 Địa điểm
- Hướng dẫn học sinh biết kết hợp các công việc trong quá trình nghe giảng: vừa nghe giảng, vừa ghi chép, vừa trao đổi thảo luận, theo dõi sách giáo khoa Trong quá trình hình thành kiến thức mới học sinh phải tự ghi chép được những
Trang 8nội dung cơ bản của bài theo dàn ý và tự đặt ra những câu hỏi, thắc mắc để giải quyết trên lớp hoặc tiếp tục suy nghĩ ở nhà
- Kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh để đánh giá mức độ lĩnh hội, hình thành kiến thức mới, mức độ nắm vững kiến thức và kết quả hoạt động nhận thức độc lập của học sinh Đây là một trong những khâu rất quan trọng của quá trình dạy – học, giúp giáo viên đánh giá chính xác hiệu quả dạy – học trên lớp, mức độ nhận thức của học sinh Có nhiều cách kiểm tra đánh giá, giáo viên có thể kiểm tra trong quá trình diễn ra tiết học, hoặc cuối giờ, kiểm tra theo hình thức trò chơi, câu hỏi ngắn, câu hỏi trắc nghiệm
* Thứ hai, rèn luyện cho học sinh biết cách chọn lọc kiến thức để ghi chép theo ý hiểu của bản thân
Thực tế hiện nay ở trường phổ thông tồn tại hai xu hướng ghi chép bài: đó là ghi sơ lược dàn bài hoặc ghi chép tỉ mỉ, chi tiết, dàn trải Cả hai cách ghi bài này đều gây cho học sinh những khó khăn nhất định trong quá trình học tập trên lớp và
ở nhà Ghi bài sơ sài học sinh không hình dung được nội dung cụ thể của bài học, đặc biệt sẽ không đáp ứng được yêu cầu của thi cử hiện nay Còn nếu ghi bài quá chi tiết, tỉ mỉ và dàn trải thì việc học lại trở thành đọc – chép, học sinh bị động, và đặc biệt là trên lớp không có đủ thời gian Muốn cho học sinh ghi chép tỉ mỉ, giáo viên lại phải nhồi nhét, vội vàng, tiết học lại trở nên căng thẳng với cả thầy và trò
Vì lí do trên, giáo viên cần hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh biết cách ghi chép tóm tắt nội dung bài học sao cho ngắn gọn, đủ ý, chính xác, dễ hiểu, dễ nhớ, gợi tư duy Muốn vậy, học sinh phải biết tổng hợp nhanh, ghi chép nhanh, ghi nhớ các vấn đề và biết cách trình bày trong vở ghi Để làm được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết cách:
- Ghi dàn ý bài học theo nội dung chính của bài học mà giáo viên trình bày trên bảng và đối chiếu với sách giáo khoa để ghi lại những sự kiện chính
- Cụ thể hóa nội dung bài học bằng những hình ảnh đơn giản, phù hợp với nội dung bài học và kiến thức cần được hình thành
- Ghi các số liệu, niên đại quan trọng, niên biểu, đồ thị
Trang 9- Ghi lại các tài liệu lịch sử gốc, những câu nói nổi tiếng của các danh nhân, câu trích không có trong sách giáo khoa
- Ghi những từ mới, thuật ngữ để hiểu nội dung khái niệm, kiến thức cơ bản của bài học
- Ghi những phân tích, đánh giá, mở rộng và những hướng dẫn, dặn dò của giáo viên
* Ví dụ:
Khi dạy học Mục I - Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến
tranh thế giới thứ hai (1945 – 1949) – lớp 12 – chương trình chuẩn , giáo viên
cần hướng dẫn học sinh nắm được những ý chính, khái quát về Hội nghị Ianta:
ý
Như vậy, để rèn luyện năng lực tự học trên lớp cho học sinh, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh biết cách ghi chép nội dung bài học theo ý hiểu, hướng dẫn học sinh biết cách xây dựng đề cương, tóm tắt sách giáo khoa, đoạn trích khi đọc sách giáo khoa lịch sử Đồng thời, trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên cần trình bày bảng khoa học theo hệ thống, logic, giúp học sinh dễ nhớ, dễ hiểu Điều này đòi hỏi giáo viên cần xác định đúng những kiến thức cơ bản cần ghi lên bảng, nhấn mạnh những kiến thức cần phân tích, mở rộng trong khi giảng bài
* Thứ ba, rèn luyện học sinh biết kết hợp sử dụng sách giáo khoa với vốn sống thực tế cùng với những kiến thức đã học để tự trả lời câu hỏi, bài tập của giáo viên
Trang 10Việc tự trả lời các câu hỏi của giáo viên đưa ra trong các giờ học sẽ giúp học sinh nhớ nhanh, nhớ lâu, hiểu sâu sắc kiến thức và phát triển tư duy độc lập cho các em Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giáo viên có thể sử dụng nhiều câu hỏi (tùy đối tượng học sinh) để học sinh động não, suy nghĩ trả lời như câu hỏi, vấn đề nhận thức được đặt ra ở đầu giờ, đầu mỗi mục, hệ thống các câu hỏi gợi mở trong suốt quá trình tiến hàn bài học mang nội dung tìm kiếm từng phần hay phân tích, đánh giá, khái quát sự kiện, hiện tượng lịch sử, câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức Trên cơ sở yêu cầu của câu hỏi, giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng các nguồn kiến thức đã có và hướng dẫn học sinh quy trình giải quyết từng loại câu hỏi phù hợp
* Ví dụ: Khi dạy học Mục I - Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau
chiến tranh thế giới thứ hai (1945 – 1949) – lớp 12 – chương trình chuẩn, để
học sinh hiểu rõ hơn về thành phần tham dự hội nghị Ianta, giáo viên đặt câu hỏi:
“Tại sao thành phần tham dự hội nghị Ianta gồm có 3 nước Liên Xô, Mĩ Anh?”
Học sinh sẽ sử dụng những kiến thức đã được học về Chiến tranh thế giới thứ hai năm lớp 11 để giải thích: đây là những nước trụ cột trong phe đồng minh,
có vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít
* Thứ tư, rèn luyện học sinh biết sử dụng sách giáo khoa một cách hợp lí, hiệu quả
Sách giáo khoa là tài liệu học tập cơ bản của mỗi học sinh để có thể tự học trên cơ sở có hướng dẫn của giáo viên Nội dung sách giáo khoa lịch sử cung cấp cho học sinh những hệ thống tri thức khoa học, chính xác về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc Qua đó, rèn luyện cho học sinh tư duy logic biện chứng, năng lực
tự học lịch sử và giáo dục thế giới quan khoa học, chính xác, những tư tưởng, tình cảm đúng đắn Để làm được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện những công việc sau:
- Tìm trong sách giáo khoa những nội dung cần thiết để trả lời câu hỏi khi giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra thông qua việc hướng dẫn học sinh đọc từng phần nội dung bài viết hoặc sử dụng các đoạn chữ nhỏ trong sách giáo khoa
Trang 11* Ví dụ: Khi dạy học Mục I - Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau
chiến tranh thế giới thứ hai (1945 – 1949) – lớp 12 – chương trình chuẩn, để
làm rõ sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa các nước lớn ở châu Âu và châu Á, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác phần chữ nhỏ trong sách giáo khoa để thấy được sự phân chia giữa các nước lớn, từ đó giải thích được tác động của những quyết định đó đối với sự hình thành trật tự thế giới hai cực do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực
- Hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình để hiểu sâu sắc kiến thức thông qua tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị, và đọc được các loại bản đồ lịch sử Để học sinh được rèn luyện khả năng này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh khai thác từng loại kênh hình sao cho phù hợp với đặc thù mỗi loại và theo một quy trình nhất định
* Ví dụ: khi học bài 6: Nước Mĩ, lớp 12 – chương trình chuẩn, để hiểu rõ
hơn về sự phát triển khoa học kĩ thuật của Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai, học
sinh có thể khai thác hình 18: Trung tâm Hàng không vũ trụ Ken – nơ – đi Giáo
viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bằng cách miêu tả, nhận xét hình ảnh để rút ra đặc điểm của sự phát triển khoa học kĩ thuật của nước Mĩ
* Thứ năm, hướng dẫn học sinh biết tự chuẩn bị bài mới
Để việc học trên lớp nhanh chóng và hiệu quả, học sinh cần có sự chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách đọc sách giáo khoa để tóm tắt nội dung chủ yếu của bài học, ghi lại những nội dung không hiểu, đặc biệt là các thuật ngữ, khái niệm… điều này giúp học sinh có một tâm thế sẵn sàng, chủ động trong quá trình hình thành kiến thức mới trên lớp
* Ví dụ: Khi dạy học bài 10: Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế
toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX, lớp 12 – chương trình chuẩn, giáo viên hướng
dẫn học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà với các nội dung sau:
- Nguồn gốc, đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
- Khái niệm, biệu hiện, tác động của xu thế toàn cầu hóa
- Tìm hiểu các khái niệm cơ bản: cách mạng khoa học – công nghệ; lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa
Trang 12Bằng cách giao nhiệm vụ như trên, học sinh có thể dễ dàng chuẩn bị các nội dung của bài 10 ở nhà và triển khai bằng nhiều cách như sơ đồ hóa, làm poster Điều này giúp cho quá trình học ở trên lớp sẽ đơn giản, dễ dàng và hứng thú hơn
* Thứ sáu, rèn luyện năng lực tự học thông qua các hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường phổ thông, có tác dụng tích cực trong việc giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, góp phần cùng với các tiết học trên lớp hoàn thành nhiệm vụ bộ môn Qua hoạt động ngoại khóa, học sinh được rèn luyện khả năng làm việc độc lập với sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và các nguồn kiến thức khác Trên cơ sở đó, học sinh nắm vững kiến thức qua việc tìm tòi, nghiên cứu Vì vậy, nếu tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa sẽ có tác dụng lớn trong việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh Hình thức hoạt động ngoại khóa rất đa dạng: đọc sách, kể chuyện, trao đổi, thảo luận, tham quan, dã ngoại, sưu tầm tài liệu lịch sử địa phương Thông qua hoạt động ngoại khóa, giáo viên rèn được cho học sinh nhiều thói quen tự học như: tự ôn luyện kiến thức, đọc sách, sưu tầm hình ảnh, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn