TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tình trạng trầm cảm, lo âu và stress ở những phụ nữ đến chấm dứt thai kỳ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người phụ nữ.. Phá thai, ngoài việc
TỔNG QUAN
Tổng quan về trầm cảm, lo âu và stress
Trầm cảm là một dạng rối loạn tâm thần (RLTT) thường gặp nhất trong các dạng RLTT Bệnh nhân luôn cảm thấy mệt mỏi, mất hi vọng vào tương lai, nghĩ rằng thế giới xung quanh dường như lúc nào cũng u ám [21]
Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân: mất người thân, li hôn, …; khủng hoảng tài chính hoặc mất vai trò đã có (nghề nghiệp, gia đình, …) Trầm cảm thường xuất hiện dưới dạng phàn nàn cơ thể Nếu phiền muộn và buồn bã là những phản ứng bình thường với một sự mất mát nào đó thì trầm cảm lại không phải như vậy Người có nỗi phiền muộn thì mong muốn tạo ra sự thông cảm và chia sẻ của người khác Ngược lại, trầm cảm tạo ra sự thất vọng và kích thích Phiền muộn kèm theo tính tự trọng còn nguyên vẹn, trong khi đó trầm cảm lại nổi lên cảm giác tội lỗi và không xứng đáng [2]
Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người, là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe dọa từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [19]
Ernest Jones đã đưa ra các trạng thái lo âu như sau: sợ, kinh sợ, hoảng sợ, sợ hãi và lo âu Ông mô tả 2 nét khác nhau giữa sợ và lo âu:
- Sợ nói chung được coi như sự đáp ứng với kích thích đe dọa từ bên ngoài nguy hiểm có thực đang đến, vì vậy có tính sống còn
Lo âu khác với sợ hãi ở chỗ nó gợi lên cảm giác bị đe dọa mà không có bằng chứng hay mối nguy hiểm rõ ràng Sự bất cân xứng giữa kích thích từ bên ngoài và các biểu hiện tâm lý, cơ thể khiến người trải nghiệm căng thẳng kéo dài dù không có mối đe dọa thực sự Các trạng thái lo âu thường đi kèm với sự cảnh giác quá mức, nhịp tim và nhịp thở tăng, khó tập trung, mệt mỏi và thay đổi hành vi, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày.
Lo âu trở thành vấn đề sức khỏe đáng quan tâm khi xuất hiện không liên quan tới một sự đe dọa nào hoặc mức độ lo âu không cân xứng với bất kỳ một đe dọa nào và tồn tại kéo dài Khi mà mức độ lo âu dẫn đến gây trở ngại rõ rệt các hoạt động thường ngày, khi đó được gọi là lo âu bệnh lý
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu, stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [26]
Như vậy, chúng ta có thể xem stress như là sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc như một sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt con người vào quá trình dàn xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường Nói cách khác, stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và sẽ tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [13]
Triệu chứng của trầm cảm rất đa dạng, bao gồm cả biểu hiện về thể chất, tâm thần và hành vi Người bệnh có nhiều biểu hiện khác nhau về mức độ nghiêm trọng, tần suất và thời gian xuất hiện của các triệu chứng, tùy thuộc vào từng cá nhân và tình trạng bệnh lý cụ thể.
- Buồn dai dẳng, lo lắng hoặc cảm giác “trống rỗng”
- Cảm giác tuyệt vọng hay bi quan
- Cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực
- Dễ bị kích thích, bồn chồn
- Mất quan tâm trong các hoạt động hoặc sở thích bao gồm hoạt động tình dục
- Mệt mỏi, giảm năng lượng
- Khó tập trung, ghi nhớ chi tiết và ra quyết định
- Mất ngủ, tỉnh táo vào buổi sáng sớm hoặc ngủ quá nhiều
- Ăn quá nhiều hoặc mất cảm giác ngon miệng
- Ý nghĩ tự tử hay tự tử
- Đau đầu, đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa Đối với những bệnh nhân nặng hơn còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người thân, tiếp xúc với người khác, đặt biệt là với người khác giới
Lo âu là một nhóm triệu chứng liên quan đến nhiều trạng thái khác nhau, khiến bệnh nhân ban đầu thường đi khám ở các chuyên khoa như tim mạch, hô hấp và thần kinh, hiếm khi đến thẳng chuyên khoa tâm thần Biểu hiện của lo âu có thể diễn ra từ từ hoặc đột ngột và thể hiện qua nhiều triệu chứng lâm sàng khác nhau, được nhận biết qua hai nhóm biểu hiện.
- Biểu hiện về cảm xúc: sợ và lo lắng một cách quá mức trước những sự việc không đáng lo, cảm giác rất sợ chết, khiếp sợ cái chết, có vấn đề về tập trung, chú ý vào công việc, dễ bị kích thích, cảm thấy đứng ngồi không yên, cảm giác căng thẳng, hay giật mình, hay nghĩ đến những điều nguy hiểm xảy ra với mình, cảm thấy đầu óc mình trống rỗng, cảm thấy điều gì đó xấu sẽ xảy ra với mình
- Biểu hiện về triệu chứng cơ thể: lo âu không chỉ là triệu chứng của cảm xúc mà của tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có thể bị ảnh hưởng và làm cho cơ thể có những biểu hiện về triệu chứng cơ thể khác nhau Lo âu gồm các triệu chứng như: cơn nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, khó chịu ở dạ dày hoặc cảm giác hoa mắt, chóng mặt, hay phải đi tiểu hoặc hay phải đi ngoài, thở nhanh và nông, run tay chân và co quắp tay chân, căng cơ, đau đầu, mệt mỏi và mất ngủ Chính vì các triệu chứng này mà bệnh nhân dễ bị chẩn đoán nhầm với những bệnh lý khác và không được điều trị đúng chuyên khoa, hoặc phải mất thời gian dài mới có thể gặp được đúng thầy thuốc chuyên khoa tâm thần
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và là phản ứng thích nghi tốt Stress bệnh lý thường được hình thành từ những stress quen thuộc, lặp đi lặp lại như trong trường hợp bệnh nhân có những xung đột hoặc gặp những phiền nhiễu, không toại nguyện trong đời sống hằng ngày… Stress bệnh lý có biểu hiện rất đa dạng và thay đổi tùy theo sự ưu thế về mặt tâm lý, cơ thể hay về mặt tập tính
Các biểu hiện biến đổi tâm lý, tâm thần bao gồm phản ứng quá mức với hoàn cảnh như dễ nổi cáu, cảm giác khó chịu và căng thẳng tâm lý, kèm theo mệt mỏi về trí tuệ khiến người bệnh khó thư giãn; đồng thời có rối loạn giấc ngủ với các triệu chứng khó ngủ, hay thức giấc và không có cảm giác hồi phục sau giấc ngủ.
Phá thai
1.2.1 Một số khái niệm và định nghĩa [15],[18]:
Phá thai là chủ động sử dụng các phương pháp khác nhau để chấm dứt thai trong tử cung cho thai đến hết 22 tuần tuổi Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng thuật ngữ “chấm dứt thai kỳ” thay cho thuật ngữ “phá thai”
Phá thai bằng phương pháp ngoại khoa: Sử dụng các thủ thuật qua cổ tử cung để chấm dứt thai kỳ, bao gồm hút chân không, nong và gắp
Phá thai bằng thuốc: Sử dụng thuốc để gây sẩy thai Đôi khi thuật ngữ “phá thai nội khoa” cũng được sử dụng để mô tả thủ thuật này
Tuổi thai: Số ngày hoặc số tuần tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng đến khi đình chỉ thai nghén (chu kỳ kinh bình thường)
Trên toàn thế giới, theo một nghiên cứu mới của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Guttmacher đã công bố tại tạp chí The Lancet, 25 triệu ca nạo phá thai không an toàn (chiếm đến 45% số ca nạo phá thai) đã xảy ra hàng năm giữa các năm từ 2010 đến 2014 Phần lớn những trường hợp phá thai không an toàn, hay 97%, xảy ra ở các nước đang phát triển ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh đe dọa tính mạng khoảng
Một nghiên cứu dựa trên dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2010–2014 trên phạm vi toàn cầu cho thấy 44% trong tổng số 227 triệu thai kỳ mỗi năm là không mong muốn; trong số này, 56% kết thúc bằng phá thai, 32% sinh không theo kế hoạch và 12% xảy ra sẩy thai Phá thai không an toàn đóng góp vào khoảng 8–11% số ca tử vong mẹ toàn cầu, chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình do các chính sách tiếp cận hạn chế và các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ Tỉ lệ phá thai được thực hiện an toàn trên 90% tập trung ở các vùng phát triển, cao nhất ở Bắc Mỹ (99%), tiếp theo Bắc Âu (98%), Tây Âu (94%) và Nam Âu (91%) Ngược lại, chỉ có ba khu vực đang phát triển đạt mức trên 50% phá thai an toàn là Đông Nam Á (60%), Tây Á (52%) và Nam Phi (74%).
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mặc dù có sự gia tăng sử dụng biện pháp tránh thai trong vòng 30 năm qua, nhiều phụ nữ ở các vùng vẫn không tiếp cận với các phương pháp tránh thai hiện đại Chẳng hạn vùng sa mạc Sahara ở Châu Phi, cứ bốn thì có một phụ nữ trong giai đoạn muốn trì hoãn hoặc ngừng sinh đẻ nhưng lại không sử dụng bất kỳ phương pháp kế hoạch hóa gia đình nào
Bên cạnh đó, trẻ vị thành niên khi mang thai sẽ có nhiều khả năng xảy ra phá thai không an toàn hơn người lớn Ước tính có khoảng ba triệu ca nạo phá thai không an toàn xảy ra hàng năm ở các trẻ gái từ 15-19 tuổi Phá thai không an toàn đóng góp đáng kể cho các vấn đề sức khỏe lâu dài và tử vong mẹ Và mặc dù đã có tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ phá thai ở thanh thiếu niên, nhưng đã có hơn 15 triệu ca phá thai trong số 135 triệu trẻ gái sinh sống trên toàn thế giới ở lứa tuổi từ 15-19
Tại Việt Nam, phá thai đang có chiều hướng đi xuống sau các nỗ lực về kế hoạch hóa gia đình, tuy nhiên chênh lệch vùng miền còn khá rõ rệt khi mà thành thị và những tỉnh miền Bắc có tỷ lệ cao gấp 2 lần nông thôn và các tỉnh Trung bộ và Nam bộ
Bảng 1.1: Tỷ lệ nạo/phá thai chia theo thành thị/nông thôn, 2007-2017
Theo Tổng cục Thống kê và Điều tra biến động dân số và KHHGĐ ngày 1/4/2013, và theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ phá thai đã giảm theo thời gian Tuy vậy, thực tế đáng lo ngại là tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên giảm không đáng kể.
Bảng 1.2 Tỷ số phá thai và tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên năm 2011 – 2015
Chỉ tiêu Cách tính Năm
Tỷ số phá thai Số ca phá thai/ 100 trẻ sinh ra sống (%)
Tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên
Nguồn: Bộ Y tế, Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2016[17].
Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress
Giống như các rối loạn tâm thần khác, mặc dù nhiều nghiên cứu đã cung cấp một số dữ liệu nhưng cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra stress, lo âu, trầm cảm Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố liên quan đến các rối loạn đó Gồm các nhóm yếu tố sau [27]:
- Các đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, cân nặng, tình trạng bệnh tật, tính cách, suy nghĩ, trình độ học vấn, lối sống…
- Gia đình: di truyền, số người trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên, tình trạng về kinh tế, vật chất…
- Môi trường xã hội: an ninh trật tự, tình hình chính trị, văn hóa, kinh tế…
- Nơi làm việc: các mối quan hệ trong công việc, văn hóa tổ chức, môi trường làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị, khối lượng công việc, các nguy cơ gặp phải trong công việc, vị trí, chức danh …
- Môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, nhiệt độ, giao thông, bụi, sự ô nhiễm…
Giới thiệu về một số thang đo sức khỏe tâm thần
Hiện nay, trên thế giới có nhiều bộ công cụ được sử dụng để đánh giá các vấn đề SKTT Có thể kể đến một số bộ công cụ được dùng nhiều trong các nghiên cứu khoa học cũng như được ứng dụng trong lâm sàng giúp hỗ trợ chẩn đoán như: thang tự đánh giá lo âu của Zung (SAS), thang đánh giá lo âu của Beck (BID − A), thang đánh giá trầm cảm Hamilton (HAMD), thang đánh giá trầm cảm của Beck (BID − D), thang đánh giá lo âu trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale), thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21)…[23]
- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self Rating Anxety Scale)[67]: do W.W Zung (1971) đề xuất, lấy thông tin trực tiếp từ bệnh nhân, là một test khách quan, định lượng hóa và chuẩn hóa, sử dụng nhanh, được WHO thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu Test gồm 20 câu hỏi dành cho bệnh nhân tự đánh giá, đánh số thứ tự theo cột dọc từ 1 đến 20, cột ngang đánh giá 4 mức tần suất xuất hiện triệu chứng theo thời gian:
1 điểm: Không có hoặc ít thời gian 3 điểm: Phần lớn thời gian
2 điểm: Đôi khi 4 điểm: Hầu hết hoặc tất cả thời gian Kết quả được đánh giá theo 2 mức:
T < 50%: Không có lo âu bệnh lý
T ≥ 50%: Có lo âu bệnh lý
- Thang đánh giá lo âu trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS (Hospital
Anxiety and Depression Scale)[66]: là thang đo thường được sử dụng để đánh giá các trạng thái lo âu, trầm cảm với bệnh nhân bị mắc các bệnh chính khác, thường là các bệnh lý mạn tính điều trị tại bệnh viện HADS gồm 14 câu hỏi tự báo cáo những triệu chứng của chính bệnh nhân trong thời gian tuần kế trước, bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS - A) và 7 câu cho trầm cảm (HADS - D) Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức độ tương ứng từ 0 - 3 Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, điểm từ 11 trở lên chỉ ra sự có mặt của 1 rối loạn lo âu hay trầm cảm thực sự, khoảng điểm từ 8 - 10 được coi như một gợi ý có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0 - 7 điểm là bình thường
Ngoài ra còn có các thang đánh giá khác như thang Beck, thang HAMD, …
- Thang đánh giá trầm cảm, lo âu và stress (Depression, Anxiety and Stress Scale - DASS):
Vào năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại Khoa Tâm lý học, Đại học New South Wales (Australia) đã thiết kế thang đánh giá DASS-42 để đo ba rối loạn tâm thần phổ biến là stress, lo âu và trầm cảm Đến năm 1997, cùng nhóm nhà khoa học này cho ra đời DASS-21, phiên bản rút gọn của DASS-42 nhằm tăng sự tiện lợi cho người dùng DASS-42 thích hợp cho sàng lọc lâm sàng, trong khi DASS-21 phù hợp cho các nghiên cứu; các nghiên cứu đã tiến hành và khẳng định sự nhất quán giữa hai phiên bản DASS-42 và DASS-21.
DASS-42 và DASS-21 là công cụ đo lường kết hợp cả yếu tố lâm sàng và xã hội, cung cấp các thông tin thiết yếu cho nghiên cứu sức khỏe tâm thần và quản trị nguồn nhân lực Những nội dung trong DASS không nhằm chẩn đoán phân biệt bệnh lý như ICD-10, mà mục tiêu là đánh giá thực trạng của quần thể nghiên cứu để giúp nhà quản lý nhân sự xây dựng chính sách nâng cao hiệu suất nguồn lực Đồng thời, đối tượng nghiên cứu được khuyến cáo nếu gặp các vấn đề được liệt kê trong DASS một cách thường xuyên và ở mức độ nặng nên tìm sự trợ giúp từ các chuyên gia tâm lý [24].
Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng khác nhau Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy và khẳng định có thể thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hóa [22],[64] Từ những lý do trên tôi đã chọn thang đo DASS 21 để sử dụng cho nghiên cứu của mình
DASS 21 gồm 21 tiểu mục chia thành 03 nhóm, mỗi nhóm gồm 07 tiểu mục Mỗi tiểu mục là một mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 03 điểm, tùy thuộc mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng:
0 điểm - không đúng chút nào cả
01 điểm - đúng phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng
02 điểm - đúng phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng
03 điểm - hoàn toàn đúng hoặc hầu hết thời gian là đúng
Sau khi cộng tổng điểm của từng nhóm 07 tiểu mục, kết quả thu được sẽ nhân với 02, khi đó DASS 21 sử dụng bảng đánh giá mức độ dưới đây:
Bảng 1.3: Các mức độ đánh giá trong thang đo DASS – 21
Mức độ Trầm cảm Lo âu Stress
Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm ở phụ nữ phá thai
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, các vấn đề sức khỏe tâm thần đang càng ngày càng được quan tâm nhiều hơn Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về trầm cảm, lo âu và stress theo nhiều hướng và trên nhiều đối tượng khác nhau như: công nhân, học sinh - sinh viên, nhân viên lái xe buýt, cựu chiến binh [35],[39],[56]
Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp sức khỏe tâm thần là một trong mười vấn đề sức khỏe và trầm cảm là vấn đề về sức khoẻ tâm thần phổ biến nhất, tự tử cũng chính là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho phụ nữ dưới 60 tuổi [31],[34] Có nhiều yếu tố khiến cho tỷ lệ này ở nữ giới cao hơn nam giới mà phần nhiều là do các vấn đề liên quan đến sinh sản
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy mối liên hệ đáng kể giữa sức khỏe tâm thần và việc chấm dứt thai kỳ ở phụ nữ Ví dụ, một nghiên cứu trên phụ nữ từ 13–49 tuổi tại thời điểm phá thai hoặc sinh con năm 1989 cho thấy những người từng phá thai có nguy cơ nhập viện tâm thần cao hơn so với những người chưa từng phá thai; sự khác biệt về chẩn đoán tâm thần được ghi nhận ở rối loạn tâm thần trầm cảm tái diễn (OR 2,1; 95% CI 1,3–3,5) và rối loạn lưỡng cực (OR 3,0; 95% CI 1,5–6,0), và kết quả này còn được quan sát khi phân tầng theo độ tuổi Một nghiên cứu thuần tập ở Trung Quốc về tác động của lần phá thai trước đó đối với các triệu chứng trầm cảm và trầm cảm thực sự trong thai kỳ tiếp theo cho thấy phụ nữ có tiền sử phá thai có nguy cơ trầm cảm cao hơn (OR = 1,54; 95% CI = 1,06–2,54) và lo âu cao hơn (OR = 2,14; 95% CI = 1,29–3,56) trong ba tháng đầu mang thai so với những người không có lịch sử phá thai Hậu quả của trầm cảm khi mang thai được đề cập trong một số nghiên cứu, như một nghiên cứu dọc tại một bệnh viện Pháp ghi nhận tỉ lệ sinh non tự nhiên ở nhóm có điểm trầm cảm cao (9,7%) cao hơn nhóm có điểm thấp (4,0%), ngay cả khi đã điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu (điều chỉnh OR 3,3; 95% CI 1,2–9,2; p = 0,020).
Trên thực tế, phá thai là một cấu phần quan trọng và phổ biến của chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục, nhưng các chuẩn mực xã hội và kỳ thị ảnh hưởng đến việc ra quyết định của phụ nữ và tạo ra rào cản đối với việc chăm sóc phá thai an toàn cũng như tâm lý của người phụ nữ đến phá thai Nghiên cứu của tác giả Shelly Makleff và cộng sự vào năm 2017 đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc trên 34 người phụ nữ tại hai quốc gia Kenya và Ấn Độ nhằm tìm hiểu nỗi sợ hãi liên quan đến phá thai và nhận thức về sự kỳ thị của những phụ nữ đã sử dụng dịch vụ phá thai Nghiên cứu đã giúp làm sáng tỏ cách các chuẩn mực xã hội và sự kỳ thị khi phá thai ảnh hưởng đến nhận thức của phụ nữ về phá thai ở Kenya và Ấn Độ, bao gồm việc họ kỳ vọng thấp về sự chăm sóc khi làm thủ thuật và lo ngại về việc bị đối xử bất công trong suốt quá trình trước, trong và sau khi phá thai Nhận thức của phụ nữ về việc cộng đồng không tán thành việc phá thai có thể bắt nguồn từ các chuẩn mực xã hội địa phương liên quan đến tôn giáo, quyền làm mẹ, trách nhiệm tránh thai và quan hệ tình dục, đặc biệt, vấn đề này trầm trọng hơn đối với phụ nữ trẻ và chưa kết hôn Những câu chuyện tiêu cực mà phụ nữ nghe được trong cộng đồng của họ, sự bí mật nhưng bằng cách nào đó được “công khai” xung quanh việc phá thai, sự kỳ thị trong nhận thức và nỗi sợ hãi liên quan đến các biện pháp kỳ thị khi phá thai đều là những yếu tố góp phần khiến họ thấp thỏm và lo sợ Những phát hiện này có ý nghĩa đối với thực tiễn, nêu bật tầm quan trọng của việc phát triển các chiến lược có thể được điều chỉnh cho các bối cảnh khác nhau để giải quyết nỗi sợ hãi của phụ nữ khi bị đánh giá và giúp phụ nữ đối phó với sự kỳ thị trong cộng đồng của họ Nghiên cứu cũng chỉ ra cần có những phương pháp tiếp cận phù hợp với các tổ chức cung cấp dịch vụ có thể bao gồm truyền đạt thông tin rõ ràng về quyền được chăm sóc, đảm bảo các dịch vụ thân thiện với thanh niên hoặc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho những phụ nữ chọn không tiết lộ việc phá thai của mình cho gia đình và bạn bè và do đó tránh việc cảm thấy bị cô lập Nghiên cứu cũng có một số điểm yếu do cách chọn mẫu nên nghiên cứu chỉ tuyển được các đối tượng phá thai từ các cơ sở y tế tư nhân nên bị thiếu đi những đối tượng phá thai ở các cơ sở y tế nhà nước, bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ tiến hành được trên số ít đối tượng là phụ nữ trẻ nên kinh nghiệm rút ra được ở đối tượng này còn hạn chế[77] Từ kết quả của nghiên cứu này cho thấy, những vấn đề tâm thần của người phụ nữ đi phá thai chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, từ nhận thức của chính bản thân đối tượng đến sự kỳ thị về mặt văn hóa – xã hội
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu sử dụng phương pháp định tính qua một bản khảo sát mở trên Web đã được tiến hành trên 10 đối tượng Những phụ nữ tham gia đã trả lời các câu hỏi mở và đưa ra những mức độ tự báo cáo hồi cứu về những lo lắng, sợ hãi liên quan đến việc phá thai Bên cạnh đó, họ cũng được hỏi về sự chuẩn bị và sự hài lòng của họ với thông tin mà họ tiếp cận được từ các chuyên gia y tế và Web trước khi đến chấm dứt thay kỳ Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng phân tích nội dung định tính và thống kê mô tả Nghiên cứu đã chỉ ra rằng lo âu và sợ hãi bao gồm quá trình phá thai, các phản ứng sức khoẻ và trên cả khía cạnh tâm lý xã hội Việc lo lắng và sợ hãi được xác định là có liên quan đến các sự kiện không mong muốn, bao gồm quá trình phá thai, điều trị và hỗ trợ của chuyên gia y tế kém, các tác dụng phụ và biến chứng Những đối tượng tham gia cũng cho rằng họ thiếu thông tin chuẩn bị, dẫn đến việc không chắc chắn do không đủ thông tin Nhiều người đã tìm kiếm thông tin dựa trên Web, nhưng hầu hết trong số họ chia sẻ rằng họ gặp khó khăn khi tìm kiếm các nguồn thông tin chất lượng cao cũng như các thông tin chính thống, đáng tin cậy Những người được hỏi cũng mô tả rằng thông tin chuẩn bị nhận được nhiều khi trái ngược hoặc không phản ánh đúng kinh nghiệm phá thai thực tế Từ đó, các tác giả cũng đề xuất những chương trình tư vấn tâm lý thích hợp ở các đối tượng chuẩn bị chấm dứt thai kỳ và sự cần thiết triển khai một dịch vụ dựa trên nền tảng Web đáng tin cậy chứa thông tin trung thực và chất lượng cao do các chuyên gia y tế viết, cũng như khả năng đặt câu hỏi trực tuyến cho các chuyên gia y tế Mặc dù đã có nhiều phát hiện đáng kể tuy nhiên nghiên cứu cũng có một số hạn chế nhất định Hạn chế lớn nhất của nghiên cứu là chỉ là một bản khảo sát mở trên trang web, do vậy việc khai thác thêm thông tin không thực hiện được Thứ hai, nghiên cứu tiến hành hồi cứu với thời gian phá thai tối đa là 5 năm nên có thể xảy ra sai số nhớ lại, những sự kiện mà đối tượng cung cấp cũng có thể không còn chính xác trong giai đoạn hiện tại [74]
Như vậy có thể thấy, phụ nữ là đối tượng dễ mắc các rối loạn tâm thần hơn các đối tượng khác, trong nhóm phụ nữ thì phá thai lại là một yếu tố nguy cơ khiến những người phụ nữ này tăng khả năng bị các rối loạn tâm thần hơn các đối tượng khác Đối với đối tượng phụ nữ phá thai ở thời điểm trước khi làm thủ thuật, có rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, các nghiên cứu theo dõi phụ nữ từ trước đến sau phá thai luôn cho thấy các triệu chứng trầm cảm, lo lắng, và stress ở mức cao nhất chính là vào thời điểm ngay trước khi phá thai so với bất cứ thời gian nào sau đó Khoảng thời gian sau khi phát hiện ra thai nghén và trước khi phá thai,
40 ‒ 45% phụ nữ trải qua mức độ lo lắng đáng kể và khoảng 20% trải nghiệm các mức độ trầm cảm đáng kể Đặc biệt, phụ nữ khi phá thai lo lắng và trầm cảm nhiều hơn những phụ nữ mang thai khác hoặc phụ nữ mang thai bị dọa sảy thai, nhưng về lâu dài họ lại không cảm thấy tệ hơn về khía cạnh tâm lý so với những phụ nữ sinh con trong nghiên cứu Có rất ít nghiên cứu đã xem xét đến các tác động từ những mối quan hệ và hoạt động tình dục, nhưng khoảng 20% phụ nữ trong số những đối tượng được nghiên cứu ghi nhận những tiêu cực từ các yếu tố này [37],[63]
1.5.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu năm 2018 của Nguyễn Thị Ngọc Ánh và cộng sự tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy hơn 50% phụ nữ đi phá thai có rối loạn lo âu trước khi thực hiện thủ thuật, trong đó khoảng 15% có mức độ lo âu từ nặng đến rất nặng theo thang đo DASS-21 Những yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở đối tượng được chỉ ra bao gồm việc mang thai lần này một cách chủ động và quyết định chấm dứt thai kỳ khi thai kỳ đã tiến triển.
12 tuần và số ngày quyết định phá thai [12] Mặc dù vậy, trong nghiên cứu này, chỉ có 17% số đối tượng có thai kỳ trên 12 tuần đi phá thai Bởi vậy, có thể tỷ lệ mắc rối loạn tâm thần và những yếu tố liên quan ở phụ nữ đến phá thai ngoài ba tháng đầu sẽ có sự khác biệt với những yếu tố vừa được liệt kê ở trên Bên cạnh đó, đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang với chỉ duy nhất phương pháp định lượng, các tác giả cũng khuyến nghị nên tiến hành thêm nhiều nghiên cứu mở rộng, nhất là ở những đối tượng có nguy cơ và nghiên cứu định tính để tìm hiểu những vấn đề về văn hoá – xã hội để giải quyết một cách triệt để Điều này đặt ra một thực tế là trước khi các chương trình tư vấn tâm lý được triển khai như một quy trình thường quy, thì cần có những giai đoạn thí điểm, mà những chương trình này nên ưu tiên triển khai trên các đối tượng có nguy cơ cao Đề tài của tôi tiến hành với kỳ vọng sẽ làm rõ hơn những vấn đề xung quanh sức khoẻ tâm thần của người phụ nữ đến phá thai muộn Từ đó làm tiền đề cho những chương trình tư vấn bên cạnh việc làm thủ thuật, theo dõi về sức khoẻ sinh sản, tiến tới sẽ nhân rộng mô hình để áp dụng cho mọi đối tượng đến phá thai
Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy phụ nữ phá thai là một đối tượng có nguy cơ cao mắc trầm cảm, lo âu và căng thẳng Nguy cơ này chịu tác động của nhiều yếu tố, nổi bật là yếu tố văn hóa – xã hội, điều kiện gia đình và đặc điểm cá nhân của người phụ nữ Do đó, cần có hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm lý và hỗ trợ xã hội phù hợp để giảm thiểu tác động tâm lý sau phá thai và cải thiện chất lượng cuộc sống của người mẹ.
Khung nghiên cứu về trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ phá thai
Hình 1.1 Khung lý thuyết về trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ phá thai
TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ STRESS Ở PHỤ NỮ PHÁ THAI
• Yếu tố nhân khẩu - xã hội: Tuổi, trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp.
• Yếu tố sinh sản: tiền sử sản khoa, sự chủ động mang thai, nguyên nhân phá thai, mong muốn mang thai sau này
• Trầm cảm, lo âu và stress trong khi mang thai
• Tiền sử trầm cảm, lo âu, stress
• Bạo lực gia đình: Bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác, bạo lực tình dục
• Thiếu sự hỗ trợ từ gia đình
• Sự yêu thích con trai
Yếu tố văn hoá và xã hội:
• Thiếu sự hỗ trợ từ xã hội
• Quan niệm trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới
• Sự kỳ thị và định kiến với người phá thai
• Sự kỳ thị và định kiến với những người bị trầm cảm, lo âu và stress
Theo hiểu biết của nghiên cứu viên, hiện chưa có tài liệu nào xây dựng khung lý thuyết về trầm cảm, lo âu và stress trên phụ nữ chấm dứt thai kỳ Dựa trên việc tìm kiếm các tài liệu, tác giả đề xuất khung lý thuyết sau dựa trên các yếu tố liên quan đến sức khoẻ tâm thần ở phụ nữ phá thai [76],[62],[46] Trong đó, việc phỏng vấn đối tượng qua bộ câu hỏi định lượng sẽ tập trung vào các yếu tố về nhân khẩu học và các đặc điểm sản khoa Trong khi đó, phỏng vấn sâu đối tượng sẽ chủ yếu tìm hiểu sâu về những vấn đề về gia đình và văn hóa – xã hội tác động đến đối tượng.
Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội là bệnh viện tuyến cuối chuyên ngành sản phụ khoa và kế hoạch hóa gia đình, với 598 giường thực kê và hơn 1.373 cán bộ công chức viên chức Hàng năm, bệnh viện thực hiện khoảng 7.000 – 8.000 ca chấm dứt thai kỳ Phần lớn số ca hút thai và phá thai được thực hiện tại Khoa Sinh đẻ - Kế hoạch hóa gia đình, là địa điểm của nghiên cứu này.
Hiện tại, quy trình phá thai tại khoa chủ yếu chăm sóc và hỗ trợ bệnh nhân về lo âu, trầm cảm và stress ở giai đoạn tư vấn, nhưng tư vấn này chỉ xoay quanh các vấn đề liên quan đến thủ tục phá thai và chưa được mở rộng sang các hình thức hỗ trợ tâm lý khác Đáng lưu ý là bệnh nhân chưa được sàng lọc sức khỏe tâm thần để phát hiện sớm các rối loạn hoặc khó khăn tâm lý có thể phát sinh trước, trong và sau khi làm thủ tục Vì vậy, cần tích hợp các hoạt động chăm sóc tâm lý toàn diện, bao gồm sàng lọc sức khỏe tâm thần, tư vấn sâu và theo dõi sau thủ tục, nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và kết quả sức khỏe của người bệnh.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
Khoa Sinh đẻ - Kế hoạch hoá gia đình, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 09/2020 đến 09/2021, bắt đầu thu thập số liệu từ tháng 01/2021 đến tháng 04/2021
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ đến phá thai từ 12 tuần 1 ngày đến hết
22 tuần tại khoa Sinh đẻ - Kế hoạch hoá gia đình, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
+ Đối tượng đồng ý trả lời phỏng vấn + Có khả năng minh mẫn để trả lời phỏng vấn + Chưa phá thai (trong thời gian chờ phá thai)
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, phương pháp định lượng kết hợp định tính
Nghiên cứu định lượng: Cỡ mẫu cho nghiên cứu được ước tính dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả ước tính tỉ lệ:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu
Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 (tương ứng với độ tin cậy 95%)
Với độ tin cậy 95%: Z1-α/2 = 1,96 (tra từ bảng với giá trị α được chọn)
ε là sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể
p = 0,508 (tỷ lệ phụ nữ trước phá thai tại BVPSHN năm 2019 có dấu hiệu lo âu trong 1 nghiên cứu cũng sử dụng thang DASS [12])
Như vậy, tính được cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 165, tính thêm 10% đối tượng được tổng là 182 đối tượng Trên thực tế, nghiên cứu đã phỏng vấn được
202 đối tượng đến phá thai
Để lấy mẫu chủ đích, nghiên cứu áp dụng chiến lược tối đa biến [71], chọn đối tượng thuận tiện có đa dạng các đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng khác nhau Cỡ mẫu được xác định theo quy luật bão hòa dữ liệu [68]; khi không còn thông tin mới xuất hiện, sẽ phỏng vấn thêm ba đối tượng để xác định điểm bão hòa [45] Theo nguyên tắc này, nghiên cứu đã lựa chọn và phỏng vấn được 22 đối tượng.
Nghiên cứu định lượng: Chọn mẫu toàn bộ
Dữ liệu được thu thập trong 3 tháng, với 20 ngày làm việc mỗi tháng Tại khoa Sinh đẻ - Kế hoạch hóa gia đình, tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được tuyển chọn cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu liên quan đến phá thai.
Nghiên cứu định tính: Bệnh nhân được chọn là những bệnh nhân được đánh giá có ít nhất 1 rối loạn tâm thần khi trả lời BCH định lượng Thời điểm phỏng vấn là sau khi bệnh nhân hoàn thành BCH định lượng và được nghiên cứu viên đánh giá nhanh qua kết quả thang điểm DASS 21.
Phương pháp thu thập thông tin
2.3.1 Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng: Thu thập thông tin qua bộ câu hỏi có sẵn với nghiên cứu định lượng
Bộ công cụ gồm 3 phần: thông tin nhân khẩu học, thông tin về tiền sử sinh sản và thang đo DASS 21
Thang đo DASS 21 (Depression, Anxiety and Stress Scale 21) Thang đo này gồm có 21 câu trong đó 7 câu đánh giá về trầm cảm, 7 câu đánh giá về lo âu và 7 câu đánh giá về stress Các câu này tập trung vào các triệu chứng chủ yêu liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress Bệnh nhân cần cung cấp các thông tin liên quan tới các dấu hiệu này theo 4 mức độ từ 0 tới 3 điểm Sau đó, tổng số điểm ở từng mục thành phần sẽ được nhân hệ số 2 Mức độ đánh giá như sau: 0 điểm: Không đúng với tôi chút nào cả; 1 điểm: Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng; 2 điểm: Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng; 3 điểm: Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng
Kết quả được phân tích theo điểm trung bình của tổng điểm nhân 2 ở mỗi loại rối loạn với các mức độ:
Bảng 2.1 Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress
Mức độ Trầm cảm Lo âu Stress
Thang đo DASS 21 đã được kiểm định trên đối tượng là phụ nữ có con nhỏ ở miền Bắc Việt Nam với chỉ số Cronbach’s alpha dao động từ 0.70 đối với thang đo phụ stress đến 0.88 đối với thang đo tổng thể Nghiên cứu cũng chỉ ra điểm trên mỗi thang điểm trong số ba thang đo phụ, và sự kết hợp của hai hoặc ba trong số 3 thang có thể phát hiện các rối loạn tâm thần phổ biến của trầm cảm và lo âu ở phụ nữ với độ nhạy là 79,1% và độ đặc hiệu là 77,0% ở mức cắt tối ưu là trên 33 điểm [64]
Kỹ thuật: điều tra viên phỏng vấn đối tượng để điền vào phiếu theo bộ câu hỏi đối với nghiên cứu định lượng riêng phần thang đo trầm cảm, lo âu, stress (DASS
21), đối tượng tự điền hoàn thành dưới sự hướng dẫn của điều tra viên
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu có bảng hướng dẫn phỏng vấn, với thời gian trung bình mỗi cuộc phỏng vấn khoảng 30 phút Nội dung phỏng vấn được ghi âm và sau đó gỡ băng để phục vụ phân tích dữ liệu Tác giả nghiên cứu trực tiếp thu thập dữ liệu và có thể giải thích các câu hỏi cũng như các nội dung liên quan đến phá thai, sức khỏe sinh sản và các vấn đề tâm lý khi đối tượng có thắc mắc hoặc nhu cầu tư vấn Trong các phiên phỏng vấn ban đầu, tác giả gửi file ghi âm và đề cương nghiên cứu cho tham khảo ý kiến chuyên gia để điều chỉnh kịp thời nội dung và cách thức hỏi đối tượng.
Nghiên cứu định tính nhằm thu thập thông tin về các yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm, lo âu và stress ở đối tượng nghiên cứu Dữ liệu được thu thập bằng bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu, nhằm khai thác sâu các yếu tố nguy cơ và bảo vệ sức khỏe tâm thần, cũng như quan sát tác động từ hoàn cảnh cá nhân và môi trường xã hội Nội dung phỏng vấn tập trung vào các khía cạnh như đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh sống, yếu tố gia đình và công việc, mạng lưới xã hội, thói quen sinh hoạt và các yếu tố môi trường có thể tác động đến mức độ trầm cảm, lo âu và stress Kết quả dự kiến giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các yếu tố này và tình trạng sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu, phục vụ cho công tác đánh giá và can thiệp phù hợp.
Biểu hiện cụ thể của trầm cảm, lo âu và stress
Quá trình đối tượng biết có thai và ra quyết định phá thai
Nguyên nhân của việc phá thai
Nguyên nhân của những lo lắng khi đến phá thai
Sự tìm hiểu thông tin xoay quanh thai kỳ và việc phá thai lần này của đối tượng
Quá trình tìm kiếm sự giúp đỡ, cách xử trí và ứng phó của đối tượng với tình trạng trầm cảm, lo âu và stress
2.3.2 Quy trình thu thập số liệu
Xin phép ban giám đốc bệnh viện Phụ sản Hà Nội và lãnh đạo khoa Sinh đẻ -
Kế hoạch hoá gia đình để tiến hành nghiên cứu
Xây dựng bộ công cụ định lượng dựa trên các biến số đã xây dựng
Dựa vào quy trình phá thai để lên kế hoạch điều tra Dự kiến phỏng vấn đối tượng trong khi họ chờ làm thủ thuật
- Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ đã thiết kế
Tiến hành điều tra thử 10 đối tượng trong vòng 3 ngày nhằm chỉnh sửa bộ câu hỏi phù hợp nhất Những đối tượng này sẽ được lấy bằng cách chọn mẫu toàn bộ những đối tượng thoả mãn yêu cầu nghiên cứu và không đưa vào nghiên cứu chính thức về sau Đánh giá phản hồi của đối tượng về bộ công cụ Bộ câu hỏi đã không chỉnh sửa gì
- Giai đoạn 3: Thu thập thông tin
Chọn các đối tượng đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia để phỏng vấn theo cách chọn mẫu đã mô tả ở trên
Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng, chỉnh sửa, bổ sung để tiến hành phỏng vấn và phát vấn đối tượng
Hướng dẫn chi tiết dành cho đối tượng trả lời thang đo DASS-21 và quy trình giám sát trong quá trình thu thập thông tin được trình bày một cách rõ ràng để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của dữ liệu Đối với những bệnh nhân đến chấm dứt thai kỳ khi đã mang thai trên 12 tuần, sẽ có hai nhóm bệnh nhân tương ứng với cách phân loại tuổi thai được mô tả tiếp theo, nhằm chuẩn hóa đánh giá và so sánh kết quả giữa các nhóm một cách hiệu quả.
Ở thai kỳ từ 12 tuần 1 ngày đến 16 tuần 6 ngày, bệnh nhân được chỉ định ngậm thuốc để làm mềm và mở cổ tử cung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thủ thuật Thời gian ngậm thuốc và chờ cổ tử cung mở kéo dài từ 2 đến 6 giờ Trong thời gian này, nhân viên y tế sẽ theo dõi phản ứng của cổ tử cung và tình trạng thai kỳ để đảm bảo an toàn cho người mẹ và thai nhi.
Khám bệnh và tư vấn
Chờ làm thủ thuật Làm thủ thuật Nghỉ sau thủ thuật này những đối tượng đủ điều kiện sẽ được mời tham gia trả lời bộ câu hỏi định lượng Sau khi nghiên cứu viên đánh giá nhanh thang đo DASS 21 dựa trên phiếu trả lời của bệnh nhân, nếu đủ thời gian phỏng vấn sâu, nghiên cứu viên sẽ mời đối tượng tham gia tiếp vào nghiên cứu định tính
Bệnh nhân có thai kỳ từ đủ 17 tuần đến hết 22 tuần: Bệnh nhân được ngậm thuốc gây sảy thai và được theo dõi tại viện cho đến khi thai sảy ra ngoài Thời gian từ khi bệnh nhân nhập viện cho đến khi thai sảy dao động từ 1 - 10 ngày tuỳ thuộc cơ địa, trung bình từ 2 - 3 ngày Tương tự, bệnh nhân cũng được mời tham gia vào nghiên cứu định lượng, nếu đạt yêu cầu sẽ được mời tiếp để tham gia vào cuộc phỏng vấn định tính.
Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số/ chỉ số Định nghĩa/ cách tính Cách thu thập
Tuổi Tính theo năm dương lịch
(ghi theo năm sinh) Điền từ hồ sơ bệnh án
Nghề nghiệp Nghề chiếm nhiều thời gian nhất Điền từ bệnh án Trình độ học vấn
Cấp học cao nhất mà đối tượng đã hoàn thành
Tình trạng hôn nhân Độc thân; có người yêu không sống cùng; chưa kết hôn và sống cùng người yêu; kết hôn và sống cùng nhau; ly thân/ ly dị; góa
Sự tự chủ kinh tế của đối tượng Hỏi bệnh nhân
Nơi ở Địa chỉ sống hiện tại của đối tượng Hỏi bệnh nhân Người sống cùng
Người sống cùng đối tượng tại thời điểm hiện tại
Số lần có thai Tổng số lần có thai của đối tượng kể cả những lần thai chết lưu, sẩy thai Điền từ hồ sơ bệnh án
Số con hiện tại Tổng số con còn sống hiện tại Điền từ hồ sơ
Biến số/ chỉ số Định nghĩa/ cách tính Cách thu thập khoa Số con trai/ con gái bệnh án
Số lần sẩy thai Tổng số lần sẩy thai tự nhiên Điền từ hồ sơ bệnh án
Số lần thai chết lưu
Tổng số lần thai bị chết mà còn lưu lại trong buồng tử cung trên 48h Điền từ hồ sơ bệnh án
Số lần phá thai Tổng số lần thực hiện các thủ thuật phá thai dưới tất cả các hình thức Điền từ hồ sơ bệnh án
Tổng số lần mang thai ngoài ý muốn Hỏi bệnh nhân
Tuổi thai Tuổi thai khi đối tượng biết có thai
Tuổi thai hiện tại khi làm thủ thuật phá thai (tính theo siêu âm/ ngày đầu chu kỳ kinh cuối)
Hỏi bệnh nhân và đối chiếu với hồ sơ bệnh án
Tình trạng rối loạn sức khỏe tâm thần đo bằng thang
Tỷ lệ các mức độ rối loạn về lo âu, căng thẳng và stress được chấm theo thang DASS – 21
Một số biểu hiện về rối loạn tâm thần của đối tượng theo như thang DASS
Một số yếu tố liên quan
Giới tính thai nhi biết được trước khi phá thai dưới mọi hình thức
Lần có thai này là chủ đích hay là không chủ đích của đối tượng Đối tượng có mong muốn có thai trong tương lai hay không
Lý do phá thai Lý do phá thai lần này của đối tượng
Người ra quyết định chính trong việc phá thai lần nay của đối tượng
Nguyên nhân phá thai và áp lực kèm theo
Những nguyên nhân khiến đối tượng phá thai Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân phụ
Biến số/ chỉ số Định nghĩa/ cách tính Cách thu thập
Những mối quan tâm của đối tượng về vấn đề phá thai (sức khoẻ bản thân, vấn đề tâm linh, sự kỳ thị,…)
Cách ứng phó và sự tìm kiếm hỗ trợ
Biện pháp ứng phó với những dấu hiệu về tâm thần: sở thích, chia sẻ với người khác, tìm kiếm dịch vụ y tế, …
Sự tìm kiếm thông tin về việc phá thai: chủ động hay bị động, nguồn tìm kiếm, thông tin có đủ như mong muốn Nhu cầu cung cấp thông tin
Phân tích xử lý số liệu
Mỗi phiếu trả lời được kiểm tra sau mỗi buổi phỏng vấn bởi điều tra viên nhằm khắc phục các số liệu thiếu, vô lý và ngoại lai; dữ liệu sau đó được nhập và làm sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích trên SPSS 26 Đối với mục tiêu (1): Thống kê mô tả được dùng để tính tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress Đối với mục tiêu (2): Sử dụng thống kê suy luận với các bài kiểm tra thống kê suy luận, xây dựng mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến, đồng thời hồi quy tương quan để xác định các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress Đối với việc sử dụng thang điểm DASS‑21 để đánh giá, với các mức điểm tương ứng từ bình thường đến nhẹ đến rất nặng được coi là mức độ rối loạn, tuy nhiên DASS‑21 không có giá trị chẩn đoán mà chỉ có giá trị sàng lọc và cảnh báo nguy cơ; trong khuôn khổ luận văn này tôi dùng các thuật ngữ rối loạn và mức độ để mô tả đối tượng có nguy cơ chứ không phải đối tượng mắc những rối loạn thực sự nhằm giữ nguyên thuật ngữ như trong thang điểm DASS‑21 bản gốc của tác giả.
Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm bằng phần mềm ghi âm trên điện thoại và sau đó được nghe lại để đánh máy toàn bộ nội dung vào một tệp Word nhằm tiện quản lý Mỗi bản giải băng của đối tượng nghiên cứu được đặt tiêu đề riêng biệt, đảm bảo tính rõ ràng và dễ tra cứu Quá trình mã hoá, sắp xếp và phân tích dữ liệu sẽ áp dụng các phương pháp của nghiên cứu định tính để hệ thống hoá thông tin thu được Dữ liệu sau khi được mã hóa sẽ được tổng hợp và giải thích bằng chiến lược phân tích nội dung, tham chiếu tới các khung lý thuyết [40], [41], [45].
Trong quá trình nghiên cứu, nhà nghiên cứu đọc từng bản Word, mã hóa và sắp xếp thông tin theo chủ đề nghiên cứu Các dữ liệu được mã hóa dựa trên nội dung sẽ được sao chép sang các cột và hàng trong file Excel để bảo đảm cấu trúc và dễ quản lý dữ liệu Cuối cùng, các thông tin này được nhóm lại, tổng hợp và tóm tắt, từ đó rút ra kết luận kèm theo trích dẫn tiêu biểu.
Việc phân tích số liệu sẽ tiến hành song song với khi thu thập số liệu định tính (phỏng vấn sâu) để điều chỉnh quá trình thu thập thông tin nhằm đảm bảo số liệu thu thập được luôn được đúng và đầy đủ nhất Các bước cơ bản trong quá trình phân tích sẽ bao gồm: đọc và tóm tắt nội dung mã hoá tóm tắt và tổng hợp dữ liệu xây dựng phạm trù khái niệm phát hiện quy luật và phát biểu thành lý thuyết [6] Các nội dung của phỏng vấn sâu sẽ được lồng ghép vào mục tiêu 2 nhằm diễn giải cụ thể hơn mối liên quan giữa các yếu tố về cá nhân và xã hội với những rối loạn tâm thần mà đối tượng nghiên cứu mắc phải
2.6 Sai số và cách khống chế
Sai số trong quá trình phỏng vấn
Câu hỏi không rõ ràng khiến đối tượng điều tra không hiểu hoặc hiểu nhầm ý câu hỏi
Người được phỏng vấn từ chối tham gia, bỏ cuộc giữa chừng hoặc cung cấp sai thông tin
Đối tượng phỏng vấn cố tình cung cấp sai thông tin đối với những thông tin nhạy cảm hoặc mang yếu tố tâm lý
Sai số nhớ lại hoặc sai số ước lượng khi hỏi các câu hỏi liên quan đến thời gian, số lần
Sai số trong quá trình nhập liệu
Người nhập liệu nhập sai hoặc bỏ sót thông tin
Trước khi tiến hành điều tra:
Điều tra viên được tập huấn kỹ về cách phỏng vấn, những kiến thức để cung cấp cho đối tượng
Bộ câu hỏi và nội dung phỏng vấn sâu được thiết kế rõ ràng, từ ngữ dễ hiểu, tránh gây hiểu lầm cho đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình phỏng vấn phụ nữ
Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia phỏng vấn và giải đáp thắc mắc cho các đối tượng nghiên cứu
Phỏng vấn được tiến hành tại một địa điểm kín đáo để đảm bảo sự riêng tư cho người được phỏng vấn, từ đó thu thập ý kiến cá nhân một cách trung thực và đáng tin cậy Quy trình này giúp giảm tối đa sai lệch dữ liệu phát sinh từ việc người tham gia cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật, nâng cao chất lượng và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Trong quá trình ghép phiếu, giải băng
Kiểm tra đối chứng mã bệnh nhân của các đối tượng được phỏng vấn trong quá trình ghép phiếu và nhập liệu
Trong quá trình nhập liệu, giải băng
Nhập liệu viên nhập liệu cẩn thận, nhập xong từng phiếu kiểm tra lại một lượt phiếu đó rồi chuyển sang nhập phiếu tiếp theo
Sau quá trình nhập liệu, điều tra viên lấy ngẫu nhiên 10% số phiếu nhập lại để kiểm tra
Tất cả bảng gỡ băng sẽ được 1 người ngoài nghe lại và kiểm tra độ chính xác với băng ghi âm trước đó.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng đạo đức của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định với số: 348/GCN-HĐĐĐ
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của khoa Sinh đẻ - Kế hoạch hoá gia đình Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Các thông tin về bệnh nhân được giữ bí mật nhằm đảm bảo các thông tin này không bị tiết lộ
Kết quả chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung của đối tượng
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n 2) Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 164 81,2 Độc thân, li dị 38 18,8
Khu vực sống Ở nông thôn 89 44,1 Ở thành phố 113 55,9
THPT 50 24,8 Đại học/Sau đại học 124 61,4
Bảng 3.1 cho thấy nhóm tuổi lớn hơn 29 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 57,9% tương đương với 117 đối tượng nghiên cứu 55,9% phụ nữ đến phá thai có nghề nghiệp là kinh doanh, buôn bán Đa số các đối tượng có tình trạng kết hôn là đã có chồng (chiếm 81,2%) Hơn một nửa số đối tượng đang sinh sống tại khu vực thành phố (55,9%) và 61,4% đối tượng có học vấn là đại học/ sau đại học
Bảng 3.2 Thông tin về tiền sử sinh sản của đối tượng Đặc điểm Trung bình ± SD (Min, Max, Trung vị)
Số lần mang thai 2,8 ± 1,9 (Min: 1; Max: 8; Trung vị: 2)
Số lần sẩy thai 0,2 ± 0,4 (Min: 0; Max: 2; Trung vị: 0)
Số lần thai chết lưu 0,2 ± 0,5 (Min: 0; Max: 4; Trung vị: 0)
Số lần phá thai 0,6 ± 0,9 (Min: 0; Max: 5; Trung vị: 0)
Số lần mang thai ngoài ý muốn 0,6 ± 0,9 (Min: 0; Max: 5; Trung vị: 0)
Bảng 3.2 cho thấy trung bình mỗi đối tượng có 2,8 lần mang thai (min: 1; max: 8; trung vị: 2) Số lần sẩy thai là 0,2 lần, số lần thai chết lưu là 0,2 lần, số lần phá thai là 0,6 lần và số lần mang thai ngoài ý muốn là 0,6 lần.
Bảng 3.3 Thông tin về tiền sử sinh sản của đối tượng
Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Tiền sử phá thai
Từng phá 3 lần trở lên 6 3,0
Có 1 con và là con trai 20 9,9
Có 1 con và là con gái 21 10,4
Có từ 2 con trở lên, ít nhất 1 con trai 46 22,8
Có từ 2 con trở lên, đều là con gái 66 32,7
Về tiền sử phá thai của đối tượng, có hơn một nửa đối tượng chưa từng phá thai trước đây chiếm 58,4% Đối tượng có từ 2 con trở lên, đều là con gái chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 32,7%
Bảng 3.4 Thông tin về lần mang thai này của đối tượng
Bảng 3.4 cho thấy trong nghiên cứu này, phụ nữ đến phá thai khi có tuổi thai trung bình là 14 tuần (tuổi thai nhỏ nhất là 12 tuần và lớn nhất là 22 tuần) Đối tượng đến phá thai trung bình mất 1016 ngày để ra quyết định chấm dứt thai kỳ Lý do phá thai phổ biến nhất là do bệnh tật từ thai nhi (40,1%) Người có ảnh hưởng nhất đến quyết định phá thai là chồng (người yêu) với 48,5% người lựa chọn đáp án này Còn đến 63,4% đối tượng mong muốn mang thai trong tương lai Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bệnh tật thai nhi 81 40,1 Đủ số con 23 11,4
Chồng / Gia đình không cho phép 34 16,8 Người ảnh hưởng quyết định:
Cả đối tượng và chồng (người yêu) 19 9,4
Gia đình/ họ hàng đối tượng 8 4,0
Gia đình/ họ hàng chồng (người yêu) 4 2,0
Bạn bè, anh chị em 21 10,4 Đối tượng tự quyết định 52 25,7
Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress của phụ nữ phá thai tại bênh viện Phụ Sản Hà Nội
Hình 3.1 Sự phân bố các mức độ nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress theo thang đo DASS 21
Từ Biểu đồ 3.1, với rối loạn trầm cảm, 41,1% người được hỏi ghi nhận số điểm ở mức bình thường Mức độ trầm cảm chiếm nhiều nhất là mức vừa với 25,3% đối tượng, chiếm ít nhất là mức rất nặng với 6,4% Với rối loạn lo âu, chỉ 33,2% người được hỏi ghi nhận số điểm ở mức bình thường Mức độ lo âu chiếm nhiều nhất là mức vừa với 25,3% đối tượng, chiếm ít nhất là mức nặng với 7,9% Về rối loạn stress 42,6% người được hỏi ghi nhận số điểm ở mức bình thường Mức độ stress chiếm nhiều nhất là mức vừa với 24,8% đối tượng, chiếm ít nhất là mức rất nặng với 6,9%
Stress Lo âu Trầm cảm
Bình thường Nhẹ Vừa Nặng Rất nặng
Bảng 3.5 Biểu hiện cụ thể của rối loạn trầm cảm
Biểu hiện Mức 0 Mức 1 Mức 2 Mức 3 n % n % n % n %
Tôi không có chút cảm xúc tích cực nào 41 20,3 69 34,2 64 31,7 28 13,9
Tôi thấy khó bắt tay vào công việc 67 33,2 69 34,2 41 20,3 25 12,4 Tôi thấy mình không có gì để mong đợi về tương lai cả 127 62,9 53 26,2 16 7,9 6 3
Tôi cảm thấy chán nản, thất vọng 47 23,3 76 37,6 54 26,7 25 12,4 Tôi không thấy hăng hái với bất kỳ việc gì nữa 61 30,2 85 42,1 31 15,4 25 12,4
Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người 129 63,9 36 17,8 25 12,4 12 5,9
Tôi thấy cuộc sống vô nghĩa 142 70,3 43 21,3 9 4,5 8 4,0
Bảng 3.5 cho thấy đa số các đối tượng đến phá thai có những biểu hiện về rối loạn trầm cảm ở mức 0 và mức 1 Trong tổng số 7 dấu hiệu của trầm cảm được khảo sát, 4 biểu hiện có trên 50% số người có ở mức độ từ 1 trở lên Dấu hiệu “Tôi thấy cuộc sống vô nghĩa” có nhiều người lựa chọn ở mức 0 nhất với 70,3% Dấu hiệu được nhiều người lựa chọn ở mức 1 nhất là “Tôi không thấy hăng hái với bất kỳ việc gì nữa” Với 31,7% số người lựa chọn mức 2, dấu hiệu “Tôi không có chút cảm xúc tích cực nào” ghi nhận là dấu hiệu được lựa chọn nhiều nhất ở mức này Đây cũng chính là dấu hiệu có nhiều người chọn với mức độ cao nhất – mức độ 3
Bảng 3.6 Biểu hiện cụ thể của rối loạn lo âu Biểu hiện
Tôi bị khô miệng 85 42,1 64 31,7 29 14,4 24 11,9 Tôi bị rối loạn nhịp thở (thở gấp, khó thở dù chẳng làm việc gì nặng)
Tôi bị ra mồ hôi (chẳng hạn như mồ hôi tay,,,) 143 70,8 36 17,8 14 6,9 9 4,5 Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười
Tôi thấy mình gần như hoảng loạn 109 54,0 50 24,8 26 12,9 17 8,4 Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng tim loạn nhịp)
97 48,0 55 27,2 25 12,4 25 12,4 Tôi hay sợ vô cớ 90 44,6 60 29,7 31 15,4 21 10,4
Bảng 3.6 cho thấy đa số các đối tượng đến phá thai có những biểu hiện về rối loạn lo âu ở mức 0 Trong tổng số 7 dấu hiệu của lo âu được khảo sát, tất cả các biểu hiện đều có trên 50% số người có ở mức độ 0 Dấu hiệu “Tôi bị ra mồ hôi (chẳng hạn như mồ hôi tay, …)” có nhiều người lựa chọn ở mức 0 nhất với 70,8% Dấu hiệu được nhiều người lựa chọn ở mức 1 nhất là “Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười” Đây cũng chính là dấu hiệu có nhiều người chọn với mức độ 2 Với 12,4% số người lựa chọn mức 3, dấu hiệu “Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười” và “Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng tim loạn nhịp)” ghi nhận là 2 dấu hiệu được lựa chọn nhiều nhất ở mức này
Bảng 3.7 Biểu hiện cụ thể của rối loạn stress Biểu hiện
Tôi không thấy thoải mái 19 9,4 46 22,8 62 30,7 75 37,1 Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống 77 38,1 66 32,7 38 18,8 21 10,4 Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều 15 7,4 61 30,2 62 30,7 64 31,7
Tôi thấy bản thân dễ bị kích động 57 28,2 79 39,1 44 21,8 22 10,9 Tôi thấy khó thư giãn được 42 20,8 80 39,6 48 23,8 32 15,8 Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc tôi đang làm
99 49,0 71 35,2 23 11,4 9 4,5 Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái 75 37,1 77 38,1 35 17,3 15 7,4
Bảng 3.7 cho thấy đa số các đối tượng đến phá thai có những biểu hiện về rối loạn stress ở trên mức 0 Trong tổng số 7 dấu hiệu của stress được khảo sát, tất cả các biểu hiện đều có trên 50% số người ở trên mức độ 0 Đặc biệt, có tới 2 dấu hiệu mà mức độ 3 được lựa chọn là mức độ phổ biến nhất Dấu hiệu “Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc tôi đang làm” có nhiều người lựa chọn ở mức 0 nhất với 49,0% Dấu hiệu được nhiều người lựa chọn ở mức 1 nhất là “Tôi thấy khó thư giãn được” với 39,6% lượt lựa chọn Với 30,7% số người lựa chọn mức 2, dấu hiệu “Tôi thấy khó mà thoải mái được” và “Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều” ghi nhận là 2 dấu hiệu được lựa chọn nhiều nhất ở mức này Dấu hiệu “Tôi thấy khó mà thoải mái được” cũng là dấu hiệu có số người chọn ở mức 3 cao nhất (37,1%) trong tổng số 7 dấu hiệu của rối loạn stress
Hình 3.2 Tỷ lệ mắc các loại rối loạn trầm cảm, lo âu và stress trong đối tượng nghiên cứu
Kết quả cho thấy: trong tổng số các đối tượng tham gia nghiên cứu, chỉ có 22,8% không mắc bất kỳ rối loạn: trầm cảm, lo âu, stress; trong số những đối tượng mắc ít nhất một rối loạn thì số đối tượng mắc cả ba loại là nhiều nhất (45,5%) và mắc hai loại bất kỳ là ít nhất (14,9%)
Hình 3.3 Tỉ lệ trầm cảm, lo âu và stress trong đối tượng nghiên cứu
Sử dụng thang điểm DASS – 21 để đánh giá, với số điểm tương ứng mức độ bình thường ở mỗi rối loạn tâm thần được coi là không mắc rối loạn đó, với số điểm tương đương với các mức độ từ nhẹ đến rất nặng trong mỗi loại rối loạn được coi là mắc các rối loạn tương ứng
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 202 phụ nữ đến phá thai, lo âu chiếm 66,8% là cao nhất, tiếp đến là trầm cảm với 58,9% và stress 57,4% là thấp nhất.
Bình thường Mắc 1 rối loạn Mắc 2 rối loạn Mắc 3 rối loạn
Hộp 1: Những biểu hiện cụ thể về thực thể của trầm cảm, lo âu và stress trong cuộc sống thường ngày của phụ nữ phá thai
Thật sự, em thấy bầu bạn này khiến mình luôn không thoải mái và hồi hộp, như thể trong người luôn có một áp lực khó chịu Nhịp tim của em cũng không ổn định, luôn đập nhanh và không đều, khiến em cảm thấy lo lắng và mất cân bằng.
“Tôi cảm thấy hơi khô miệng, rối loạn nhịp thở và khó bắt tay vào công việc.” PN5 – PVS05
Trong khoảng một tuần nay em bị mất ngủ khá nhiều Em ngủ muộn hơn trước khoảng hai đến ba tiếng và bản thân luôn bị suy nghĩ khiến giấc ngủ bị ảnh hưởng.
“Nói chung là em cũng buồn lắm, gần như là công việc em cũng chẳng thiết tha mà ăn em cũng chả muốn ăn nữa…
Không ạ, nói chung là ngủ… em ngủ được ít lắm… như gần như là từ ngày biết tin đó là em gần như không ngủ ” PN22 – PVS22
Tương đồng với các biểu hiện mà thang đo DASS 21 mô tả, tác giả mô tả các biểu hiện mà người phụ nữ khi đến chấm dứt thai kỳ gặp phải thành 03 nhóm: biểu hiện về thực thể (khô miệng, chán ăn, …); biểu hiện về cảm xúc (cáu gắt, chán nản,
Biểu hiện rối loạn hành vi xuất hiện với các dấu hiệu như gây sự với người xung quanh, mắc lỗi, phản ứng thái quá Trước đó, biểu hiện về thực thể gồm chán ăn, mất ngủ, mất tập trung trong công việc là những triệu chứng phổ biến ở đa số các đối tượng Những dấu hiệu này xuất hiện tùy thuộc vào từng đối tượng: đối với những người mang thai ngoài ý muốn, các biểu hiện bắt đầu từ khi họ biết mình có thai cho đến ngày làm thủ thuật Ngược lại, với những người mang thai chủ động, các biểu hiện thực thể bắt đầu khi họ phát hiện mình không thể giữ thai và phải chấm dứt thai kỳ.
Hộp 2: Những biểu hiện cụ thể về cảm xúc của trầm cảm, lo âu và stress trong cuộc sống thường ngày của phụ nữ phá thai
“Em thì em nói chung là lúc nào suy nghĩ cũng không được tích cực lắm hay bị suy nghĩ tiêu cực Em thấy em cũng lo lắng nhiều.” PN1 – PVS01
Kết quả từ nghiên cứu định tính
Hộp 4: Các yếu tố cá nhân tác động đến trầm cảm, lo âu và stress
“Em làm y tá nha khoa nên là công việc của em Nói chung là cũng là tiếp xúc với tia X, …nên là từ khi biết bầu bạn này là em đã lo lắng rồi, sợ con có vấn đề gì nữa Ngay từ lúc đầu em cũng có băn khoăn là không biết là có nên nhận có nên giữ bạn lại không, giữ con lại không Nhưng mà hôm trước có làm xét nghiệm thì người ta bảo là con có vấn đề Thế là hôm nay em quyết định bỏ con.” PN1 – PVS01
“Bọn em cũng xác định là còn trẻ nên kế hoạch để chưa có em bé nên về mặt tinh thần cũng khá là bất ổn và cả cơ thể yếu nên đôi khi là gây ra những vấn đề, vấn đề về tinh thần và sức khỏe đều giảm hơn nhiều.” PN2 – PVS02
“Em mới về quê ạ Tức là em có thai với bạn trai cũ Thì bạn trai cũ bỏ Lúc đấy em chưa biết, em về thì lại… Em kết hôn với người khác, mới thôi, người mới thôi Rồi họ không chấp nhận ấy, nên em phải quyết định là bỏ ” PN3 – PVS03
“Lý do là vì anh chị chỉ có kinh doanh nhỏ mà lại có bố mẹ già, bố mẹ già với cả hai đứa con nên anh chỉ kiếm đủ từng ấy thôi nhưng mà thêm một đứa nữa thì chỉ sợ cái gánh nặng kinh tế nó đè lên vai chị thì chị vất lắm… ” PN19 – PVS19
Các yếu tố cá nhân tác động lên sức khoẻ tinh thần của đối tượng trên nhiều khía cạnh, ở một mặt, tác động trực tiếp lên sức khoẻ của đối tượng như với đối tượng còn trẻ nên tinh thần còn khá bất ổn, khi có những biến cố như việc chấm dứt thai kỳ xảy ra thì đối tượng dễ bị tổn thương hơn Mặt khác, những yếu tố cá nhân của đối tượng chi phối việc chấm dứt thai kỳ từ đó làm đối tượng bị ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm lý Nhìn chung, tác động từ yếu tố cá nhân có thể là tác động trực tiếp ảnh hưởng đến tâm lý đối tượng nhưng cũng có thể là tác động gián tiếp, các yếu tố cá nhân làm đối tượng phải quyết định chấm dứt thai kỳ từ đó họ gặp phải những dấu hiệu trầm cảm, lo âu và stress
Hộp 5: Các yếu tố gia đình tác động đến trầm cảm, lo âu và stress
“Nhưng mà căn bản là lần này chị lại cố đứa thứ ba nhưng không được … Nếu nó mà là gái thì anh chị không… được… nên bắt buộc là… bỏ…” PN1 – PVS01
Lần mang thai ngoài ý muốn này khiến người ấy đồng ý chịu trách nhiệm nhưng sau đó lại bỏ bê em Giờ nếu em phải làm mẹ đơn thân, em có muốn không? Em muốn, thật sự là em muốn Tuy nhiên bố mẹ em không đồng ý và em cũng nghĩ cho cảm xúc của họ Thực ra em thương bản thân và con, nhưng điều quan trọng nhất là bố mẹ; em phải thương bố mẹ nhiều hơn.
Gia đình em đang đối mặt với nhiều khó khăn: chị gái phải lập gia đình, em trai còn quá bé, mẹ ốm yếu, và kinh tế dù có nhưng phải xoay quanh mẹ Em tin rằng một đứa trẻ khi sinh ra cần có một nơi giáo dục tốt và đầy đủ tình thương từ bố và mẹ Với hoàn cảnh này, em đang cân nhắc việc bỏ thai để không tạo thêm gánh nặng cho gia đình và để có cơ hội cho tương lai của chính mình.
Thực tế, mối quan hệ của hai bạn không được ủng hộ, bị phản đối và khó được chấp nhận ở nhiều nơi Đến khi chia tay, em nghĩ nếu đứa bé được sinh ra thì sẽ có người nói nó không có cha Em thương đứa bé rất nhiều, nhưng công việc của em cũng bị ảnh hưởng, vì vậy cuối cùng em quyết định bỏ thai.
Có nhiều yếu tố liên quan đến gia đình ảnh hưởng đến quyết định chấm dứt thai kỳ và tác động đến sức khỏe tâm lý của người phụ nữ Những yếu tố này thường là yếu tố quyết định hoặc có liên quan trực tiếp đến việc thai kỳ bị chấm dứt Trong trường hợp chấm dứt thai kỳ do mong muốn giới tính không phù hợp, nếu thai nhi là nam vẫn có thể được sinh ra, và người phụ nữ có thể đối mặt với cảm giác tội lỗi nhưng vẫn đi đến quyết định đó Đối với phụ nữ chưa kết hôn, sự phản đối từ gia đình gây áp lực vừa buộc họ phải chấm dứt thai kỳ vừa khiến họ chịu tội lỗi vì ảnh hưởng đến danh dự của bản thân và gia đình.
Hộp 6: Các yếu tố văn hoá – xã hội tác động đến trầm cảm, lo âu và stress
“Tại vì thật sự là hai vợ chồng em, tức là cả nhà em như kiểu là con nhang đệ tử, nói chung là cũng không muốn bỏ con đi khi mà không có bí danh gì cả Thì rất là muốn giữ con lại Trong thâm tâm em nghĩ là cái nghiệp của mình, nó phải nuôi con như thế nào thì mình sẽ cố giữ nó đến từ như thế ” PN10 – PVS10
“Kiểu cảm giác là một việc không đúng ấy ạ… Em có, em có đọc qua và hỏi qua một số người nhưng mà không nói ra tình trạng của mình… Em không dám nói với ai là (phá thai) ở em vì sợ mọi người biết ” PN13 – PVS13
Chính bản thân chị cho rằng phụ nữ không có cuộc sống ra gì cả Trong cuộc trò chuyện, một người quen của đối tượng cũng khuyên chị nên suy nghĩ kỹ, bởi mãi chị mới có thai và chị lại nói như vậy Tuy vậy, chị khẳng định mình đã suy nghĩ rất kỹ.
Một số người phụ nữ cũng chia sẻ, họ không dám chia sẻ nhiều về chuyện chấm dứt thai kỳ với mọi người xung quanh vì cho rằng đây là một việc làm vi phạm đạo đức khi tự tay giết đi đứa con của mình Khi vừa phải chịu những gánh nặng về mặt tâm lý khi phải chấm dứt thai kỳ mà lại không được chia sẻ, họ cảm thấy gánh nặng này ngày càng đè nặng Một đối tượng cũng chia sẻ, họ không muốn sinh đứa trẻ ra chỉ vì siêu âm phát hiện là con gái vì nghĩ rằng làm phụ nữ quá khổ, vừa phải chăm sóc gia đình nhưng vẫn phải ra ngoài kiếm tiền, tuy vậy vẫn có nhiều định kiến khiến họ không cảm thấy mình được tôn trọng Mang thai và phải phá thai là giai đoạn nhạy cảm đối với người phụ nữ Thêm vào đó, nhiều phong tục, quan niệm xã hội vẫn còn kỳ thị với những người phá thai, điều này khiến cho người phụ nữ phải suy nghĩ rất nhiều về quyết định chấm dứt thai kỳ nhưng lại khó nhận được sự chia sẻ và đồng cảm tương xứng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ tinh thần
Hộp 7: Các yếu tố sinh sản tác động đến trầm cảm, lo âu và stress
“Em suy nghĩ nhiều lắm sợ sau này ảnh hưởng đến Khó sinh con đấy là sự lo lắng nhất ” PN1 – PVS01
“Vấn đề mà em vẫn hơi lo lắng là đây là lần đầu tiên em mang thai mà đã bị như thế này rồi thì em sợ là quá trình làm thủ thuật sẽ ảnh hưởng đến tương lai sau này nếu mà em có muốn sinh con ấy Em sợ là nó sẽ khó khăn như em cũng rất lo lắng bởi vì em chưa có bé nào cả.” PN3 – PVS03
“Em sợ nhiều thứ lắm… Em sợ sau này em không sinh em bé được nữa…
Em sợ em đẻ con sau này có bị làm sao không nữa….” PN6 – PVS06