1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 19541986

26 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đảng lãnh đạo hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ và khôi phục kinh tế 1954-1957 Trong những năm đầu sau ngày miền Bắc được giải phóng, Đảng tập trunglãnh đ

Trang 1

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1986 NHẬN THỨC VÀ TRÁCH

NHIỆM CỦA BẢN THÂN ĐỐI VỚI VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY.

BÀI LÀM

Ngay từ khi ra đời (2-1930), Đảng ta đã xác định rõ ràng và dứt khoát conđường phát triển của cách mạng Việt Nam, là con đường XHCN Lãnh tụ Hồ ChíMinh đã có những chỉ dẫn có ý nghĩa rất quan trọng, từ việc đưa ra quan niệm,phương châm, phương pháp, đến việc chuẩn bị những điều kiện để tiến lênCNXH Vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Người, qua hơn 30 năm đổi mới,nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ởViệt Nam ngày càng sáng tỏ hơn Hiện nay, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tếđang đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để hiện thực hóa conđường XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

Như chúng ta đã biết, từ năm 1954 đến 1975, miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từ một nền kinh tế kém phát triển

và chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh

- Đảng lãnh đạo hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ và khôi phục kinh tế (1954-1957)

Trong những năm đầu sau ngày miền Bắc được giải phóng, Đảng tập trunglãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ: Hoàn thành việc tiếp quản vùng địch tạm chiếmtrước đây và đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, thực hiện cải cách ruộng đất;đồng thời, tiến hành khôi phục nền kinh tế quốc dân, trên cơ sở đó phát triển sảnxuất, ổn định đời sống nhân dân

Hoàn thành tiếp quản vùng địch tạm chiếm

Ngay từ những ngày đầu khi miền Bắc được giải phóng, Đảng đã lãnh đạonhân dân tiến hành chống địch phá hoại các cơ sở kinh tế, văn hoá trong các thànhphố, thị xã trước khi địch phải rút quân Do đó, chính quyền cách mạng thực hiệnviệc tiếp quản vùng địch tạm chiếm nhanh gọn và đỡ tổn thất

Để thực hiện âm mưu làm rối loạn xã hội, rút đi một lực lượng lao động củamiền Bắc và tạo cho các lực lượng thân Pháp có thêm chỗ dựa về chính trị - xã hội,thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã sử dụng mọi thủ đoạn lừa phỉnh, dụ dỗ,

Trang 2

cưỡng ép những người đã tham gia vào chính quyền và quân đội thân Pháp, đồngbào theo đạo Thiên chúa, một số trí thức, tư sản, công nhân kỹ thuật di cư vào Nam.Chúng đã cung cấp tiền của, phương tiện cho bọn phản động gây rối trật tự trị an ởBùi Chu (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình), gây bạo loạn ở Ba Làng (ThanhHoá), Quỳnh Lưu (Nghệ An) Đây là cuộc đấu tranh chính trị sâu sắc nhưng nhiềucấp uỷ chưa thấy hết được tính chất phức tạp và cấp bách của nó, do đó không cónhững chủ trương biện pháp đối phó kịp thời, thậm chí có nơi đã không dám trấn ápbọn phản động cầm đầu, sợ vi phạm Hiệp định Giơnevơ Đảng đã phê phán nhữngsai lầm đó và thành lập các ban chỉ đạo chống cưỡng ép di cư, nhiều chính sách cụthể được ban hành kịp thời như: chính sách đối với tôn giáo, chính sách đối vớicông chức, trí thức, giáo viên trước đây làm việc cho Pháp; chính sách đối vớinhững công thương gia, chính sách đối với nguỵ quân; đồng thời, Đảng đã huy độnghàng vạn cán bộ, bộ đội giúp đỡ các địa phương vận động quần chúng đấu tranhchống địch cưỡng ép di cư, do đó đã thu được những kết quả tốt đẹp.

Tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong quá trình khángchiến chống thực dân Pháp, Đảng đã lãnh đạo thực hiện giảm tô, giảm tức, thực hiệncải cách ruộng đất ở vùng tự do Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,Đảng và Nhà nước tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất ở những nơi trước đây chưa

có điều kiện thực hiện do nằm trong vùng địch tạm chiếm

Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 9-1954 và Nghị quyết Hội nghị lần thứbảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa II (5-1955) chỉ rõ: “Để củng cố miềnBắc, trước hết cần hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc”, chia ruộng đất chonông dân, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ Để bảo đảm thựchiện thắng lợi cải cách ruộng đất, Trung ương Đảng chủ trương: “Dựa hẳn vào bần

cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, đánh đổ giai cấpđịa chủ, tiêu diệt chế độ phong kiến từng bước và có phân biệt” Bên cạnh đó, “cầnchú trọng phân biệt đối xử với các hạng địa chủ, triệt để phân hóa giai cấp địa chủ

và chiếu cố địa chủ kháng chiến một cách đúng mức làm sao cho càng ít kẻ địchcàng tốt”

Thực hiện chủ trương của Đảng, cải cách ruộng đất được tiến hành khẩntrương Đến tháng 7-1956, cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành ở đồng bằng,trung du và một số xã miền núi Cuộc vận động cải cách ruộng đất đạt được một sốkết quả như: thực hiện 8 đợt giảm tô, 5 đợt cải cách ruộng đất, chia 334.000 héctaruộng đất cho 2 triệu hộ nông dân Giai cấp địa chủ và tàn dư của xã hội phong kiến

đã bị xóa bỏ Năng lực sản xuất trong nông nghiệp được giải phóng thông qua việcxác lập kinh tế hộ nông dân, đưa người nông dân trở thành chủ thể trong quá trình sảnxuất, góp phần quan trọng vào việc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh

Trang 3

Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành cải cách ruộng đất, Đảng đã phạm phảimột số sai lầm nghiêm trọng phổ biến và kéo dài trong chỉ đạo thực hiện Do chủquan giáo điều, không xuất phát đầy đủ từ thực tiễn, Đảng đã không thấy rõ đượcnhững thay đổi quan trọng về quan hệ giai cấp, xã hội ở nông thôn Việt Nam sauCách mạng tháng Tám, nhất là những thay đổi trong kháng chiến Do đó, trong chỉđạo thực hiện cải cách ruộng đất, đã cường điệu hoá đấu tranh giai cấp ở nông thôn,dẫn đến mở rộng quá mức đối tượng đấu tranh Sử dụng hình thức, phương phápđấu tranh không phù hợp với đối tượng là địa chủ ở nông thôn Việt Nam.

Trong chỉnh đốn tổ chức, đã nhận định sai về tình hình tổ chức cơ sở Đảng ởnông thôn, cho rằng về cơ bản đã bị địch lũng đoạn, từ đó dẫn đến xử lý oan nhữngcán bộ, đảng viên tốt, sai lầm này gây ra một số tổn thất đối với Đảng và quan hệgiữa Đảng và các tầng lớp nhân dân

Tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương, khoá II (9-1956), Đảng

đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, công khai tự phê bình trước nhân dân vàtiến hành sửa sai một cách kiên quyết, khẩn trương, thận trọng và có kế hoạch lãnhđạo chặt chẽ, vì vậy đã từng bước khắc phục được những sai lầm trong cải cáchruộng đất Thái độ chân thành tự phê bình của Đảng đã được nhân dân đồng tìnhủng hộ, uy tín của Đảng dần được khôi phục Do đó, Đảng đã nhanh chóng ổn địnhtình hình chính trị – xã hội, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân và khôi phục,củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong cán bộ, đảng viên

Tiến hành khôi phục kinh tế

Ngay sau ngày hòa bình được lập lại, Bộ Chính trị nhận định: "Chúng ta sẽđứng trước một nhiệm vụ to lớn trong công tác kinh tế là hàn gắn vết thương củachiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, giảm bớt những khó khăn về đời sống củanhân dân, phát triển kinh tế một cách có kế hoạch và làm từng bước, mở rộng việcgiao lưu kinh tế giữa thành thị và thôn quê"

Trong khôi phục kinh tế, Đảng đặt trọng tâm là sản xuất nông nghiệp Trongkhôi phục sản xuất nông nghiệp thì lĩnh vực trồng trọt được chú trọng trước hết Do

đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để khuyến khích phát triển sản xuấtnông nghiệp, bảo đảm cho nông dân có ruộng đất để canh tác, những diện tích khaihoang, phục hóa, tăng vụ được giảm và miễn thuế, được tự do thuê mướn nhâncông, trâu bò; khuyến khích phát triển ngành, nghề phụ

Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp được kết hợp với cải cách ruộng đất, vậnđộng tổ đổi công, giúp nhau sản xuất Đảng và Nhà nước hết sức chăm lo xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nông nghiệp Trong ba năm (1954-1957), sáu hệ thốngthủy nông lớn được sửa chữa, hàng chục công trình thủy lợi hạng vừa được xâydựng, số cán bộ kỹ thuật nông nghiệp được đào tạo ở bậc đại học và trung họcchuyên nghiệp được tăng cường Do đó, tình hình nông thôn có chuyển biến lớn

Trang 4

Năm 1957, các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp đều vượt mức năm 1939 (năm có sảnlượng cao nhất dưới thời Pháp thuộc) Sản xuất nông nghiệp được khôi phục và pháttriển, nạn đói bị đẩy lùi Kết quả này góp phần ổn định chính trị, trật tự và an toàn

xã hội

Việc khôi phục công nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đẩymạnh Chính sách khôi phục công nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp củaĐảng và Nhà nước là: Nhà nước bảo hộ cho các xí nghiệp công thương và tư thươngđược sản xuất kinh doanh phục vụ dân sinh, bảo hộ sự giao lưu hàng hóa giữa thànhthị và nông thôn, làm sống động thị trường, đồng thời thúc đẩy phát triển ngànhthương nghiệp toàn quốc Đối với công nghiệp và thương nghiệp tư nhân, nếu có lợicho quốc kế dân sinh thì khuyến khích phục hồi và phát triển, nếu không có lợi thìhạn chế một cách thích đáng bằng các sắc lệnh chứ không thủ tiêu một cách vộivàng Chính phủ còn khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp để sản xuất ranhiều hàng hoá tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của các tầng lớp nhândân Đối với công nghiệp quốc doanh, tập trung sản xuất hàng tiêu dùng với quy mônhỏ và vừa nhằm phục vụ dân sinh, khôi phục giao thông vận tải và bưu điện phục

vụ cho giao lưu kinh tế

Nhờ chủ trương chỉ đạo đúng đắn của Đảng, thủ công nghiệp của miền Bắcnhanh chóng được khôi phục và phát triển Đến cuối năm 1957, có 150.000 cơ sởsản xuất với 430.000 lao động, nhiều ngành nghề mới được phát triển; thủ côngnghiệp chiếm khoảng 63,7% tổng giá trị sản lượng công nghiệp Tỷ trọng hàng tiêudùng, sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp tăng từ 8,4% năm 1955 lên 48,5%năm 1956 và đạt 68,6% năm 1957

Bên cạnh đó, Đảng coi trọng thành phần kinh tế quốc doanh, tạo điều kiệncho thành phần này từng bước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Năm

1955, miền Bắc mới chỉ có 19 xí nghiệp với 17.290 công nhân, nhưng chỉ sau hơn

ba năm khôi phục và xây dựng đã có 78 xí nghiệp với 46.430 công nhân; giá trị tổngsản lượng công nghiệp chiếm 10% tổng giá trị sản lượng công, nông nghiệp và bằngmức năm 1939

Về giao thông vận tải, chỉ sau một thời gian ngắn, bốn tuyến đường sắt nốiliền thủ đô Hà Nội với các tỉnh đã nhanh chóng được khôi phục Ngày 28-2-1955,tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng (Lạng Sơn) được khánhthành Ngày 1-1-1956, đường sắt từ Hà Nội đến Lào Cai thông tuyến Các tuyếnđường bộ, đường thủy, đường không chủ yếu của miền Bắc đều được khôi phục

- Đảng lãnh đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1958-1960)

Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp

Trang 5

Tháng 11-1958, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng,khóa II đề ra kế hoạch 3 năm (1958-1960) với nội dung cơ bản: “Đẩy mạnh pháttriển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm trọngtâm, nhằm giải quyết vấn đề lương thực, giải quyết phần lớn hàng tiêu dùng vàhết sức chú trọng tăng thêm các tư liệu sản xuất Ra sức cải tạo nông nghiệp, thủcông nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, chủyếu nhất là đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển vàcủng cố thành phần kinh tế quốc doanh Trên cơ sở sản xuất phát triển, nâng caomột bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, nhất là nhân dân lao động

và tăng cường củng cố quốc phòng”

Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa II 1959) thông qua hai nghị quyết: Nghị quyết về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp vàNghị quyết về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội

(4-Về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp:

Chủ trương của Đảng là đưa nông dân từ làm ăn cá thể đi dần từ tổ đổicông lên hợp tác xã bậc thấp, rồi hợp tác xã bậc cao Hợp tác hóa đi đôi với thủylợi hóa và tổ chức phân công lại lao động xã hội để phát huy tính ưu việt và sứcmạnh của tập thể Nguyên tắc tiến hành là: tự nguyện, quản lý dân chủ (có sựgiúp đỡ của Nhà nước) và cùng có lợi

Hội nghị xác định hình thức và bước đi của hợp tác hóa là: hợp tác hóa đitrước cơ giới hóa, do vậy, hợp tác hóa phải đi đôi với thủy lợi hóa và tổ chức phâncông lại lao động xã hội để phát huy tính ưu việt và sức mạnh của tập thể Tin tưởngvào sự lãnh đạo của Đảng, đông đảo nông dân hưởng ứng đi vào làm ăn tập thể Đếncuối năm 1958, miền Bắc xây dựng được 4.723 hợp tác xã Chỉ trong 2 năm (1959-1960), về hình thức, công cuộc hợp tác hóa đã hoàn thành về cơ bản Năm 1960, đãthành lập 41.400 hợp tác xã, thu hút 85,83% tổng số hộ nông dân với 80% diện tích(trong đó, 14,5% số hộ nông dân gia nhập hợp tác xã bậc cao)

Về tiến hành cải tạo công nghiệp, thương nghiệp tư bản tư doanh:

Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa II chủ trương

“cải tạo hòa bình” đối với giai cấp tư sản “Về kinh tế, tiếp tục dùng chính sách

sử dụng, hạn chế và cải tạo, chủ yếu là cải tạo: đưa công, thương nghiệp tư bản tưdoanh đã được cải tạo bước đầu bằng hình thức vừa và thấp của chủ nghĩa tư bảnnhà nước lên hình thức cao của tư bản nhà nước và vào con đường hợp tác hóa,nhằm biến đổi về căn bản công thương nghiệp tư bản tư doanh Thực hiện việcchuộc lại trả dần tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản dân tộc, biến chế độ sở hữu

tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thành chế độ sở hữu vừa tư bản chủ nghĩa,vừa xã hội chủ nghĩa, tiến lên hoàn toàn xã hội chủ nghĩa Về chính trị, đối vớigiai cấp tư sản dân tộc, tiếp tục dùng chính sách vừa đoàn kết vừa đấu tranh, đấu

Trang 6

tranh để đi đến đoàn kết hơn nữa trên cơ sở mới Đi đôi với cải tạo xí nghiệp tưbản, cần giáo dục, cải tạo con người tư sản và sắp xếp công việc cho họ, làm cho

họ có cơ hội lao động để cải tạo và phục vụ nhân dân”

Sau quá trình tiến hành cải tạo, đến năm 1960, 100% hộ tư sản công nghiệp,97,2% hộ tư sản thương nghiệp đã được cải tạo

Đối với thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ, chủ trương của Đảng làđưa thợ thủ công vào hợp tác xã thủ công nghiệp; đưa những người buôn bán nhỏvào hợp tác xã mua bán và chuyển dần sang sản xuất Kết quả là, đến cuối năm

1960, có 87,9% thợ thủ công (260.000 người) vào hợp tác xã thủ công nghiệp; 45%

hộ buôn bán nhỏ (100.000 người) vào các hợp tác xã mua bán và 50.000 ngườichuyển sang sản xuất nông nghiệp

Cùng với kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế quốc doanhcũng ngày càng phát triển và đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Sản xuất nông nghiệp trong 3 năm (1958-1960) vẫn tăng trung bình mỗi năm5,6% (mặc dù năm 1960 thiên tai gây ra những hậu quả lớn) Thu nhập quốc dântính theo đầu người từ năm 1955 đến năm 1960 tăng gấp đôi, sức mua của xã hộităng 70%

Về văn hóa, giáo dục và y tế:

Trong 3 năm (1958-1960) văn hoá, giáo dục miền Bắc đạt được những kếtquả tích cực: năm học 1960-1961, có 1.900.000 học sinh phổ thông, 13.000 sinhviên đại học, 30.700 học sinh trung học chuyên nghiệp Năm 1960, cứ 100 ngườidân có 18 người đi học (năm 1939, tỷ lệ này là 3/100 người) Toàn miền Bắc, có2.965 nhà văn hóa, 211 trạm truyền thanh, xuất bản 27,5 triệu cuốn sách và pháthành 61 triệu tờ báo và tạp chí Về y tế, đã có 203 bệnh viện và bệnh xá, số giườngbệnh tăng lên theo từng năm

Sau 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), nền kinh tế bị chiến tranhtàn phá đã được khôi phục, những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủnhân dân đã hoàn thành Thành quả đó đã tạo ra sự chuyển biến sâu sắc về kinh tế,chính trị - xã hội của miền Bắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cảithiện một bước Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý, điều hành của Nhà nước dânchủ nhân dân ngày càng được củng cố và tăng cường

Bình quân hàng năm, nông nghiệp tăng 11,2%, công nghiệp tăng gấp 2 lần sovới năm 1957 (từ năm 1958 đến năm 1960, giá trị sản lượng công nghiệp tăng bìnhquân 22,6%/năm) Năm 1960, miền Bắc có 172 xí nghiệp công nghiệp do Trungương quản lý Kinh tế, văn hoá tiếp tục tăng trưởng trên cơ sở quan hệ sản xuất xãhội chủ nghĩa dưới hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tậpthể Kinh tế quốc doanh có bước phát triển đáng kể và bước đầu phát huy vai trò chủđạo trong nền kinh tế quốc dân Kinh tế hợp tác xã trở thành phổ biến, cùng với kinh

Trang 7

tế quốc doanh hợp thành nền tảng của nền kinh tế miền Bắc Biên chế nhà nước năm

1960 tăng 2 lần so với năm 1955 Quy mô xây dựng cơ bản được mở rộng Thànhtựu lớn nhất của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa là đã xoá bỏ chế độ áp bức bóclột, các giai cấp bóc lột đã bị xoá bỏ

Tuy nhiên, trong quá trình cải tạo, Đảng đã phạm phải sai lầm chủ quan, duy

ý chí, nóng vội, muốn nhanh chóng xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủnghĩa mà không tôn trọng quy luật khách quan, chưa tính đến đầy đủ, chính xác tìnhhình, hoàn cảnh cụ thể của đất nước và của miền Bắc Trong cải tạo các thành phầnkinh tế, đã đồng nhất tập thể hóa với hợp tác hóa, quá sớm để hoàn thành việc xáclập sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, coi đó là hai hình thức sở hữu của chế độ xãhội chủ nghĩa trong khi miền Bắc mới bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Do đó, trong tiến hành cải tạo nông nghiệp, đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, chưatính đến tính tất yếu và yêu cầu thực sự của quá trình phát triển nông nghiệp; trongcải tạo công thương nghiệp, chưa quan tâm đúng mức đến nguyên tắc cùng có lợi,chưa tìm ra cơ chế và giải pháp quản lý phù hợp, do vậy hiệu quả kinh tế thấp

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp từ ngày 5 đến ngày

10-9-1960 tại Thủ đô Hà Nội Dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dựkhuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước

Sau khi phân tích tình hình đất nước từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp, Đại hội nêu lên ba đặc điểm của miền Bắc khi bước vào thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra chiến lược của cáchmạng Việt Nam trong giai đoạn mới là tiến hành đồng thời hai chiến lược cáchmạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam khỏi áchthống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở

miền Nam Hai chiến lược cách mạng này có quan hệ mật thiết, tác động, thúc đẩy,

hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển để thực hiện mục tiêu chung của cách mạng ViệtNam là độc lập, hòa bình, thống nhất Tổ quốc

Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc là: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thốngphấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kếtvới các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu để đưa miền Bắc tiếnnhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm nohạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấutranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủnghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông nam Á và thế giới”

Trang 8

Cùng với xác định đường lối chung, Đại hội còn đề ra đường lối xây dựngkinh tế của miền Bắc, trong đó chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mộtcách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.

Đại hội III của Đảng đã thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965),với nhiệm vụ: “… thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựngbước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cảitạo xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế miền Bắc nước ta trở thành nền kinh tế xãhội chủ nghĩa”

Sau Đại hội III của Đảng, miền Bắc bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ lấy xâydựng chủ nghĩa xã hội làm nhiệm vụ trọng tâm Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổchức các hội nghị chuyên đề cụ thể hóa đường lối phát triển kinh tế trong kế hoạch 5năm lần thứ nhất

Đầu tháng 1-1961, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đãquyết định những nhiệm vụ của Kế hoạch Nhà nước năm 1961, trong đó nhấn mạnhnhiệm vụ quan trọng nhất là củng cố và phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp,phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Hội nghị lần thứ

5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá III (7-1961) đánh giá những tiến bộ trongnông nghiệp, từ đó xác định nhiệm vụ và phương hướng chung phát triển nôngnghiệp trong Kế hoạch 5 năm là phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân

Đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa do Đại hội III của Đảng đề ra đãđược cụ thể hóa trong Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6-1962) Hội nghị bàn về nhiệm vụ, phương hướng xây dựng và phát triển côngnghiệp trong quá trình thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất…

Để khắc phục những yếu kém, tiêu cực mới nảy sinh trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội và để đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trongnăm 1963, Bộ Chính trị đề ra 3 cuộc vận động lớn: Cuộc vận động cải tiến quản lýhợp tác xã, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp; cuộc vận động nâng cao tinh thầntrách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế-tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô,lãng phí, quan liêu (gọi tắt là cuộc vận động ba xây, ba chống); và cuộc vận độngxây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa miền núi

Trong quá trình thực hiện cuộc vận động, các hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp đã được củng cố thêm một bước, quy mô của nhiều hợp tác xã được mở rộng

và chuyển lên bậc cao, công tác quản lý hợp tác xã về các mặt sản xuất, lao động vàtài chính được cải tiến, việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các hợp tác xãsản xuất nông nghiệp được mở rộng, công tác lãnh đạo và chỉ đạo nông nghiệp củacác cấp ủy đảng có nhiều tiến bộ

Trang 9

Tháng 12-1964, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiến hành Hội nghị lần thứmười để bàn về vấn đề thương nghiệp và giá cả.

Cùng với những chủ trương về phát triển kinh tế, công tác xây dựng Đảngcũng được Đảng quan tâm Ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Về cuộcvận động chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961 Đây là cuộc chỉnh huấn trong Đảng đểnhận thức thống nhất đường lối và những quan điểm của Đảng, chống những biểuhiện của "chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí, tác phong quan liêu mệnh lệnh, thái

độ bảo thủ rụt rè"

Thực hiện những chủ trương của Trung ương Đảng, Nhà nước đã tổ chứcnhiều phong trào thi đua sôi nổi trong các ngành, các địa phương, đơn vị và trongcác tầng lớp nhân dân Trong nông nghiệp, có phong trào thi đua theo gương củaHợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình); trong công nghiệp, có phong trào thi đua vớiNhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng); trong tiểu thủ công nghiệp, có phong tràothi đua với Hợp tác xã thủ công nghiệp Thành Công (Thanh Hóa); trong ngành giáodục, có phong trào thi đua hai tốt (dạy tốt, học tốt) học tập Trường cấp II Bắc Lý(Hà Nam); trong quân đội, có phong trào thi đua "Ba nhất" Đặc biệt, phong trào

"Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt" theoLời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị đặc biệt tháng 3-1964khi đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ở miền Nam đã làm tăng thêm khôngkhí phấn khởi, hăng hái vươn lên hoàn thành Kế hoạch năm năm lần thứ nhất

Từ sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ chính thức tiến hànhchiến tranh phá hoại miền Bắc, do đó kế hoạch 5 năm mới thực hiện được 4 năm đãphải chuyển hướng, nhưng những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch đã căn bản hoànthành Nhân dân miền Bắc đã thực hiện được một bước đáng kể kế hoạch xây dựng

cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội:

Tốc độ phát triển công nghiệp bình quân giai đoạn 1961-1965 đạt13,6%/năm Đến năm 1965, miền Bắc đã xây dựng được 1.132 xí nghiệp côngnghiệp quốc doanh và hàng chục nghìn cơ sở thủ công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, bảo đảm cung ứng 90% số lượng hàng tiêu dùng thông thường cho nhândân Đến năm 1965, miền Bắc có 650.000 lao động công nghiệp và thủ côngnghiệp, trong đó có 2.615 người có trình độ đại học và trên đại học, 11.600 cán bộ

có trình độ trung cấp

Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 4,1%, cơ sởvật chất kỹ thuật trong nông nghiệp ngày càng được tăng cường

Đồng thời, miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển văn hoá,

xã hội và giáo dục Hầu hết các xã vùng đồng bằng, trung du và nhiều xã ở miềnnúi có trường cấp I, cấp II, các huyện có trường phổ thông cấp III Năm 1965 sovới năm 1960 số trường học phổ thông các cấp tăng từ 7.066 lên 10.294, số học

Trang 10

sinh phổ thông tăng từ 1.899.600 lên 2.934.900 Trong đó, số học sinh cấp III tăngnhanh nhất, từ 26.000 lên 78.600 học sinh Ngành đại học và trung học chuyênnghiệp cũng phát triển mạnh Năm 1960, có 9 trường đại học với 8.100 sinh viên,đến năm 1965, đã có 18 trường đại học và cao đẳng với 34.000 sinh viên Hệ thốngcác trường trung cấp chuyên nghiệp cũng phát triển mạnh với hơn 60.000 học sinh.Toàn miền Bắc có hơn 4,5 triệu người đi học trên tổng số 16 triệu dân

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân từng bước được chú trọng, mạng lưới

y tế được xây dựng rộng rãi từ thành thị đến nông thôn

Đánh giá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong 10 năm ở miền Bắc(1954-1964), tại Hội nghị chính trị đặc biệt (3-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkhẳng định: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưatừng thấy trong lịch sử dân tộc, đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”.Tháng 12-1965, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định:

“Trải qua hơn 10 năm thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủnghĩa xã hội, miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng ViệtNam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốcphòng lớn mạnh”

- Miền Bắc chuyển hướng phát triển kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa

xã hội trong điều kiện có chiến tranh (1965-1975)

Trước sự thất bại của đế quốc Mỹ trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ởmiền Nam Việt Nam, ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”,

mở đường cho quá trình tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩabằng không quân và hải quân Cuộc chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra đốivới miền Bắc diễn ra rất ác liệt từ ngày 7-2-1965, nhằm phá hoại thành quả xâydựng chủ nghĩa xã hội, đánh phá hậu phương miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện củamiền Bắc đối với miền Nam

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng,khóa III (3-1965) ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt, xácđịnh: miền Bắc phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xâydựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp với tình hình mới.Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa III (12-1965)xác định vai trò, vị trí của cách mạng mỗi miền Miền Bắc đóng vai trò hậu phươnglớn, giữ vị trí quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng cả nước Cách mạngmiền Nam đóng vai trò tiền tuyến lớn, giữ vị trí trực tiếp quyết định đối với sựnghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Thực hiện chủ trương mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tổ chứcnhiều phong trào thi đua sôi nổi Toàn miền Bắc dấy lên cao trào chống Mỹ, cứunước, vừa sản xuất, vừa chiến đấu Mọi hoạt động ở miền Bắc nhanh chóng chuyển

Trang 11

hướng Các cơ quan, nhà máy, trường học và một bộ phận dân cư khẩn trương phântán, sơ tán khỏi những vùng trọng điểm đánh phá của địch Các phong trào thi đuadấy lên mạnh mẽ như: phong trào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của cáclực lượng vũ trang với khẩu hiệu “nhằm thẳng quân thù mà bắn” của liệt sĩ NguyễnViết Xuân, phong trào “ba sẵn sàng” của thanh niên, phong trào “ba đảm đang” củaphụ nữ, phong trào thi đua của công nhân, nông dân và trí thức…

Đồng thời với quá trình chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, ngay từđầu và trong suốt quá trình chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, quân và dânmiền Bắc đã đánh trả quyết liệt lực lượng không quân và hải quân Mỹ Từ ngày 7-2-

1965 đến ngày 31-10-1968, miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay, bắn chìm và cháy

143 chiếc tàu chiến, tàu biệt kích của đế quốc Mỹ, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặclái Bảo đảm giao thông, vận tải thông suốt liên tục trở thành một công tác trọng tâmcủa cuộc kháng chiến

Dưới bom đạn ác liệt, chủ trương chuyển hướng xây dựng kinh tế đã đượcthực hiện khẩn trương và có hiệu quả Mặc dù đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miềnBắc tới nấc thang cao nhất, nhưng miền Bắc vẫn vững mạnh Sản xuất nông nghiệp

có bước phát triển về thâm canh, tăng năng suất cây trồng, cũng như về xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật của các hợp tác xã nông nghiệp

Bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam, Bắc, tháng 3-1968, đế quốc Mỹ tuyên

bố hạn chế ném bom miền Bắc Tháng 5-1968, Mỹ phải chấp nhận đàm phán vớiChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc Giải phóng miền NamViệt Nam ở Pari Từ ngày 1-11-1968, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt ném bom,chấm dứt bắn phá bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc

Giữa lúc nhân dân hai miền Nam-Bắc đang giành được những thắng lợi to lớntrong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngày 2-9-1969,Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra lời kêu gọiđồng bào và chiến sỹ cả nước “biến đau thương thành hành động cách mạng”, thựchiện Di chúc thiêng liêng của Người

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, nhân dân miền Bắc đã sôi nổi tham gia vàocác hoạt động nhằm khôi phục và phát triển kinh tế Nền kinh tế miền Bắc đã dầnchuyển từ trạng thái thời chiến sang hoạt động bình thường nhằm giải quyết hàngloạt các vấn đề bức xúc: vấn đề quản lý kinh tế, vấn đề tăng cường tiềm lực kinh tế

và quốc phòng chi viện cho cách mạng miền Nam Việc bồi dưỡng và nêu gương

“người tốt, việc tốt” theo Chỉ thị số 168 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (ngày 1-1969) được coi là một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng Đảng và các lựclượng nòng cốt của cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới

13-Chính trong bối cảnh miền Bắc đang dần thoát ra khỏi không khí chiến tranh

để bước vào một giai đoạn mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dịp

Trang 12

kỷ niệm 40 năm thành lập Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã viết tác phẩm “Dưới lá cờ vẻvang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợimới” Tác phẩm đã tổng kết 40 năm lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dâncủa Đảng và tổng kết bước đầu về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, để giải quyết những nhiệm vụ kinh tế cơ bản,Đảng xác định miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng đang thực hiện bước điban đầu của thời kỳ quá độ với nhiệm vụ cơ bản là tích lũy vốn cho công nghiệp hóa

xã hội chủ nghĩa và cải thiện đời sống nhân dân Đây là sự ghi nhận về những tìmtòi trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng

Cũng trong năm 1970, Trung ương Đảng phát động ba cuộc vận động lớn, đólà: cuộc vận động lao động sản xuất, vận động phát huy dân chủ và vận động nângcao chất lượng đảng viên

Tháng 1-1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiến hành Hội nghị lần thứ

19, khoá III Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh việc đưa sản xuất nông nghiệp từ sản xuấtnhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Từ đó, Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụkinh tế cụ thể trong 3 năm (1971-1973)

Để cứu vãn nguy cơ phá sản hoàn toàn của chiến lược “Việt Nam hóa chiếntranh” ở miền Nam Việt Nam, từ ngày 6-4-1972, đế quốc Mỹ huy động một lựclượng lớn không quân và hải quân tiến hành chiến tranh phá hoại trở lại miền Bắc,hòng làm giảm ý chí và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dânViệt Nam

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng, quân và dân miền Bắc đã kiêncường chiến đấu, đánh bại mọi hành động chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo

vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, trong cuộc chiến đấu chống lạicuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ (từ ngày 18-12 đếnngày 29-12-1972), quân và dân miền Bắc đã chiến đấu kiên cường, lập nên chiếncông vang dội, giáng cho không quân chiến lược Mỹ đòn thất bại nặng nề Ngày 15-1-1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động ném bom bắn phá và thảmìn phong tỏa miền Bắc Việt Nam

Ngày 27-1-1973, đại diện Chính phủ Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải cùngđại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thờicộng hòa miền Nam Việt Nam ký chính thức bản Hiệp định Pari về chấm dứt chiếntranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

Sau Hiệp định Pari, hòa bình được lập lại, nhân dân miền Bắc nhanh chóngbắt tay vào khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội và dồn sức chi viện cho cách mạng miền Nam tiến tới giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước

Trang 13

Từ ngày 19-6 đến ngày 6-7-1973 và từ ngày 1-10 đến ngày 4-10-1973, BanChấp hành Trung ương Đảng, khoá III tiến hành họp Hội nghị lần thứ 21 Về cáchmạng ở miền Bắc, Hội nghị chỉ rõ: miền Bắc một mặt phải tranh thủ những điềukiện thuận lợi hiện có, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân, đồng thờiphải tiếp tục làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam vàtích cực đấu tranh để Hiệp định Pari về Việt Nam được thi hành nghiêm chỉnh.

Hội nghị lần thứ 22 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá III được tiếnhành từ ngày 20-12-1973 đến ngày 7-1-1974 Hội nghị đã thảo luận và quyết địnhnhững vấn đề về nhiệm vụ, phương hướng khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắctrong hai năm 1974-1975

Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đòi hỏi phải tăng cường sự lãnhđạo của Đảng, vì vậy, tháng 12-1974, Hội nghị lần thứ 23 Ban Chấp hành Trungương Đảng, khóa III họp và ra Nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo và nâng caosức chiến đấu của Đảng để hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc

Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, trong hơn hai năm (từ đầu năm 1973đến đầu năm 1975), miền Bắc đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộckhôi phục nền kinh tế bị tàn phá do chiến tranh, làm tròn nghĩa vụ cao cả của hậuphương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam

Về cơ bản, trong 10 năm (1965-1975), kinh tế và xã hội miền Bắc vẫn pháttriển theo đường lối chung đã được xác định trong quá trình thực hiện kế hoạch 5năm lần thứ nhất (1961-1965) Dưới sự lãnh đạo của Đảng và tinh thần vượt khócủa nhân dân miền Bắc, nền kinh tế miền Bắc đã đáp ứng được những nhu cầu cấpthiết của nhân dân, đảm bảo thực hiện đúng vai trò của hậu phương đối với tiềntuyến miền Nam Cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp được tăng cường.Trong điều kiện chiến tranh, công cuộc tập thể hoá vẫn được duy trì, quy mô hợptác xã cũng được mở rộng Nhiều khu công nghiệp lớn đã hình thành, có nhiều cơ

sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng như than, điện, cơ khí,luyện kim, hóa chất được xây dựng… Tuy vậy, những nhược điểm của hợp tác xãngày càng tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nông nghiệp ngày càngnhiều Bên cạnh đó, do chiến tranh phá hoại của địch, nên sản xuất công nghiệpgặp nhiều khó khăn

- Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội từ tháng 5 - 1975 đến tháng 3

- 1982

Từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV củaĐảng chính thức diễn ra tại Thủ đô Hà Nội Trên cơ sở phân tích hoàn cảnh lịch sửđất nước, Báo cáo nêu lên ba đặc điểm của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới:

Một là, Việt Nam đang trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ

Ngày đăng: 28/01/2022, 08:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w