thông mới chủ yếu là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực tri thức của nhân loại, được kế thừa từ Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhưng được tổ chức l
Trang 1MỤC LỤC
II 1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 3
II 1.2.1 Mục tiêu giáo dục Chương trình giáo dục phổ thông mới 6 II.1.2.2 Chương trình giáo dục phổ thông mới có gì khác so với chương
II.1.3 Môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông mới 10 II.1.3.1 Khái quát nội dung giáo dục môn Lịch sử 10
II 1.3.3 Đánh giá kết quả giáo dục môn Lịch sử 13
II 1.3.4 Bản chất của qúa trình dạy học lịch sử ở trường THPT 13
II 1.5 Thực trạng dạy và học môn Lịch sử hiện nay 15
II 1.5.1 Phổ điểm thi THPT Quốc gia qua các năm 2018, 2019, 2020,
2021
15
II 1.5.2 Thực trạng dạy và học ở các trường THPT 20
II 1.5.3 Việc sử dụng các trang mạng xã hội trong học sinh THPT và
giáo viên
21
Trang 2II 2.1 Thế hệ Z 24
II 2.3.1 Khái niệm lớp học đảo ngược - Flipped Classroom 27
II 2.3.4 Quy trình dạy học Lịch sử theo mô hình lớp học đảo ngược 35
III.1 Hiệu quả kinh tế (Giá trị làm lợi tính thành tiền) 42 III.2 Hiệu quả về mặt xã hội (Giá trị làm lợi không tính thành tiền) 42
IV Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền 43 Phụ lục
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Môn Lịch sử thuộc môn khoa học xã hội Đây là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng, cung cấp những tri thức về quá khứ để hiểu hiện tại và hướng tới tương lai Môn Lịch sử giúp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế Đồng thời, học lịch sử còn bồi dưỡng lực tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống
Mặc dù là môn học có vai trò vô cùng quan trọng nhưng môn học này không được đánh giá cao cả trong nhà trường và ngoài xã hội Học sinh ngại học môn học
vì vừa dài, vừa khó, khó xin được việc khi ra trường Phụ huynh xem nhẹ, xã hội coi thường Số phận môn Lịch sử khiến nhiều người lo ngại Nhưng nếu quay lưng với Lịch sử, dân tộc mình sẽ đi về đâu?
Hiện nay ngành Giáo dục đang tiến hành đổi mới toàn diện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Môn Lịch sử đã và đang tiến hành đổi mới để đưa môn Lịch
sử về đúng vai trò, vị trí vốn có của nó Nhưng làm thế nào để học sinh yêu thích môn học đó câu hỏi trăn trở của nhiều người thầy Nhiều phương pháp dạy học tích cực được áp dụng khiến bài học Lịch sử trở nên hấp dẫn hơn, nhiều học sinh yêu thích với môn học hơn
Trong chương trình môn học Lịch sử hiện hành, học sinh THPT được tiếp cận các tri thức lịch sử cả thế giới và Việt Nam theo các phân kì: Cổ trung, cận đại
và hiện đại Qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy chương trình Lịch sử lớp 10 rất hay thu hút được học sinh bởi kiến thức Lịch sử thế giới và Việt Nam cổ trung, và một phần cận đại phong phú và đa dạng, kích thích sự tìm hiểu của học sinh Chương trình Lịch sử 12 cũng rất hay với những kiến thức về lịch sử thế giới hiện đại, nhiều
sự kiện gần gũi gắn với hiện tại, tuy nhiên chương trình này lại quá dài, nhiều sự kiện Để dạy hay được một bài thuộc Lịch sử lớp 12 là điều không dễ Nhưng đối với chương trình Lịch sử lớp 11 chủ yếu về lịch sử cận đại với nhiều bài học khô
Trang 4khan, ít tư liệu, nhất là việc giảm tải chương trình khiến cho giáo viên rất khó khăn trong việc làm thế nào để duy trì sự hứng thú của học sinh
Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 thực hiện ở lớp 10 trong năm học 2022-2023 và các năm học tiếp theo theo hướng tiếp cận và phát triển năng lực của học sinh Mục tiêu giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ
xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại Nội dung và phương pháp giảng dạy cũng thay đổi để phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới để đạt mục tiêu dạy học
Ngày nay, loài người đang ở thời đại công nghệ thông tin – thời đai 4.0 Những ứng dụng công nghệ thông tin giúp các hoạt động của con người trở nên dễ dàng hơn Công nghệ thông tin được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Công nghệ thông tin đang được ứng dụng rộng rãi trong ngành giáo dục để phát huy hiệu quả dạy và học ở các cấp Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc giảng dạy của giáo viên có những sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới
Theo thống kê, lượng người dùng mạng xã hội trên toàn thế giới tăng 8% trong 3 tháng vừa qua, lên mức 3,3 tỷ người, chiếm 43% dân số thế giới Ấn Độ là nước có lượng người dùng Facebook cao nhất thế giới, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 7 Điều này đồng nghĩa với việc các nền tảng mạng xã hội vẫn có hàng triệu người dùng mới mỗi ngày, hay bình quân 12,4 người dùng mới mỗi giây
Facebook vẫn đang dẫn đầu với 2,23 tỷ người dùng, YouTube và WhatsApp đồng hạng ở vị trí thứ 2 với 1,5 tỷ người dùng, tiếp sau đó là các nền tảng Facebook Messenger, WeChat, Instagram
Do sự phát triển của công nghệ nhất là các mạng xã hội khiến các kết nối trở nên dễ dàng hơn Việc giáo viên và học sinh liên hệ qua các mạng xã hội ngày càng phổ biến Việc dạy và học sẽ diễn ra mọi lúc, mọi nơi theo sự chủ động của người học với sự hỗ trợ của các phần mềm hiện đại Trước sự phát triển đó, việc hình thành một lớp học đảo ngược sẽ đem lại hiệu quả lớn đối với ngành giáo dục nói chung và môn Lịch sử nói riêng
Trang 5II Mô tả giải pháp
II 1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
II 1.1 Giáo viên với thời đại 4.0
Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, Việt Nam đang tiến lên nền kinh tế công nghiệp Cùng với nền kinh tế công nghiệp, Việt Nam đang hướng đến đi vào nền kinh tế tri thức Như vậy rõ ràng Việt Nam đang thực hiện đồng thời sự chuyển dịch kép
Nền kinh tế tri thức một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục - đào tạo phát triển; nhưng mặt khác, hết sức quan trọng, đòi hỏi rất nhiều ở giáo dục những khả năng mới về đội ngũ GV, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức, sự tác động của công nghệ đã làm cho thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc và thường xuyên Với sự bùng
nổ thông tin với sự xuất hiện Internet đặc biệt là sự ra đời của các mạng xã hội khiến cho việc trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, việc tiếp cận tri thức nhân loại rất thuận lợi và đầy đủ, khoảng cách không còn là vấn đề nữa Loài người đã chuyển sang nền văn minh mới: Văn minh trí tuệ
Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) bắt đầu diễn ra từ đầu những năm
2000 và đến khoảng năm 2013 thì xuất hiện cụm từ "công nghiệp 4.0" CMCN
4.0 là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi
dữ liệu và chế tạo, dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông tin CMCN 4.0 với đặc trưng của nó là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, rô bốt, Internet kết nối vạn vật, công nghệ di động không dây, máy tính lượng tử,
điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu nhanh, khoa học vật liệu, sinh học,
…Trong đó, đặc trưng cơ bản nhất là kết nối
Với những đặc trưng đó, CMCN 4.0 đã mở ra một thời đại mới trong tiến trình phát triển của nhân loại và tác động mạnh mẽ, làm thay đổi mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từ sản xuất kinh tế, dịch vụ, y tế, giao thông, hệ thống quản lí đến văn hóa, giáo dục
Trang 6CM 4.0 tất yếu dẫn đến nền giáo dục 4.0 Để phù hợp với thời đại mới, giáo dục đang có những cải cách sâu rộng và toàn diện Việc dạy và học không còn là truyền thụ tri thức, tiếp thu tri thức một cách bị động và một chiều, đơn giản chỉ là thầy đọc, trò chép Giáo dục chuyển sang các kĩ năng tự học, tự giải quyết vấn đề, hợp tác trao đối với nhau, tư duy phân tích, phản biện, tư duy sáng tạo, có khả năng thích nghi với các thách thức, đặc biệt là trí tuệ cảm xúc (EQ) cùng nhiều kĩ năng khác Trong đó, trong thời đại mới, các kĩ năng cần phải có là
- Kĩ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): như năng lực giải
quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ
- Kĩ năng tư duy: như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kĩ năng giải quyết vấn
đề, kĩ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời
- Kĩ năng làm việc: như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm
- Kĩ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức
công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn
đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa
Vậy trong thời đại mới, giáo viên có vai trò như thế nào, cần có những năng lực gì
Giáo viên vẫn là trung tâm trong thời đại số Yếu tố quyết định ở người dạy
chính là kiến thức, năng lực, phẩm chất và lòng yêu nghề Tình cảm thầy và trò là những giá trị không thể đo lường được trong Dạy và Học Không một máy móc nào
có thể làm được những điều ấy
Giáo viên là người tạo môi trường học tập, phát triển tính sáng tọc, tư duy của người học Và cũng là những người định hướng và dẫn dắt phát triển người học cả
về trí tuệ lẫn tình cảm Như vậy Công nghệ có phát triển như thế nào đi chăng nữa
cũng không thể thiếu người thầy Theo Phạm Hồng Quang : “vai trò người thầy trong học tập kết nối mạng đó là sáng tạo, phản biện và giáo dục”
Để đáp ứng yêu cầu mới, một giáo viên ngày nay phải
- Hiểu biết công nghệ thông tin và có khả năng ứng dụng chúng trong DH;
Trang 7- Khi DH phải nhận thức đúng đối tượng (đối tượng dạy - người học và đối tượng
DH - nội dung DH) trên cơ sở đó thao tác đúng đối tượng;
- Phải hiểu cấu trúc các phương pháp dạy học (PPDH), biết triền khai đúng quy trình và biết phối hợp các PPDH trong quá trình DH;
- Thấu hiểu cách học trong môi trường thông tin và truyền thông để có thể hướng dẫn HS học và có khả năng làm tốt vai trò cố vấn cho họ
- Có kiến thức đo lường và đánh giá trong DH để đánh giá chính xác khách quan kết quả học tập của người học, góp phần khẳng định chất lượng sản phẩm đào tạo của mình
- Quan trọng là lòng yêu nghề, mến trẻ, là gương sáng cả về trí tuệ và đạo đức
Như vậy, các kĩ năng một giáo viên cần phải có trong thời đại mới nhất là chương trình giáo dục phổ thông mới với yêu cầu mới của người thầy
-Về năng lực dạy học
+ Kĩ năng thiết kế và tổ chức DH theo định hướng phát triển năng lực người học
+Kĩ năng thiết kế và tổ chức DH-GD bằng trải nghiệm
+Kĩ năng DH tích hợp, lồng ghép, liên môn; DH theo chủ đề/chuyên đề
+ Kĩ năng sử dụng các phương pháp và kỹ thuật DH tích cực, hiện đại
+ Kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin và sử dụng thiết bị DH có hiệu quả + Kĩ năng thuyết trình, truyền thụ kiến thức sao cho HS hứng thú, có cảm hứng và yêu thích môn học
+ Kĩ năng đặt câu hỏi, dẫn dắt, nêu vấn đề trong DH
+ Kĩ năng tương tác với HS một cách cực
Trang 8+ Kĩ năng thiết kế các đề kiểm tra -đánh giá theo tiếp cận phát triển năng lực
HS
+ Kĩ năng và cách thức phát triển chương trình môn học
+ Hướng dẫn và tổ chức HS nghiên cứu khoa học, tự học …vv
-Về năng lực GD và quản lý lớp học
+ Các kiến thức về đặc điểm tâm lý lứa tuổi HS hiện nay
+ Kỹ năng tổ chức và quản lý lớp học (trong đó chú ý đến các vấn đề: cách xử
lý hành vi vi phạm đạo đức và GD HS cá biệt; cách quản lý HS trong và ngoài giờ học; cách tổ chức hoạt động sinh hoạt tập thể cho HS;…)
+ Các phương pháp giảng dạy kỹ năng sống, giá trị sống cho HS
+ Các kỹ năng mềm để kiềm chế cảm xúc tiêu cực và giao tiếp có hiệu quả với
HS
+ Kỹ năng ứng xử, giao tiếp, thiết lập mối quan hệ với đồng nghiệp, cha mẹ
HS và tập thể GV trong nhà trường để phối hợp GD HS
+ Kĩ năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường GD mới
+ Kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu chương trình phổ thông mới
II 1.2 Chương trình giáo dục phổ thông mới
II 1.2.1 Mục tiêu giáo dục Chương trình giáo dục phổ thông mới
Thứ nhất, về mục tiêu giáo dục, Chương trình giáo dục phổ thông mới tiếp
tục được xây dựng trên quan điểm coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con người toàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mĩ
Thứ hai, về phương châm giáo dục, Chương trình giáo dục phổ thông mới kế
thừa các nguyên lí giáo dục nền tảng như “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền với thực tiễn”, “Giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”
Thứ ba, về nội dung giáo dục, bên cạnh một số kiến thức được cập nhật để
phù hợp với những thành tựu mới của khoa học - công nghệ và định hướng mới của chương trình, kiến thức nền tảng của các môn học trong Chương trình giáo dục phổ
Trang 9thông mới chủ yếu là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực tri thức của nhân loại, được kế thừa từ Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhưng được tổ chức lại để giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực một cách hiệu quả hơn
Thứ tư, về hệ thống môn học, trong chương trình mới, chỉ có một số môn học
và hoạt động giáo dục mới hoặc mang tên mới là: Tin học và Công nghệ, Ngoại ngữ, Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học; Lịch sử và Địa lí, Khoa học tự nhiên ở cấp Trung học cơ sở; Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp Trung học phổ thông; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở các cấp Trung học
cơ sở, Trung học phổ thông
Thứ năm, về thời lượng dạy học, tuy chương trình mới có thực hiện giảm tải
so với chương trình hiện hành nhưng những tương quan về thời lượng dạy học giữa các môn học không có sự xáo trộn
Thứ sáu, về phương pháp giáo dục, chương trình mới định hướng phát huy
tính tích cực của học sinh, khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ một chiều
Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phổ biến và chỉ đạo áp dụng nhiều phương pháp giáo dục mới (như mô hình trường học mới, phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục STEM,…); do đó, hầu hết giáo viên các cấp học đã được làm quen, nhiều giáo viên đã vận dụng thành thạo các phương pháp giáo dục mới
Đặc biệt trong tình hình dịch bệnh Covid19 diễn biến phức tạp trong những năm vừa qua, ngành Giáo dục có những biện pháp thích ứng với tình hình một cách linh hoạt Nhiều lớp học online được diễn ra ở các cấp học trên khắp các tỉnh thành vừa phát huy tinh thần chống dịch, vừa đạt được hiệu quả giáo dục Việc tiếp cận với E-learning trên truyền hình cũng như trên Internet không còn xa lạ với học sinh trên khắp cả nước
II 1.2.2 Chương trình giáo dục phổ thông mới có gì khác so với chương trình hiện hành
Trang 10Thứ nhất, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được xây dựng theo
định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn
Theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”,
“đầu ra” của quá trình giáo dục Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế
Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân
Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học
Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục
Thứ hai, Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành có nội dung giáo dục
gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được xác định rõ ràng
Chương trình giáo dục phổ thông mới phân biệt rõ hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12)
Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, thực hiện yêu cầu của Nghị quyết 29, Nghị quyết 88 và Quyết định 404, chương trình thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp, thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lí
số môn học;
Đồng thời thiết kế một số môn học (Tin học và Công nghệ, Tin học, Công nghệ, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng
Trang 11nghiệp) theo các chủ đề, tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn những chủ đề phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân
Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, bên cạnh một số môn học
và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn những môn học và chuyên
đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình
Thứ ba, trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, sự kết nối giữa
chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học Việc xây dựng Chương trình tổng thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, đặt cơ sở cho sự kết nối này
Thứ tư, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thiếu tính mở nên hạn
chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả sách giáo khoa và giáo viên
Chương trình giáo dục phổ thông mới bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội
II 1.3 Môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông mới
II 1.3.1 Khái quát nội dung giáo dục môn Lịch sử
Nội dung giáo dục môn Lịch sử được xác định dựa trên các căn cứ chủ yếu:
Vị trí, mục tiêu, đặc điểm, tính chất môn học ở cấp THPT Yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất (bao gồm cả thái độ và kỹ năng) của học sinh thông qua môn học này Đặc điểm tâm lí lứa tuổi và tâm lí học sư phạm của học sinh từ lớp 10 - 12 Thời lượng được quy định cho môn học này ở mỗi lớp Kinh nghiệm trong thiết kế chương trình môn Lịch sử ở trong nước và nước ngoài Điều kiện dạy học ở các
Trang 12vùng miền của nước ta hiện nay, triển vọng cải thiện trong những năm tới Đặc điểm khách quan của Sử học và yêu cầu của việc ứng dụng tri thức lịch sử trong cuộc sống hiện đại
Có 3 đặc điểm khái quát về nội dung giáo dục ở môn Lịch sử
Thứ nhất, đó là nội dung giáo dục lịch sử với tính cách là một môn khoa học: Dựa trên thành tựu cập nhật của giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam và thế giới, tôn trọng những nguyên tắc cơ bản của sử học (trung thực, khách quan, toàn diện, cụ thể), hướng tới hình thành thế giới quan khoa học, tư duy phê phán, thực chứng, biện chứng của người học
Thứ hai, Lịch sử là môn học dạy làm người, góp phần phát triển các phẩm chất của công dân Việt Nam toàn cầu: Yêu nước, nhân ái, trung thực, khoan dung, dũng cảm, chăm chỉ, cởi mở tiếp nhận cái mới và sống hòa thuận với thế giới xung quanh, trọng danh dự của bản thân và tôn trọng sự khác biệt, yêu hòa bình… Thứ
ba, Lịch sử là môn học có định hướng ứng dụng cao theo đúng tinh thần “ôn cố tri tân”, biết học lịch sử để làm gì, có thể ứng dụng tri thức lịch sử vào cuộc sống như thế nào
Nội dung giáo dục với các mạch kiến thức cốt lõi của môn học được thiết kế như sau:
Nội dung các chủ đề, gồm: Chủ đề định hướng nghề nghiệp (Lịch sử và Sử học; Vai trò của Sử học); Lịch sử thế giới (Một số nền văn minh thế giới thời kỳ cổ
- trung đại; Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới; Cách mạng tư sản và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa
xã hội; Thế giới trong và sau Chiến tranh lạnh; Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước Mỹ từ năm 1945 đến nay; Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc từ năm 1978 đến nay); Lịch sử Đông Nam Á (Lịch sử văn minh Đông Nam Á;
Quá trình giành độc lập dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á; ASEAN: Những chặng đường lịch sử); Lịch sử Việt Nam (Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858); Cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945); Làng xã Việt Nam trong lịch sử; \Một số cuộc
Trang 13cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam (trước năm 1858); Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông; Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945); Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ 1986 đến nay; Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam; Hồ Chí Minh trong lịch sử Việt Nam)
Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm học, những học sinh có thiên hướng khoa học xã hội và nhân văn được chọn học một số chuyên đề học tập
II 1.3.2 Chú ý trong đổi mới phương pháp
Dạy và học lịch sử theo định hướng tiếp cận năng lực được thực hiện trên nền tảng những nguyên tắc cơ bản của khoa học lịch sử: Thông qua các nguồn sử liệu khác nhau để tái hiện lịch sử, phục dựng một cách chân thực, khách quan quá trình hình thành, phát triển của các sự kiện, quá trình lịch sử, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong sự tương tác với các nhân tố liên quan trong suốt quá trình vận động của chúng
Giáo viên không đặt trọng tâm vào việc truyền đạt kiến thức lịch sử cho học sinh mà chú trọng việc hướng dẫn học sinh nhận diện và khai thác các nguồn sử liệu, từ đó tái hiện quá khứ, nhận thức lịch sử, đưa ra suy luận, đánh giá về bối cảnh, nguồn gốc, sự phát triển của sự kiện, quá trình lịch sử để tìm kiếm sự thật lịch
sử một cách khoa học, xây dựng và phát triển những năng lực chuyên môn của môn Lịch sử
Để thực hiện mục tiêu giáo dục của Chương trình môn Lịch sử, cần coi trọng
và phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội ngay
từ cấp tiểu học đến các cấp THCS, THPT ở những mức độ và hình thức khác nhau
Bên cạnh đó, cần ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học lịch sử, khuyến khích học sinh tự tìm đọc, thu thập tư liệu lịch sử trên mạng Internet, trong thư viện để thực hiện các nghiên cứu cá nhân hoặc theo nhóm, có khả năng trình bày, thảo luận kết quả nghiên cứu; xây dựng kỹ năng sử dụng các phương tiện CNTT để hỗ trợ cho việc tái hiện, tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử
Dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực chú trọng đến vấn đề như: Phát hiện và giải quyết vấn đề, làm việc theo nhóm, coi trọng việc sử dụng các
Trang 14phương tiện trực quan như: Hiện vật lịch sử, tranh ảnh lịch sử, bản đồ, biểu đồ, sa bàn, mô hình, phim tài liệu lịch sử
Học sinh cần được hướng dẫn phương pháp tự học, biết cách tìm tòi, khai thác các nguồn sử liệu, đồng thời biết cách phân tích sự kiện, quá trình lịch sử và tự mình rút ra những nhận xét, đánh giá, tạo cơ sở phát triển năng lực tự học lịch sử suốt đời và khả năng ứng dụng vào cuộc sống những hiểu biết về lịch sử, văn hoá,
xã hội Việt Nam và thế giới
Mở rộng không gian dạy học, không chỉ trong lớp học mà còn trên thực địa (di tích lịch sử và văn hoá), bảo tàng, khu triển lãm ; tổ chức cho học sinh đi tham quan, dã ngoại, kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động trải nghiệm trên thực tế Việc kết hợp các thành tựu của khoa học giáo dục hiện đại với việc sử dụng một cách tích cực các phương pháp của sử học là chìa khoá thành công của quá trình dạy học lịch sử
Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) là nền tảng quan trọng để hình thành năng lực chuyên môn Lịch sử Trong đó, nhà trường xây dựng và phát triển kiến thức, kỹ năng cho học sinh; gia đình và xã hội tạo điều kiện để học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng lịch sử vào những tình huống thực tiễn của cuộc sống
Giáo viên là người chủ động thiết lập và duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục lịch sử thông qua các mô hình phối hợp như: Tổ chức hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử, giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh có sự tham gia của phụ huynh học sinh và các
tổ chức xã hội, tổ chức các hoạt động “Cha mẹ lắng nghe con kể chuyện lịch sử”,
“Cha mẹ cùng con khám phá lịch sử đất nước, lịch sử địa phương”
II 1.3.3 Đánh giá kết quả giáo dục môn Lịch sử
Việc đánh giá kết quả giáo dục cần được thực hiện trên các phương diện: Các phẩm chất, năng lực chung và các năng lực chuyên môn Lịch sử; đánh giá quá trình, đánh giá cuối kỳ, cuối năm học, cuối cấp, đánh giá cấp quốc gia Trong đánh giá kết quả học tập, cần căn cứ vào yêu cầu cần đạt được xác định trong
Trang 15chương trình môn học để xác định phương thức, phương pháp và nội dung đánh giá
Cần chú ý rằng: Đánh giá năng lực và phẩm chất không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức lịch sử làm trung tâm của việc đánh giá Bên cạnh nội dung
lí thuyết, coi trọng việc đánh giá các kỹ năng thực hành (làm việc với các nguồn sử liệu, bản đồ, atlat, biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, quan sát; thu thập, xử lí
và hệ thống hoá thông tin, sử dụng các dụng cụ học tập ngoài trời, sử dụng công nghệ và thông tin truyền thông trong học tập )
Ngoài ra, cần đa dạng hoá các hình thức và phương pháp đánh giá như: Bài thi/bài kiểm tra theo hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan; kiểm tra miệng, quan sát, thực hành, bài tập, các dự án/sản phẩm học tập, nghiên cứu Về phương thức đánh giá: Bao gồm cả đánh giá định tính, đánh giá định lượng và sự kết hợp định tính với định lượng, trên cơ sở đó tổng hợp việc đánh giá chung năng lực và
sự tiến bộ của học sinh
II 1.3.4 Bản chất của qúa trình dạy học lịch sử ở trường THPT
Thứ nhất: Quá trình dạy học lịch sử là một quá trình nhận thức đặc thù Đây là nhận thức của cá thể học sinh nên quá trình nhận thức của học sinh trong học tập có ba đặc điểm là tính gián tiếp, được hướng dẫn và tính giáo dục
Thứ hai: Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh có đặc điểm riêng Giai đoạn nhận thức đầu là giai đoạn nhận thức cảm tính (tri giác tài liệu về sự kiện quá trình lịch sử tạo biểu tượng), giai đoạn tiếp theo là giai đoạn nhận thức lí tính (bằng hoạt động tư duy tích cực độc lập, học sinh đi đến những tri thức trìu tượng, khái quát thông qua “xử lí các tri thức cụ thể” tiếp đó học sinh phải biết vận dụng các kiến thức đó để hiểu hiện tại, hành động đúng trong thực tiễn
Nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử cũng giống như quá trình nhận thức nói chung Nét khác biệt là xuất phát từ sự kiện, từ việc tri giác tài liệu, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tạo biểu tượng, nắm được khái niệm lịch sử từ đó rút
ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ để học sinh vận dụng vào cuộc sống, phục vụ cho hiện tại
Trang 16Như vậy dạy lịch sử tức là khơi dậy lòng tự hào và ý thức dân tộc của học sinh trong mỗi trang sử Không phải chỉ có học thuộc lòng cái có sẵn, đúc kết sẵn là học sinh có thể rút ra ngay bài học kinh nghiệm, ý nghĩa của lịch sử, cái mà học sinh có thể học được ở đây là làm sao có thể cảm nhận những mất mát hy sinh to lớn của những người đi trước, là xương máu là mồ hôi công sức của biết bao con người, những chuyển biến về nhiều lĩnh vực xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa trong các giai đoạn lịch sử khác nhau để từ đó ý thức được việc giữ gìn thành quả của cha ông trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Dạy lịch sử là khơi lên trong tâm hồn học sinh lòng biết ơn sâu sắc, lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, thêm yêu những trang sử hào hùng của dân tộc Những cái đó không đâu ngoài những câu chuyện người thật việc thật, những hình ảnh sinh động, những câu chuyện mang tính thông tin mang hơi thở của thời cuộc
II 1.4 Đặc điểm học sinh THPT
Học sinh THPT là lứa tuổi đã có sự hoàn thiện về mặt thể lực về trọng lượng,
chiều cao, hệ thần kinh, hệ xương, hệ tuần hoàn Trong sư phạm tương tác, người học học thông qua các giác quan, qua hệ thần kinh, nên sự phát triển của hệ thần kinh với lứa tuổi này là hết sức quan trọng Ở lứa tuổi THPT, cấu trúc của hệ thần kinh và chức năng của bộ não phức tạp hơn Số lượng dây thần kinh liên hợp được tăng lên và liên kết các phần khác nhau của vỏ não lại, do đó các em có khả năng phát triển mạnh tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí khác
Học sinh THPT là lứa tuổi có độ nhạy cảm rất cao về tri giác nhìn và nghe Bên cạnh đó ở lứa tuổi này có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan vận động: mắt nhìn, tai nghe, tay viết, óc suy nghĩ Tri giác có mục đích đạt mức phát triển cao, có khả năng quan sát tốt Quan sát ở các em chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ 2 nhiều hơn Sự phát triển của tư duy gắn chặt với sự phát triển ngôn ngữ càng thể hiện rõ nét Các em có khả năng điều khiển quan sát của mình theo kế hoạch chung và chú ý tất cả các khâu trong quá trình hoạt động
Ngoài ra ở học sinh THPT trí nhớ chủ định có vai trò chủ đạo Hình thức ghi nhớ phong phú và đa dạng song ghi nhớ từ ngữ và logic chiếm ưu thế và tăng rõ rệt Các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ
Trang 17Chú ý có chủ định chiếm ưu thế, các em biết đề ra mục đích của chú ý Thái
độ lựa chọn môn học đã quyết định tính chú ý của các em Hứng thú ổn định đối với môn học nên chú ý sau chủ định của các em xuất hiện thường xuyên hơn Năng lực di chuyển và phân phối chú ý được phát triển và hoàn thành những khả năng vừa nghe giảng vừa ghi chép
Tư duy cũng đã phát triển nhất là tư duy lí luận, tư duy trìu tượng một cách độc đáo và sáng tạo Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ hơn và nhất quán hơn, đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Thích tranh luận để làm sáng tỏ những quan điểm của mình
II 1.5 Thực trạng dạy và học môn Lịch sử hiện nay
II 1.5.1 Phổ điểm thi THPT Quốc gia qua các năm 2018, 2019, 2020,
2021
a Phổ điểm thi Quốc gia năm 2018
Cụ thể, năm 2018, điểm thi trung bình của môn Lịch sử là 3,79, có 4.226 bài
thi đạt từ 8 điểm trở lên, chiếm 0,75% tổng số bài thi môn này
Trang 18b Phổ điểm thi quốc gia năm 2019
Tổng số thí sinh dự thi là 569.905 em Điểm trung bình là 4,3; điểm trung vị là 4.0
Số thí sinh đạt điểm liệt là 395 em
Đáng chú ý, có tới 70,01% thí sinh có điểm dưới 5 Điểm được nhiều thí sinh đạt nhất là 3,75
Trang 19Phổ điểm thi quốc gia năm 2019
c Phổ điểm thi tốt nghiệp năm 2020
Theo phổ điểm thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử của cả nước năm 2020, có 553.987 thí sinh tham gia thi môn Lịch sử, trong đó điểm trung bình là 5,19 điểm, điểm trung vị là 5 điểm
Điểm số có nhiều thí sinh đạt được nhất là 4,5 điểm
Số thí sinh có điểm từ 1 trở xuống là 111, chiếm tỷ lệ 0,02%
Số thí sinh đạt điểm dưới trung bình là 260.074, chiếm tỷ lệ 46,95%
Có 371 thí sinh đạt điểm 10 trong bài thi môn Lịch sử của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay
Trang 20Phổ điểm thi tốt nghiệp năm 2020
d Phổ điểm thi tốt nghiệp năm 2021
Với môn Lịch sử của cả nước năm 2021, có 637.005 thí sinh tham gia thi
bài thi Lịch sử, trong đó điểm trung bình là 4,97 điểm, điểm trung vị là 4,75 điểm; điểm số có nhiều thí sinh đạt nhất là 4 điểm Số thí sinh có điểm <= 1 là 540 (chiếm
tỷ lệ 0.08%); số thí sinh đạt điểm dưới trung bình là 331.429 (chiếm tỷ lệ 52.03%)
Trang 21Phổ điểm thi tốt nghiệp năm 2021
Như vậy điểm thi THPT Quốc gia, và Tốt nghiệp qua các năm, tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình chiếm tỉ lệ thấp
e Nguyên nhân
Trang 22Có nhiều nguyên nhân để lí giải cho kết quả đó
Thứ nhất: bởi xã hội hiện đại đang theo xu hướng làm ăn kinh tế, con người thực dụng hơn Đa số phụ huynh xem nhẹ môn học này; không quan tâm đầu tư mà chủ yếu cho con học thêm các môn Toán, Lý, Hóa, Tiếng Anh… để dễ chọn ngành nghề, trường đại học, có cơ hội việc làm nghề nghiệp tốt hơn
Thứ hai: do khối lượng kiến thức trong chương trình học nặng nề Bên cạnh
đó, chương trình môn học hiện nay quá nặng nề, chi tiết, bắt học sinh phải nhớ nhiều Nội dung sách giáo khoa lịch sử đậm chất báo cáo, nghiêng về sự kiện
Thứ ba: Cách kiểm tra đánh giá cũng còn máy móc, nghiêng về ghi nhớ nên chưa thực sự khiến học sinh hứng thú với môn học
Thứ tư: Thực tế cho thấy, phần nhiều các thí sinh nằm trong tỷ lệ 70% dưới điểm trung bình chọn Lịch sử là môn thi chỉ để công nhận tốt nghiệp Với những thí sinh thi THPT quốc gia chỉ lấy kết quả để xét tốt nghiệp, các em phần lớn sẽ chọn tổ hợp môn xã hội Nguyên nhân các em quan niệm rằng, tổ hợp môn Khoa học xã hội sẽ dễ hơn tổ hợp môn Khoa học tự nhiên Tâm lý chung của các thí sinh này là chỉ cần qua điểm liệt để đỗ tốt nghiệp, chứ không quan tâm điểm của môn là cao hay thấp
Thứ năm: phương pháp giáo dục sai lầm Từ trước đến nay chúng ta vẫn giáo dục theo hướng tiếp cận nội dung mà chưa chuyển sang tiếp cận năng lực Nhồi nhét mớ kiến thức có sẵn vừa nặng về học thuộc ghi nhớ, vừa nặng về tuyên truyền
mà không biết áp dụng vào đâu sẽ gây nhàm chán cho người học
II 1.5.2 Thực trạng dạy và học ở các trường THPT
- Hiện nay tại các trường THPT theo khảo sát tôi nhận thấy thực tế Khi được hỏi em có thích học môn Lịch sử không thì có tới hơn 85% học sinh trả lời có Nhiều em vẫn yêu thích môn học Thích hay không thích phụ thuộc vào khả năng, truyền đạt của giáo viên trên lớp, cách thức tổ chức dạy và kiểm tra của từng giáo viên Học sinh sẽ thoải mái hơn, không bị gò bó áp lực, khi học môn học không phải đọc chép, không phải học thuộc lòng các sự kiện với các ngày tháng năm khô khan Thực tế các em học sinh lớp 10, 11 trong các giờ học các em vẫn đón nhận một cách vui vẻ, nhiệt tình, hào hứng Chỉ khi đến cuối cấp do các yếu tố thi cử chi
Trang 23phối, các em mới học lệch, tập trung vào các môn thi của mình, chểnh mảng hơn với những môn không thi trong đó có môn Lịch sử
- Nhưng khi được hỏi có thích thi môn Lịch sử không thì có tới 95% không thích thi môn Lịch sử Phần lớn các em đều nói, môn dài, khó học, khó nhớ
II 1.5.3 Việc sử dụng các trang mạng xã hội trong học sinh THPT và giáo viên
Thực tế cho thấy, Việt Nam hiện đang là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet và mạng xã hội nhanh nhất thế giới Công nghệ thông tin, trong đó có mạng xã hội đã và đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt kinh tế - văn hóa - xã hội ở Việt Nam Theo thống kê, tính đến đầu năm 2019, Việt Nam đã có hơn 60 triệu người sử dụng internet, chiếm hơn 60% dân số, đứng thứ 16 trên thế giới về số lượng người sử dụng internet và có khoảng 55 triệu người
sử dụng các nền tảng mạng xã hội, nằm trong nhóm nước có lượng người dùng lớn nhất thế giới”
Số lượng người dùng internet ở Việt Nam 2020 là 68,17 triệu người Tăng 6,2 triệu người so với năm 2019, tăng đến 10% Trong đó có hơn 145 triệu thiết bị di động được kết nối với internet Bình quân mỗi người dùng 2,1 thiết bị di động
Thống kê người dùng internet ở Việt Nam 2020
Số lượng người sử dụng mạng xã hội (MXH) trên toàn thế giới đã chạm tới con số 3.5 tỷ người, chiếm khoảng 46% tổng dân số trên thế giới Đứng đầu là Facebook với hơn 2,5 tỷ người Và các mạng xã hội phổ biến nhất thế giới được liệt
kê dưới đây (Nguồn: https://datareportal.com/reports/digital-2020-vietnam)
Trang 24Số người dùng internet tại Việt Nam tăng 6,2 triệu (+ 10,0%) từ năm 2019 đến
Thống kê số lượng di động kết nối internet tại Việt Nam
Có 145,8 triệu kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1 năm 2020
Số lượng kết nối di động tại Việt Nam tăng 2,7 triệu (+ 1,9%) trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 1 năm 2020
Số lượng kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1 năm 2020 tương đương với 150% tổng dân số
Mạng xã hội Việt Nam 2020 – Thống kê người dùng mạng xã hội tại Việt Nam
Dựa trên số liệu thống kê, Facebook là nền tảng xã hội hàng đầu trên thế giới hiện tại
Facebook có 2,45 tỷ người dùng hoạt động hàng tháng (Facebook, 2019) … Thống kê Facebook có hơn 80 triệu doanh nghiệp nhỏ trên toàn thế giới sử dụng
Trang 25Trang Facebook (Facebook, 2018) Và trong đó 65% người dùng Facebook dưới 35 tuổi (Theo Statista.com, 2019)
Thống kê người dùng Facebook ở Việt Nam 2020
Hiện nay, tính đến tháng 06/2020 Tại Việt Nam đã có hơn 69 triệu tài khoản Facebook Chiếm 2/3 dân số Việt Nam (96,2 triệu người – số liệu năm
2019, Theo gso.gov.vn) Trong đó người dùng Facebook Việt Nam có đến 50,7% là
nam giới, còn lại 49,3% là nữ giới và giới tính khác
Song song đó, người dùng các mạng xã hội khác tại Việt Nam tương ứng là:
Messenger tại Việt Nam đạt : 63.230.000 người dùng
Instagram tại Việt Nam đạt: 7.149.000 người dùng
Trang 26Linkedin tại Việt Nam đạt: 3.629.100 người dùng
Việt Nam đứng thứ 7 Thế giới về số lượng người dùng Facebook 2020 – theo Statista.com
Và hiện nay, Việt Nam có số lượng người dùng Facebook thứ 7 thế giới, lần lược sau các nước: Ấn độ – Mỹ – Indonesia – Brazil – Mexico – Philippine
Như vậy việc sử dụng các ứng dụng trên nền tảng mạng xã hội trong tổ chức dạy học theo mô hinh lớp học đảo ngược sẽ đem lại những hiệu quả lớn
II 2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
thân, độc lập, thích đổi mới và định hướng mục tiêu
Đặc điểm người học thế hệ Z Phương pháp tiếp cận giảng dạy
1 Thích công nghệ cao (tech savvy) Cho phép học trên nền tảng smartphone
hoặc PC kết nối mạng
2 Sử dụng phương tiện truyền
thông xã hội (used social media)
Tập trung lý giải các thuật ngữ chính
6 Nhu cầu giải trí cao (want to be
entertained)
Thiết kế game và học qua chơi game
Trang 277 Thời gian tập trung ngắn (low
II 2.2.1 Ưu điểm
- Lớp học truyền thống thúc đẩy và kích thích tinh thần hợp tác trong học tập, giúp tăng cường năng lực tự nhận thức của người học, làm cho quá trình học tập dễ dàng hơn, người học chăm chỉ hơn trong lớp và sau khi ra khỏi lớp học
- Lớp học truyền thống tăng cường các kỹ năng tư duy sâu, tư duy phản biện do trong lớp người học có thể tham gia (hoặc buộc phải tham gia) vào các cuộc tranh luận, thảo luận Khi đó, người học buộc phải huy động các kỹ năng tư duy phản biện và tư duy sâu để hình thành ý tưởng và lập luận để tranh luận, bảo vệ quan điểm của mình
- Lớp học truyền thống thúc đẩy các kỹ năng giao tiếp xã hội do có sự tương tác trực tiếp giữa người học với nhau cũng như giữa người học với người dạy, tạo lập mối quan hệ trong lớp học Đây là một nội dung quan trọng của giáo dục, giúp phát triển năng lực giao tiếp xã hội cho người học, đặc biệt là trẻ nhỏ
- Lớp học truyền thống xây dựng cho học sinh các kỹ năng tổ chức kỷ luật như tới lớp học đúng giờ, làm bài tập đầy đủ trước khi đến lớp, chuẩn bị sẵn tâm thế trả lời bất cứ câu hỏi nào của giáo viên và sẵn sàng tham gia thảo luận… Tóm lại, người học sẽ phải biết cách tổ chức thời gian của mình, chấp hành kỷ luật trong lớp học…
Trang 28- Lớp học truyền thống kích thích được sự chú ý và tập trung của người học Bản thân sự có mặt của giáo viên đã là một nguồn động lực giúp người học tương tác và tham gia đầy đủ vào các hoạt động trong lớp
- Lớp học truyền thống cho phép người dạy điều chỉnh phương pháp giảng dạy theo phản ứng của người học hoặc thay đổi nội dung giảng dạy theo các vấn đề người học nêu ra Ở khía cạnh người học, những câu hỏi hoặc nghi vấn đặt ra về một nội dung nào đó của bài giảng có thể được người dạy lý giải nhanh chóng trước khi bước vào chủ đề học tiếp theo
- Lớp học truyền thống phát triển nhân cách và các kỹ năng nghề nghiệp quan trọng cho người học Trong lớp học truyền thống, các kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng thuyết trình một cách tự tin trước bạn bè và giáo viên, phát triển tinh thần làm việc nhóm…
Như vậy học tập trên lớp giúp học sinh và giáo viên biết nhau một cách tốt hơn Điều này cho phép giáo viên biết các sinh viên và đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của họ tốt hơn, đóng vai trò là người cố vấn và hướng dẫn sinh viên trong
khả năng nghề nghiệp của họ
Mặt khác nếu bạn là kiểu người được truyền cảm hứng từ bầu không khí năng động của lớp học và bạn làm việc hiệu quả hơn trong một nhóm người, lớp học truyền thống phù hợp với sự lựa chọn của bạn Trong lớp bạn cũng có giáo viên trợ giúp, nói chuyện trực tiếp khi nghi ngờ bất kỳ kiến thức nào.Trong một lớp học truyền thống, học sinh có thể trực tiếp chia sẻ quan điểm của mình và làm rõ các truy vấn của riêng mình với giáo viên, do đó, câu hỏi của họ được trả lời ngay lập tức
Hầu hết thời gian sách và ghi chú trong lớp học rất hữu ích cho việc học tập
và vượt qua các kỳ thi Hiểu mô hình Câu hỏi & Trả lời, và với các gợi ý được cung cấp bởi các giáo viên có kinh nghiệm, sinh viên có thể thấy hữu ích hơn khi học so với khi sử dụng các ghi chú và đề xuất trực tuyến tổng quát có sẵn trên internet
Trang 29Ngoài ra, việc học trên lớp hữu ích hơn do sự tương tác liên tục giữa học sinh và giáo viên, vì nó giúp học sinh thoát khỏi nỗi sợ hãi về các kỳ thi, điều hiếm khi xảy ra với hướng dẫn trực tuyến Cuối cùng, tương tác với các giáo viên giỏi giúp thúc đẩy học sinh đạt điểm cao hơn
II 2.2.2 Nhược điểm
Lớp học truyền thống bó buộc trong một khoảng thời gian nhất định
Tốn nhiều công sức và chi phí
Số lượng học sinh bị giới hạn, bị giới hạn bởi không gian và địa lý
Đánh giá kết quả thông quả thông qua các bài kiểm tra
Giáo viên giảng dạy một lần theo giáo án và công cụ lưu trữ duy nhất chỉ là tập ghi chép của học sinh
Các tài liệu học tập: tài liệu nội bộ của mỗi trường, sách giáo khoa và sách tham khảo
Chương trình và tốc độ học do giáo viên đưa ra chung cho tất cả học sinh dựa trên chương trình chuẩn của Bộ Giáo dục
Sự tương tác giữa học sinh – giáo viên, giữa học sinh với nhau thấp
Tiếp cận phụ thuộc vào thời gian và khu vực địa lý
II 2.3 Lớp học đảo ngược
II 2.3.1 Khái niệm lớp học đảo ngược - Flipped Classroom
Công nghệ phát triển và đi vào lớp học, một mô hình học tập mới nảy sinh, thay thế dần cho mô hình dạy học lấy giáo viên làm trung tâm và trở thành môi trường học tập cộng tác, lấy học sinh làm trung tâm, đó là mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom)
Lớp học đảo ngược ra đời xuất phát từ quan sát của hai nhà giáo dục học Jonathan Bergman và Aaron Sams rằng sinh viên thường cần giáo viên giải đáp những thắc mắc trong một bài tập về nhà khó nhằn thay vì dành thời gian giải thích những khái niệm trong sách
Trang 30Mục tiêu chính của mô hình này là tăng cường học tập và thành tích của học sinh bằng cách đảo ngược mô hình truyền thống của lớp học, dành thời gian cho học sinh hiểu chứ không chỉ thuyết giảng để học sinh nghe Để thực hiện điều này, giáo viên phải đăng video bài học ngắn để học sinh tiếp cận trước buổi học Mô hình này cho phép học sinh mở rộng và làm chủ tài liệu thông qua các bài tập, dự
án và thảo luận học tập cộng tác Về cơ bản, bài tập thường cho về nhà thì giờ đây được thực hiện tại lớp và trái lại, các bài giảng được xem ở nhà
Định nghĩa đơn giản, phương pháp này đảo ngược trình tự học tập truyền thống; người học lắng nghe bài giảng khi ở nhà còn bài tập về nhà sẽ được thực hiện trên lớp Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, người học có thể tiếp cận với video bài giảng trực tuyến bằng nhiều phương tiện như máy tính bảng, điện thoại di động, laptop và chủ động việc học ở mọi không gian thời gian
Thời gian trên lớp được sử dụng cho những hoạt động tương tác và mở rộng từ nội dung cơ bản Khi lên lớp, giảng viên không tốn thời gian giảng giải lại những nội dung trên video và tập trung vào những hoạt động như tìm hiểu các nghiên cứu tình huống, thảo luận nhóm, bài tập mô phỏng,v.v
Thời lượng học không gói gọn trong những ngày học trên lớp mà được dàn trải đều trong khoảng thời gian trước và sau khi đến lớp Hình thức và tương tác học tập
Trang 31được đa dạng hóa thông qua video bài giảng, thảo luận trực tuyến, tương tác đa chiều giữa người học-tài liệu, giảng viên-người học và giữa bạn học với nhau
Theo Hamdan và McKnight (2013), để lớp học đảo ngược diễn ra cần có 4
điều kiện FLIP như sau:
(i) Môi trường giảng dạy linh hoạt (Flexible environments): Môi trường
giảng dạy không chỉ đơn thuần là việc bố trí lại không gian lớp học cho phù hợp với hoạt động trên lớp, mà còn là việc điều chỉnh linh động các mốc thời gian phù hợp với tốc độ của người học trên lớp
(ii) Văn hóa học tập (Learning culture): Sự chuyển đổi về văn hóa học tập ở
đây được hiểu là sự chuyển đổi từ phương thức giảng dạy dựa trên sự truyền thụ của giảng viên (teacher-centered) sang phương thức lấy người học làm trung tâm (student-centered) Việc chuyển đổi này nhằm giúp người học trải nghiệm chủ đề bài học sâu sắc hơn thông qua cách tiếp cận chủ động hơn
(iii) Nội dung học tập có chủ ý (Intentional content): Giảng viên cần đánh
giá tài liệu nào nên đưa cho người học nghiên cứu trước, và thiết kế các hoạt động học tập trên lớp để củng cố các nội dung kiến thức đó
(iv) Nhà giáo dục chuyên nghiệp (Professional educators): Giảng viên phải
theo sát để quản lý người học, đánh giá được việc tiếp thu kiến thức của người học, đưa ra phản hồi để giúp người học làm chủ được kiến thức và kỹ năng
Chính 4 yếu tố nêu trên (với các chữ cái đầu bằng tiếng Anh ghép lại thành từ FLIP) đã tạo nên 4 “trụ cột” quan trọng của lớp học đảo ngược
Trang 32Phong cách học tập này có rất nhiều lợi thế tiềm năng
Lớp học đảo ngược là một phương pháp sư phạm trong đó hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học tập nhóm sang không gian học tập cá nhân, không gian nhóm được chuyển thành môi trường học tập tương tác tích cực khi giáo viên hướng dẫn sinh viên áp dụng các khái niệm và tham gia sáng tạo vấn đề (Flipped Learning Network)
II 2.3.2 Ưu điểm
Ưu điểm của lớp học đảo ngược là giúp người học phát triển khả năng tự học trong môi trường thuận lợi nhất Ở lớp học truyền thống, học sinh ở những trình độ và khả năng tiếp nhận khác nhau phải bắt kịp với nhịp điệu giảng bài của giáo viên Trong quá trình tự học và chuẩn bị cho lớp học đảo ngược, người học tự chủ sắp xếp việc học theo tốc độ và phong cách học tập của mình
Tính ưu việt của lớp học đảo ngược còn ở sự linh hoạt có thể áp dụng cho nhiều cấp học (tiểu học, trung học, đại học và sau đại học) và nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau (tự nhiên, khoa học, kỹ thuật) Thực tế, phương pháp này được nhiều đại học lớn trên thế giới như Đại học Boston, Đại học Leicester, Đại học Texas,v.v sử dụng để cách mạng môi trường học tập
Trang 33Khi lồng ghép với Cấp độ tư duy Blooom (Bloom Taxonomy), người học sẽ tự thực hiện các hoạt động tư duy cấp thấp như ghi nhớ và hiểu ở nhà thông qua tư liệu
do giảng viên cung cấp Trên lớp sẽ tập trung vào những hoạt động tư duy cấp cao như phân tích, ứng dụng, đánh giá và sáng tạo
a Học sinh có nhiều quyền kiểm soát hơn
Trong một lớp học lấy học sinh làm trung tâm, học sinh có thể phát triển năng lực vốn có và kiểm soát việc học của bản thân Bằng cách giao các bài học ngắn về nhà, học sinh được tự do học theo tốc độ của mình Học sinh có thể tạm dừng hoặc tua lại các bài đọc, viết ra các câu hỏi mà các em cần giải đáp và thảo luận với giáo viên, bạn bè trong lớp
Điều này cũng tạo điều kiện cho một số học sinh có thêm thời gian hiểu các khái niệm nhất định mà không bị chậm so với cả lớp và nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ giáo viên, bạn bè Kết quả là, điều này không chỉ có thể cải thiện thành tích mà còn cải thiện hành vi của học sinh trong lớp
b Khuyến khích việc học tập lấy học sinh làm trung tâm và cộng tác
Các lớp học đảo ngược dành thời gian cho học sinh làm chủ các kỹ năng thông qua
dự án và thảo luận cộng tác Điều này khuyến khích học sinh cùng nhau dạy và học các khái niệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên Thông qua việc làm chủ quá trình học tập của bản thân, họ có thể sở hữu kiến thức mà họ đạt được, từ đó tạo sự tự tin Ngoài ra, giáo viên có thể xác định vấn đề về cách tư duy hoặc vận dụng khái niệm của học sinh và có năng lực tương tác trực tiếp
Trang 34c Bài học và nội dung dễ tiếp cận hơn (miễn là có quyền truy cập công nghệ)
Nhờ các video bài giảng có sẵn, học sinh nghỉ học vì bị ốm, tham gia các hoạt động thể thao, đi chơi hoặc trường hợp khẩn cấp, có thể nhanh chóng bắt kịp tiến độ học tập Điều này cũng tạo điều kiện cho giáo viên linh động chuyện điểm danh học sinh
d Tạo cơ hội cho phụ huynh biết tình hình lớp học
Khác với các lớp học truyền thống, lớp học đảo ngược cho phép phụ huynh xem các video bài giảng của học sinh bất cứ khi nào Điều này giúp phụ huynh có thể giúp đỡ con em mình được tốt hơn cũng như là giúp phụ huynh có cái nhìn sâu hơn
về chất lượng giảng dạy mà con họ đang được tiếp nhận
e Hiệu quả hơn
Nếu thực hiện đúng, trong một lớp học đảo ngược, trẻ em có nhiều thời gian tận hưởng tuổi thơ của chúng, tức là được vui chơi hoặc thực hành nhiều hơn
Hầu hết chúng ta đều trải qua thời học sinh triền miên làm bài tập về nhà Thực
tế, một nghiên cứu tiến hành quan sát các học sinh lớp 9-12 đã chỉ ra học sinh dành
38 giờ/tuần để làm bài tập về nhà Đây là khối lượng công việc khổng lồ không chỉ với học sinh mà còn đối với giáo viên, những người liên tục chỉ định và giao việc Nhờ có lớp học đảo ngược, các bài giảng online chỉ dài 10 phút, điều này giúp học sinh và giáo viên có thêm thời gian dành cho các mối quan tâm khác như bạn bè, gia đình và sở thích cá nhân
Tuy nhiên, vẫn có ý kiến hoài nghi mô hình giảng dạy và học tập mới này
II 2.3.3 Nhược điểm
a Mô hình có thể gặp khó khăn khi học sinh không tiếp cận được công nghệ
Một trong những vấn đề nổi bật nhất là nhu cầu sử dụng máy tính và Internet của học sinh để xem các bài giảng online Điều này đặc biệt khó khăn đối với những học sinh có thu nhập thấp, bị hạn chế tiếp cận với tài nguyên
b Phụ thuộc vào sự chuẩn bị và niềm tin
Trang 35Cũng có mối quan ngại rằng lớp học đảo ngược có vận hành hay không là phụ thuộc vào sự tham gia của học sinh Thật không may, không đảm bảo được học sinh sẽ miễn cưỡng hay hợp tác với mô hình học tập này
c Sự chuẩn bị và nỗ lực của giáo viên
Việc vận hành lớp học đảo ngược sẽ làm tăng thêm lượng công việc cho giáo viên, bởi nó đòi hỏi sự tích hợp rất cẩn thận để lớp học được duy trì và phát triển Các nhiệm vụ như ghi âm và đóng gói và đăng tải các bài giảng đều là những công việc cần thời gian và kỹ năng chưa kể đến việc việc giáo viên giới thiệu các hoạt động trong lớp học liên quan đến bộ môn trong video như thế nào để thúc đẩy học sinh tham gia và chuẩn bị trước khi học
Cho dù giáo viên có thể vận dụng nhiều yếu tố của lớp học đảo ngược vào lớp học của họ nhưng họ vẫn phải cần thêm thời gian và cả sự nỗ lực
d Đôi khi nó không hiệu quả để phục vụ nhu cầu “học để thi”
Tốt xấu gì thì bạn vẫn phải hiểu rằng nói chung, lớp học đảo ngược không “dạy để thi” Nó không tuân theo mô hình dạy học nhằm cải thiện và nâng cao điểm số Tuy nhiên, giáo viên và học sinh vẫn phải dành thời gian chuẩn bị cho các kỳ kiểm tra , điều đó làm gián đoạn quy trình của lớp học đảo ngược
e Thời gian ngồi trước màn hình nhiều hơn tiếp xúc với mọi người và địa điểm thực tế
Có một số người tin rằng nếu mỗi giáo viên bắt đầu chuyển đổi mô hình lớp học theo lớp học đảo ngược, học sinh sẽ phải dành hàng giờ ngồi trước máy tính để xem các bài giảng Người ta có thể lập luận rằng điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình học tập của học sinh
Kết luận
Mặc dù còn tồn tại những vấn đề trên, mô hình lớp học này vẫn là một cách tiếp cận hiệu quả, trực quan nhằm cải thiện thành tích của học sinh và thúc đẩy học sinh chủ động trong học tập
Lớp học truyền thống Lớp học đảo ngược
Trang 36- Giáo viên hướng dẫn
- Học sinh ghi chép
- Học sinh làm theo hướng dẫn
- Giáo viên đánh giá
đã tạo ra khi thảo luận tại lớp
- Học sinh nhận được sự hỗ trợ cá nhân khi cần thiết
II 2.3.4 Quy trình dạy học Lịch sử theo mô hình lớp học đảo ngược
Quy trình dạy học Lịch sử với mô hình “Lớp học đảo ngược” sử dụng Google Classroom, và các mạng xã hội Facebook, Zalo… được khái quát bằng sơ đồ sau
Trang 37Google Classroom là một công cụ tích hợp Google Docs, Google Drive và Gmail nhằm mục đích giúp giảng viên đơn giản hóa công việc giảng dạy Dưới đây là một sốtiệních:
1 Một trong những lợi ích nổi trội của Google Class đó là giúp giảm thiểu được việc sử dụng giấy (in ấn tài liệu, nộp bài tập…) trong lớp học
2 Giúp giáo viên tổ chức và quản lý lớp dễ dàng, thuận tiện; tất cả tài liệu, bài tập và điểm đều ở cùng một nơi (trong Google Drive)
Gv tạo lớp học trên Google Classroom, kết bạn và lập nhóm trên
Gv kiểm tra kết quả trên lớp học, đưa ra những nhận xét và những câu hỏi
thảo luận trên lớp
Trên lớp, Gv kiểm tra kết quả tự học, nghe báo cáo thuyết trình nhóm, trao
đổi, giải đáp các bài tập
Trang 383 Ngoài phiên bản web, Google Classroom đã có phiên bản trên Android và iOS cho phép người học truy cập vào Lớp học nhanh hơn, luôn cập nhật mọi thông tin về lớp học khi di chuyển
4 Tài khoản Google của Trường đã được cấp với dung lượng không giới hạn Điều này là một thuận lợi rất lớn trong việc sử dụng Google Classroom, giáo viên có thể lưu trữ toàn bộ tài liệu giảng dạy, video tham khảo, hình ảnh lớp học, điểm,…ngay trên Drive của lớp học này và chia sẻ cho sinh viên mà không phải bận tâm về không gian lưu trữ
5 Giáo viên và học sinh có thể theo dõi, cập nhật tình hình lớp học ở bất kỳ nơi đâu (chỉ cần có laptop, tablet hay điện thoại có kết nối internet)
6 Các thông báo tức thời và các trao đổi trên diễn đàn được thực hiện dễ dàng
II 3.3 Ứng dụng trong thực tiễn giảng dạy
II 3.3.1 Điều tra, khảo sát
Trước khi tiến hành giảng dạy, tôi đã tôi tiến hành điều tra, thu thập ý kiến phản hồi của giáo viên và học sinh các lớp Những nội dung chủ yếu được điều tra là:
+ Điều tra thực trạng dạy và học môn Lịch sử trong các trường THPT
+ Điều tra thực trạng sử dụng Internet và các mạng xã hội trong học sinh và giáo viên
+ Điều tra về tính hiệu quả khi ứng dụng mạng xã hội trong dạy học môn Lịch
sử sử dụng mô hình lớp học đảo ngược
+ Thông qua các phiếu điều tra tiến hành tổng hợp kết quả
II 3.3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm
- Bài thực nghiệm: Bài 13 Phong trào dân tộc dân chủ 1925-1930 (2 tiết)
- Lớp thực nghiệm: Lớp 12D1, 12E2
- Sau khi học hết bài 12 Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925, Gv yêu cầu học sinh vào lớp học trên Google Classroom nhận nhiệm vụ chuẩn bị cho bài 13 Phong trào dân tộc dân chủ 1925-1930
+ Xem Video bài giảng
Trang 39+ Hoàn thành các phiếu học tập
+ Hoạt động nhóm: Trả lời các câu hỏi
- Học sinh nhận nhiệm vụ và thực hiện các nhiệm vụ được giao đúng thời gian quy định Mọi thắc mắc học sinh trao đổi với giáo viên và các bạn trong nhóm qua Facebook, Zalo… đã được lập trước đó
- Sau khi xem E-learning, và hoàn thành các phiếu bài tập được giao, giáo viên giao tiếp câu hỏi thảo luận và bài tập chuẩn bị cho tiết học trên lớp Hs tiếp tục vào lớp học trên Google Classroom nhận nhiệm vụ và hoàn thành (Phiếu bài tập, bài tập, link E-learning, tài liệu tham khảo… xem phụ lục)
- Tiết học trên lớp
Tiến trình chung
B1 Kiểm tra đánh giá kết quả tự học ở nhà của học sinh (15 phút)
B2 Giải đáp thắc mắc và hợp thức hóa, hệ thống hóa kiến thức mới (15 phút) B3 HS giải bài tập vận dụng, giải quyết vấn đề theo nhóm (10 phút)
B4 Giao phiếu hướng dẫn tự học cho bài hôm sau (5 phút)
Với 4 bước xác định ở trên, khi dạy trên lớp, tùy theo nội dung bài học mà giáo viên có thể thay đổi linh động, đặc biệt ở các bước 3 và 4 Cụ thể từng bước như sau:
Bước 1 Kiểm tra đánh giá kết quả tự học ở nhà của học sinh
Tự học ở nhà là hoạt động cá nhân Giáo viên lựa chọn học sinh bất kì thuyết trình về nội dung bài học Các tiêu chí cho điểm với cá nhân được đưa ra cụ thể rõ ràng
- Trình bày đúng nội dung kiến thức
- Bài trình bày sạch sẽ, sáng sủa, khoa học
- Trình bày to, mạch lạc, rõ ràng
- Trình bày sáng tạo, thu hút người nghe
Bước 2 Giải đáp thắc mắc và hợp thức hóa, hệ thống hóa kiến thức mới
Trang 40- Gv chiếu đáp án của phiếu hướng dẫn học sinh tự học Hs hoàn thiện phiếu học tập của mình
- Gv hệ thống hóa các kiến thức mới thông qua sơ đồ tư duy Việc sử dụng sơ đồ tư duy sẽ khiến cho học sinh nhớ kiến thức lâu hơn
Bước 3 HS giải bài tập vận dụng, giải quyết vấn đề theo nhóm
Bước 4 Giao phiếu hướng dẫn tự học cho bài hôm sau
Phiếu hướng dẫn tự học bài tiếp theo mà giáo viên phát cho học sinh nhằm cung cấp và hướng dẫn cho học sinh bài cần học, nơi khai thác học liệu học tập, qua đó học sinh được học và rèn luyện các kĩ năng lựa chọn và khai thác tài liệu, kĩ năng về CNTT
II 3.3.3 Kết quả nghiên cứu
a Kết quả khảo sát
Trước khi tiến hành dạy thực nghiệm tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thông qua Google form được gửi đến các em học sinh và một số giáo viên
Kết quả thu được như sau
+ Phần lớn người được hỏi đều giành thời gian nhất định hằng ngày để truy cập Internet
+ Mục đích vào Internet của mỗi người là khác nhau Trong đó ai cũng có ít nhất một tài khoản Facebook và Zalo
+ Việc trao đổi thông tin diễn ra thường xuyên qua Facebook và Zalo nhất là học tập đặc biệt trong đợt dịch vừa qua giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên
+ Các lớp học online cũng đã quen thuộc với học sinh nhất là trong tình hình dịch Covid19 vẫn đang diễn ra phức tạp Các em đều đủ các phương tiện để học trực tuyến và tiếp cận Internet để khai thác các thông tin phục vụ cho học tập của mình