Phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng để nâng
Trang 1PHÂN TÍCH THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỊA PHƯƠNG.
Chuỗi số liệu tăng trưởng GDP, tỷ lệ tăng sản phẩm nông nghiệp và kim ngạch xuất khẩu nông sản từ những năm đầu đổi mới đến nay cho thấy, nông nghiệp
đã trở thành “bệ đỡ” của nền kinh tế nước ta trước biến động khó lường của kinh tế toàn cầu với những thành tựu lớn Tuy nhiên, đến nay, những hạn chế về chất lượng, tính bền vững, sự sáng tạo và cách thức phát triển, cùng những yêu cầu mới đã và đang đòi hỏi ngành nông nghiệp Việt Nam cần có những bước chuyển mới mang tính đột phá hơn
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới Phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ Đó là những định hướng rất đúng đắn Tuy nhiên, làm thế nào để vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện thành công tái cơ cấu hợp lý, đưa nông nghiệp phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh là bài toán đặt ra với chúng ta hiện nay
Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và nông nghiệp
Theo Ngô Thắng Lợi (2012) cho rằng, cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành của nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính
và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ
hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng
mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến mà luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận kết hợp một cách hài hòa, cho phép khai thác tối đa các nguồn lực của đất nước một cách có hiệu quả, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và phát triển ổn định, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người dân
Trang 2Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội,
sự phát triển của lực lượng sản xuất và phát triển khoa học - công nghệ Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí của từng ngành, mà là sự thay đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu ngành Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi, phục vụ đời sống con người
Theo nghĩa rộng, nông nghiệp là ngành sản xuất - kinh doanh, tạo ra nông phẩm hàng hóa, phục vụ sản xuất và đời sống con người
Như vậy, nông nghiệp không chỉ sản xuất ra nông phẩm phục vụ trực tiếp cho tiêu dùng mà còn thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực khác: công nghiệp chế biến, marketing (quảng bá hình ảnh, xây dựng thương hiệu ), gắn với phân phối (tiêu thụ) nông phẩm trên thị trường; sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp ngày càng được mở rộng: đất đai, sinh vật - tạo ra sản phẩm tươi sống, các nông phẩm ở dạng “thô”, thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, tạo ra sản phẩm “tinh”, gắn với xây dựng thương hiệu, quảng
bá hình ảnh , sản xuất nông nghiệp theo “chuỗi”, làm gia tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng phong phú, đa dạng
Như vậy, theo quan điểm hiện đại, nông nghiệp là ngành sản xuất - kinh doanh, tạo ra nông phẩm hàng hóa gắn với chuỗi giá trị: sản xuất nông phẩm tươi sống - chế biến - marketing - tiêu thụ nông phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước Với cách hiểu trên, nông nghiệp là nền tảng để phát triển nhiều ngành nghề, lĩnh vực sản xuất - kinh doanh khác, tạo ra việc làm, kể cả những việc làm có giá trị gia tăng cao ở khu vực nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn nhanh và bền vững
Đặc điểm của nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, không thể thiếu của xã hội -tạo ra nông phẩm nuôi sống con người Song, nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên, thị trường tiêu thụ; chịu tác động tiêu cực “kép” từ thiên tai và thách thức cạnh tranh trên thị trường Do đó, rủi ro phát triển sản xuất - kinh doanh nông nghiệp là lớn, tác động tiêu cực đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp là đất đai, nguồn nước Đối tượng sản xuất là cây, con sinh trưởng, phát triển theo mùa vụ và phụ thuộc phần
Trang 3lớn vào khí hậu, thời tiết; tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai canh tác, nguồn nước và có xu hướng suy giảm mạnh; môi trường ô nhiễm gia tăng; biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp ngày càng lớn, Trong khi khoa học, công nghệ sản xuất nông nghiệp chưa thể làm chủ hoàn toàn tác động tiêu cực
từ thiên nhiên
Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn trực tiếp với mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ tròng nước và quốc tế Trình độ phát triển của thị trường là nhân tố quyết định quy mô, tốc độ, chất lượng nông phẩm hàng hóa Vì vậy, chủ thể sản xuất - kinh doanh nông nghiệp phải tuân thủ các quy luật của thị trường, chấp nhận những tác động từ thị trường Hội nhập quốc tế càng sâu rộng, thị trường nông sản
sẽ luôn có sự biến động và chịu sức ép cạnh tranh, đem lại thách thức rất lớn cho quốc gia phát triển nông nghiệp ở trình độ trung bình và thấp; chủ yếu xuất khẩu nông sản thô và có sản phẩm tương đồng
Nông nghiệp là ngành kinh tế có giá trị gia tăng thấp; rất khó hấp dẫn đầu tư phát triển, tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế nông thôn và nông dân Ở các nước đang phát triển, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn thường gặp khó khăn chung là khan hiếm nguồn lực đầu tư phát triển nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại,
dễ rơi vào luẩn quẩn: Sản xuất - kinh doanh nông nghiệp không phát triển - khả năng tích lũy thấp - năng lực đầu tư trở lại cho nông nghiệp hạn chế - thu nhập và sức mua của người nông dân thấp - sản xuất và kinh doanh nông nghiệp không phát triển; năng lực nội sinh từ khu vực nông thôn thường thấp và gia tăng chậm hơn so với các ngành kinh tế công nghiệp, dịch vụ cũng như khu vực thành thị
Độ co giãn của cầu nông phẩm hàng hóa (chưa qua chế biến) thấp, dễ dẫn đến tình trạng “được mùa, mất giá” Vì vậy, mở rộng và phát triển các mặt hàng nông phẩm phải gắn bó chặt chẽ, hiệu quả với thị trường đầu ra
Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế-xã hội
Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm - nguồn sống cho con người; có đóng góp tích cực vào tăng trưởng, phát triển chung của nền kinh tế Các quốc gia sản xuất nông nghiệp không chỉ tham gia vào quá trình bảo đảm an ninh lương thực cho quốc gia mình mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực của khu vực và quốc tế Đặc biệt, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc một nước tham gia bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp nông phẩm hàng hóa toàn cầu sẽ hình thành nhóm các quốc gia xuất khẩu
và nhóm các quốc gia nhập khẩu nông phẩm hàng hóa dựa trên nền tảng lợi thế so sánh Thu nhập từ hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản sẽ đem lại lợi ích
Trang 4-giá trị cao hơn và lớn hơn trên đơn vị sản phẩm lương thực cùng loại so với tiêu dùng trong nước Yếu tố này sẽ kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển vừa hướng về xuất khẩu, vừa phục vụ tiêu dùng trong nước Thông qua đó, cơ cấu kinh
tế nông nghiệp dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo thêm nhiều việc làm, gia tăng tích lũy vốn từ nông nghiệp Đồng thời, gia tăng thu nhập
và sức mua cho người lao động, tạo ra nội lực và động lực cho kinh tế nông thôn phát triển
Nông nghiệp là ngành cung cấp nguyên liệu, phục vụ công nghiệp chế biến trên địa bàn nông thôn Sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản góp phần thúc đẩy và mở rộng hoạt động liên kết giữa các chủ thể (nhà nông, nhà nước, ngân hàng, nhà khoa học) sản xuất - kinh doanh nông nghiệp; thực hiện sản xuất theo chuỗi giá trị; tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm, đẩy mạnh tăng trưởng, phát triển kinh
té ngành nông nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung Đồng thời, nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Ở các nước đang phát triển, dân cư sống tập trung ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, thị trường tiêu thụ càng được mở rộng và phát triển
Thành tựu và hạn chế của quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở nước ta thời gian qua
Hơn 20 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (1991-2000 và 2001-2010), cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp của nước ta có nhiều thay đổi theo hướng tiến bộ Ngành nông nghiệp giảm dần mang tính chiến lược từ 38,7% năm
1990 xuống còn 24,5% năm 2000 và 20,6% năm 2010 Tuy nhiên, so với mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế thì việc chuyển dịch này còn chậm
Trong điều kiện tình hình kinh tế thế giới không thuận lợi (khủng hoảng khu vực 1997-1998; khủng hoảng kinh tế thế giới 2008- 2012), nhưng Việt Nam vẫn tiến hành công nghiệp hóa đất nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu, góp phần nâng cao đời sống của một bộ phận người dân Từ chỗ nền kinh tế khủng hoảng, thiếu lương thực, thực phẩm, quá trình chuyển dịch cơ cấu đã tạo ra kết quả
to lớn; nông nghiệp đã tạo ra bước đột phá, đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu lương thực, thực phẩm; tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, tạo nền tảng cho công nghiệp chế biến phát triển Hơn nữa, trong giai đoạn này, chúng ta đã chuyển dịch một lực lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ
Trang 5Trên thực tế, trong thời kỳ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991-2000, Việt Nam đã thành công trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài hàng thập niên trước
đó Thành công lớn nhất trong giai đoạn này là Việt Nam vừa duy trì sự tăng trưởng liên tục của khu vực nông nghiệp, cải thiện thu nhập cho khu vực nông thôn, vừa tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa một sổ ngành quan trọng Từ sau Đại hội VIII, chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao động khu vực nông nghiệp, tạo tiền đề dịch chuyển lao động sang khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu ngành kéo theo chuyển dịch cơ cấu về lao động Cơ cấu lao động liên tục chuyển dịch theo hướng tích cực Cụ thể, lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp lăm 1990 là 73% lực lượng lao động, giảm xuống còn 57,1% năm 2005 và 48,7% năm 2010 Thành công nhất trong 20 năm đổi mới là đã dịch chuyển lao động dư thừa, bán thời vụ từ khu vục nông nghiệp có thu nhập thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có thu nhập cao hơn Bằng chứng là, tỷ lệ lao động ở khu vực công nghiệp liên tục tăng từ 11,2% lực lượng lao động năm 1990 lên 18,2% năm 2005 và 21,7% năm 2010 Tỷ
lệ lao động của khu vực dịch vụ cũng tăng từ 15,8% năm 1990 lên 24,7% năm 2005
và 29,6% năm 2010
Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Tốc độ chuyển dịch còn chậm Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP còn cao (năm 2005 là 21,02%; năm 2010 là 20,58%) Cơ cấu nội bộ từng ngành còn bất hợp lý Trong nội bộ tùng ngành, sự chuyển dịch cũng chưa hiệu quả, ngành nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên phương thức canh tác, sản xuất lạc hậu;
Đến năm 2016, nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về Đề án
“Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh hanh của nền kinh tế”, Nghị quyết số 142/2016/QH13 của Quốc hội về Kê hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016- 2020, Nghị quyết số 98/2015/QH13 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, Quyết định số 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020”, Chính phủ đã xây dựng Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, trong đó danh giá các kết quả đạt được và chưa đạt được: Tái cơ cấu các ngành kinh tế đã đạt được một số thay đổi về chuyển dịch tỷ trọng các ngành: tái cơ cấu nông nghiệp được tiến hành theo hướng tăng cường ứng dụng tiến
Trang 6bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức lại sản xuất và phát triển xúc tiến thương mại bước đầu đạt kết quả tích cực; tái cơ cấu công nghiệp đã tạo ra được sự thay đổi tích cực trong cơ cấu nội bộ ngành theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác và nâng cao năng lực cạnh tranh Bên cạnh đó, việc tái cơ cấu kinh tế chưa tác động đáng kể đến thay đổi mô hình tăng trưởng, tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, việc mở rộng quy mô, nhiệm
vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả chưa đạt mục tiêu đề ra Thực hiện tái cơ cấu các ngành kinh tế chưa tạo ra được sự thay đổi tích cực đủ lớn trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành, nội ngành: tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tiến triển chậm so với yêu cầu hội nhập và thích nghi với biến đổi khí hậu
Trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
5 năm giai đoạn 2016-2020 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021- 2025, việc thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn
2016-2020 được đánh giá như sau: Cơ cấu lại các lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế được thực hiện quyết liệt và đạt nhiều kết quả tích cực Cơ cấu lại ngành nghề và nội bộ từng ngành cũng đạt kết quả khả quan Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm xuống trong khi tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên Cụ thể, tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 18,9% năm 2010 xuống còn 13,1% năm 2020 Sự sụt giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP kéo theo sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp vẫn còn những yếu tố thiếu bền vững, tăng trưởng chưa vững chắc Đổi mới tổ chức sản xuất còn chậm; đa số doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt động hiệu quả chưa cao Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, tích tụ ruộng đất còn khó khăn, thị trường tiêu thụ nông sản thiếu ổn định
Tóm lại, sau hơn 30 năm đổi mới (1986-2020), việc cơ cấu lại ngành nghề và nội bộ ngành nông nghiệp cũng đạt kết quả khả quan Tái cơ cấu ngành nông nghiệp được tiến hành theo hướng tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức lại sản xuất và phát triển xúc tiến thương mại bước đầu đạt kết quả tích cực Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm xuống trong khi tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên Sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp vẫn còn những yếu tố thiếu bền vững, tăng trưởng chưa vững chắc Đổi mới tổ chức sản xuất còn chậm; đa số doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt động hiệu quả chưa cao Sản xuất nông
Trang 7nghiệp còn manh mún, tích tụ ruộng đất còn khó khăn, thị trường tiêu thụ nông sản thiếu ổn định
Theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Giồng Riềng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về phát triển nông nghiệp và nông thôn, huyện đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn Diện tích của huyện chủ yếu là đất nông nghiệp chiếm đến 91,5% diện tích đất
tự nhiên, trong những năm qua diện tích chuyên trồng lúa tăng 1.244 ha, trong khi
đó diện tích trồng cây lâu năm và đất rừng sản xuất (tràm) giảm mạnh, nguyên nhân
là do người dân chuyển những vườn cây tạp, kém hiệu quả chuyển sang trồng lúa, đặc biệt là đất nuôi trồng thủy sản mặc dù có đưa vào quy hoạch nhưng thực tế chỉ tiêu đất nuôi trồng thủy sản không thực hiện được
Trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyện là đã phá thế độc canh cây lúa nâng cao tỷ lệ sản xuất lúa chất lượng cao; phát triển nhiều mô hình sản xuất đa canh tổng hợp trên đất lúa nâng cao đáng kể hiệu quả sử dụng đất như:
mô hình 2 lúa + cá , 2 lúa + rau, 3 vụ lúa, chuyên canh rau màu… đạt lợi nhuận bình quân 55- 90 triệu đồng/ha/năm trở lên góp phần tăng thu nhập kinh tế hộ Tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững Bước đầu
đã hình thành được những vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm
Các tổ chức sản xuất được phát triển từ tổ hợp tác sản xuất nhỏ lẻ lên hợp tác
xã nông nghiệp, đến nay toàn huyện có 680 tổ hợp tác, 100 hợp tác xã nông nghiệp, diện tích trong bờ bao hợp tác bơm tát tập thể là 42.754 ha, chiếm 91,7% diện tích sản xuất lúa Một số đơn vị hợp tác sản xuất lúa theo tiêu chí cánh đồng lớn, tạo môi trường thuận lợi giửa người sản xuất và các doanh nghiệp liên kết tiêu thụ sản phẩm, tạo nên động lực cho người sản xuất, kinh doanh và mọi thành phần kinh tế hăng hái tham gia sản xuất, chủ động sáng tạo, chấp nhận cạnh tranh trên thị trường Đồng thời, việc ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học công nghệ mới đã góp phần đáng
kể nâng cao năng suất và chất lượng của nông nghiệp trong những năm qua
Nông nghiệp phát triển đa dạng và khá toàn diện, phát triển nhiều mô hình sản xuất tổng hợp trên đất vườn, đất ruộng, cải tạo vườn tạp và vườn cây không có hiệu quả kinh tế; bước đầu hình thành cơ cấu sản xuất hợp lý theo hướng bền vững,
Trang 8khai thác tốt tiềm năng đất đai, lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân Có nhiều mô hình sản xuất đa canh tổng hợp phát triển có hiệu quả, một số xã đã hình thành vùng chuyên canh sản xuất rau, màu ; tạo được vùng sản xuất hàng hóa có chất lượng tương đối tốt như: khoai lang, dưa hấu, dưa leo, khổ qua; các loại hình nuôi thuỷ sản phong phú hơn tăng thêm sản lượng; Diện tích vườn cây ăn trái chuyên canh và đa canh cũng không ngừng tăng
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được tăng cường Hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu cho 100% diện tích lúa 2-3 vụ; bờ bao hợp tác chủ động bơm tát được trên 91% diện tích sản xuất lúa; 100% diện tích bơm tát bằng động cơ, trong đó khoảng 23% diện tích bơm bằng điện; cơ giới hoá khâu làm đất 100%; gặt đập bằng máy được trên 90% diện tích; sấy lúa được 80% sản lượng lúa hè thu; diện tích sử dụng giống lúa cấp xác nhận trên 75% diện tích hàng vụ
Tuy nhiên, nông nghiệp tăng trưởng còn kém bền vững và tính cạnh tranh thấp, tình trạng "kéo giá" bất lợi cho sản xuất nông nghiệp diễn ra kéo dài trong nhiều năm qua sản xuất nông nghiệp phải đương đầu với hàng loạt rủi ro về dịch bệnh và thiên tai Cạnh tranh trên thị trường diễn ra quyết liệt và người nông dân luôn phải chịu vị thế bất lợi Vì vậy, tăng trưởng của GDP nông nghiệp thời gian qua có xu hướng giảm sút Cùng với các biến động bất lợi trong kinh tế vĩ mô quốc gia và tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế như tình trạng lạm phát, giá nông sản và tác động của các chính sách thắt chặt tiền tệ… đã gây nhiều thiệt hại cho việc làm và thu nhập của nông dân thời gian gần đây
Tập quán canh tác của nông dân còn mang nặng tính cá thể nên quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, nông dân chưa tích cực tổ chức nhiều khâu dịch vụ trong các hợp tác xã, kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến nông sản còn kém phát triển;
mô hình sản xuất cánh đồng lớn có hiệu quả kinh tế cao nhưng phát triển chậm, diện tích lúa tham gia cánh đồng lớn còn ít, tiêu thụ nông sản hàng hóa chưa ổn định; công nghiệp chế biến nông sản hạn chế nên chất lượng nhiều loại nông sản thấp, nhất là rau màu, sản phẩm chăn nuôi Phần lớn nông sản chưa có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp
Hệ thống thủy lợi đê bao hiện nay đã khép kín, chủ động tưới tiêu cho trên 91,7% diện tích đất lúa, nhưng một số nơi đã xuống cấp, hệ thống thủy lợi nội đồng chưa hoàn thiện và đồng bộ
Ảnh hưởng của phát triển mạnh về công nghiệp – dịch vụ ở các địa phương xung quanh kéo theo lực lượng lao động của huyện tập trung làm việc trong các khu
Trang 9– cụm công nghiệp, các ngành dịch vụ làm cho lao động nông nghiệp ngày càng giảm, lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng bị già hóa, khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật bị hạn chế; giá thuê nhân công luôn ở mức cao, đặc biệt khi vào mùa vụ thu hoạch
Mặc dù huyện nằm trong vùng có nhiều điều kiện để tăng trưởng về nông nghiệp, song huyện Giồng Riềng phải đối mặt với sức ép rất lớn về cạnh tranh quyết liệt giữa các sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra so với các huyện lân cận Để tồn tại
và phát triển bền vững đòi hỏi phải có biện pháp nâng cao chất lượng, mẫu mã nông sản hàng hóa
Các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội từ huyện đến xã mặc dù đã triển khai các trương trình, kế hoạch nhà nước để dân biết nhưng việc tuyên truyền chưa sâu rộng Mô hình sản xuất có hiệu quả chưa được quan tâm chỉ đạo đúng mức, còn lúng túng tìm kiếm thị trường tiêu thụ nên phát triển vẫn còn chậm
Sản xuất nông nghiệp chưa cân đối giữa trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, trong đó chăn nuôi có mặt sụt giảm do giá cả đầu ra và dịch bệnh đe doạ gây hại
Từ những thành tựu và hạn chế yếu kém được nhìn nhận, Bản thân xin đề xuất một số định hướng trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về sự cần thiết, tất yếu và tầm quan trọng của thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới đến các cấp, ngành, địa phương và người dân; cần có nhận thức đầu
đủ về sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, biến đổi khí hậu Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức của chủ thể - người dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh xã hội mới Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để cập nhật các thông tin về khoa học và công nghệ Hiệu quả của việc tham gia mô hình để giúp nông dân học tập và làm theo Nâng cao trách nhiệm và vai trò của các cấp lãnh đạo Đảng và Chính quyền trong việc hình thành và phát triển của mô hình
Thứ hai, tuyển dụng, đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao năng lực cán bộ kỹ thuật và hiệu quả quản lý nhà nước về nông nghiệp cho các cơ quan chuyên môn cấp huyện và cán bộ của các xã thị trấn; đồng thời tăng cường cán bộ kỹ thuật, nâng cao năng lực hoạt động cho hệ thống bảo vệ thực vật, khuyến nông, thú y từ huyện đến xã Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình dạy nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm nâng cao kiến thức kỹ thuật về nông
Trang 10lâm ngư nghiệp cho nông dân gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, nhất là các nghề thị trường lao động cần, ưu tiên vùng sâu, vùng xa
Thứ ba, thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp đảm bảo theo cơ chế thị trường, đồng thời phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về lợi ích cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận; chú trọng đáp ứng các yêu cầu về xã hội nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của các ngành hàng nông nghiệp nói riêng và toàn ngành nông nghiệp huyện Giồng Riềng nói chung Do đó, cần thực hiện đồng bộ các nội dung:
từ tái cơ cấu sử dụng các nguồn lực, tái cơ cấu công nghệ sản xuất, tái cơ cấu về hình thức tổ chức sản xuất và đặc biệt là tái cơ cấu về các chủ thể sản xuất kinh doanh nhằm gia tăng về hiệu quả và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng Với các nội dung này, cần có sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế,
xã hội vào quá trình tái cơ cấu ngành Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn
Thứ tư, củng cố phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị kinh tế tập thể Đẩy mạnh các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ trong và ngoài tỉnh; đẩy mạnh đổi mới và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới và chú trọng tổ chức sản xuất theo hướng nhóm hộ sản xuất nông sản theo hướng hàng hóa, chất lượng đảm bảo gắn với chế biến và tiêu thụ Ngoài ra, về mặt quản lý nhà nước cần thường xuyên điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo động lực mới cho phát triển
Thứ năm, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho nông dân như
kỹ thuật canh tác lúa, kỹ thuật sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP v.v…
để nông dân sản xuất giảm giá thành, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, từ
đó đem lại thu nhập cao cho người dân
Thúc đẩy cơ giới hóa trong việc sản xuất để góp phần làm giảm thất thoát trong khâu sản xuất tăng cao lợi nhuận cho người nông dân Tập trung ưu tiên sử dụng nguồn vốn ngân sách từ các dự án của tỉnh, huyện đầu tư để phát triển các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ, tìm chọn các loại giống cây có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu với sâu bệnh, biến đổi thời tiết, các dự án phòng ngừa, kiểm soát sâu bệnh, dịch bệnh; công nghệ, bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Thứ sáu, huy động vốn đầu tư trong nhân dân vào xây dựng hoàn chỉnh đồng ruộng, mua sắm máy móc phục vụ sản xuất, đầu tư cho thâm canh và chuyển đổi mô