PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN
Trang 1ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO
KIM NGÂN
LỜI MỞ ĐẨU
1 Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu )
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Kết cấu khoá luận
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên qua tới dịch vụ bảo hiểm
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ bảo hiểm
Quá trình tồn tại và phát triển của con người là quá trình đấu tranh, chốngchọi với thiên nhiên Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp con người phần nàohạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của thiên nhiên Tuy vậy các thảm họathiên nhiên cũng như kỹ thuật đã gây thiệt hại to lớn về người và của Con ngườivới sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu cũng không thể lườngtrước được rủi ro Những rủi ro như vậy chính là căn nguyên của hoạt động bảohiểm
Theo Dennis Kessler: “Bảo hiểm là sự đóng góp của một số đông vào sựbất hạnh của số ít”
Theo các chuyên gia bảo hiểm, một khái niệm đầy đủ và thích hợp cho bảohiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự hoánchuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng
lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác
“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường chongười tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảohiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản chi phí cho chính anh ta hoặcngười thứ ba”
Trang 2Hiện nay ở các nước phát triển tỷ trọng ngành dịch vụ trong tổng sản phẩmquốc dân rất cao, chiếm 70-80% GDP Điều đó cho thấy kinh tế hàng hóa pháttriển sẽ kéo theo dịch vụ phát triển Như Mark đã chỉ ra, dịch vụ là một thực thểtất yếu khách quan của sự hợp tác, phân công lao động của tiến bộ khoa học vàcông nghệ cũng như của đời sống Dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quantrọng của các quốc gia Cho tới nay tồn tại rất nhiều quan niệm về dịch vụ củanhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học song có thể hiểu dịch vụ theo hai cách sau:Theo nghĩa rộng: dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh
tế quốc dân Theo cách hiểu này dịch vụ gồm toàn bộ các ngành, các lĩnh vựctạo ra tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm quốc dân trừ các ngành sảnxuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp
Theo nghĩa hẹp: dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinhdoanh bao gồm các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sảnphẩm được cung ứng cho khách hàng
Cùng với sự phát triển của sản xuất, khoa học kỹ thuật, công nghệ thì cũngxuất hiện ngày càng nhiều hoạt động kinh doanh mới, các dịch vụ mới
Từ những khái niệm về dịch vụ như đã phân tích trên đây có thể khái quátdịch vụ bảo hiểm như sau:
Dịch vụ bảo hiểm là tất cả các dịch vụ mà người bảo hiểm cung cấp chongười được bảo hiểm
Tuy nhiên trong trong lĩnh vực Dịch vụ (GATS) thì nhóm dịch vụ bảo hiểm
và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm bao gồm bảo hiểm nhân thọ và phi nhânthọ, tái bảo hiểm, trung gian bảo hiểm như môi giới và đại lý, các dịch vụ bổ trợcho bảo hiểm như tư vấn và tính toán rủi ro
Cũng giống như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cung cấp chokhách hàng sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không có hình dáng, kíchthước, trọng lượng Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm đặc biệt, đây là loạisản phẩm vô hình và không được bảo hộ bản quyền, là loại sản phẩm mà ngườimua không bao giờ muốn nó xảy ra với mình để được thực hiện quyền đòi bồithường hay trả tiền bảo hiểm Người mua sản phẩm bảo hiểm chỉ với mục đích
Trang 3đề phòng khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tàichính, ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt
xã hội Tham gia vào dịch vụ bảo hiểm gồm có người mua (khách hàng), ngườicung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm) và các tổ chức trunggian (người bảo hiểm giới bảo hiểm)
Người bảo hiểm còn gọi là những người cung cấp dịch vụ bảo hiểm(Insurer or underwriter): là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm , là người kýhợp đồng bảo hiểm, được hưởng phí bảo hiểm và cam kết bồi thường cho ngườimua bảo hiểm tất cả những tổn thất thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm là nguyênnhân trực tiếp gây nên Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay theođiều 59 của Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam gồm: doanh nghiệp bảohiểm nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp bảo hiểm liêndoanh, tổ chức bảo hiểm tương hỗ và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tưnước ngoài Người được bảo hiểm (Insured): Là những tổ chức hay cá nhân thọ
có tài sản hay trách nhiệm dân sự theo luật định, tính mạng hay tình trạng sứckhoẻ cần phải tham gia bảo hiểm sẽ trực tiếp hay thông qua người môi giới muacác sản phẩm bảo hiểm
Người được người bảo hiểm là người mua bảo hiểm của doanh nghiệp bảohiểm, là người có tên trên hợp đồng bảo hiểm hay là người được hưởng lợi íchtrên hợp đồng bảo hiểm Tổ chức trung gian bảo hiểm hay còn gọi là người môigiới (broker), đại lý (agent) bảo hiểm là cầu nối giữa người mua và người bánbảo hiểm
* Môi giới bảo hiểm: Môi giới bảo hiểm có thể là công ty hoặc cá nhânđứng ra thu xếp bảo hiểm với các công ty bảo hiểm Họ có thể tư vấn về các vấn
đề như nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, khiếu nại,kiện tụng… Môi giới bảo hiểm có thể đại diện cho cả doanh nghiệp bảo hiểm vàngười được bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm: Đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức hay cá nhân được doanhnghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý Đại lý bảo hiểm thay mặtdoanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được
Trang 4hưởng lương hoặc tiền hoa hồng theo thoả thuận Như vậy đại lý thường đượccoi là đại lý cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.
1.1.2 Đặc điểm về dịch vụ bảo hiểm
Cũng giống với các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cũng có cácđặc trưng chung như:
- Người cung cấp và nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm : Người cung cấp dịch vụbảo hiểm: chính là các doanh nghiệp kinh doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm đểphục vụ khách hàng của mình Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụbảo hiểm có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo nhu cầu của thị trường và tuỳ theo khảnăng cạnh tranh Các doanh nghiệp luôn nâng cao chất lượng dịch vụ thông quaviệc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, chính là sản phẩm bảo hiểm Ngàycàng có nhiều sản phẩm bảo hiểm được phát triển và hoàn thiện phù hợp với sựphát triển của khoa học kỹ thuật của nền kinh tế xã hội trong quá trình hội nhập
và toàn cầu hoá Sản phẩm bảo hiểm luôn được cải tiến, hoàn thiện và đổi mớinhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường
- Cầu về dịch vụ bảo hiểm: là nhu cầu của dân cư, của các tổ chức xã hội,
của các đơn vị sản xuất, kinh doanh … xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu
về dịch vụ bảo hiểm ngày càng tăng Nếu theo thang bậc nhu cầu của MASLOWthì nhu cầu về bảo hiểm không thuộc nhu cầu thiết yếu, do vậy dịch vụ bảo hiểmđược quan tâm nhiều hơn khi người dân đã có tích luỹ Điều này cũng có nghĩa
là khi nền kinh tế xã hội phát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng phát triểntheo, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư cũng được cải thiện… do đó nhucầu đa dạng về dịch vụ bảo hiểm tăng lên Những năm đầu của thế kỷ XX trênthị trường bảo hiểm mới chỉ có vài chục sản phẩm nhưng đến nay con số này đãlên tới hàng trăm Xã hội phát triển, dịch vụ bảo hiểm cũng phát triển, ngày naycác sản phẩm bảo hiểm đã đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống kinh tế xã hội
để phục vụ nhu cầu
- Giá cả của dịch vụ bảo hiểm: Giá cả của dịch vụ bảo hiểm, hay còn gọi là
giá cả của sản phẩm bảo hiểm chính là phí bảo hiểm Phí bảo hiểm (Premium):
là một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho người cung cấp dịch vụ
Trang 5bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm
do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây ra Phí bảo hiểm được xácđịnh trên cơ sở thoả thuận giữa người sử dụng và người cung cấp dịch vụ bảohiểm về một dịch vụ bảo hiểm nào đó và cũng có thể xem đó là giá chấp nhậncủa thị trường trường về dịch vụ (hay sản phẩm) bảo hiểm Phí bảo hiểm đượctính toán trên cơ sở giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) với tỷ lệ phí bảohiểm Nếu giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) càng lớn, tỷ lệ phí bảo hiểmcàng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và ngược lại Phí bảo hiểm cũng luôn thayđổi, nó phụ thuộc vào rủi ro nhiều hay ít, mức độ nguy hiểm cao hay thấp, trình
độ quản lý rủi ro, mức độ thiệt hại khi xảy ra rủi ro, điều kiện bảo hiểm cũngnhư nhận thức của con người… Ngoài ra phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào cácquy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh….trên thị trườngdịch vụ bảo hiểm - Cạnh tranh và liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ bảohiểm: Cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, trên thị trường cung cấp dịch
vụ bảo hiểm luôn có sự cạnh tranh gay gắt và cả sự liên kết giữa các nhà cungcấp dịch vụ bảo hiểm Ngoài ra, dịch vụ bảo hiểm còn có các đặc trưng riêngnhư: - Dịch vụ bảo hiểm có tiềm năng phát triển lớn, đối tượng khách hàng rộng,đối tượng bảo hiểm rất đa dạng bao gồm tài sản, con người và trách nhiệm dân
sự - Dịch vụ bảo hiểm phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của điều kiện kinh
tế xã hội Khi xã hội phát triển thì nhu cầu an toàn trong sản xuất, kinh doanhcũng như đời sống sinh hoạt của người dân càng được đặt ra cao hơn đã tạo điềukiện thúc đẩy dịch vụ bảo hiểm phát triển
- Dịch vụ bảo hiểm cung cấp sản phẩm đặc biệt liên quan đến rủi ro, nguy
hiểm Bảo hiểm ra đời là do sự tồn tại khách quan của rủi ro Rủi ro là những đedoạ nguy hiểm, bất ngờ mà con người không thể lương trước được là nguyênnhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm Bảo hiểm là một ngànhkinh doanh đặc biệt trong xã hội - Dịch vụ bảo hiểm là dịch vụ tài chính, chịu
sự kiểm tra, kiểm soát rất chặt chẽ của nhà nước Nhà nước có thể can thiệp vàohoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước không những xét duyệtbiểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường mà còn quyết định sản phẩm
Trang 6được phép kinh doanh hoặc hình thức triển khai bắt buộc hay tự nguyện Chỉ códịch vụ bảo hiểm mới có hình thức bắt buộc người tiêu dùng phải sử dụng một
số sản phẩm bảo hiểm - Dịch vụ bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông bù
số ít, đây là quy luật đặc thù của ngành bảo hiểm Bảo hiểm chính là sự phân tánrủi ro, chia nhỏ tổn thất của một hay một số người cho nhiều người cùng gánhchịu Tức là lấy số đông để bù vào rủi ro của một số ít Một người tự mình thìkhông thể gánh nổi khi sự cố bảo hiểm xảy ra nhưng nhiều người san sẻ thì sẽvượt qua được Từ quy luật này cho thấy trên một lĩnh vực bảo hiểm nếu thu hútđược nhiều khách hàng tham gia thì phí bảo hiểm thu được từ khách hàng cànglớn, tác dụng bồi thường khi có sự cố xảy ra càng cao Quy luật “số đông bù sốít” luôn được các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tận dụng triệt để Quy luậtnày không phát huy tác dụng thì hoạt động của dịch vụ bảo hiểm không thể tồntại, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị phá sản
1.1.3 Vai trò của dịch vụ bảo hiểm
Bảo hiểm là một ngành kinh tế hết sức nhạy cảm, có thể coi bảo hiểm chính
là lá chắn của nền kinh tế quốc dân, chính vì vậy bảo hiểm có một vai trò đặcbiệt quan trọng trong nền kinh tế
Trước hết, bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trướctổn thất do rủi ro gây nên Rủi ro dù bắt nguồn từ thiên tai hay tai nạn bất ngờđều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinhdoanh của các cá nhân, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, chưa kể có lúc gâythiệt hại về người Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về mặttài chính để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống
và sản xuất kinh doanh Từ đó, người bị thiệt hại có thể khôi phục và phát triểnsản xuất kinh doanh và các hoạt động khác một cách bình thường Tác động nàyphù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút được số đông người tham gia
Thứ hai, bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất; giúp cho cuộcsống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân
và doanh nghiệp Khi đã tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽcùng với người tham gia thực hiện các biện pháp để đề phòng và hạn chế tổn
Trang 7thất, rủi ro đã xảy ra Cơ quan, công ty bảo hiểm đóng góp tài chính một cáchtích cực để thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫncác biện pháp phòng chống tai nạn, mua sắm thêm các dụng cụ phòng cháy chữacháy, cùng các ngành giao thông làm các biển báo, các đường lánh nạn
Thứ ba, bảo hiểm góp phần tăng tích luỹ và tiết kiệm chi cho Ngân sáchNhà nước Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, doanh nghiệpbảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho ngườitham gia để họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh Như vậy, Ngân sáchNhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khicác đối tượng này gặp rủi ro, giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tấtnhiên là trừ trong những trường hợp tổn thất mang tính thảm hoạ, có tính chất xãhội rộng lớn
Mặt khác, dịch vụ bảo hiểm nhất là bảo hiểm thương mại có nghĩa vụ đónggóp vào ngân sách nhà nước thông qua việc thực hiện đóng các loại thuế có liênquan, như vậy là dịch vụ bảo hiểm tăng thu cho ngân sách Thứ tư, bảo hiểm còn
là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội Dưới hìnhthức phí bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã huy động một số lượng vốn khá lớn từcác đối tượng tham gia Số vốn đó ngoài chi trả, trợ cấp hay bồi thương thiệt hạicòn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội Đặc biệt, đối với bảohiểm nhân thọ, nguồn vốn huy động được tích luỹ trong một thời gian dài mớiphải chi trả cho người tham gia bảo hiểm Do đó, các công ty bảo hiểm có thể sửdụng để kinh doanh bất động sản, mua trái phiếu hay là dùng để đầu tư vàohoạt động kinh tế sinh lời Và như vậy làm tăng vòng chu chuyển nguồn vốn,làm cho hệ thống tài chính sôi động hơn
Thứ năm, bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữacác nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm Thị trường bảo hiểm nội địa và thịtrường bảo hiểm quốc tế có mối quan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thôngqua hình thức phân tán rủi ro và chấp nhận rủi ro – Hình thức tái bảo hiểm giữacác công ty của các nước Như vậy, bảo hiểm vừa góp phần phát triển quan hệkinh tế giữa các nước, vừa góp phần ổn định thu chi ngoại tệ cho ngân sách Thứ
Trang 8sáu, bảo hiểm thu hút một số lượng lao động nhất định của xã hội, góp phầngiảm bớt tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời dịch vụ bảo hiểmcũng góp phần giải quyết và ổn định đời sống cho một bộ phận người lao độngtrong ngành bảo hiểm
1.2 Nội dung lý thuyết liên quan tới bảo hiểm nhân thọ Prudential
1.2.1 Lịch sử ra đời của BHNT Prudential
Công ty bảo hiểm Prudential đã phát triển từ rất lâu trên thế giới và là mộttrong những công ty bảo hiểm nhân thọ hàng đầu với nhiều dấu ấn quan trọngđáng ghi nhớ
Tập đoàn Prudential được thành lập vào năm 1848 dưới tên PrudentialMutual Assurance Investment and Loan Association tại Hatton Garden, London,Vương quốc Anh Với hơn 165 năm lắng nghe và thấu hiểu nhu cầu của kháchhàng, Prudential luôn nằm trong top 10 tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới và
là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ hàng đầu nước Anh
Hiện nay, Prudential phục vụ khoảng 24 triệu khách hàng bảo hiểm nhânthọ khắp thế giới và quản lý tài sản với tổng trị giá lên đến 599 tỷ Bảng Anh(tính đến 12/2016)
Prudential tự hào mang lại cho khách hàng những giải pháp an toàn tàichính ưu việt nhất với hơn 90 năm hoạt động và không ngừng phát triển tại 14thị trường Châu Á: Việt Nam, Mã Lai, Singapore, Hồng Kông, Thái Lan,Indonesia, Cambodia, Philippines, Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản,Hàn Quốc và Trung Đông
Prudential cũng là một trong những công ty quản lý tài sản lớn nhất tínhtheo tài sản quản lý có nguồn gốc từ Châu Á ngoại trừ Nhật Bản Hoạt độngkinh doanh quản lý quỹ đầu tư đã mở rộng sang 10 thị trường: Việt Nam, HồngKông, Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan, Mã Lai, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc
và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
Với quy mô hoạt động lớn mạnh và bền vững, Prudential Châu Á đã trởthành Công ty Bảo hiểm Nhân thọ hàng đầu trong vùng xét về quy mô thị trường
và số lượng công ty trực thuộc; Đồng thời, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh
Trang 9vực quản lý tài sản tại Châu Á Prudential Châu Á đã xây dựng được mộtthương hiệu nổi tiếng và được đánh giá cao trong khu vực có đặc điểm địa lý vàvăn hóa đa dạng này.
Có mặt tại Việt Nam từ năm 1995 và chính thức đi vào hoạt động năm
1999, với thông điệp "Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”, Prudential đãduy trì vị trí hàng đầu trong ngành bảo hiểm nhân thọ
Prudential hiện cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ bảo vệ, tích lũy
và đầu tư thông qua đội ngũ 176.000 tư vấn viên chuyên nghiệp, 350 văn phòngTổng Đại lý, văn phòng giao dịch và trung tâm phục vụ khách hàng tại 63 tỉnhthành trên cả nước, cùng mạng lưới 6 ngân hàng đối tác uy tín và hệ thống bảolãnh viện phí tại hơn 128 bệnh viện và phòng khám
+ PRU - Khởi Đầu Linh Hoạt
+ PRU - Tương Lai Tươi Sáng
+ PRU - An Tâm Trọn Đời Kế Hoạch Học Vấn
- Kế hoạch bảo vệ
An tâm chăm sóc bản thân và gia đình với các kế hoạch bảo vệ tài chínhtoàn diện trước những rủi ro tai nạn, bệnh hiểm nghèo… với các sản phẩm:+ PRU - Cuộc Sống Bình An
Trang 10Một giải pháp bảo vệ kết hợp đầu tư sẽ giúp bạn xây dựng nền tảng tàichính vững vàng trước những bất trắc của cuộc sống với các sản phẩm:
+ PRU - Đầu Tư Linh Hoạt
+ PRU - An Tâm Trọn Đời
- Giải pháp gia tăng bảo vệ
Gia tăng bảo vệ cho bản thân bạn và những người thân yêu trước các rủi rophổ biến như tai nạn, thương tật, nằm viện, bệnh hiểm nghèo… với các sảnphẩm:
+ Bảo hiểm tai nạn dành cho trẻ em
+ Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo dành cho trẻ em
+ Bảo hiểm miễn đóng phí bệnh hiểm nghèo
+ Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo từ giai đoạn đầu
+ Chăm sóc sức khỏe toàn diện
+ Chăm sóc sức khỏe
+ Bảo hiểm sức khỏe dành cho trẻ em
+ Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
+ Bảo hiểm hỗ trợ tài chính người phụ thuộc
+ Bảo hiểm hỗ trợ tài chính người hôn phối
+ Bảo hiểm từ bỏ thu phí người hôn phối
+ Bảo hiểm từ bỏ thu phí
+ Bảo hiểm chết do tai nạn
+ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn mở rộng
1.2.3 Tình hình phát triển BHNT Prudential tại Việt Nam
Cột mốc lịch sử quan trọng của công ty prudential Việt Nam
Năm 1995, thành lập văn phòng đại diện Công ty Bảo hiểm Nhân thọPrudential tại Hà Nội
Năm 1997, khai trương văn phòng đại diện thứ hai tại thành phố Hồ ChíMinh
Năm 1999, thành lập công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam
Trang 11Năm 2000, kỷ niệm Hợp đồng Bảo hiểm cho khách hàng thứ 100.000 chỉsau 1 năm hoạt động.
Năm 2001, tăng vốn đầu tư lên 40 triệu USD cam kết đầu tư lâu dài tại ViệtNam
Năm 2002, hoàn thành sứ mệnh phục vụ 1.000.000 khách hàng và thànhlập văn phòng Tổng đại lý Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên tại Long An
Năm 2004, trở thành công ty bảo hiểm nhân thọ dẫn đầu tại thị trường ViệtNam với thị phần cao nhất
Năm 2005, trao trả quyền lợi đáo hạn cho khách hàng đầu tiên Tiếp đó,thành lập Công ty TNHH Quản lý Quỹ Eastspring Investment
Năm 2006, đạt danh hiệu “Thương hiệu số một tron ngành Bảo hiểm - Tàichính - Ngân hàng”, đồng thời được bầu chọn vào danh sách “10 Thương hiệunổi tiếng nhất Việt Nam”
Năm 2007, chi trả lợi tức lần thứ nhất ước tính 521 tỷ VND cho kháchhàng Vào tháng 09/10/2007, thành lập Công ty TNHH MTV Tài chínhPrudential Việt Nam (Prudential Finance)
Năm 2008, chính thức đưa ra thị trường sản phẩm Prulink - Phú - Bảo GiaĐầu tư tăng vốn đầu tư lên 75 triệu USD
Năm 2009, công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam là công ty Bảohiểm nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam hoạt động trên khắp 63 tỉnh thành cảnước và vinh dự được nhận bằng khen danh dự của Thủ tướng Chính phủ và Ủyban Nhân dân TP.HCM
Năm 2010 được vinh danh là “1 trong 10 doanh nghiệp đóng thuế thu nhậpdoanh nghiệp nhiều nhất” Đặc biệt, Prudential nhận được 2 giải thưởng: Giảithưởng “Rồng vàng” cho danh hiệu “Dịch vụ tài chính được tin tưởng nhất”, giảithưởng “Thương mại dịch vụ” năm 2010
Năm 2011, lần thứ 10 liên tiếp nhận giải thưởng “Rồng vàng”
Năm 2012, chi khoản bảo tức đặc biệt khoảng 430 tỷ đồng cho 104.000khách hàng
Trang 12Năm 2014, vinh dự nhận Huân chương Lao động Hạng nhì do Chủ tịchnước CHXHCN Việt Nam trao tặng
Năm 2015, lập kỷ lục đầu tư 3.200 tỷ đồng vào trái phiếu chính phủ kỳ hạn
20 năm Đầu tư 500 tỷ đồng vào trái phiếu chính phủ kỳ hạn 30 năm
Năm 2016, cam kết đầu tư 6000 tỷ đồng vào trái phiếu chính phủ với kỳhạn lên đến 30 năm
Với bề dày lịch sử lớn mạnh và sự nỗ lực vươn lên không ngừng,Prudential đã ngày càng góp phần làm cho thị trường bảo hiểm nhân thọ ViệtNam trở nên sôi động hơn
Bảo hiểm nhân thọ Prudential là loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa kinh tế,
xã hội do công ty Prudential cung ứng cho khách hàng khi có nhu cầu sử dụng.Tham gia bảo hiểm nhân thọ Prudential khách hàng sẽ được chi trả một khoảntiền nhất định cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng khi có
sự kiện rủi ro xảy ra hoặc kết thúc thời hạn bảo hiểm với điều kiện người thamgia phải đóng đủ và đúng những khoản phí theo quy định
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới dịch vụ bảo hiểm
1.3.1 Các nhân tố môi trường bên trong doanh nghiệp
+ Đối tượng được tham gia bảo hiểm
Nằm trong giới hạn về nhóm tuổi: Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ sẽ cóquy định độ tuổi tham gia thường nằm trong khoảng từ 0 tháng đến 65 tuổi.Ngoài ra, một số sản phẩm có thể tham gia dưới 0 tuổi (tức là khi còn nằm trongbụng mẹ) Một số sản phẩm bảo hiểm nhân thọ hưu trí có thể tham gia ở độ tuổi65-80 tuổi
Có đủ điều kiện sức khỏe: Đạt điều kiện tham gia bảo hiểm nhân thọ thuậnlợi là chưa từng có lịch sử khám chữa bệnh Tuy nhiên nếu đã có tiền sử bệnh ánvẫn có thể mua bảo hiểm tùy theo mức độ thẩm định của từng công ty bảo hiểm.Theo đó khách hàng được chấp thuận bảo hiểm với phí chuẩn/tăng phí hoặcchấp thuận bảo hiểm với điều kiện loại trừ bệnh bệnh có sẵn hay bị tạm hoãn saumột thời gian thẩm định lại Những trường hợp sức khỏe khỏe không đủ điều
Trang 13kiện tham gia bảo hiểm là đã và đang mắc phải những căn bệnh/biến chứng/triệuchứng nguy hiểm.
+ Nghề nghiệp và thu nhập hàng tháng của người tham gia
Nằm trong nhóm nghề nghiệp được bảo hiểm: Phần lớn các công ty bảohiểm đều phân loại nghề nghiệp theo 4 nhóm bao gồm nhóm nghề nghiệp 1,nhóm nghề nghiệp 2, nhóm nghề nghiệp 3 và nhóm nghề nghiệp 4 tương ứngvới mức độ rủi ro nghề nghiệp tăng dần Khách hàng có nghề nghiệp thuộcnhóm nghề 1-3 sẽ được tham gia bảo hiểm Riêng khách hàng thuộc nhóm nghề
4 có mức độ rủi ro cao nhất có thể bị từ chối bảo hiểm như nhân viên huấnluyên/chăm sóc thú, nghệ sĩ biểu diễn múa lân/sư tử/rồng, công nhân nổ mìn,thợ nặn, công nhân khai thác gỗ
Có đủ khả năng tài chính: Điều kiện tài chính để mua bảo hiểm nhân thọkhá dễ dàng bởi từ mức thu nhập tối thiểu vùng (4 triệu - 5 triệu) trở lên là cóthể mua một hợp đồng bảo hiểm với mức phí bảo hiểm năm khoảng 10-15% thunhập Quan trọng nhất là thu nhập ổn định để có thể duy trì hợp đồng bảo hiểmdài dạn nhằm đảm bảo quyền lợi bảo hiểm của người tham gia
+ Loại hình tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm sinh kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảohiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trảtiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thờihạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Tại Việt Nam bảo hiểm sinh kỳvẫn được quy định theo Luật kinh doanh bảo hiểm nhưng trên thực tế hầu hếtcác công ty bảo hiểm nhân thọ không triển khai sản phẩm này
Bảo hiểm tử kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảohiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trảtiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thờihạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm trọn đời: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảohiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó Hiện nay
Trang 14các công ty bảo hiểm nhân thọ ít triển khai thêm mới sản phẩm bảo hiểm trọnđời.
Bảo hiểm hỗn hợp: là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ vàbảo hiểm tử kỳ Đây là một trong những sản phẩm bảo hiểm chủ lực của cáccông ty bảo hiểm tại Việt Nam
Bảo hiểm trả tiền định kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp ngườiđược bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệpbảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuậntrong hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm liên kết đầu tư: là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ không chia lãi,phí và quyền lợi bảo hiểm tách riêng thành hai phần đó là phần bảo hiểm vàphần đầu tư Hai sản phẩm tiêu biểu nhất của dòng sản phẩm bảo hiểm liên kếtđầu tư là bảo hiểm liên kết chung và bảo hiểm liên kết đơn vị
Bảo hiểm hưu trí là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảohiểm đạt đến độ tuổi xác định được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểmtheo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
+ Mức độ sử dụng dịch vụ bảo hiểm của công ty
1.3.2 Các nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp
+ Nền văn hoá
Về văn hóa Việt Nam là một nước ở phương Đông, lại chịu sự ảnh hưởnglớn của Nho giáo, gia đình và tình cảm ruột thịt luôn được người Việt Nam hếtsức coi trọng Dù ở bất cứ đâu, đi bất cứ nơi nào nhưng hàng năm mỗi ngườicon Việt Nam luôn luôn hướng về quê hương, về cội nguồn dân tộc với một tìnhcảm tha thiết Với tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, mỗi ngườidân Việt Nam luôn sẵn lòng chia sẻ với những khó khăn mà đồng bào phải gánhchịu cho dù sự đóng góp đó chỉ đơn giản Có thể nói nét đặc trưng văn hoá nàycủa người Việt Nam đã tạo nên một thị trường hết sức hấp dẫn cho bảo hiểmnhân thọ, bởi bảo hiểm nhân thọ là sự biểu lộ sâu sắc trách nhiệm và tình thươngbao la đối với người thân, gia đình và xã hội Hơn thế nữa, người Việt Nam còn
có nét đặc trưng về tính cách đó là tiết kiệm, “lo xa” để đảm bảo cuộc sống cho
Trang 15chính bản thân mình và những người thân trong tương lai Trong khi đó, bảohiểm nhân thọ là một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề này.
Về dân số Việt Nam là một quốc gia đông dân trên thế giới Đến cuối năm
2005, dân số Việt Nam lên tới hơn 83 triệu người, trong đó người lao động và trẻ
em chiếm đa số Thế nhưng số người tham gia bảo hiểm nhân thọ mới khoảng 5triệu người, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ mới chỉ khoảng 7%, trongkhi tỷ lệ này ở các nước trung bình là 20-25%, so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới thì còn rất ít
+ Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, liên tục trong suốt các nămqua, với mức tăng trưởng GDP năm 2004 là 7,75% và năm 2005 khoảng trên8%, thu nhập bình quân đầu người luôn được cải thiện trong những năm gầnđây, lạm phát được duy trì ở mức thấp dưới 10 %, đời sống của dân cư khôngngừng được cải thiện… Người dân đã bắt đầu có tích luỹ và yên tâm sử dụngtiền tích luỹ này để đầu tư trở lại nền kinh tế trong đó bảo hiểm nhân thọ là mộttrong những kênh đầu tư Vốn được người dân lựa chọn Đây chính là nhữngyếu tố rất quan trọng và là cơ sở cho sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ tronggiai đoạn này cũng như những năm về sau
+ Công nghệ thông tin
Trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng, việcứng dụng công nghệ thông tin đã cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm vi tínhhoá quá trình dịch vụ, giảm bớt tính cồng kềnh của cơ cấu tổ chức doanh nghiệpbảo hiểm, đa dạng hoá kênh phân phối và các hình thức dịch vụ, tăng cườngdịch vụ khách hàng bằng các dịch vụ phụ trợ kỹ thuật cao,…
Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin tạo ra một thóiquen tiêu dùng mới cho khách hàng Khách hàng ngày càng có nhu cầu tìm hiểuthông tin qua các phương tiện thông tin hiện đại như qua: Internet, điện thoại,email…được cung cấp các dịch vụ tài chính tổng hợp như: bảo hiểm – đầu tư –thanh toán…
+ Môi trường pháp lý và chính sách của Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
Trang 16Quốc hội đã thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 09/12/2000 tại kỳhọp thứ 8 Quốc hội khoá X, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển lànhmạnh và bền vững của thị trường bảo hiểm Việt Nam, phù hợp với xu thế hộinhập quốc tế.
Hệ thống các văn bản pháp Luật về kinh doanh bảo hiểm đã tương đối hoànchỉnh theo tiêu chuẩn quốc tế Bộ Tài chính thực hiện việc giám sát các doanhnghiệp bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh, từ khâu tuyển dụng, đào tạo đại lýđến hệ thống các chỉ tiêu giám sát hoạt động kinh doanh
Trang 17CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM TẠI
CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN
2.1 Khái quát chung về công ty TNHH Bảo Kim Ngân
2.1.1 Khái quát về công ty TNHH Bảo Kim Ngân
CÔNG TY TNHH BẢO KIM NGÂN
Tên giao dịch: BKN CO., LTD
Ngành nghề chính: Hoạt động của đại lý và môi giới bảo hiểm
Trạng thái: Đang hoạt động (đã được cấp GCN ĐKT)
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Công ty THHH Bảo Kim Ngân
Tên gọi: Công ty TNHH Bảo Kim Ngân
Trụ sở giao dịch: Số 223, phố Đội Cấn, Phường Đội Cấn, Quận Ba Đình,
Hà Nội
Ngay từ những năm đầu thành lập công ty chủ yếu hoạt động về môi giớibảo hiểm và đại lý Sau một thời gian hoạt động trong thương trường công tygặp không ít những khó khăn đặc biệt là có sự cạnh tranh mạnh mẽ của nhiềuloại hình doanh nghiệp mới thành lập như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
Trang 18tư nhân, công ty liên doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài cùng vào lĩnhvực này Nhận thấy sự khó khăn đó Ban giám đốc công ty đã quyết điịnh bổsung thêm một số ngành nghề khác nhau như:
+ Cho thuê xe có động cơ
+ Tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại
+ Dịch vụ hỗ trợ giáo dục
+ Đại lý du lịch
+ Điều hành tour du lịch
Công ty đẩy mạnh phát triển lĩnh vực về bảo hiểm Tuy gặp nhiều khó khăn
do những năm đầu thành lập chưa tiếp cận, nắm bắt được nhu cầu thị trườngnhưng đến nay công ty đã mở rộng thị trường không chỉ trong địa bàn thủ đô màcòn sang cả các địa phương khác như Sơn La, Nam Định, Ninh Bình, Tốc độtăng trưởng mạnh, doanh thu và thu nhập của cán bộ công nhân viên từng bướcđược nâng cao Cho đến nay doanh thu hàng năm của công ty đã đạt hàng chục
tỉ đồng trên tất cả các hoạt động của công ty
Hiện nay công ty vẫn tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện tốt các kế hoạchkinh doanh đồng thời không ngừng tăng cường tìm kiếm bạn hàng và mở rộngthị trường, đào tạo các bộ công nhân viên có chuyên môn và tinh thần tráchnhiệm cao trong công việc
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của công ty TNHH Bảo Kim Ngân
Công ty TNHH Bảo Kim Ngân gồm các thành viên tham gia hoạt độngtuân thủ theo pháp luật, mô hình tổ chức sắp xếp khá hợp lý, cơ cấu gọn nhẹ,không chồng chéo, mỗi phòng ban có chức năng và nhiệm vụ cụ thể giúp điềuhành quản lý, giám sát được thông suốt
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban:
a, Giám đốc: là người đứng đầu của bộ máy quản lý, có trình độ đại học làngười đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật và các quan hệ đối tác,được Hội đồng quản trị tín nhiệm và bổ nhiệm điều hành tất cả các hoạt động