Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh
Trang 1TÓM LƯỢC
Lao động là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong cuộc sống hiệnnay, nó không những tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn mang lạinhững giá trị tinh thần làm tăng thêm sự phong phú cho đời sống Tuy nhiên, lao độngchính là sự tiêu dùng sức lao động trong thực hiện, là hoạt động có mục đích có ý thứccủa con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội Vậy nên, để các sảnphẩm lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao không phải là vấn đề dễ thựchiện Sức lao động của con người không phải là vô tận, nó sẽ giảm dần nếu không cóthời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý
Qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH Hà Hanh, em nhận thấy tầm quantrọng của hệ thống pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người laođộng Với hệ thống pháp luật này cũng giúp em có cái nhìn khách quan, từ đó nhìn rađược những điểm còn hạn chế, bất cập tồn tại trong quy định của pháp luật khi ápdụng vào thực tiễn Chính vì lẽ trên, em đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về thời giờ làmviệc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Hà Hanh” làm đề tàikhóa luận của mình
Để làm rõ đề tài trên em chia bài nghiên cứu thành 3 chương:
Chương I khóa luận tập trung nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, các loại thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và pháp luật về vấn đề này Bên cạnh đó chương Ikhóa luận còn trình bày về cơ sở ban hành, nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi, từ đó nêu ra các quy định pháp luật về vấn đề này hiệnnay
Chương II khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về thời giờ làmviệc, thời giờ nghỉ ngơi từ đó phân tích đến chi tiết thực tiễn thực hiện pháp luật vềthời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Công ty TNHH Hà Hanh Từ đó đưa ra đượcnhững đánh giá kết quả đạt được của quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờnghỉ ngơi và rút ra được những hạn chế, bất cập trong việc thi hành pháp luật về thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Công ty TNHH Hà Hanh
Chương III của khóa luận tập trung vào đưa ra một số kiến nghị, giải pháp đểnâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi vànhững vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 2Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường, các thầy cô giáo, cán bộ củaKhoa Kinh tế - Luật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giải đáp mọi thắc mắc của em, nhờ
sự chỉ dẫn tận tình cùng những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và truyền đạt,
em mới có thể hoàn thành bài khóa luận này Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâusắc, tình cảm trân trọng tới giáo viên hướng dẫn – ThS Trần Thị Nguyệt, mặc dù côngviệc bận rộn nhưng cô vẫn dành thời gian sửa chi tiết từng phần, hướng dẫn và địnhhướng việc nghiên cứu để em có thể hoàn thành bài khóa luận của mình Bên cạnh đó,
em cũng xin bày tỏ sự biết ơn tới các anh chị cán bộ, nhân viên của Công ty TNHH HàHanh đã cho em cơ hội được thực tập tại Quý công ty
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu để hoàn thành bài khóa luận này em đã
cố gắng rất nhiều để bài khóa luận được thực hiện một cách hoàn thiện nhất, song dobuổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu, bài nghiên cứu của em chắc chắn khôngtránh khỏi những thiếu sót và hạn chế về kiến thức chuyên môn cũng như kinh nghiệmthực tiễn, em rất mong nhận được những lời góp ý, bổ sung quý báu từ thầy, cô đề tàiKhóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 02 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận.
Lao động là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong cuộc sống hiệnnay, nó không những tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn mang lạinhững giá trị tinh thần làm tăng thêm sự phong phú cho đời sống Tuy nhiên, lao độngchính là sự tiêu dùng sức lao động trong thực hiện, là hoạt động có mục đích có ý thứccủa con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội Vậy nên, để các sảnphẩm lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao không phải là vấn đề dễ thựchiện Sức lao động của con người không phải là vô tận, nó sẽ giảm dần nếu không cóthời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý Bên cạnh đó khoa học cũng đã chứngminh con người là một thực thể sinh học hệ thần kinh của con người cũng hoạt độngtheo chu kỳ, sức lao động của con người cũng cần được tái tạo thường xuyên để cóđược hiệu quả trong công việc,việc tái tạo một con người bình thường phải dành ítnhất 08 giờ đồng hồ để ngủ mỗi ngày, thời gian còn lại sẽ dành cho làm việc, hoạtđộng các nhân và hoạt động xã hội khác Hay nói cách khác để có được hiệu quả trongviệc tái tạo sức lao động sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chế độ ăn uống, thời giờ làm việchay thời giờ nghỉ hơi hợp lý nhờ đó người lao động sẽ có sức khỏe tốt để đảm bảo laođộng sản xuất và gắn bó lâu dài với công ty
Nhìn vào thực tế hiện nay, có nhiều doanh nghiệp vẫn còn xảy ra nhiều tại cácdoanh nghiệp, các vi phạm chủ yếu là về tăng số giờ làm thêm vượt quá mức chophép, giảm và cắt bớt thời gian nghỉ ngơi của người lao động Một trong các lý dokhiến các doanh nghiệp vi phạm các quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉngơi không chỉ do quy định cả pháp luật còn gây ra nhiều hạn chế đối với doanhnghiệp mà còn vì chính nhu cầu sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên là người laođộng và người sử dụng lao động Các doanh nghiệp làm việc trong lĩnh vực, ngànhnghề kinh tế có nhu cầu làm thêm giờ 300 giờ/năm như sản xuất, gia công hàng xuấtkhẩu là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông lâm, thủy sản, công việc thời vụ bêncạnh đó người lao động cũng cần làm thêm để tăng thêm thu nhập nên dễ dàng đồng ýthỏa thuận Tuy nhiên các vi phạm này không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của ngườilao động mà còn gián tiếp ảnh hưởng tới đời sống gia đình của người lao động để hạnchế và đây lùi các vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và nhằmbảo vệ quyền lợi hợp pháp tốt hơn cho người lao động, vấn đề đặt ra là cần phảinghiên cứu sâu sắc các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo pháp luậtlao động Việt Nam, từ đó sẽ đánh giá được thực trạng và nguyên nhân dẫn đến các viphạm quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi qua đó đề xuất những giải pháp
Trang 6hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Vậy nên, em đã chọn đề tài “Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi – Thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH
Hà Hanh”làm đề tài khóa luận của mình.
2
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trong những vấn đềquan trọng trong lĩnh vực lao động và trong thời gian qua đã có không ít các học giả đãdành thời gian, tâm huyết để nghiên cứu vấn đề này Có thể kể đến đến các công trình
nghiên cứu của một số học giả sau: Bùi Đức Nhưỡng (2018),“Một số giải pháp hoàn thiện quy định về làm thêm giờ và thời giờ nghỉ ngơi trong ngày làm việc”, Tạp chí An
toàn vệ sinh lao động, cập nhật ngày 25 tháng 05 năm 2018 Nghiên cứu này tác giả đãnêu ra các quy định và thực trạng thời giờ làm thêm, thời giờ nghỉ ngơi tại Việt Nambên cạnh đó cũng đề xuất các giải pháp để bảo vệ sức khỏe người lao động góp phần
tăng năng xuất lao động Khuất Văn Trung (2012), “Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và hướng hoàn thiện”, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong nghiên cứu này tác giả phân tích và làm rõđược thực trạng việc áp dụng các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ởViệt Nam và so sánh đối chiếu với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới qua đólàm rõ thực trạng và việc áp dụng các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơitại Việt Nam của các doanh nghiệp, khu công nghiệp… Trên cơ sở đó đề xuất giảipháp nhằm hoàn thiện hơn về các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờnghỉ ngơi
Bên cạnh đó còn có một số bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học như:
Saito Yoshihisa (2015), “Quy định về thời giờ làm việc theo quy định pháp luật Nhật Bản”, Tạp chí Luật học Số 2 Bài viết giới thiệu quy định của pháp luật lao động Nhật
Bản về các phương pháp quy định và thay đổi giờ làm việc Với tư cách là điều kiệnlao động, việc quy định và thay đổi thời gian làm việc được thực hiện trên cơ sở: Thỏaước lao động tập thể, nội quy lao động và quy định của pháp luật Bên cạnh đó, bàiviết cũng đề cập một số án lệ điển hình, đánh giá mức độ phản ánh ý chí của người lao
động thông qua các phương pháp này Mai Long (2016), “Tăng giờ làm hay tăng lương: “Bài toán” 22 năm gây tranh cãi”, Báo Pháp luật Việt Nam, cập nhật ngày 10
tháng 9 năm 2016 Bài báo phản ánh sự đối lập trong quan điểm giữa doanh nghiệp vàNhà nước trong vấn đề thời giờ làm thêm: Phía doanh nghiệp lập luận rằng ở các nướcphát triển như Nhật Bản, Trung Quốc cho phép người lao động làm thêm từ 600giờ/năm tuy nhiên Việt Nam hiện là nước đang phát triển nhưng chỉ cho phép ngườilao động làm thêm ở mức 200-300 giờ trên năm như vậy là quá thấp Về phía các nhà
Trang 7làm luật lại cho rằng mặc dù doanh nghiệp đề xuất giờ làm thêm, nhà đầu tư mongmuốn, người lao động cũng có nhu cầu nhưng phải tính đến yếu tố sức khỏe, thể chất
của người lao động là rất quan trọng Bách Nguyễn – Phan Mơ (2016), “Người lao động sẽ phải tăng giờ làm thêm”, Báo pháp luật Plus, cập nhật ngày 17 tháng 12 năm
2016 Bài viết phản ánh thực trạng có nhiều ý kiến cho rằng cần tăng số giờ làm thêmtối đa để giải quyết đồng loạt nhiều vấn đề như: đáp ứng nhu cầu của đa số doanhnghiệp, đáp ứng nhu cầu của người lao động có nguyện vọng tăng số giờ làm thêm để
có thể tăng thêm thu nhập, đồng thời tăng tính cạnh tranh của thị trường lao động ViệtNam so với các quốc gia trong khu vực, bên cạnh đó bài viết cũng đưa ra các phương
án của các nhà làm luật về việc thay đổi số giờ làm thêm và số giờ làm việc bình
thường Diệu Ngân (2015), “Quy định làm thêm giờ của Việt Nam đang “lệch pha” thế giới?”, Báo Hải quan điện tử, cập nhật ngày 04 tháng 07 năm 2015 Trong bài viết
này tác giả đã phản ánh thực trạng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam cònquá thấp nhưng thời gian làm thêm tối đa ít hơn các quốc gia khác trên thế giới rấtnhiều Những quy định đặt ra chính là rào cản khiến các doanh nghiệp mất tính cạnhtranh Chính vì vậy, các doanh nghiệp đều có chung kiến nghị, quy định làm thêm giờnên có sự nới lỏng hơn để có thể dễ dàng trong việc phát triển doanh nghiệp
Trên đây là một số công trình nghiên cứu, bài báo về thời giờ làm việc, thời giờnghỉ ngơi, nhìn chung, sau khi Bộ luật Lao động 2012 có hiệu lực thì các bài viết đãtập trung nhiều để nghiên cứu các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờnghỉ ngơi Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của các công trình đều là quy định về thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của Bộ luật Lao động 2012 Thực trạng thực hiện phápluật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của các công trình khoa học nói trên cũngđều là ảnh hưởng dưới quy định của Bộ luật Lao động 2012 Chính vì vậy việc nghiêncứu về pháp luật và thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi dướiquy định của Bộ luật Lao động 2019 là cần thiết, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâusắc
3
Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Qua quá trình nghiên cứu các quy định của pháp luật, tìm hiểu thực trạng thựchiện các các quy định của pháp luật tại đơn vị thực tập cũng như tham khảo các côngtrình khoa học của các tác giả khác, các bài tạp chí nghiên cứu Nội dung khóa luận
em sẽ tập trung vào thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thực tiễn thực hiện cácquy định pháp luật này tại Công ty TNHH Hà Hanh cũng như:
- Các vấn đề lý luận của pháp luật liên quan đến thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi
Trang 8- Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thựctiễn thực hiện tại Công ty TNHH Hà Hanh
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thờigiờ nghỉ ngơi; một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Công ty TNHH Hà Hanh
4.2 Mục tiêu
Thứ nhất, Đưa ra được một cách có hệ thống những vấn đề liên quan đến thời
gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi
Thứ hai, Khái quát và đánh giá được thực trạng trong quy định của pháp luật hiện
hành về vấn đề này và thực tiễn thi hành tại công ty TNHH Hà Hanh về thời giờ làmviệc, thời giờ nghỉ ngơi
Thứ ba, Đưa ra được các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
và góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi tại Công ty TNHH Hà Hanh
và các văn bản hướng dẫn thi hành từ năm 2020 đến nay
Về không gian: Khóa luận nghiên cứu các quy định về thời gian làm việc và thờigian nghỉ ngơi theo:
- Quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam hiện nay
- Quy định pháp luật của một số quốc gia khác
- Tại Công ty TNHH Hà Hanh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này, khóa luận đã vận dụnglinh hoạt rất nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp so sánh,
Trang 9phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập thông tin, Các phương phápnày được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin như:phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh
và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển lực lượng lao động ởViệt Nam trong giai đoạn mới Cụ thể như:
Phương pháp so sánh được áp dụng để so sánh các quy định về thời gian làmviệc, thời gian nghỉ ngơi của Bộ luật Lao động 2012 với Bộ luật lao động mới 2019, sosánh quy định của pháp luật vấn đề này ở Việt Nam với quy định về vấn đề này củamột số quốc gia khác trên thế giới
Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các vấn đề về củapháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Phương pháp thu thập thông tin đây là phương pháp được dùng để thu thập cácvăn bản pháp luật; các công trình nghiên cứu khoa học, các tác phẩm báo chí, tạp chí phục vụ cho quá trình nghiên cứu khóa luận
6
Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết cấu của khóa luận tập trung vào ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về thời giờ làm việc, thờigiờ nghỉ ngơi
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Hà Hanh
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Công ty TNHH Hà Hanh
Trang 10CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM
VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
1.1 Khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Trong quan hệ lao động thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi là hai khái niệmhoàn toàn khác nhau tuy nhiên chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo nên mộtchế định độc lập và không thể tách rời trong quan hệ lao động Trên thực tế, không ai
có thể chỉ làm việc mà không có sự nghỉ ngơi và ngược lại, với những người khônglàm việc thì vấn đề nghỉ ngơi cũng được đặt ra, nhất là trong điều kiện hiện nay cùngvới sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thì sự cạnh tranh của con người càng làmcho người lao động làm việc với cường độ cao hơn Do vậy nhu cầu làm việc và nghỉngơi ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn
Trong khoa học kinh tế lao động, thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi được xemxét chủ yếu dưới góc độ của việc tổ chức quá trình lao động Theo đó thời giờ làmviệc, thời giờ nghỉ ngơi phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với năng suất, chấtlượng và hiệu quả lao động với mục tiêu sử dụng ít nhất thời gian làm việc mà vẫn đạtđược hiệu quả kinh tế cao nhất Dưới góc độ này, thời giờ làm việc chính là khoảngthời gian cần và đủ để người lao động tái sản xuất lại sức lao động đã hao phí, nhằmđảm bảo quá trình lao động diễn ra liên tục
Dưới góc độ pháp lý thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi được biểu hiện dướidạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động Quan hệnày thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa người lao động và người sử dụng lao động.Khi tham gia quan hệ này người lao động phải trực tiếp hoàn thành nghĩa vụ lao độngcủa mình phải tuân thủ những quy định nội bộ và có quyền được hưởng những thànhquả trong thời gian đó Ngoài thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, người lao độngđược tự do sử dụng khoảng thời gian đó theo ý muốn của bản thân mình
Như vậy về mặt pháp lý có thể hiểu thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi như sau:
1.1.1 Khái niệm thời giờ làm việc
Trong khoa học lao động thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi được nghiên cứudưới nhiều góc độ khác nhau, nó được coi là một trong những nguyên tắc cần đượcđảm bảo của luật lao động, hoặc một định mức lao động, hoặc một nội dung của quan
hệ pháp luật lao động, một chế định của luật lao động
Căn cứ theo Bộ luật lao động 2012: Thời gian làm việc là độ dài thời gian màngười lao động phải thực hiện nghĩa vụ lao động của mình trong quan hệ lao động căn
cứ vào quy định của pháp luật, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể
Trang 11Theo Bộ luật lao động 2019, thời gian làm việc trong điều kiện lao động, môi trườnglao động bình thường là không quá 8 giờ trong một ngày hoặc không quá 48 giờ trongmột tuần; thời gian làm việc hàng ngày trong điều kiện đặc biệt nặng nhọc, độc hại,nguy hiểm được rút ngắn từ 1 - 2 giờ.
Khoản 2 Điều 105 Bộ luật lao động 2019 quy định người sử dụng lao động cóquyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho ngườilao động biết Bộ luật lao động 2012 không quy định vấn đề này Như vậy, từ ngày01/01/2021, người sử dụng lao động khi quy định về thời giờ làm việc phải thông báocho người lao động biết Đây cũng là điểm mới của Bộ luật lao động 2019 so với Bộluật lao động 2012
Với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của luật lao động, thời giờ làm việc, thờigiờ nghỉ ngơi được coi là quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động và người sửdụng lao động mà các quy định pháp luật lao động cần phản ánh rõ tư tưởng đó
1.1.2 Khái niệm thời giờ nghỉ ngơi
Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi là hai nội dung có đặc điểm cơ bản vàcần thiết phải được quy định trong pháp luật, điều này liên quan trực tiếp đến quyềnlợi của các bên trong quan hệ lao động
Do đó, đây là hai nội dung tách biệt nhau nhưng lại không thể tách rời bởi conngười là một thực thể sinh học, hệ thần kinh con người hoạt động theo chu kỳ khôngthể làm việc liên tục mà không có sự nghỉ ngơi, thời giờ làm việc cần phải có giới hạn
Đó chính là một cơ chế đề bảo vệ như một cái phanh bắt cơ thể ngừng hoạt động đểphục hồi cũng như khỏi kiệt sức Cũng như vậy để làm việc hiệu quả, người lao độngcần phải có thời gian nhất định giành cho sự nghỉ ngơi
Thời giờ nghỉ ngơi: là khoảng thời gian mà người lao động được tự do sử dụng
ngoài nghĩa vụ lao động thực hiện trong thời giờ làm việc
Với tư cách là một chế định pháp luật, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi baogồm tổng thể các quy định về thời gian người lao động phải làm việc, thực hiện cácnhiệm vụ mình được giao và khoảng thời gian cần thiết cho người lao động nghỉ ngơi,tái tạo sức lao động của bản thân
Tóm lại dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có được nghiên cứu dưới góc độ
gì đi nữa thì mục đích chính của việc nghiên cứu đó cũng là để tìm ra một thời gianlàm việc hợp lý, một thời gian nghỉ ngơi thích hợp nhằm tăng năng suất lao động,đồng thời bảo vệ sức khỏe cho người lao động
Trang 121.2 Ý nghĩa của chế định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Xuất phát từ tầm quan trọng nhân tố của con người, việc pháp luật đưa ra quyđịnh về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi mang yếu tố quan trọng, cần thiết vàmang nhiều ý nghĩa sâu sắc cụ thể như:
Đối với người lao động
Với việc quy định và điều tiết thời giờ làm việc một cách hợp lý, pháp luật tạođiều kiện cho người lao động được đảm bảo thực hiện các quyền khác của mình nhưquyền tham gia quản lý, điều hành Quy định thời giờ làm việc còn là căn cứ để ngườilao động được hưởng những quyền lợi của mình như: tiền lương, tiền thưởng, trợcấp Cũng như vậy ta có thể thấy rằng việc quy định về thời giờ làm việc không chỉ có
ý nghĩa như một đại lượng thời gian cần thiết để người lao động có thể thực hiện nghĩa
vụ lao động như đã cam kết trong hợp đồng lao động với người sử dụng lao động màcòn bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi
Quy định về mức thời gian nghỉ ngơi tối thiểu hay thời giờ làm việc rút ngắn góp phần tạo điều kiện cho người lao động tái sản xuất sức lao động và còn tăngcường đời sống vật chất tinh thần của người lao động Bên cạnh đó thời giờ nghỉ ngơicòn có ý nghĩa trong việc tái tạo sức lao động, bảo hộ lao động, đảm bảo thời gian nghỉngơi cho người lao động từ đó người lao động cũng có thời gian dành cho gia đình, bồidưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, và tham gia các hoạt động xã hộikhác Các quy định không những có hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe củangười lao động mà còn tính đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động để khôngthiệt hại cho sản xuất kinh doanh và không làm giảm sút khả năng lao động, sáng tạocủa người lao động
Đối với người sử dụng lao động
Việc quy định thời giờ làm việc giúp người sử dụng lao động xây sựng hợp lý kếhoạch tổ chức sản xuất kinh doanh, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên trongdoanh nghiệp nhằm hoàn thiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra Dựa vào khốilượng công việc, quỹ thời gian cần thiết để hoàn thành và số thời gian làm việc phápluật quy định với mỗi người lao động mà người sử dụng lao động có thể xác định đượcchi phí nhân công, tổ chức và sử dụng linh hoạt hợp lý để tạo ra được hiệu quả trongcông việc một cách cao nhất Các quy định đó còn là căn cứ pháp lý để người sử dụnglao động thực hiện quyền quản lý, điều hành giảm sát lao động từ đó có thể đề ra cáchình thức, cách thức trả lương, khen thường và xử phạt đối với người lao động
Bên cạnh việc quy định thời giờ làm việc thì quy định thời giờ nghỉ ngơi cũng làmột trong các quy định rất cần thiết đối với người sử dụng lao động Người sử dụnglao động cần có thời gian nghỉ ngơi để tái tạo lại sức khỏe từ đó có thể đưa ra được
Trang 13những quyết định chính xác trong hoạt động kinh doanh Không chỉ vậy các quy địnhcủa pháp luật về thời giờ nghỉ ngơi còn giúp người sử dụng lao động quy định linhhoạt nhằm phù hợp với tổ chức sản xuất, tăng tính chủ động của người sử dụng laođộng.
Đối với nhà nước
Quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thể hiện rõ ràng thái
độ tôn trọng của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền, lợi ích của cả người lao động vàngười sử dụng lao động đồng thời cũng tạo ra hành lang pháp lý để Nhà nước thựchiện chức năng quản lý của mình Không chỉ vậy quy định về thời giờ làm việc, thờigiờ nghỉ ngơi cũng nhằm đảm bảo trật tự quan hệ lao động, trật tự xã hội tạo điều kiệncho sự phát triển kinh tế
1.3 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Về cơ sở pháp lý: Người lao động trên thế giới được hưởng khung thời gian làmviệc chung do các tổ chức quốc tế toàn cầu như UNO, ILO đưa ra Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng cho các quốc gia cụ thể hóa thời giờ làm việc phù hợp pháp luật và đặcđiểm mỗi quốc gia Quyền làm việc và nghỉ ngơi sẽ được ghi nhận trong văn bản cógiá trị pháp lý cao nhất – hiến pháp Bên cạnh đó, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơicòn được quy định trong các văn bản pháp luật lĩnh vực lao động như Bộ luật lao động
2012 Đây là cơ sở pháp lý cho các đơn vị sử dụng lao động cụ thể hóa chế độ làmviệc, nghỉ ngơi phù hợp với điều kiện của từng đối tượng, ngành nghề
Về cơ sở thực tiễn: Là một thực thể sinh học, hệ thần kinh con người cũng hoạtđộng theo chu kỳ, các nhà khoa học đã nhất trí rằng một người bình thường cần ít nhất
08 giờ đồng hồ để ngủ mỗi ngày Vì vậy trong trong 24 giờ mỗi ngày chỉ còn lại dưới
16 giờ trong đó một số giờ sẽ được chia ra để giành cho công việc, hoạt động cá nhân
và hoạt động xã hội khác Khi con người lao động đến một mức độ nhất định nào đó sẽ
có cảm giác mệt mỏi, sinh lý chán nản bắt đầu xuất hiện, vào thời điểm đó người laođộng cần phải có thời gian để nghỉ ngơi và đó chính là giai đoạn mà người lao động táisản xuất sức lao động của mình Bên cạnh đó trong mối quan hệ việc làm giữa ngườilao động và người sử dụng lao động thì người lao động luôn ở vị trí yếu thế hơn, ngườilao động luôn có sự phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng laođộng Trước đây, khi pháp luật chưa ra đời các quy định về thời giờ làm việc và thờigiời nghỉ ngơi, các quy định luôn được người sử dụng lao động ban hành dẫn đến việcthời giờ làm việc quá nhiều cùng với đó là thời giờ nghỉ ngơi sẽ hạn chế điều này đãảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người lao động gây nên sự mệt mỏi, nặng nhọc ảnhhưởng không ít tới quá trình làm việc và phát triển tuy nhiên trong khoảng thời gian
Trang 14này việc xử lý các vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi vẫn chưathực sự nghiêm khắc Chính vì vậy, chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đượchình thành trên cơ sở cả sinh học, tâm lý và kinh tế xã hội có liên quan đến quyền vàlợi ích thiết thực trong quan hệ lao động, được người lao động và cả người sử dụng laođộng cùng quan tâm Chính từ những mối quan hệ lao động của con người nên phápluật đã đưa ra những quy định cụ thể về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi để có thểhạn chế được sự lạm quyền của người sử dụng lao động và việc có chế tài quy địnhnhư vậy không chỉ nhằm bảo vệ sức khỏe của người lao động mà còn bảo vệ quyền vàlợi ích lao động về việc làm, nghề nghiệp hay mức thu nhập, tính mạng thậm chí là vềdanh dự, nhân phẩm của người lao động.
1.4 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1.4.1 Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do nhà nước quy định
Với nguyên tắc ưu tiên bảo vệ người lao động – chủ thể có vị thế yếu hơn trongquan hệ lao động nên việc quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi luôn gắnliền với yêu cầu bảo hộ lao động, hạn chế lạm dụng sức lao động và đáp ứng nhu cầucủa các bên trong quan hệ lao động Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầubảo vệ người lao động, nếu để người sử dụng lao động toàn quyền quyết định quy định
về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thì họ sẽ vì mục đích lợi nhuận mà khai tháctối đa nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động sẽ lợi dụng vị thế củamình để tạo áp lực buộc người lao động chấp nhận mức thời gian do họ đưa ra Đểthực hiện chức năng quản lý của mình Nhà nước có quyền quy định về thời giờ làmviệc, thời giờ nghỉ ngơi Chức năng này được ghi nhận tại Hiến pháp 2013:
“Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.
Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lượng, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.”
Nội dung của nguyên tắc được biểu hiện ở chỗ Nhà nước quy định thời giờ làmviệc ở mức tối đa, thời giờ nghỉ ngơi ở mức tối thiểu Cụ thể Nhà nước đã đưa ra cácquy định về ngày làm việc tiêu chuẩn, tuần làm việc tiêu chuẩn, số giờ mà người sửdụng lao động được phép huy động người lao động làm thêm trong ngày, trong tháng
và trong năm Bên cạnh đó Nhà nước cũng quy định khoảng thời gian nghỉ ngơi xen
kẽ với thời giờ làm việc, nghỉ hàng tuần, nghỉ hàng năm bằng cách sử dụng các cụm từ
“không quá”, “ít nhất” điều này đã thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt cho các bên tự dothỏa thuận để phù hợp với từng điều kiện ngành nghề cụ thể Nguyên tắc này đã thểhiện sự quan tâm của Nhà nước đối với đối tượng là người lao động, dựa trên cơ sở đó
Trang 15Nhà nước cũng thực hiện quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các doanhnghiệp trong việc đảm bảo thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cho người lao động.Mặc dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động do Nhà nướcquy định nhung để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân, quyền chủ độngtrong hoạt động sản xuất, kinh doanh và quyền tự định đoạt của người lao động, người
sử dụng lao động việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngoi phải đảm bảonguyên tắc tự do thoả thuận, phù họp với pháp luật Vì là nghĩa vụ của người lao động,những người ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động nên những thoả thuậnnày được khuyến khích theo hướng có lợi cho người lao động
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện rõ ở việc Nhà nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ
mô bằng việc quy định giới hạn pháp luật về thời giờ làm việc, làm thêm, nghỉ ngơi Việc cụ thể hoá như thế nào tuỳ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia trên cơ sở thoảthuận, thương lượng phù hợp điều kiện, đặc điểm riêng Thông thường các thoả thuậnnày được ghi nhận trong thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và người sửdụng lao động có quyền đưa vào thành nội dung của nội quy lao động Khi đã đượcthống nhất ý chí trên cơ sở phù hợp pháp luật, những thoả thuận này là cơ sở cho việcthực hiện và giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể
Không chỉ dừng ở đó, nguyên tắc này còn thể hiện ở việc Nhà nước luôn khuyếnkhích những thoả thuận về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có lợi cho người laođộng Trong khả năng của mình, người sử dụng lao động có thể áp dụng giảm giờ làmviệc mà vẫn đảm bảo quyền lợi cho người lao động Điều này được thể hiện rõ ữongcác quy định khuyến khích giảm giờ làm: “Nhà nước khuyến khích người sử dụng laođộng thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với nguời lao động" (Điều 105 Bộ luật laođộng năm 2019) Thực hiện nguyên tắc này, một mặt đảm bảo được quyền tự do kinhdoanh của người sử dụng lao động, quyền tự định đoạt của người lao động, mặt khácbảo vệ được quyền lợi của người lao động
Bên cạnh nguyên tắc ưu tiên bảo vệ người lao động thì các quy định về thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng được đưa ra dựa trên nguyên ngắc bảo vệ người sửdụng lao động Khi có các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi thì các doanh nghiệp hay người sử dụng lao động sẽ có cơ sở để xác định chínhxác chi phí nhân công, tổng mức tiền lương phải trả theo các trường hợp làm việc vànghỉ ngơi khác nhau Người lao động sẽ biết rõ chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi để chủ động bố trí quỹ thời gian làm việc cá nhân hàng ngày, hàng tuần hay hàngnăm từ đó càng tự giác tuân thủ kỷ luật và nội quy lao động của doanh nghiệp Từ sựtuân thủ kỷ luật và nội quy lao động doanh nghiệp của người lao động sẽ giúp chodoanh nghiệp đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh
Trang 161.4.2 Nguyên tắc rút ngắn thời giờ làm việc đối với các đối tượng đặc biệt hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại
Để đảm bảo cơ chế về thời gian làm việc và nghỉ ngơi có thể phục hồi khả nănglao động lâu dài, pháp luật đề ra một số nguyên tắc pháp lý mà các bên trong quan hệlao đông buộc phải tuân thủ Xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi đối tượng lao động
và một số ngành nghề, công việc nhất định như lao động động chưa thành niên, laođộng nữ, lao động là người tàn tật, người cao tuổi, người lao động làm công việc nặngnhọc, độc hại thì việc bảo hộ là vô cùng quan trọng và cần thiết Ta có thể dễ dàng thấyrằng việc khối lượng công việc như nhau thì mức hao phí lao động của những đốitượng này sẽ cao hơn với bình thường vì vậy nên khả năng phục hồi, tái tạo sức laođộng của họ cũng lâu hơn Vì vậy đòi hỏi cần phải có những quy định phù hợp với đặcthù riêng của từng đối tượng nhằm đảm bảo sức khỏe và công bằng trong khai thácnguồn lực lao động
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 116 BLLĐ 2019 về Thời giờ làm việc,thời giờ nghỉ ngơi đối với người làm công việc có tính chất đặc biệt:
“Đối với các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không; thăm dò, khai thác dầu khí trên biển; làm việc trên biển; trong lĩnh vực nghệ thuật; sử dụng kỹ thuật bức xạ và hạt nhân; ứng dụng kỹ thuật sóng cao tần; tin học, công nghệ tin học; nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến; thiết kế công nghiệp; công việc của thợ lặn; công việc trong hầm lò; công việc sản xuất có tính thời vụ, công việc gia công theo đơn đặt hàng; công việc phải thường trực 24/24 giờ; các công việc có tính chất đặc biệt khác do Chính phủ quy định thì các Bộ, ngành quản lý quy định cụ thể thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và phải tuân thủ quy định tại Điều 109 của Bộ luật này.”
Nội dung của nguyên tắc này đã được thể hiện ở việc quy định tăng số giờ nghỉngơi tối thiểu và giảm số giờ làm việc tối đa so với thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi của người bình thường mà người lao động vẫn không bị mất đi lợi ích hay quyềnlợi của mình Thêm vào đó các đối tượng đặc biệt này cũng được pháp luật bảo vệ bởicác quy định chặt chẽ trong các trường hợp làm thêm giờ hay làm việc vào ban đêm.Nguyên tắc này chính là sự cụ thể hóa việc bảo hộ lao động với các lao động đặc thù
và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính mạng sức khỏe cho người lao độngyên tâm làm việc
1.5 Nội dung pháp luật điều chỉnh về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Hầu hết, pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở các quốc gia trên thếgiới được hình thành từ rất sớm đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế sản xuất phát
Trang 17triển sớm Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được quy định trong các văn bảnkhông chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan của các nhà làm luật mà còn thực sự xuất phát
từ cơ sở kinh tế - xã hội, sinh học và pháp lý chung Cũng giống như các quốc gia trênthế giới, vấn đề về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Việt Nam cũng được Đảng
và Nhà nước rất quan tâm, điều này thể hiện ở hệ thống các văn bản pháp luật về thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi khá lớn và có phạm vi rộng kể từ sau cuộc Cách mạngtháng 8 thành công đến nay Mặc dù còn nhiều vấn đề cần phải xem xét thêm tuy nhiênnhìn chung các văn bản pháp luật cũng đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của
xã hội ở từng thời kỳ đặc biệt là về việc bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động
1.5.1 Quy định pháp luật về thời giờ làm việc
1.5.1.1 Thời giờ làm việc bình thường
Thời giờ làm việc tiêu chuẩn là độ dài của thời gian lao động theo quy định củapháp luật mà theo đó, NLĐ phải có mặt tại nơi làm việc và phải thực hiện những nghĩa
vụ lao động do NSDLĐ giao cho
Theo Bộ luật Lao Động 2012 tại Điều 104 quy định về thời giờ làm việc bìnhthường như sau:
“1 Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần.
2 Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong
01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần
Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.
3 Thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.”
Thời giờ làm việc bình thường là loại giờ làm việc áp dụng cho đại bộ phậnnhững người lao động làm việc trong điều kiện lao động, môi trường lao động bìnhthường Theo quy định tại Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Lao động 2012 thì “Thời giờ làmviệc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần” Quy địnhnày chính là cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền lợi cho người lao động và đảm bảotái sản xuất sức lao động ngăn chặn các hậu quả có thể xảy ra đồng thời đảm bảo đượclợi ích lâu dài cho người sử dụng lao động Dựa vào quy định này khi các bên thỏathuận thời gian làm việc trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể sẽkhông được cao hơn mức thời gian định Với cách quy định này sẽ khuyến khích cảhai bên đưa ra những thỏa thuận có lợi cho người lao động đồng thời khuyến khích cácđơn vị sử dụng lao động cạnh tranh giảm giờ làm cho người lao động Theo Khoản 2
Trang 18Điều 104 Bộ luật Lao động 2012 thì “Người sử dụng lao động có quyền quy định làmviệc theo giờ ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thườngkhông quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần Nhà nướckhuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ” Trong nhiềutrường hợp mà người sử dụng lao động quy định làm việc theo tuần thì có quyền yêucầu người lao động làm việc quá 8 giờ trong 01 ngày nhưng vẫn được coi là thời giờlàm việc bình thường Tuy nhiên để bảo vệ sức khỏe cho người lao động pháp luật đãgiới hạn số giờ làm việc trong tuần Quy định này sẽ phù hợp và đáp ứng được nhu cầucủa các công việc có khâu sản xuất chu kỳ dài một ngày có thể làm nhiều hơn 8 tiếngnhư các công việc vận tải đường hàng không, vận tải đường bộ bù lại người lao động
sẽ được nghỉ nhiều ngày hơn trong tuần và vẫn đảm bảo được sức khỏe và các quyềnlợi khác Bên cạnh đó để phù hợp với Công ước 47 năm 1935 của ILO về tuần làmviệc 40 giờ thì tại Khoản 2 Điều 104 Bộ luật Lao động 2012 cũng đã quy định “Nhànước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ” Như vậy,thời giờ làm việc bình thường trong tuần được quy định linh hoạt, việc lựa chọnkhoảng thời gian nào hoàn toàn do người sử dụng lao động quyết định và không mangtính bắt buộc như thời giờ làm việc trong các cơ quan, tổ chức đơn vị sự nghiệp Bêncạnh những điểm tích cực của quy định về thời giờ làm việc bình thường thì vẫn cònnhững điểm bất cập như: Khi tổ chức làm việc theo ca đủ 08 giờ thì người lao động sẽđược nghỉ giữa giờ ít nhất 30-45 phút và thời gian 30-45 phút sẽ được tính vào thời giờlàm việc (theo quy định về Nghỉ trong giờ làm việc tại Điều 108 Bộ luật Lao động); ápdụng cách tính về làm thêm giờ được quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động 2012 thì
30 phút nghỉ giữa giờ đó sẽ được tính vào thời giờ làm thêm (số thời gian vượt quá 08giờ) Như vậy rõ ràng thực tiễn chỉ làm việc 08 giờ nhưng do tính 30-45 phút nghỉngơi vào thời giờ làm việc mà đã mất gần 150 giờ làm thêm mỗi năm, có thể nói đây làmột bất cập lớn và người sử dụng lao động đã tìm cách để tổ chức lao động theo cácphương án để biện minh rằng ca làm việc không phải là ca liên tục hay không phải làmliên tục 08 giờ Không chỉ vậy việc pháp luật đưa ra quy định về thời giờ làm việc bìnhthường tuy nhiên người lao động và người sử dụng lao động vẫn có thể được thỏathuận về việc làm thêm giờ theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động 2012 vẫn cònnhiều bất cập, trong nhiều trường hợp các bên thỏa thuận làm thêm quá nhiều giờ dẫnđến tình trạng người lao động không có thời gian dành cho nghỉ ngơi, thư giãn từ đó sẽgây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người lao động và hoạt động sản xuâtkinh doanh
Nghị định 45/2013/NĐ-CP tại Điều 3 quy định thời giờ được tính vào thời giờlàm việc được hưởng lương như sau:
Trang 19“1 Nghỉ trong giờ làm việc theo quy định tại Điều 5 Nghị định này.
2 Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc.
3 Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.
4 Thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
5 Nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh.
6 Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động.
7 Thời giờ học tập, huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động.
8 Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.
9 Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập cán bộ công đoàn không chuyên trách theo quy định của pháp luật về công đoàn.
10 Thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 01 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu.”
Bộ luật Lao Động 2012 tại Điều 108 quy định về việc nghỉ trong giờ làm việcnhư sau:
“1 Người lao động làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ theo quy định tại Điều
104 của Bộ luật này được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào thời giờ làm việc.
2 Trường hợp làm việc ban đêm, thì người lao động được nghỉ giữa giờ ít nhất
45 phút, tính vào thời giờ làm việc.
3 Ngoài thời gian nghỉ giữa giờ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người sử dụng lao động quy định thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy lao động.”
Pháp luật Việt Nam cũng đã quy định thời giờ làm việc bằng việc đưa ra giới hạnkhung giờ tối đa mà người sử dụng lao động không được phép vượt qua hoặc phải đảmbảo quyền lợi hơn cho người lao động Pháp luật đưa ra khái niệm về thời giờ làm việctiêu chuẩn, thời giờ làm việc tiêu chuẩn được quy định dựa trên cơ sở tiêu chuẩn hóathời giờ làm việc bằng việc quy định số giờ làm việt trong một ngày đêm, một tuầnhoặc một tháng, một năm Trong đó việc tiêu chuẩn hóa ngày làm việc, tuần làm việc
là quan trọng nhất, đó là cơ sở để người sử dụng lao động dễ dàng trả công cho ngườilao động và xác định tính hợp pháp của các thỏa thuận về thời giờ làm việc Thời giờlàm việc tiêu chuẩn bao gồm: thời giờ làm việc bình thường và thời giờ làm việc rútngắn Bên cạnh thời giờ làm việc tiêu chuẩn, pháp luật cũng đưa ra khái niệm về thờigiờ làm việc không tiêu chuẩn Thời giờ làm việc không tiêu chuẩn được đặt ra là đểdành cho một số lao động nhất định, do tính chất công việc mà không thể xác định
Trang 20được số giờ làm việc cụ thể Loại thời giờ này rất khó kiểm soát và gây ra khó khăntrong việc quản lý thời giờ làm việc của người lao động đối với cơ quan chức năng.
1.5.1.2 Thời giờ làm thêm
Thời giờ làm thêm là thời giờ làm việc của người lao động ngoài phạm vi thờigiờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thoả ước lao động tập thểhoặc theo nội quy lao động, do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận,
về hình thức, dễ nhận thấy việc quy định làm thêm giờ mâu thuẫn với ý nghĩa vànguyên tắc bảo vệ người lao động, song làm thêm giờ cũng được nhìn nhận như mộtnhu cầu tất yếu, khách quan vì lợi ích của cả hai bên chủ thể trong quan hệ lao động
Do vậy, pháp luật lao động Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật các nước cũng đềuquy định thời giờ làm thêm nhưng gắn liền với những điều kiện khắt khe, nhằm tránh
sự lạm dụng từ người sử dụng lao động Những quy định về thời giờ làm thêm tậptrung vào điều kiện làm thêm, số giờ được phép huy động làm thêm, lương làm thêm
và các trường họp không được phép huy động làm thêm
về điều kiện huy động làm thêm, pháp luật Việt nam cũng như tất cả các quốc giađều quy định chặt chẽ với điều kiện tiên quyết là đứợc sự đồng ý của người lao động.Đây là điều kiện quan trọng nhằm loại bỏ bóc lột, lạm dụng lao động đảm bảo quaphương thức thoả thuận, tự do ý chí Điều 107 Bộ luật lao động năm 2019 quy địnhđiều kiện huy động làm thêm giờ bao gồm:
“1) Phải đảm bảo được sự đồng ý của người lao động;
2) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việcbình thường trong 01 ngày Trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bìnhthường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá
12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;
3) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01năm, trừ một số trường hợp nhất định.”
Những trường hợp đặc biệt được phép huy động làm thêm tới 300 giờ/năm đượcquy định chặt chẽ về ngành nghề, công việc hoặc thuộc các trường hợp cấp bách (Xemthêm: Khoản 3 Điều 107 BLLĐ năm 2019)
Trong một số trường hợp đặc biệt, người sử dụng lao động có quyền yêu cầungười lao động làm thêm vào bất kì ngày nào mà không giới hạn số giờ làm thêm vàngười lao động không được từ chối Đó là khi thực hiện lệnh động viên, huy động đảm
Trang 21bảo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình trạng khẩn cấp hoặc thực hiện các côngviệc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trongphòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh và thảm hoạ trừtrường hợp có ảnh hưởng tới tính mạng, sức khoẻ của người lao động theo quy định.
Khi tổ chức làm thêm cho người lao động, người sử dụng lao động phải thoảthuận với người lao động và phải đảm bảo số thời giờ làm thêm quy định trong ngày,tuần, ngày liên tục trong tuần, các quy định về thời giờ nghỉ ngơi, các quy định về cấmhoặc hạn chế làm thêm giờ đối với một số đối tượng và đảm bảo chế độ trả lương làmthêm giờ cho người lao động Người sử dụng lao động không được phép huy động làmthêm giờ đối với phụ nữ có thai từ tháng thứ 7 hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 thángtuổi, người lao động khuyết tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên Đốivới người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động chỉ được phép huy độnglàm thêm giờ trong một số ngành nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội quy định Trên thực tế, mặc dù pháp luật không cho phép hoặc hạn chế huyđộng làm thêm với một số đối tượng song cũng có trường hợp người lao động vẫnmuốn làm thêm và nhận được sự đồng ý từ người sử dụng lao động Trong trường hựpnày, thoả thuận làm thêm vẫn bị coi là bất hợp pháp, người sử dụng lao động được xácđịnh vi phạm pháp luật lao động
1.5.1.3 Thời giờ làm việc ban đêm
Thời giờ làm việc ban đêm là khoảng thời gian làm việc được ấn định tuỳ theovùng khí hậu, yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến độ dài thời gian của đêm Vì vậy, hầuhết các nước quy định thời giờ làm đêm rất linh hoạt phụ thuộc vào địa lí, mùa trongnăm Một số quốc gia còn căn cứ vào độ tuổi, giới tính để quy định thời gian làm đêmphù hợp
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thời giờ làm việc ban đêm được xácđịnh chung một khung giờ từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau
Làm việc vào ban đêm có những ảnh hưởng, biến đổi nhất định đến tâm sinh lícủa người lao động, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho sự pháttriển của các tình trạng bệnh lí (nếu có) Điều này dẫn đến nhu cầu được bảo vệ và bùđắp hao phí sức lao động cao hơn so với làm việc vào ban ngày Vì vậy, pháp luật quyđịnh người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm tiền lương so với công việcđang làm vào ban ngày
Trang 22Mặt khác, với những ảnh hưởng nhất định của làm đêm đối với sức khoẻ củangười lao động nên pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết các nước đều quy định hạnchế làm đêm với một số đối tượng, nhất là với lao động nữ và người chưa thành niên.
Tổ chức Lao động quốc tế cũng có 3 công ước về làm đêm của lao động nữ (theo:Công ước sộ 4 năm 1919, số 41 năm 1934, số 89 năm 1946), 3 công ước vê làm đêmcủa lao động chưa thành niên (theo: Công ước số 6 năm 1919, số 90 năm 1938, số 79năm 1946)
Theo pháp luật Việt Nam, những đối tượng cấm hoặc hạn chế huy động làm thêmgiờ cũng chính là những đối tượng cấm hoặc hạn chế làm đêm (các điều 137,144, 160
Bộ luật lao động năm 2019)
1.5.1.4 Thời giờ làm việc linh hoạt
Thời giờ làm việc linh hoạt là khái niệm tương đối mới ở Việt Nam Dưới góc độnghiên cứu, khái niệm này cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập dưới những góc độkhác nhau Tuy nhiên, đa số các nhà khoa học đều thống nhất với nhau về bản chất vàđặc trưng cơ bản của thời giờ làm việc linh hoạt Theo đó, thời giờ làm việc linh hoạtchính là việc quy định các hình thức tổ chức lao động mà trong đó có sự khác nhau về
độ dài và thời điểm làm việc của người lao động so với thời gian làm việc thôngthường đã được quy định theo ngày, tuần, tháng, năm làm việc
Đặc trưng cơ bản nhất của thời giờ làm việc linh hoạt chính là sự co dãn, mềmdẻo về độ dài thời gian và thời điểm làm việc của người lao động Các bên trong quan
hệ lao động, thậm chí, những người lao động có thể thoả thuận để điều chỉnh độ dàicũng như thời điểm làm việc và tự phân phối thời gian làm việc sao cho phù hợp vớinguyện vọng cá nhân và yêu cầu chung của đơn vị Căn cứ vào thời giờ làm việc theochế độ quy định, cho phép người lao động lựa chọn các mức thời giờ làm việc khôngtrọn ngày, trọn tuần, trọn tháng, trọn năm khác nhau Hình thức này được áp dụngtương đối phổ biến đối với những người làm việc theo thời giờ làm việc linh hoạt vàđặc biệt có ý nghĩa tạo điều kiện để một số đối tượng như lao động nữ có gia đình, laođộng chưa thành niên, người cao tuổi, người có hoàn cảnh cá nhân đặc biệt hay laođộng có chuyên môn nghiệp vụ hình độ cao có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm phùhợp
Với những ưu điểm của mình, đặc biệt trong việc giải quyết các vấn đề việc làm,thất nghiệp, bình đẳng giới, bảo vệ lao động đặc thù thời giờ làm việc linh hoạt được
Trang 23quy định đối với một số trường hợp tạo điều kiện vận dụng thời giờ làm việc linh hoạtnhư đối với những người lao động làm việc theo hợp đồng không trọn thời gian (Điều
148 Bộ luật lao động năm 2019), nhận công việc về nhà làm (Điều 167 Bộ luật laođộng năm 2019), khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng rộng rãi chế độ làmviệc theo thời gian biểu linh hoạt với lao động nữ (Điều 135 Bộ luật lao động năm2019)
1.5.2 Quy định về thời giờ nghỉ ngơi
Nội dung về thời giờ nghỉ ngơi được BLLĐ 2019 quy định từ Điều 108 đến Điều
117 và Điều 5 đến Điều 8 Nghị định 45/2013/NĐ_CP
1.5.2.1 Nghỉ trong giờ làm việc
Theo quy định của pháp luật lao động, thì thời giờ nghỉ giữa ca được tính nhưsau:
- Người lao động làm việc 8 giờ liên tục trong điều kiện bình thường hoặc làmviệc 7 giờ, 6 giờ liên tục trong trường hợp được rút ngắn thời giờ làm việc thì đượcnghỉ ít nhất nửa giờ (30 phút), tính vào giờ làm việc; Ngoài ra, người lao động làmviệc trong ngày từ 10 giờ trở lên kể cả số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30phút tính vào giờ làm việc
- Người làm ca đêm ( từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ) được nghỉgiữa ca ít nhất 45 phút, tính vào giờ làm việc;
* Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyểnsang ca khác
1.5.2.2 Nghỉ hằng tuần
Mỗi tuần lễ, người lao động được nghỉ ít nhất một ngày (24 giờ liên tục), thường
là vào ngày chủ nhật Tuy nhiên, đối với những cơ quan, xí nghiệp do yêu cầu của sảnxuất, công tác hoặc phục vụ nhân dân đòi hỏi phải làm việc liên tục cả tuần, kể cả chủnhật thì người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào một ngàykhác trong tuần cho từng nhóm người lao động khác nhau
Trang 241.5.2.3 Nghỉ lễ, tết
Trong một năm, người lao động được nghỉ lễ, tết tất cả là 8 ngày, cụ thể là nhữngngày sau đây:
- Tết dương lịch: 1 ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch);
- Tết âm lịch: 5 ngày (do người sử dụng lao động lựa chọn 01 ngày cuối năm và
04 ngày đầu năm âm lịch hoặc 02 ngày cuối năm và 03 ngày đầu năm âm lịch)
- Ngày Chiến thắng 30/4: 1 ngày;
- Ngày Quốc tế lao động: 1 ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch);
- Ngày Quốc khánh: 1 ngày ( ngày 2 tháng 9 dương lịch)
- Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch)
Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao độngđược nghỉ bù vào ngày tiếp theo Trong những ngày nghỉ lễ, nghỉ tết nói trên, ngườilao động được hưởng nguyên lương Nếu do yêu cầu của sản xuất, công tác mà ngườilao động phải làm việc trong các ngày này thì họ được trả lương ít nhất bằng 300% củatiền lương giờ của ngày làm việc bình thường; trường hợp họ được bố trí nghỉ bù, thìngười sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương giờ củangày làm việc bình thường
Ngoài ra, nếu người lao động là người nước ngoài thì họ được nghỉ thêm 1 ngàyquốc khánh và 1 ngày Tết cổ truyền dân tộc họ (nếu có)
1.5.2.4 Nghỉ hằng năm
Người lao động được nghỉ hàng năm khi họ làm việc được ít nhất 12 tháng liêntục tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động
Các thời gian sau đây cũng được coi là thời gian công tác liên tục :
- Thời gian được cơ quan, xí nghiệp cử đi học văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ;
- Thời gian nghỉ hưởng lương ngừng việc, thời gian báo trước để chấm dứt hợpđồng lao động theo quy định của pháp luật;
Trang 25- Thời gian nghỉ ốm, thời gian con ốm mẹ được nghỉ theo chế độ;
- Thời gian nghỉ điều trị do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
- Thời gian bị đình chỉ công tác hoặc tạm giam trong giai đoạn điều tra hình sự,nhưng sau đó được miễn truy tố và trở lại đơn vị làm việc bình thường
Những người lao động nghỉ việc không được sự đồng ý của người sử dụng laođộng thì không được hưởng chế độ nghỉ phép hàng năm trong năm đó Nếu lỗi nhẹ thìngười lao động nghỉ ngày nào sẽ bị trừ vào số ngày nghỉ hàng năm năm đó; trườnghợp lỗi nặng đến mức bị xử lý đến hình thức kỷ luật, thì năm đó người lao động có thểkhông được hưởng chế độ nghỉ phép hàng năm nữa Ngoài ra, nếu người lao động nào
có tổng số ngày nghỉ ốm trong năm đó cộng lại quá 3 tháng thì cũng không đượchưởng chế độ nghỉ hàng năm
Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật lao động nước ta thì thời gian nghỉ hàng nămđược chia ra làm 3 mức là : 12, 14 và 16 ngày, cụ thể như sau:
- 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
- 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểmhoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với người dưới
18 tuổi;
- 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điềukiện sinh sống khắc nghiệt
Thời gian đi đường không tính vào ngày nghỉ hàng năm Số ngày nghỉ hàng nămcủa người lao động còn được tăng theo thâm niên làm việc tại một doanh nghiệp, hoặcvới một người sử dụng lao động, cứ 5 năm được nghỉ thêm 1 ngày Trong thời giannghỉ hàng năm, người lao động được hưởng nguyên lương cộng phụ cấp lương Ngoài
ra, người lao động còn được thanh toán tiền tàu xe đi và về (nếu có)
1.5.2.5 Nghỉ việc riêng
Nghỉ về việc riêng là quy định của pháp luật lao động nhằm giải quyết cho ngườilao động được nghỉ việc để giải quyết tình cảm cá nhân hoặc gia đình họ Thời giannghỉ về việc riêng không quá 3 ngày lao động
Trang 26Người lao động được nghỉ về việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong cáctrường hợp sau đây:
- Kết hôn, nghỉ 3 ngày;
- Con kết hôn, nghỉ 1 ngày;
- Bố mẹ ruột (cả bố mẹ bên chồng và bên vợ) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết,nghỉ 3 ngày
1.5.2.6 Nghỉ không lương
Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo vớingười sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruộtchết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn Ngoài ra, người lao động nếu thấycần thiết phải nghỉ thêm thì có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉkhông hưởng lương
Những trường hợp cần thiết nghỉ không hưởng lương được pháp luật bảo vệ,chẳng hạn cần nghỉ thêm vì sinh con, gia đình có người thân ốm, đau, chết, hoặc giảiquyết những công việc lớn khác của gia đình như khắc phục bão lụt, thời gian nghỉ
về việc riêng phải tuân thủ kỷ luật lao động
Những qui định trên đây không áp dụng đối với những người làm những côngviệc có tính chất đặc biệt có chu kỳ dài ngày như những người lao động làm việc trênbiển,
1.5.2.7 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm những công việc có tính chất đặc biệt:
Đối với các công việc có tính chất đặc biệt như: vận tải đường bộ, đường sắt,đường thủy, người lái, tiếp viên, kiểm soát viên không lưu ngành hàng không; thăm dòkhai thác dầu khí trên biển; trong các lĩnh vực nghệ thuật, áp dụng kỹ thuật bức xạ vàhạt nhân, ứng dụng, kỹ thuật sóng cao tầng; thợ lặn; thợ mỏ hầm lò thì các Bộ trực tiếpquản lý quy định cụ thể thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi sau khi thỏa thuận với
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Không được sử dụng lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểmhoặc tiếp xúc các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con
Trang 27Ngoài ra, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đối với những người lao độnglàm hợp đồng không trọn ngày, không trọn tuần, làm khoán, thì do người lao động vàngười sử dụng lao động thỏa thuận riêng.
1.5.3 Xử lý vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Theo quy định của pháp luật lao động, người lao động có quyền nghỉ ngơi để táitạo lại sức lao động, đảm bảo sức khỏe lao động Quyền nghỉ ngơi được thể hiện quangày nghỉ hằng tuần, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng có hưởng lương và không hưởnglương Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy tình trạng doanh nghiệp bố trí người laođộng làm việc không tuân thủ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi diễn ra tương đốinhiều Theo đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người lao động có thểyêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật hoặc kiến nghị đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm của người sử dụng laođộng
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 28/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày15/04/2020 thì vi phạm quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được quyđịnh như sau:
1 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Không bảo đảm cho người lao động nghỉ trong giờ làm việc, nghỉ chuyển ca, nghỉ về việc riêng, nghỉ không hưởng lương đúng quy định;
b) Không rút ngắn thời giờ làm việc đối với người lao động trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu theo quy định;
c) Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý nhà nước về lao động tại địa phương về việc tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về nghỉ hằng tuần hoặc nghỉ hằng năm hoặc nghỉ lễ, tết.
3 Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Thực hiện thời giờ làm việc bình thường quá số giờ làm việc theo quy định của pháp luật;
b) Huy động người lao động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động, trừ trường hợp theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật Lao động.
Trang 284 Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có hành vi huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Lao động hoặc quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Theo Khoản 3 Điều 13 Nghị định 95/2013/NĐ-CP, khi công ty không trả lươnglàm việc vào ngày nghỉ lễ theo đúng quy định thì sẽ bị xử lý hành chính như sau:
“3 Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định tại Điều 97 của Bộ luật Lao động; khấu trừ tiền lương của người lao động trái quy định tại Điều 101 của Bộ luật Lao động; trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.”
Trang 291.5.4 Giải quyết tranh chấp về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động 2019 ghi nhận:“Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động “
Trong khi đó, khoản 7 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ giải thích ngắn gọn
rằng: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.”
Đối chiếu với nhau, có thể thấy khái niệm về tranh chấp lao động theo quy địnhmới đã được định nghĩa một cách rõ ràng, cụ thể hơn Điều này góp phần giúp việcxác định tranh chấp nào là tranh chấp lao động trở nên dễ dàng hơn
Nếu như BLLĐ năm 2012 quy định việc giải quyết tranh chấp lao động trước hếtphải được hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bêntranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội.Đến BLLĐnăm 2019, nguyên tắc này đã bị bãi bỏ Do đó, hai bên trong tranh chấp lao độngkhông còn bắt buộc phải trực tiếp thương lượng để giải quyết
Ngoài ra, khi giải quyết tranh chấp cá nhân giữa người lao động và người sửdụng lao động cũng cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động;
- Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ
sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật;
- Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật;
- Việc giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý…
Cơ quan chuyên môn về lao động là đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp
Đây là quy định hoàn toàn mới so với Bộ luật Lao động năm 2012 Điều 181BLLĐ năm 2019 nêu rõ khi có yêu cầu, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủyban nhân dân là đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động Cơ quannày có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ các bên trong giải quyếttranh chấp