Những phong tục truyền thống, lễ hội phong phú, đa dạng không chỉ là biểu hiện sinh động về đặc điểm của các loại hình tín ngưỡng dân gian và tôn giáo ở Việt Nam, mà còn góp phần gìn giữ
Trang 3TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Trang 4TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Trang 5PHẠM MINH THẢO PHẠM LAN OANH
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
Hà Nội - 2015
Trang 6PHẠM MINH THẢO PHẠM LAN OANH
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
Hà Nội - 2015
Trang 7Lêi Nhμ xuÊt b¶n
Mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống
văn hóa của mình Ngoài tín ngưỡng dân gian, hiện
nay, ở Việt Nam có nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công
giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Những
phong tục truyền thống, lễ hội phong phú, đa dạng
không chỉ là biểu hiện sinh động về đặc điểm của các
loại hình tín ngưỡng dân gian và tôn giáo ở Việt Nam,
mà còn góp phần gìn giữ và phát huy nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta
Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động văn hóa
lành mạnh, trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại không ít
hiện tượng mê tín dị đoan, khiến nhiều người trở nên
mù quáng, mất tỉnh táo, nảy sinh quan điểm lệ thuộc
và phó mặc số phận cho các “thế lực thần thánh”, làm
suy giảm sự trong sáng, tính nhân văn của thuần
phong, mỹ tục, thậm chí còn dẫn đến những hành động
tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, cần thiết
phải lên án và loại bỏ
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và quan
tâm đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, luôn tôn trọng và
tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện
quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bìnhđẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Các cấp chính quyền đã tích cực tuyên truyền, vận động, giáo dục để người dân hiểu và phân biệt với những biểu hiện, hành vi mê tín dị đoan, từ đó nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân
Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về khái niệm và đặc điểm, thực trạng về tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan, nắm vững chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách Tín ngưỡng,
tôn giáo và mê tín dị đoan của hai tác giả là Phạm
Minh Thảo, nguyên Trưởng Ban sách Văn hóa, Nhàxuất bản Văn hóa - Thông tin và PGS TS Phạm Lan Oanh, Trưởng Khoa Sau đại học, Viện Văn hóa Nghệthuật quốc gia Việt Nam Trên cơ sở trình bày những khái niệm liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín
dị đoan, cuốn sách đi sâu giới thiệu, phân tích những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể đang có ở nước
ta, đề xuất một số biện pháp để thực hiện tốt các chủ trương, chính sách liên quan của Đảng và Nhà nước, cũng như các biện pháp bài trừ mê tín dị đoan
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Th¸ng 9 n¨m 2015
Nhμ xuÊt b¶n chÝnh trÞ quèc gia - sù thËt
Trang 8Lêi Nhμ xuÊt b¶n
Mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống
văn hóa của mình Ngoài tín ngưỡng dân gian, hiện
nay, ở Việt Nam có nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công
giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Những
phong tục truyền thống, lễ hội phong phú, đa dạng
không chỉ là biểu hiện sinh động về đặc điểm của các
loại hình tín ngưỡng dân gian và tôn giáo ở Việt Nam,
mà còn góp phần gìn giữ và phát huy nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta
Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động văn hóa
lành mạnh, trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại không ít
hiện tượng mê tín dị đoan, khiến nhiều người trở nên
mù quáng, mất tỉnh táo, nảy sinh quan điểm lệ thuộc
và phó mặc số phận cho các “thế lực thần thánh”, làm
suy giảm sự trong sáng, tính nhân văn của thuần
phong, mỹ tục, thậm chí còn dẫn đến những hành động
tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, cần thiết
phải lên án và loại bỏ
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và quan
tâm đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, luôn tôn trọng và
tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện
quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bìnhđẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Các cấp chính quyền đã tích cực tuyên truyền, vận động, giáo dục để người dân hiểu và phân biệt với những biểu hiện, hành vi mê tín dị đoan, từ đó nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân
Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về khái niệm và đặc điểm, thực trạng về tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan, nắm vững chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách Tín ngưỡng,
tôn giáo và mê tín dị đoan của hai tác giả là Phạm
Minh Thảo, nguyên Trưởng Ban sách Văn hóa, Nhàxuất bản Văn hóa - Thông tin và PGS TS Phạm Lan Oanh, Trưởng Khoa Sau đại học, Viện Văn hóa Nghệthuật quốc gia Việt Nam Trên cơ sở trình bày những khái niệm liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín
dị đoan, cuốn sách đi sâu giới thiệu, phân tích những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể đang có ở nước
ta, đề xuất một số biện pháp để thực hiện tốt các chủ trương, chính sách liên quan của Đảng và Nhà nước, cũng như các biện pháp bài trừ mê tín dị đoan
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Th¸ng 9 n¨m 2015
Nhμ xuÊt b¶n chÝnh trÞ quèc gia - sù thËt
Trang 9lêi nãi ®Çu
Trong thế giới hiện đại, tuy đời sống vật chất
ngày càng được cải thiện, nhưng bên cạnh đó, con
người luôn vướng bận với những nỗi lo toan, bất
an và áp lực trong cuộc sống, khiến mọi người đều
muốn tìm một chỗ dựa về tinh thần
Trong đời sống tinh thần, người ta hay nhắc
tới hai chữ tâm linh và đây là điều khá nhạy cảm,
bởi tâm linh thường gắn với tín ngưỡng, tôn giáo;
nhiều người có nhận thức chưa đầy đủ và rõ ràng
Ranh giới giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị
đoan khá mong manh nên mê tín dị đoan rất dễ
được bao biện là tín ngưỡng, tôn giáo Thực tế này
đã và đang gây nên những ảnh hưởng xấu trong
xã hội
Vì thế, xác định rõ ranh giới giữa tín ngưỡng,
tôn giáo và mê tín dị đoan là một việc làm vô cùng
quan trọng và cấp thiết, nhất là khi tín ngưỡng
gắn với các lễ hội được tổ chức ngày càng rầm rộ
và phát triển ở nhiều địa phương
Cuốn sách Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín
dị đoan này sẽ giúp độc giả, đặc biệt là các cán bộ
làm công tác văn hóa ở cơ sở xã, phường, thị trấn, hiểu rõ thế nào là tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phòng, tránh và bài trừ mê tín dị đoan, đồng thời,
có nhận thức đúng đắn về niềm tin trong tín ngưỡng tâm linh, tiêu chí phân định ranh giới rõ rệt giữa con người với thế giới xung quanh
CÁC TÁC GIẢ
Trang 10lêi nãi ®Çu
Trong thế giới hiện đại, tuy đời sống vật chất
ngày càng được cải thiện, nhưng bên cạnh đó, con
người luôn vướng bận với những nỗi lo toan, bất
an và áp lực trong cuộc sống, khiến mọi người đều
muốn tìm một chỗ dựa về tinh thần
Trong đời sống tinh thần, người ta hay nhắc
tới hai chữ tâm linh và đây là điều khá nhạy cảm,
bởi tâm linh thường gắn với tín ngưỡng, tôn giáo;
nhiều người có nhận thức chưa đầy đủ và rõ ràng
Ranh giới giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị
đoan khá mong manh nên mê tín dị đoan rất dễ
được bao biện là tín ngưỡng, tôn giáo Thực tế này
đã và đang gây nên những ảnh hưởng xấu trong
xã hội
Vì thế, xác định rõ ranh giới giữa tín ngưỡng,
tôn giáo và mê tín dị đoan là một việc làm vô cùng
quan trọng và cấp thiết, nhất là khi tín ngưỡng
gắn với các lễ hội được tổ chức ngày càng rầm rộ
và phát triển ở nhiều địa phương
Cuốn sách Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín
dị đoan này sẽ giúp độc giả, đặc biệt là các cán bộ
làm công tác văn hóa ở cơ sở xã, phường, thị trấn, hiểu rõ thế nào là tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phòng, tránh và bài trừ mê tín dị đoan, đồng thời,
có nhận thức đúng đắn về niềm tin trong tín ngưỡng tâm linh, tiêu chí phân định ranh giới rõ rệt giữa con người với thế giới xung quanh
CÁC TÁC GIẢ
Trang 11I KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN
1 Tín ngưỡng
Về ngữ nghĩa, tín ngưỡng được hiểu như sau:
tín nghĩa là tin, ngưỡng nghĩa là trông lên với lòng
tôn kính Như vậy, tín ngưỡng có nghĩa là tin
tưởng và tôn kính
Có khá nhiều định nghĩa về tín ngưỡng:
- Theo cách định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì
tín ngưỡng là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”1
- Theo Đào Duy Anh, tín ngưỡng là “lòng
ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một
chủ nghĩa”2
Còn Ngô Đức Thịnh thì định nghĩa tín ngưỡng
là “niềm tin của con người vào cái thiêng liêng,
cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin,
_
1 Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Từ điển tiếng Việt,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004, tr 1646
2 Đào Duy Anh: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb
Thuận Hóa, Huế, 1967, tr 283
ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được”1
- Tín ngưỡng là tôn giáo sơ khai hay tôn giáo nguyên thủy
Nhìn chung, nhiều định nghĩa thường thiên về khẳng định tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ là tôn giáo Một số tác giả
đã đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo (X.A Tocaret
và E.B Taylo), thường sử dụng thuật ngữ tôn giáo
để chỉ các hiện tượng biểu thị niềm tin đối với lực lượng siêu nhiên, kể cả niềm tin vào linh hồn của người đã chết Quan điểm khá phổ biến của nhiều học giả (tiêu biểu như Đặng Nghiêm Vạn) khi nghiên cứu về việc thờ cúng tổ tiên của người Việt
đã xem “hiện tượng” thờ cúng tổ tiên là tôn giáo dân tộc, nhấn mạnh tôn giáo và tín ngưỡng chỉ khác nhau về hình thức biểu hiện và trình độ tổ chức, còn bản chất không có sự khác biệt đáng kể Thực tế cho thấy, nếu xem tín ngưỡng chỉ là tôn giáo thì chưa bao quát hết được ý nghĩa của thuật ngữ này
Một mặt, niềm tin vào cái thiêng là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh nên tín ngưỡng _
1 Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001
Trang 12I KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN
1 Tín ngưỡng
Về ngữ nghĩa, tín ngưỡng được hiểu như sau:
tín nghĩa là tin, ngưỡng nghĩa là trông lên với lòng
tôn kính Như vậy, tín ngưỡng có nghĩa là tin
tưởng và tôn kính
Có khá nhiều định nghĩa về tín ngưỡng:
- Theo cách định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì
tín ngưỡng là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”1
- Theo Đào Duy Anh, tín ngưỡng là “lòng
ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một
chủ nghĩa”2
Còn Ngô Đức Thịnh thì định nghĩa tín ngưỡng
là “niềm tin của con người vào cái thiêng liêng,
cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin,
_
1 Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Từ điển tiếng Việt,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004, tr 1646
2 Đào Duy Anh: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb
Thuận Hóa, Huế, 1967, tr 283
ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được”1
- Tín ngưỡng là tôn giáo sơ khai hay tôn giáo nguyên thủy
Nhìn chung, nhiều định nghĩa thường thiên về khẳng định tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ là tôn giáo Một số tác giả
đã đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo (X.A Tocaret
và E.B Taylo), thường sử dụng thuật ngữ tôn giáo
để chỉ các hiện tượng biểu thị niềm tin đối với lực lượng siêu nhiên, kể cả niềm tin vào linh hồn của người đã chết Quan điểm khá phổ biến của nhiều học giả (tiêu biểu như Đặng Nghiêm Vạn) khi nghiên cứu về việc thờ cúng tổ tiên của người Việt
đã xem “hiện tượng” thờ cúng tổ tiên là tôn giáo dân tộc, nhấn mạnh tôn giáo và tín ngưỡng chỉ khác nhau về hình thức biểu hiện và trình độ tổ chức, còn bản chất không có sự khác biệt đáng kể Thực tế cho thấy, nếu xem tín ngưỡng chỉ là tôn giáo thì chưa bao quát hết được ý nghĩa của thuật ngữ này
Một mặt, niềm tin vào cái thiêng là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh nên tín ngưỡng _
1 Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001
Trang 13được hiểu là tôn giáo Mặt khác, xét theo các tiêu
chí của tôn giáo thì tín ngưỡng lại không đáp ứng
được đầy đủ Đó là chưa kể, khi nói tự do tín
ngưỡng có thể hiểu đó là tự do về ý thức hay tự do
về tín ngưỡng tôn giáo; nếu tín ngưỡng là ý thức thì
tín ngưỡng lại bao trùm lên tôn giáo, không có tín
ngưỡng thì không có tôn giáo Do vậy, ở đây không
có sự phân biệt rõ hai phạm trù tín ngưỡng và tôn
giáo, hay nói cách khác, sự phân biệt giữa tín
ngưỡng và tôn giáo chỉ mang ý nghĩa tương đối
Như vậy, có thể hiểu tín ngưỡng là niềm tin
vào những điều thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên,
đối lập với sự “trần tục”, hiện hữu Nói đến tín
ngưỡng là nói đến một hệ thống niềm tin của các
nhóm tộc người, dân tộc, cộng đồng nhằm giải
thích thế giới, mang lại sự bình yên cho con người
Tín ngưỡng là quá trình thiêng hóa một nhân vật
hay hiện tượng được con người gửi gắm niềm tin
để mong cầu sự bình an Khi tín ngưỡng phát
triển đến một mức độ nhất định sẽ được quy phạm
hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường, thì
nó sẽ trở thành tôn giáo
2- Tôn giáo
Xét về ngữ nghĩa, tôn giáo được hiểu như sau:
tôn là một tông phái hay một giáo phái; giáo là
dạy bảo, mệnh lệnh Như vậy, tôn giáo có thể hiểu
là một tổ chức tín ngưỡng theo một hệ thống luật
lệ nhất định
Khó đưa ra được một định nghĩa bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nói chung, song khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới “thực” và “hư”, giữa hai tính
“thiêng” và “tục” Có rất nhiều cách hiểu về tôn giáo, chẳng hạn:
- Trên phương diện thần học, tôn giáo được hiểu là mối liên hệ giữa thần thánh và con người
- Trên phương diện tâm lý học, tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, người chưa từng cô đơn thì chưa bao giờ có tôn giáo
Trên phương diện bản chất xã hội, tôn giáo xuất phát từ hiện thực khách quan và điều kiện kinh tế - xã hội Trình độ và khả năng cải tạo tự nhiên còn thấp kém khiến con người luôn cảm thấy yếu đuối, bất lực trước các hiện tượng tự nhiên nên đã gán cho chúng những sức mạnh siêu nhiên Khi xã hội phân chia giai cấp, con người rơi vào tình thế cùng quẫn, bất lực nên luôn muốn tìm chỗ dựa tinh thần Ngoài ra, những yếu tố ngẫu nhiên, rủi ro bất ngờ nằm ngoài ý muốn đều khiến con người sợ hãi, lo lắng, muốn tìm đến và dựa vào sự che chở của tôn giáo Ph.Ăngghen viết:
“ tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo -
Trang 14được hiểu là tôn giáo Mặt khác, xét theo các tiêu
chí của tôn giáo thì tín ngưỡng lại không đáp ứng
được đầy đủ Đó là chưa kể, khi nói tự do tín
ngưỡng có thể hiểu đó là tự do về ý thức hay tự do
về tín ngưỡng tôn giáo; nếu tín ngưỡng là ý thức thì
tín ngưỡng lại bao trùm lên tôn giáo, không có tín
ngưỡng thì không có tôn giáo Do vậy, ở đây không
có sự phân biệt rõ hai phạm trù tín ngưỡng và tôn
giáo, hay nói cách khác, sự phân biệt giữa tín
ngưỡng và tôn giáo chỉ mang ý nghĩa tương đối
Như vậy, có thể hiểu tín ngưỡng là niềm tin
vào những điều thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên,
đối lập với sự “trần tục”, hiện hữu Nói đến tín
ngưỡng là nói đến một hệ thống niềm tin của các
nhóm tộc người, dân tộc, cộng đồng nhằm giải
thích thế giới, mang lại sự bình yên cho con người
Tín ngưỡng là quá trình thiêng hóa một nhân vật
hay hiện tượng được con người gửi gắm niềm tin
để mong cầu sự bình an Khi tín ngưỡng phát
triển đến một mức độ nhất định sẽ được quy phạm
hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường, thì
nó sẽ trở thành tôn giáo
2- Tôn giáo
Xét về ngữ nghĩa, tôn giáo được hiểu như sau:
tôn là một tông phái hay một giáo phái; giáo là
dạy bảo, mệnh lệnh Như vậy, tôn giáo có thể hiểu
là một tổ chức tín ngưỡng theo một hệ thống luật
lệ nhất định
Khó đưa ra được một định nghĩa bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nói chung, song khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới “thực” và “hư”, giữa hai tính
“thiêng” và “tục” Có rất nhiều cách hiểu về tôn giáo, chẳng hạn:
- Trên phương diện thần học, tôn giáo được hiểu là mối liên hệ giữa thần thánh và con người
- Trên phương diện tâm lý học, tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, người chưa từng cô đơn thì chưa bao giờ có tôn giáo
Trên phương diện bản chất xã hội, tôn giáo xuất phát từ hiện thực khách quan và điều kiện kinh tế - xã hội Trình độ và khả năng cải tạo tự nhiên còn thấp kém khiến con người luôn cảm thấy yếu đuối, bất lực trước các hiện tượng tự nhiên nên đã gán cho chúng những sức mạnh siêu nhiên Khi xã hội phân chia giai cấp, con người rơi vào tình thế cùng quẫn, bất lực nên luôn muốn tìm chỗ dựa tinh thần Ngoài ra, những yếu tố ngẫu nhiên, rủi ro bất ngờ nằm ngoài ý muốn đều khiến con người sợ hãi, lo lắng, muốn tìm đến và dựa vào sự che chở của tôn giáo Ph.Ăngghen viết:
“ tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo -
Trang 15vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở
bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ;
chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở
trần thế mang hình thức những lực lượng siêu
trần thế ”
Nhìn chung, có nhiều định nghĩa, khái niệm
khác nhau về tôn giáo Dưới góc độ khoa học, mỗi
nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn
giáo theo hướng nghiên cứu của mình, theo quan
điểm chủ quan của mỗi người
Thực tế cho thấy, thuật ngữ tôn giáo thường
được hiểu với hai nghĩa:
- Nghĩa rộng: Tôn giáo là chỉ tín ngưỡng nói chung
- Nghĩa hẹp: Tôn giáo là chỉ tín ngưỡng với
những đặc trưng nhất định
Từ điển tiếng Việt1 của Hoàng Phê (chủ biên)
định nghĩa tôn giáo ở hai cấp độ:
* Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm
những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái
những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận
con người, con người phải phục tùng và tôn thờ
* Tôn giáo là hệ thống những quan niệm, tín
ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và
những hình thức lễ nghi thể hiện sự “sùng bái” ấy;
Có thể nói, tôn giáo là một hiện tượng xã hội
có tính chất lịch sử, trong đó, xét về phương diện ý thức, nó là một hình thái ý thức xã hội Tôn giáo cũng là một hiện tượng văn hóa tinh thần phản ánh nhận thức của con người về thế giới xung quanh, về cuộc sống xã hội, biểu hiện thông qua những hành vi ứng xử của họ
Nhận thức và hành vi của cộng đồng tôn giáo luôn được thể hiện ở hai mặt: tâm linh và xã hội
Về mặt tâm linh, thông qua các nghi lễ thực hành tôn giáo, con người bày tỏ niềm tin và tình cảm sâu sắc của mình đối với lực lượng siêu nhiên vô hình, qua đó con người thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của họ trong cuộc sống trần tục Về mặt
xã hội, những chuẩn mực đạo đức được quy định trong giáo lý, giáo luật có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử của các tín đồ trong cuộc sống Vì thế, nói đến tôn giáo phải hội đủ bốn yếu tố cấu
thành: giáo chủ, giáo lý, giáo đường và tín đồ 3- Sự giống và khác nhau giữa tôn giáo, tín ngưỡng
Trong tôn giáo bao giờ cũng có yếu tố tín ngưỡng, có niềm tin vào một đấng siêu nhiên, nhưng tín ngưỡng không đồng nhất với tôn giáo
Trang 16vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở
bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ;
chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở
trần thế mang hình thức những lực lượng siêu
trần thế ”
Nhìn chung, có nhiều định nghĩa, khái niệm
khác nhau về tôn giáo Dưới góc độ khoa học, mỗi
nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn
giáo theo hướng nghiên cứu của mình, theo quan
điểm chủ quan của mỗi người
Thực tế cho thấy, thuật ngữ tôn giáo thường
được hiểu với hai nghĩa:
- Nghĩa rộng: Tôn giáo là chỉ tín ngưỡng nói chung
- Nghĩa hẹp: Tôn giáo là chỉ tín ngưỡng với
những đặc trưng nhất định
Từ điển tiếng Việt1 của Hoàng Phê (chủ biên)
định nghĩa tôn giáo ở hai cấp độ:
* Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm
những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái
những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận
con người, con người phải phục tùng và tôn thờ
* Tôn giáo là hệ thống những quan niệm, tín
ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và
những hình thức lễ nghi thể hiện sự “sùng bái” ấy;
Có thể nói, tôn giáo là một hiện tượng xã hội
có tính chất lịch sử, trong đó, xét về phương diện ý thức, nó là một hình thái ý thức xã hội Tôn giáo cũng là một hiện tượng văn hóa tinh thần phản ánh nhận thức của con người về thế giới xung quanh, về cuộc sống xã hội, biểu hiện thông qua những hành vi ứng xử của họ
Nhận thức và hành vi của cộng đồng tôn giáo luôn được thể hiện ở hai mặt: tâm linh và xã hội
Về mặt tâm linh, thông qua các nghi lễ thực hành tôn giáo, con người bày tỏ niềm tin và tình cảm sâu sắc của mình đối với lực lượng siêu nhiên vô hình, qua đó con người thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của họ trong cuộc sống trần tục Về mặt
xã hội, những chuẩn mực đạo đức được quy định trong giáo lý, giáo luật có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử của các tín đồ trong cuộc sống Vì thế, nói đến tôn giáo phải hội đủ bốn yếu tố cấu
thành: giáo chủ, giáo lý, giáo đường và tín đồ 3- Sự giống và khác nhau giữa tôn giáo, tín ngưỡng
Trong tôn giáo bao giờ cũng có yếu tố tín ngưỡng, có niềm tin vào một đấng siêu nhiên, nhưng tín ngưỡng không đồng nhất với tôn giáo
Trang 17Trong giai đoạn đầu, nhân loại chỉ tồn tại các tín
ngưỡng, chưa có tôn giáo Khi trí tuệ con người
phát triển tới mức có khả năng xây dựng các biểu
tượng tôn giáo, xã hội phát triển tới mức xuất hiện
đội ngũ làm công tác tôn giáo chuyên nghiệp, các
tổ chức tôn giáo, việc soạn thảo giáo lý, lễ nghi
mới có điều kiện ra đời và tôn giáo mới xuất hiện
* Sự giống nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân Niềm tin vào đấng
siêu nhiên sẽ hỗ trợ và giúp đỡ, mang lại sự bình
yên cho con người Đây là một dạng nhận thức đặc
biệt, tạo cho con người một niềm tin có tính thiêng
liêng, một sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng
hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục
Niềm tin này mang tính chủ quan, không cần
lý giải một cách khoa học, không dựa vào lý tính,
thực nghiệm, một niềm tin theo cảm nhận hoặc
theo truyền thống kinh nghiệm, hoặc được khẳng
định qua quá trình tu luyện
- Những tín điều của tôn giáo và tín ngưỡng
đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa
các cá thể với nhau, giữa cá thể với xã hội, với
cộng đồng, giúp con người sống tốt hơn, làm việc
thiện nhiều hơn Mỗi tôn giáo, tín ngưỡng nói
chung đều có những hạt nhân triết học hợp lý, thể
hiện giá trị nhân văn sâu sắc, như đức “từ bi” của
Phật giáo, lòng “nhân nghĩa” của đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo, tư tưởng “bác ái” của đạo Kitô, truyền thống uống nước nhớ nguồn, lòng tự hào,
tự tôn dân tộc trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Vì thế, tôn giáo, tín ngưỡng không đơn thuần chỉ
là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh, tinh thần,
mà còn là vấn đề văn hóa, đạo đức, lối sống với những giá trị tốt đẹp mà công cuộc xây dựng xã hội mới có thể tiếp thu
- Tôn giáo và tín ngưỡng đều có hình thức sinh hoạt thông qua lễ hội Lễ hội, nói chung, đều xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, thường là dịp để con người thể hiện tấm lòng sùng
kính của mình với đức tin mà họ đã chọn
* Sự khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
Nội hàm tôn giáo được nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng, bao gồm: Thực thể thiêng; đức tin, nhà
thờ, cộng đồng đức tin và giáo lý Các nhà quản lý
văn hóa cho rằng một tôn giáo bao gồm sáu tiêu
chí: giáo chủ, giáo dân, giáo lý, giáo luật, giáo hội,
giáo đường
Trong đó:
Giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo
Giáo dân là người theo tôn giáo
Giáo lý là những lời dạy của giáo chủ
Giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban hành
Giáo hội là tổ chức chính thức của tôn giáo
Trang 18Trong giai đoạn đầu, nhân loại chỉ tồn tại các tín
ngưỡng, chưa có tôn giáo Khi trí tuệ con người
phát triển tới mức có khả năng xây dựng các biểu
tượng tôn giáo, xã hội phát triển tới mức xuất hiện
đội ngũ làm công tác tôn giáo chuyên nghiệp, các
tổ chức tôn giáo, việc soạn thảo giáo lý, lễ nghi
mới có điều kiện ra đời và tôn giáo mới xuất hiện
* Sự giống nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân Niềm tin vào đấng
siêu nhiên sẽ hỗ trợ và giúp đỡ, mang lại sự bình
yên cho con người Đây là một dạng nhận thức đặc
biệt, tạo cho con người một niềm tin có tính thiêng
liêng, một sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng
hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục
Niềm tin này mang tính chủ quan, không cần
lý giải một cách khoa học, không dựa vào lý tính,
thực nghiệm, một niềm tin theo cảm nhận hoặc
theo truyền thống kinh nghiệm, hoặc được khẳng
định qua quá trình tu luyện
- Những tín điều của tôn giáo và tín ngưỡng
đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa
các cá thể với nhau, giữa cá thể với xã hội, với
cộng đồng, giúp con người sống tốt hơn, làm việc
thiện nhiều hơn Mỗi tôn giáo, tín ngưỡng nói
chung đều có những hạt nhân triết học hợp lý, thể
hiện giá trị nhân văn sâu sắc, như đức “từ bi” của
Phật giáo, lòng “nhân nghĩa” của đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo, tư tưởng “bác ái” của đạo Kitô, truyền thống uống nước nhớ nguồn, lòng tự hào,
tự tôn dân tộc trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Vì thế, tôn giáo, tín ngưỡng không đơn thuần chỉ
là vấn đề thuộc về đời sống tâm linh, tinh thần,
mà còn là vấn đề văn hóa, đạo đức, lối sống với những giá trị tốt đẹp mà công cuộc xây dựng xã hội mới có thể tiếp thu
- Tôn giáo và tín ngưỡng đều có hình thức sinh hoạt thông qua lễ hội Lễ hội, nói chung, đều xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, thường là dịp để con người thể hiện tấm lòng sùng
kính của mình với đức tin mà họ đã chọn
* Sự khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
Nội hàm tôn giáo được nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng, bao gồm: Thực thể thiêng; đức tin, nhà
thờ, cộng đồng đức tin và giáo lý Các nhà quản lý
văn hóa cho rằng một tôn giáo bao gồm sáu tiêu
chí: giáo chủ, giáo dân, giáo lý, giáo luật, giáo hội,
giáo đường
Trong đó:
Giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo
Giáo dân là người theo tôn giáo
Giáo lý là những lời dạy của giáo chủ
Giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban hành
Giáo hội là tổ chức chính thức của tôn giáo
Trang 19Giáo đường là nơi thờ tự, thực hành các nghi
thức tôn giáo
Khi các loại hình tâm linh khác không hội đủ
các điều kiện nêu trên thì đều được xếp vào loại
hình tín ngưỡng
Như vậy, đứng ở phương diện quản lý, chúng
ta nhận thấy, tín ngưỡng và tôn giáo đều có những
hạt nhân thiêng quan trọng trong nội hàm của nó
Tổ chức tôn giáo thường có xu hướng hướng tới đối
tượng tôn sùng độc thần, có giáo lý, kinh sách, quy
định chặt chẽ, có đội ngũ hoạt động tâm linh
chuyên nghiệp như nhà sư, giáo sĩ, có cơ sở thờ tự
cố định, hoành tráng Trong khi đó, tín ngưỡng
dân gian thường là không hoặc chưa đáp ứng đầy
đủ sáu tiêu chí đã nêu và thường là khuyết thiếu
hệ thống kinh điển giáo lý, quy định giáo luật
thiếu chặt chẽ, đội ngũ thực hành tín ngưỡng khá
tự do và đối tượng thờ phụng rất đa dạng
Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều tín ngưỡng
dân gian và có 13 tôn giáo được công nhận đang
hoạt động: Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Hòa
Hảo, Cao Đài, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, Tin
Lành, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Tứ ân hiếu
nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Bahai’, Bà La Môn
4- Mê tín dị đoan
Về ngữ nghĩa, mê tín được hiểu như sau: Mê
là si mê, lầm lạc, mê muội, vô minh, mờ ám,
lạc mất trí khôn; Tín là lòng tin Mê tín tức là tin một cách lầm lạc, mê muội, tin những điều hoang
đường, không có cơ sở, không dựa trên các bằng chứng vững vàng, đầy đủ
Về nghĩa của từ mê tín, Từ điển Tiếng Việt
định nghĩa:
Mê tín là tin một cách mù quáng vào cái thần
bí, vào những chuyện thần thánh, ma quỷ, số mệnh ; là ưa chuộng, tin một cách mù quáng, không biết suy xét
Dị đoan là điều quái lạ, huyễn hoặc, hoang đường
Cũng có ý kiến cho rằng, thời xưa, mê tín thực chất là tín ngưỡng xuất phát từ quan niệm tin mà không cần phải giải thích bằng các kiến thức khoa học Tuy nhiên, “bản chất của nó không có dị đoan”1
Về ngữ nghĩa, dị là khác biệt, đoan là mối, dị đoan được hiểu là “lắm mối, là rắc rối, là quàng xiên dẫn
đến mù quáng”2 Như vậy “phải dùng cả cụm từ
“mê tín dị đoan” để chỉ niềm tin đã bị biến dạng, quái dị, xằng bậy - đó là mê tín bị lợi dụng, có hại đến con người và xã hội Tôn trọng tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan là chính xác, là phù hợp”3 _
1, 2, 3 Hà Văn Tăng, Trương Thìn (Chủ biên): Tín ngưỡng mê tín, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999, tr 114,
115
Trang 20Giáo đường là nơi thờ tự, thực hành các nghi
thức tôn giáo
Khi các loại hình tâm linh khác không hội đủ
các điều kiện nêu trên thì đều được xếp vào loại
hình tín ngưỡng
Như vậy, đứng ở phương diện quản lý, chúng
ta nhận thấy, tín ngưỡng và tôn giáo đều có những
hạt nhân thiêng quan trọng trong nội hàm của nó
Tổ chức tôn giáo thường có xu hướng hướng tới đối
tượng tôn sùng độc thần, có giáo lý, kinh sách, quy
định chặt chẽ, có đội ngũ hoạt động tâm linh
chuyên nghiệp như nhà sư, giáo sĩ, có cơ sở thờ tự
cố định, hoành tráng Trong khi đó, tín ngưỡng
dân gian thường là không hoặc chưa đáp ứng đầy
đủ sáu tiêu chí đã nêu và thường là khuyết thiếu
hệ thống kinh điển giáo lý, quy định giáo luật
thiếu chặt chẽ, đội ngũ thực hành tín ngưỡng khá
tự do và đối tượng thờ phụng rất đa dạng
Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều tín ngưỡng
dân gian và có 13 tôn giáo được công nhận đang
hoạt động: Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Hòa
Hảo, Cao Đài, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, Tin
Lành, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Tứ ân hiếu
nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Bahai’, Bà La Môn
4- Mê tín dị đoan
Về ngữ nghĩa, mê tín được hiểu như sau: Mê
là si mê, lầm lạc, mê muội, vô minh, mờ ám,
lạc mất trí khôn; Tín là lòng tin Mê tín tức là tin một cách lầm lạc, mê muội, tin những điều hoang
đường, không có cơ sở, không dựa trên các bằng chứng vững vàng, đầy đủ
Về nghĩa của từ mê tín, Từ điển Tiếng Việt
định nghĩa:
Mê tín là tin một cách mù quáng vào cái thần
bí, vào những chuyện thần thánh, ma quỷ, số mệnh ; là ưa chuộng, tin một cách mù quáng, không biết suy xét
Dị đoan là điều quái lạ, huyễn hoặc, hoang đường
Cũng có ý kiến cho rằng, thời xưa, mê tín thực chất là tín ngưỡng xuất phát từ quan niệm tin mà không cần phải giải thích bằng các kiến thức khoa học Tuy nhiên, “bản chất của nó không có dị đoan”1
Về ngữ nghĩa, dị là khác biệt, đoan là mối, dị đoan được hiểu là “lắm mối, là rắc rối, là quàng xiên dẫn
đến mù quáng”2 Như vậy “phải dùng cả cụm từ
“mê tín dị đoan” để chỉ niềm tin đã bị biến dạng, quái dị, xằng bậy - đó là mê tín bị lợi dụng, có hại đến con người và xã hội Tôn trọng tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan là chính xác, là phù hợp”3 _
1, 2, 3 Hà Văn Tăng, Trương Thìn (Chủ biên): Tín ngưỡng mê tín, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999, tr 114,
115
Trang 21Do đó, có thể hiểu mê tín là tin một cách lầm
lạc, mê muội, huyễn hoặc, từ chỗ niềm tin lệch lạc
dẫn tới nói năng, hành động sai lầm, chẳng hạn
tin lời phán truyền của ông đồng, bà cốt, tin bói
quẻ, tin thầy bùa, thầy chú, v.v., những đức tin
này không có cơ sở, không thể chứng minh được
nên gọi là mê tín dị đoan
Tóm lại, mê tín dị đoan là khái niệm thuộc
phạm trù ý thức, nhận thức của con người, là
niềm tin mù quáng vào những điều quái dị, thiếu
căn cứ khoa học Mê tín dị đoan chỉ xuất hiện
trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; trong biểu hiện
trạng thái tâm lý, tình cảm cá nhân hoặc nhóm
người nào đó
Mê tín và dị đoan vốn là hai khái niệm khác
nhau “Mê tín” là tin tưởng mà không cần suy xét
“Dị đoan” là những chuyện dị thường, hoang
đường “Mê tín” và “dị đoan” được ghép nối để tạo
thành khái niệm “mê tín dị đoan” Trong xã hội
hiện nay, khi nói đến “mê tín” có nghĩa là đề cập
khái niệm “mê tín dị đoan”
5 Mối quan hệ giữa tôn giáo, tín ngưỡng
và mê tín dị đoan
Mê tín dị đoan và tín ngưỡng, tôn giáo là những
khái niệm thuộc về đời sống tâm linh Chúng có mối
quan hệ với nhau nhưng khác nhau về bản chất
- Tín ngưỡng là niềm tin vào đấng thiêng liêng
có sức mạnh chi phối số phận con người và là thế giới thiêng được một cộng đồng người thừa nhận
và tôn thờ
- Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính chất lịch sử, trong đó về phương diện ý thức, nó là một hình thái ý thức xã hội, là tín ngưỡng ở cấp độ cao với những luật lệ nhất định gồm các yếu tố cấu thành: giáo lý với hệ thống kinh sách, giáo chủ và đội ngũ những người thực hành tôn giáo, giáo luật và các tín đồ
Trong tôn giáo bao giờ cũng có yếu tố tín ngưỡng, cũng có niềm tin vào đấng siêu nhiên, nhưng tín ngưỡng không đồng nhất với tôn giáo Trong giai đoạn đầu, nhân loại chỉ tồn tại các tín ngưỡng mà chưa có tôn giáo Khi trí tuệ con người và xã hội phát triển tới mức hội đủ những yếu tố căn bản như giáo chủ, giáo lý, giáo luật và đội ngũ tín đồ và cả các giáo đường thì tôn giáo mới xuất hiện
- Mê tín thời kỳ đầu đồng nghĩa với tín ngưỡng, tức là tin vào những sức mạnh siêu nhiên thần bí Sau này, khi tri thức của con người ngày càng được nâng cao, có những tín ngưỡng trở nên lạc hậu, thì khi ấy nó trở thành mê tín (dị đoan), chẳng hạn chữa bệnh bằng cách trừ tà ma của các thầy phù thủy ở các bộ lạc tới nay vẫn còn duy trì
Trang 22Do đó, có thể hiểu mê tín là tin một cách lầm
lạc, mê muội, huyễn hoặc, từ chỗ niềm tin lệch lạc
dẫn tới nói năng, hành động sai lầm, chẳng hạn
tin lời phán truyền của ông đồng, bà cốt, tin bói
quẻ, tin thầy bùa, thầy chú, v.v., những đức tin
này không có cơ sở, không thể chứng minh được
nên gọi là mê tín dị đoan
Tóm lại, mê tín dị đoan là khái niệm thuộc
phạm trù ý thức, nhận thức của con người, là
niềm tin mù quáng vào những điều quái dị, thiếu
căn cứ khoa học Mê tín dị đoan chỉ xuất hiện
trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; trong biểu hiện
trạng thái tâm lý, tình cảm cá nhân hoặc nhóm
người nào đó
Mê tín và dị đoan vốn là hai khái niệm khác
nhau “Mê tín” là tin tưởng mà không cần suy xét
“Dị đoan” là những chuyện dị thường, hoang
đường “Mê tín” và “dị đoan” được ghép nối để tạo
thành khái niệm “mê tín dị đoan” Trong xã hội
hiện nay, khi nói đến “mê tín” có nghĩa là đề cập
khái niệm “mê tín dị đoan”
5 Mối quan hệ giữa tôn giáo, tín ngưỡng
và mê tín dị đoan
Mê tín dị đoan và tín ngưỡng, tôn giáo là những
khái niệm thuộc về đời sống tâm linh Chúng có mối
quan hệ với nhau nhưng khác nhau về bản chất
- Tín ngưỡng là niềm tin vào đấng thiêng liêng
có sức mạnh chi phối số phận con người và là thế giới thiêng được một cộng đồng người thừa nhận
và tôn thờ
- Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính chất lịch sử, trong đó về phương diện ý thức, nó là một hình thái ý thức xã hội, là tín ngưỡng ở cấp độ cao với những luật lệ nhất định gồm các yếu tố cấu thành: giáo lý với hệ thống kinh sách, giáo chủ và đội ngũ những người thực hành tôn giáo, giáo luật và các tín đồ
Trong tôn giáo bao giờ cũng có yếu tố tín ngưỡng, cũng có niềm tin vào đấng siêu nhiên, nhưng tín ngưỡng không đồng nhất với tôn giáo Trong giai đoạn đầu, nhân loại chỉ tồn tại các tín ngưỡng mà chưa có tôn giáo Khi trí tuệ con người và xã hội phát triển tới mức hội đủ những yếu tố căn bản như giáo chủ, giáo lý, giáo luật và đội ngũ tín đồ và cả các giáo đường thì tôn giáo mới xuất hiện
- Mê tín thời kỳ đầu đồng nghĩa với tín ngưỡng, tức là tin vào những sức mạnh siêu nhiên thần bí Sau này, khi tri thức của con người ngày càng được nâng cao, có những tín ngưỡng trở nên lạc hậu, thì khi ấy nó trở thành mê tín (dị đoan), chẳng hạn chữa bệnh bằng cách trừ tà ma của các thầy phù thủy ở các bộ lạc tới nay vẫn còn duy trì
Trang 23trong nhiều nhóm tộc người Tuy nhiên, phải nói
thêm rằng, ranh giới giữa tín ngưỡng và mê tín dị
đoan ở đây là rất mong manh và nhiều khi khó
phân định, song có một điều cần khẳng định rằng,
chính trình độ nhận thức, tâm lý sợ hãi làm nảy
sinh những hành vi mê tín dị đoan trong các cá
nhân hoặc cộng đồng dân cư, cho dù họ đang ở bất
cứ điều kiện kinh tế - xã hội nào Những hành vi
mê tín dị đoan có nguồn gốc từ nhận thức, bao
gồm những hành vi mới lẫn cũ đan xen, có khi lai
tạp Có thể nói, khi mà trình độ nhận thức của cá
nhân hoặc cộng đồng còn bị hạn chế thì mê tín dị
đoan còn cơ sở để xuất hiện
Mê tín dị đoan và tín ngưỡng, tôn giáo có điểm
giống nhau, dù nhiều hay ít, đều xuất phát từ yếu
tố tâm lý sợ hãi Con người bao giờ cũng mong
muốn được bình an, hạnh phúc; họ sợ hãi, lo lắng
khi phải đối mặt với những rủi ro, bất hạnh, cái
chết , những tình cảm tâm lý đó làm cho người
luôn tìm cách đối phó Khi cảm thấy bất lực, con
người thường tìm đến các lực lượng siêu nhiên,
huyền bí để mong được che chở, ban ơn Người
theo tôn giáo thì thể hiện niềm tin tôn giáo, người
không theo tôn giáo thì cũng nhờ cậy đến những
lực lượng siêu nhiên huyền bí nào đó nhằm cầu
mong được bình an Đó là lý do giải thích tại sao
mê tín vẫn có “đất” để tồn tại Tuy nhiên, cần phải
phân biệt rạch ròi sự khác nhau về bản chất giữa
mê tín dị đoan và tín ngưỡng, tôn giáo Cụ thể là:
- Tín ngưỡng là hình thức sơ khai của tôn giáo, còn mê tín dị đoan là những “mảnh vỡ” còn sót lại của những hình thức tôn giáo sơ khai hoặc những lễ nghi, luật tục không còn phù hợp, đã bị thải loại trong quá trình biến đổi nhằm làm cho tôn giáo, tín ngưỡng phù hợp với thời đại
- Tín ngưỡng nằm trong khuôn khổ và được định hướng bởi mục tiêu (cứu cánh) rõ ràng Người
có tín ngưỡng đúng đắn là người sống có lý tưởng,
có sự suy xét về hành vi đúng với mục tiêu tâm linh đã được xác định Người có tín ngưỡng phần nhiều theo các tôn giáo, các đạo phái thường là hướng thiện và cổ vũ lối sống đạo đức, trong khi
mê tín dị đoan thường đi đôi với cái không tốt, không lành mạnh
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, có những chức năng nhất định đối với xã hội, còn mê tín dị đoan thường gắn với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Tôn giáo mang tính tổ chức cao, còn mê tín dị đoan thì tùy tiện Tôn giáo thuần túy và các tín ngưỡng được xây dựng trên một nền tảng triết lý chặt chẽ, nhất quán, có hệ thống và được gọi là hệ thống giáo lý, giáo luật Còn hành vi mê tín dị đoan lại căn cứ một cách hết sức tùy tiện theo
Trang 24trong nhiều nhóm tộc người Tuy nhiên, phải nói
thêm rằng, ranh giới giữa tín ngưỡng và mê tín dị
đoan ở đây là rất mong manh và nhiều khi khó
phân định, song có một điều cần khẳng định rằng,
chính trình độ nhận thức, tâm lý sợ hãi làm nảy
sinh những hành vi mê tín dị đoan trong các cá
nhân hoặc cộng đồng dân cư, cho dù họ đang ở bất
cứ điều kiện kinh tế - xã hội nào Những hành vi
mê tín dị đoan có nguồn gốc từ nhận thức, bao
gồm những hành vi mới lẫn cũ đan xen, có khi lai
tạp Có thể nói, khi mà trình độ nhận thức của cá
nhân hoặc cộng đồng còn bị hạn chế thì mê tín dị
đoan còn cơ sở để xuất hiện
Mê tín dị đoan và tín ngưỡng, tôn giáo có điểm
giống nhau, dù nhiều hay ít, đều xuất phát từ yếu
tố tâm lý sợ hãi Con người bao giờ cũng mong
muốn được bình an, hạnh phúc; họ sợ hãi, lo lắng
khi phải đối mặt với những rủi ro, bất hạnh, cái
chết , những tình cảm tâm lý đó làm cho người
luôn tìm cách đối phó Khi cảm thấy bất lực, con
người thường tìm đến các lực lượng siêu nhiên,
huyền bí để mong được che chở, ban ơn Người
theo tôn giáo thì thể hiện niềm tin tôn giáo, người
không theo tôn giáo thì cũng nhờ cậy đến những
lực lượng siêu nhiên huyền bí nào đó nhằm cầu
mong được bình an Đó là lý do giải thích tại sao
mê tín vẫn có “đất” để tồn tại Tuy nhiên, cần phải
phân biệt rạch ròi sự khác nhau về bản chất giữa
mê tín dị đoan và tín ngưỡng, tôn giáo Cụ thể là:
- Tín ngưỡng là hình thức sơ khai của tôn giáo, còn mê tín dị đoan là những “mảnh vỡ” còn sót lại của những hình thức tôn giáo sơ khai hoặc những lễ nghi, luật tục không còn phù hợp, đã bị thải loại trong quá trình biến đổi nhằm làm cho tôn giáo, tín ngưỡng phù hợp với thời đại
- Tín ngưỡng nằm trong khuôn khổ và được định hướng bởi mục tiêu (cứu cánh) rõ ràng Người
có tín ngưỡng đúng đắn là người sống có lý tưởng,
có sự suy xét về hành vi đúng với mục tiêu tâm linh đã được xác định Người có tín ngưỡng phần nhiều theo các tôn giáo, các đạo phái thường là hướng thiện và cổ vũ lối sống đạo đức, trong khi
mê tín dị đoan thường đi đôi với cái không tốt, không lành mạnh
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, có những chức năng nhất định đối với xã hội, còn mê tín dị đoan thường gắn với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Tôn giáo mang tính tổ chức cao, còn mê tín dị đoan thì tùy tiện Tôn giáo thuần túy và các tín ngưỡng được xây dựng trên một nền tảng triết lý chặt chẽ, nhất quán, có hệ thống và được gọi là hệ thống giáo lý, giáo luật Còn hành vi mê tín dị đoan lại căn cứ một cách hết sức tùy tiện theo
Trang 25quan niệm của từng cá nhân, từng nhóm người
hoặc từng vùng Do vậy nó trở nên hết sức đa
dạng và phức tạp, biểu hiện muôn màu, muôn vẻ,
tuân theo những lý luận lỏng lẻo, chắp vá, không
nhất quán, không có hệ thống
Các tôn giáo chính thống (Phật giáo, Công
giáo ) chủ trương: con người muốn có hạnh phúc
cần phải tu thân, tích đức, làm việc thiện hoặc
thường xuyên tự sám hối, sửa chữa những sai lầm
của mình Có như vậy, sau khi chết linh hồn mới
được về cõi niết bàn hoặc lên thiên đường Còn
ngược lại, nếu lúc sống mà ác độc, gây hại cho
người khác, lại không biết ăn năn, sám hối thì lúc
chết sẽ bị đày xuống địa ngục Vì thế tôn giáo hợp
pháp là hành vi “tốt đời đẹp đạo”, trong khi mê tín
dị đoan xuất phát từ niềm tin mê muội, nhiều khi
không có sự kiểm soát của lý trí dễ gây tác hại
nghiêm trọng đến đời sống xã hội, vì thế cần được
kiểm soát bởi pháp luật
II ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
1 Tín ngưỡng - một hình thái văn hóa
đặc thù
Văn hóa là hệ thống những giá trị được tạo
nên nhờ hoạt động vật chất và tinh thần của con
người trong lịch sử Hệ thống các giá trị này vừa
thể hiện sự đặc thù, nét riêng biệt của các nhóm tộc người, các dân tộc trên vùng đất mà họ sinh sống, vừa thể hiện trình độ phát triển, sự giao lưu
và tiếp biến với các tộc người, các dân tộc khác trong quá trình cộng sinh Vì thế, văn hóa vừa mang tính biến đổi, thích nghi, vừa mang tính bảo lưu nhưng đôi khi lại bảo thủ, trì trệ Điều này thể hiện khá rõ qua phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng dân gian , nhất là những vấn đề liên quan đến đời sống tâm linh Văn hóa bao gồm rất nhiều thành tố, trong đó tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng, nhiều khi chi phối các thành tố khác Trải qua các thời kỳ lịch
sử và chế độ xã hội, nhiều tín ngưỡng được hình thành, phát triển hoặc dần dần tiêu vong
Một số tín ngưỡng trong quá trình phát triển có thể không còn giữ vị trí thống trị nhưng vẫn tồn tại trong đời sống, tư tưởng của một bộ phận, một nhóm người Chúng có thể giao thoa, kết nối với các tín ngưỡng khác, kết hợp với nhiều yếu tố trong lĩnh vực đời sống tinh thần, được bảo lưu trong phong tục tập quán và truyền từ đời này sang đời khác Nhiều tín ngưỡng được cộng đồng gìn giữ, loại bỏ hoặc bổ sung thêm tùy từng điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể và dưới góc nhìn văn hóa, tín ngưỡng luôn chứa đựng những giá trị thiêng liêng, nhạy cảm đối với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng
Trang 26quan niệm của từng cá nhân, từng nhóm người
hoặc từng vùng Do vậy nó trở nên hết sức đa
dạng và phức tạp, biểu hiện muôn màu, muôn vẻ,
tuân theo những lý luận lỏng lẻo, chắp vá, không
nhất quán, không có hệ thống
Các tôn giáo chính thống (Phật giáo, Công
giáo ) chủ trương: con người muốn có hạnh phúc
cần phải tu thân, tích đức, làm việc thiện hoặc
thường xuyên tự sám hối, sửa chữa những sai lầm
của mình Có như vậy, sau khi chết linh hồn mới
được về cõi niết bàn hoặc lên thiên đường Còn
ngược lại, nếu lúc sống mà ác độc, gây hại cho
người khác, lại không biết ăn năn, sám hối thì lúc
chết sẽ bị đày xuống địa ngục Vì thế tôn giáo hợp
pháp là hành vi “tốt đời đẹp đạo”, trong khi mê tín
dị đoan xuất phát từ niềm tin mê muội, nhiều khi
không có sự kiểm soát của lý trí dễ gây tác hại
nghiêm trọng đến đời sống xã hội, vì thế cần được
kiểm soát bởi pháp luật
II ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
1 Tín ngưỡng - một hình thái văn hóa
đặc thù
Văn hóa là hệ thống những giá trị được tạo
nên nhờ hoạt động vật chất và tinh thần của con
người trong lịch sử Hệ thống các giá trị này vừa
thể hiện sự đặc thù, nét riêng biệt của các nhóm tộc người, các dân tộc trên vùng đất mà họ sinh sống, vừa thể hiện trình độ phát triển, sự giao lưu
và tiếp biến với các tộc người, các dân tộc khác trong quá trình cộng sinh Vì thế, văn hóa vừa mang tính biến đổi, thích nghi, vừa mang tính bảo lưu nhưng đôi khi lại bảo thủ, trì trệ Điều này thể hiện khá rõ qua phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng dân gian , nhất là những vấn đề liên quan đến đời sống tâm linh Văn hóa bao gồm rất nhiều thành tố, trong đó tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng, nhiều khi chi phối các thành tố khác Trải qua các thời kỳ lịch
sử và chế độ xã hội, nhiều tín ngưỡng được hình thành, phát triển hoặc dần dần tiêu vong
Một số tín ngưỡng trong quá trình phát triển có thể không còn giữ vị trí thống trị nhưng vẫn tồn tại trong đời sống, tư tưởng của một bộ phận, một nhóm người Chúng có thể giao thoa, kết nối với các tín ngưỡng khác, kết hợp với nhiều yếu tố trong lĩnh vực đời sống tinh thần, được bảo lưu trong phong tục tập quán và truyền từ đời này sang đời khác Nhiều tín ngưỡng được cộng đồng gìn giữ, loại bỏ hoặc bổ sung thêm tùy từng điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể và dưới góc nhìn văn hóa, tín ngưỡng luôn chứa đựng những giá trị thiêng liêng, nhạy cảm đối với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng
Trang 27Tín ngưỡng là môi trường sản sinh, tích hợp
và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian bởi
con người muốn truyền đạt nguyện vọng của
mình lên thần linh cần thông qua các hình thức
biểu hiện như: múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm
vật, nơi thờ cúng Vì thế, tín ngưỡng mang tính
nguyên hợp do tích hợp nhiều giá trị văn hóa vật
thể và phi vật thể cùng tồn tại trong một tổng
thể văn hóa
Mỗi hình thức tín ngưỡng đều có tính đặc thù
theo từng không gian văn hóa, chủ thể văn hóa cũng
như thời gian văn hóa khác nhau, song tựu trung
vẫn là biểu hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ và sùng bái
của con người vào cái thiêng Vì thế, tín ngưỡng là
một hiện tượng văn hóa mang tính lịch sử
Ngoài ra, tín ngưỡng không chỉ tồn tại ở dạng
trừu tượng mà còn tồn tại trong thực tiễn qua các
ứng xử cụ thể Các hình thức ứng xử này phản
ánh các điều kiện vật chất và tinh thần tương ứng
với môi trường tự nhiên và xã hội của một tộc
người, một cộng đồng nhất định
Có thể nói, tín ngưỡng là một thành tố văn
hóa mang tính đặc thù Tín ngưỡng là một hiện
tượng tâm lý, là niềm tin của con người Đối tượng
của nó là lực lượng siêu nhiên vô hình đầy quyền
lực do con người tạo ra bằng trí tưởng tượng của
mình Tín ngưỡng ảnh hưởng, chi phối hành động,
ứng xử của cá nhân và cộng đồng, được hiện thực hóa thành hiện tượng tâm lý xã hội Trong quá trình phát triển của lịch sử, tín ngưỡng luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực Mặt tích cực tạo nên những giá trị văn hóa, mặt tiêu cực là mê tín dị đoan và các hủ tục
Trong những điều kiện lịch sử nhất định, tín ngưỡng phát triển thành tôn giáo hay nói cách khác, tôn giáo là cấp độ cao của tín ngưỡng
Các cộng đồng tôn giáo như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, đều có các dạng thức văn hóa tín ngưỡng tương ứng như: văn hóa Phật giáo, văn hóa Kitô giáo, văn hóa Hồi giáo Trong quá trình hình thành và phát triển, bao giờ mỗi tôn giáo cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật
Do vị trí địa lý và nguyên nhân lịch sử, nhiều tôn giáo đã du nhập nước ta, khiến Việt Nam trở thành một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo Tuy nhiên, khi du nhập nước ta, các tôn giáo này không còn giữ nguyên mà được bản địa hóa, phát triển hòa đồng với các tín ngưỡng và tôn giáo khác, tạo nên một nét đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng, đó là hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”, cùng được dung nạp, thậm chí ngay trong một nơi thờ cúng, chẳng hạn tại đền Ngọc Sơn, Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo cùng hiện diện
Trang 28Tín ngưỡng là môi trường sản sinh, tích hợp
và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian bởi
con người muốn truyền đạt nguyện vọng của
mình lên thần linh cần thông qua các hình thức
biểu hiện như: múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm
vật, nơi thờ cúng Vì thế, tín ngưỡng mang tính
nguyên hợp do tích hợp nhiều giá trị văn hóa vật
thể và phi vật thể cùng tồn tại trong một tổng
thể văn hóa
Mỗi hình thức tín ngưỡng đều có tính đặc thù
theo từng không gian văn hóa, chủ thể văn hóa cũng
như thời gian văn hóa khác nhau, song tựu trung
vẫn là biểu hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ và sùng bái
của con người vào cái thiêng Vì thế, tín ngưỡng là
một hiện tượng văn hóa mang tính lịch sử
Ngoài ra, tín ngưỡng không chỉ tồn tại ở dạng
trừu tượng mà còn tồn tại trong thực tiễn qua các
ứng xử cụ thể Các hình thức ứng xử này phản
ánh các điều kiện vật chất và tinh thần tương ứng
với môi trường tự nhiên và xã hội của một tộc
người, một cộng đồng nhất định
Có thể nói, tín ngưỡng là một thành tố văn
hóa mang tính đặc thù Tín ngưỡng là một hiện
tượng tâm lý, là niềm tin của con người Đối tượng
của nó là lực lượng siêu nhiên vô hình đầy quyền
lực do con người tạo ra bằng trí tưởng tượng của
mình Tín ngưỡng ảnh hưởng, chi phối hành động,
ứng xử của cá nhân và cộng đồng, được hiện thực hóa thành hiện tượng tâm lý xã hội Trong quá trình phát triển của lịch sử, tín ngưỡng luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực Mặt tích cực tạo nên những giá trị văn hóa, mặt tiêu cực là mê tín dị đoan và các hủ tục
Trong những điều kiện lịch sử nhất định, tín ngưỡng phát triển thành tôn giáo hay nói cách khác, tôn giáo là cấp độ cao của tín ngưỡng
Các cộng đồng tôn giáo như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, đều có các dạng thức văn hóa tín ngưỡng tương ứng như: văn hóa Phật giáo, văn hóa Kitô giáo, văn hóa Hồi giáo Trong quá trình hình thành và phát triển, bao giờ mỗi tôn giáo cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật
Do vị trí địa lý và nguyên nhân lịch sử, nhiều tôn giáo đã du nhập nước ta, khiến Việt Nam trở thành một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo Tuy nhiên, khi du nhập nước ta, các tôn giáo này không còn giữ nguyên mà được bản địa hóa, phát triển hòa đồng với các tín ngưỡng và tôn giáo khác, tạo nên một nét đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng, đó là hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”, cùng được dung nạp, thậm chí ngay trong một nơi thờ cúng, chẳng hạn tại đền Ngọc Sơn, Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo cùng hiện diện
Trang 29Tuy nhiên, “dù hiểu trên góc độ nào, tín
ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã
hội, cũng là một nhu cầu của xã hội Và một khi
những nhu cầu ấy chưa được những hình thái
khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối
với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng - tôn giáo
vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi,
sự nâng đỡ về tâm lý”1
2 Tình hình đa tín ngưỡng ở Việt Nam
a) Tín ngưỡng ở các vùng, miền
Do vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở trung tâm
khu vực nhiệt đới gió mùa nên thiên nhiên có đặc
điểm tương đối phong phú, đa dạng Người Việt
xưa chủ yếu sống dựa vào việc khai thác tự nhiên
nên tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng
các vị thần tự nhiên (nhiên thần) khá phổ biến
Nằm ở ngã ba đường, nơi giao lưu của nhiều tộc
người, nhiều luồng văn minh, Việt Nam đã trở
thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính
đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các
vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần này cùng
đồng hành trong tâm thức người Việt, dẫn đến
một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng - đó là
tính hỗn dung về tín ngưỡng, tôn giáo
_
1 Nguyễn Hữu Thông: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền
Trung Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr 12
Với phương thức sống cơ bản là sản xuất nông nghiệp nên tín ngưỡng phồn thực, tôn thờ tự nhiên
là tín ngưỡng chủ đạo, xuất hiện ở nhiều làng quê Việt, thậm chí ở cả các làng nghề và làng ngư nghiệp Lúc đầu trong các làng ở Bắc Bộ, sản xuất nông nghiệp là phương thức sống chính, nghề thủ công là phụ, sau này, các làng nghề thủ công chuyên biệt đã xuất hiện, vì thế ở nhiều làng có hiện tượng tín ngưỡng phồn thực đan xen với tín ngưỡng Thành hoàng, thờ thần và các tín ngưỡng khác
Ở các làng ngư nghiệp ven biển miền Trung, phương thức sống chính là đánh bắt các sinh vật trên biển nên tín ngưỡng thờ thần biển khá phát triển, dù nhiều làng vẫn gắn bó với nông nghiệp Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ thủy thần, thần nước của nông dân gắn với lúa nước đã dần chuyển thành tín ngưỡng thờ Nam Hải, thờ
Cá Ông, thờ nữ thần biển Tuy nhiên, tín ngưỡng phồn thực vẫn tồn tại ở các làng này một cách gián tiếp qua tục cầu ngư, rước nước, cầu mưa, cầu trời yên biển lặng Các tục này suy cho cùng vẫn là khát vọng mong muốn thu được nhiều sản phẩm và gắn với văn hóa nông nghiệp Do cuộc sống gắn bó với biển đầy bất trắc nên tín ngưỡng thờ âm hồn, những người chết trên biển dần phát triển ở các làng biển này
Với các làng quê Nam Bộ, dấu ấn của những thế hệ người đi mở đất được thể hiện rất rõ qua
Trang 30Tuy nhiên, “dù hiểu trên góc độ nào, tín
ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã
hội, cũng là một nhu cầu của xã hội Và một khi
những nhu cầu ấy chưa được những hình thái
khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối
với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng - tôn giáo
vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi,
sự nâng đỡ về tâm lý”1
2 Tình hình đa tín ngưỡng ở Việt Nam
a) Tín ngưỡng ở các vùng, miền
Do vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở trung tâm
khu vực nhiệt đới gió mùa nên thiên nhiên có đặc
điểm tương đối phong phú, đa dạng Người Việt
xưa chủ yếu sống dựa vào việc khai thác tự nhiên
nên tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng
các vị thần tự nhiên (nhiên thần) khá phổ biến
Nằm ở ngã ba đường, nơi giao lưu của nhiều tộc
người, nhiều luồng văn minh, Việt Nam đã trở
thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính
đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các
vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần này cùng
đồng hành trong tâm thức người Việt, dẫn đến
một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng - đó là
tính hỗn dung về tín ngưỡng, tôn giáo
_
1 Nguyễn Hữu Thông: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền
Trung Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr 12
Với phương thức sống cơ bản là sản xuất nông nghiệp nên tín ngưỡng phồn thực, tôn thờ tự nhiên
là tín ngưỡng chủ đạo, xuất hiện ở nhiều làng quê Việt, thậm chí ở cả các làng nghề và làng ngư nghiệp Lúc đầu trong các làng ở Bắc Bộ, sản xuất nông nghiệp là phương thức sống chính, nghề thủ công là phụ, sau này, các làng nghề thủ công chuyên biệt đã xuất hiện, vì thế ở nhiều làng có hiện tượng tín ngưỡng phồn thực đan xen với tín ngưỡng Thành hoàng, thờ thần và các tín ngưỡng khác
Ở các làng ngư nghiệp ven biển miền Trung, phương thức sống chính là đánh bắt các sinh vật trên biển nên tín ngưỡng thờ thần biển khá phát triển, dù nhiều làng vẫn gắn bó với nông nghiệp Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ thủy thần, thần nước của nông dân gắn với lúa nước đã dần chuyển thành tín ngưỡng thờ Nam Hải, thờ
Cá Ông, thờ nữ thần biển Tuy nhiên, tín ngưỡng phồn thực vẫn tồn tại ở các làng này một cách gián tiếp qua tục cầu ngư, rước nước, cầu mưa, cầu trời yên biển lặng Các tục này suy cho cùng vẫn là khát vọng mong muốn thu được nhiều sản phẩm và gắn với văn hóa nông nghiệp Do cuộc sống gắn bó với biển đầy bất trắc nên tín ngưỡng thờ âm hồn, những người chết trên biển dần phát triển ở các làng biển này
Với các làng quê Nam Bộ, dấu ấn của những thế hệ người đi mở đất được thể hiện rất rõ qua
Trang 31tục thờ cọp, thờ cá sấu - những động vật hoang dã
luôn gây nguy hiểm cho con người và con người
vừa sợ hãi vừa có ý thức phải chinh phục chúng
Đó là lý do xuất hiện khá nhiều truyền thuyết về
cọp và cá sấu ở các vùng đất gắn với tục thờ và
cách gọi cọp là Ông Cọp, Ông Ba Mươi v.v Ngoài
ra, cũng do cuộc sống gắn với nông nghiệp nên tín
ngưỡng phồn thực vẫn tồn tại ở vùng đất này Đặc
biệt, lòng biết ơn những người tiên phong đi mở
đất khiến tín ngưỡng thờ bản cảnh Thành hoàng -
các vị khai canh, lập làng trở nên phổ biến ở các
địa phương này
Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống, các tộc
người cộng cư này không chỉ tạo ra sự đa dạng về
văn hóa mà còn tạo ra sự đa dạng về tín ngưỡng
Mỗi tín ngưỡng đều có nhiều biến thể trong quá
trình phát triển và giao lưu văn hóa Dựa trên
một số nét chung, có thể tạm phân chia các nhóm
tín ngưỡng như sau:
- Tín ngưỡng phồn thực
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Tín ngưỡng vòng đời người, liên quan tới sự
sinh nở, cưới hỏi, tang ma,
- Tín ngưỡng nghề nghiệp, gắn với việc thờ tổ nghề
- Tín ngưỡng thờ thần, tiêu biểu là tín ngưỡng
thờ Thành hoàng làng, thờ mẫu, thờ thổ công,
thổ địa,
b) Những tín ngưỡng tiêu biểu
* Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sơ
khai, thể hiện khát vọng cầu mong con người và tạo vật ngày càng sinh sôi nảy nở, được thể hiện dưới các hình thức mang tính phô diễn âm - dương, đực - cái Khi hiểu theo nghĩa rộng thì nó không chỉ là sự sinh sôi nòi giống hay biểu đạt tính tượng trưng của giao hòa nam nữ, mà còn thể hiện mong muốn, khát khao về cuộc sống no đủ, mùa màng tươi tốt của con người
Tín ngưỡng phồn thực xuất hiện ở nhiều vùng miền, nhưng khá nổi trội và đậm đặc ở các làng quê thuộc châu thổ Bắc Bộ Nhiều làng quê tới nay vẫn thờ những “dâm thần” không rõ tên tuổi như “dâm thần” ở làng Chảy (Hà Nam), thần đa tình ở Hoài Bão (Bắc Ninh), hay một cặp “dâm thần” ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh),
Hình thái đơn giản nhất của tín ngưỡng phồn thực biểu hiện rõ nét qua tục thờ sinh thực khí (cơ quan sinh dục nam, nữ) và thờ hành vi giao phối Dân gian cho rằng, tôn thờ hành vi giao phối và thực hành, phô diễn lại những hành vi hợp thân của nam nữ trong lễ hội cúng thần linh mang ý nghĩa “ma thuật”, làm mẫu để kích động cây cối, nhắc nhở trời đất Từ đó, hạt giống, cây trồng cũng như các sinh vật khác “bắt chước” mà sinh sôi, nảy nở để người dân có được vụ mùa bội thu,
Trang 32tục thờ cọp, thờ cá sấu - những động vật hoang dã
luôn gây nguy hiểm cho con người và con người
vừa sợ hãi vừa có ý thức phải chinh phục chúng
Đó là lý do xuất hiện khá nhiều truyền thuyết về
cọp và cá sấu ở các vùng đất gắn với tục thờ và
cách gọi cọp là Ông Cọp, Ông Ba Mươi v.v Ngoài
ra, cũng do cuộc sống gắn với nông nghiệp nên tín
ngưỡng phồn thực vẫn tồn tại ở vùng đất này Đặc
biệt, lòng biết ơn những người tiên phong đi mở
đất khiến tín ngưỡng thờ bản cảnh Thành hoàng -
các vị khai canh, lập làng trở nên phổ biến ở các
địa phương này
Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống, các tộc
người cộng cư này không chỉ tạo ra sự đa dạng về
văn hóa mà còn tạo ra sự đa dạng về tín ngưỡng
Mỗi tín ngưỡng đều có nhiều biến thể trong quá
trình phát triển và giao lưu văn hóa Dựa trên
một số nét chung, có thể tạm phân chia các nhóm
tín ngưỡng như sau:
- Tín ngưỡng phồn thực
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Tín ngưỡng vòng đời người, liên quan tới sự
sinh nở, cưới hỏi, tang ma,
- Tín ngưỡng nghề nghiệp, gắn với việc thờ tổ nghề
- Tín ngưỡng thờ thần, tiêu biểu là tín ngưỡng
thờ Thành hoàng làng, thờ mẫu, thờ thổ công,
thổ địa,
b) Những tín ngưỡng tiêu biểu
* Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sơ
khai, thể hiện khát vọng cầu mong con người và tạo vật ngày càng sinh sôi nảy nở, được thể hiện dưới các hình thức mang tính phô diễn âm - dương, đực - cái Khi hiểu theo nghĩa rộng thì nó không chỉ là sự sinh sôi nòi giống hay biểu đạt tính tượng trưng của giao hòa nam nữ, mà còn thể hiện mong muốn, khát khao về cuộc sống no đủ, mùa màng tươi tốt của con người
Tín ngưỡng phồn thực xuất hiện ở nhiều vùng miền, nhưng khá nổi trội và đậm đặc ở các làng quê thuộc châu thổ Bắc Bộ Nhiều làng quê tới nay vẫn thờ những “dâm thần” không rõ tên tuổi như “dâm thần” ở làng Chảy (Hà Nam), thần đa tình ở Hoài Bão (Bắc Ninh), hay một cặp “dâm thần” ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh),
Hình thái đơn giản nhất của tín ngưỡng phồn thực biểu hiện rõ nét qua tục thờ sinh thực khí (cơ quan sinh dục nam, nữ) và thờ hành vi giao phối Dân gian cho rằng, tôn thờ hành vi giao phối và thực hành, phô diễn lại những hành vi hợp thân của nam nữ trong lễ hội cúng thần linh mang ý nghĩa “ma thuật”, làm mẫu để kích động cây cối, nhắc nhở trời đất Từ đó, hạt giống, cây trồng cũng như các sinh vật khác “bắt chước” mà sinh sôi, nảy nở để người dân có được vụ mùa bội thu,
Trang 33cuộc sống no đủ Đó cũng chính là lý do để những
động tác giao hoan thể hiện sự hòa hợp âm -
dương vẫn tồn tại trong nhiều lễ hội
Thờ sinh thực khí còn được thể hiện qua việc
thờ các loại cột (cột đá tự nhiên hoặc cột đá được
tạc ra, trên khắc chữ dựng trước cổng đền, miếu,
đình) và các loại hốc hõm (hốc cây, hốc đá trong
các hang động, các kẽ nứt trên đá)
Ngoài ra, biểu tượng thờ sinh thực khí còn thể
hiện qua các trò chơi dân gian như đánh đu, cướp
cầu, cướp cây bông, tung còn, ném cầu, đánh phết,
đánh đáo,
Sinh thực khí dùng để thờ được hình tượng
hóa qua hai “vật hèm” có gọi tên là “Nõ”, “Nường”
“Nõ” là khúc gỗ ngắn tượng trưng cho sinh thực
khí nam, tượng trưng cho sức mạnh dương khí, sự
sinh sôi nảy nở “Nường” là mảnh gỗ hình tam
giác có đục lỗ hoặc điểm dấu màu son đỏ, tượng
trưng cho sinh thực khí nữ, biểu thị sức chứa
đựng Chất liệu nếu không là đá, gỗ, mo cau thì
cũng là tre, lá dứa, hoặc cách điệu nữa là lúa, bột,
gạo , làm ra “vật hèm” hàm nghĩa chỉ dương vật
(cột đá dựng đứng, cột trụ tròn, cây bông, cây gậy,
quả cầu tròn, chiếc bánh chưng dài ) và âm vật
(khe đá, bánh dày, lỗ tròn hoặc vuông ) Những
“vật hèm” tượng trưng đó sau khi thờ, cúng sẽ
được đem ra phân phát hoặc để cho mọi người
dự hội tranh giành, cướp lấy coi như được lộc Tất cả đều biểu hiện sức mạnh của sự sinh sôi, duy trì nòi giống mà dân gian quen gọi là “cầu đinh” hay “cầu con”, mang đậm sắc thái phồn thực Tục thờ đá cũng là một loại hình tín ngưỡng đáng chú ý Thờ đá là hình thức tín ngưỡng sơ khai xuất hiện rất sớm trên thế giới Với quan niệm vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ đá phổ biến
ở nhiều nơi và vẫn giữ được những nét nguyên sơ nhất Việc thờ đá cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tín ngưỡng phồn thực qua tục thờ sinh thực khí trong các nghi lễ nông nghiệp Đây là tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng khá rõ trong những lễ hội liên quan đến yếu tố nước Với tính chất cứng rắn,
đá luôn được coi là biểu tượng cho sự hiện diện của thần linh, tạo nên sức mạnh Đối với nhiều cộng đồng trên thế giới, các công cụ bằng đá không chỉ đơn thuần là vật dụng lao động, mà nó còn là vật thiêng mang ý nghĩa ma thuật Đá là tượng thân cơ bản của núi Hình dáng sừng sững của núi lại thường được xem như trục vũ trụ, thông linh giữa trời và đất, đá vì thế có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người tới các thế lực siêu nhiên khác Và đương nhiên, có một mong muốn rất mãnh liệt mà con người đã từng gửi gắm vào đá: đá có thể mang sức mạnh điều chỉnh nguồn nước theo khẩn nguyện của con người
Trang 34cuộc sống no đủ Đó cũng chính là lý do để những
động tác giao hoan thể hiện sự hòa hợp âm -
dương vẫn tồn tại trong nhiều lễ hội
Thờ sinh thực khí còn được thể hiện qua việc
thờ các loại cột (cột đá tự nhiên hoặc cột đá được
tạc ra, trên khắc chữ dựng trước cổng đền, miếu,
đình) và các loại hốc hõm (hốc cây, hốc đá trong
các hang động, các kẽ nứt trên đá)
Ngoài ra, biểu tượng thờ sinh thực khí còn thể
hiện qua các trò chơi dân gian như đánh đu, cướp
cầu, cướp cây bông, tung còn, ném cầu, đánh phết,
đánh đáo,
Sinh thực khí dùng để thờ được hình tượng
hóa qua hai “vật hèm” có gọi tên là “Nõ”, “Nường”
“Nõ” là khúc gỗ ngắn tượng trưng cho sinh thực
khí nam, tượng trưng cho sức mạnh dương khí, sự
sinh sôi nảy nở “Nường” là mảnh gỗ hình tam
giác có đục lỗ hoặc điểm dấu màu son đỏ, tượng
trưng cho sinh thực khí nữ, biểu thị sức chứa
đựng Chất liệu nếu không là đá, gỗ, mo cau thì
cũng là tre, lá dứa, hoặc cách điệu nữa là lúa, bột,
gạo , làm ra “vật hèm” hàm nghĩa chỉ dương vật
(cột đá dựng đứng, cột trụ tròn, cây bông, cây gậy,
quả cầu tròn, chiếc bánh chưng dài ) và âm vật
(khe đá, bánh dày, lỗ tròn hoặc vuông ) Những
“vật hèm” tượng trưng đó sau khi thờ, cúng sẽ
được đem ra phân phát hoặc để cho mọi người
dự hội tranh giành, cướp lấy coi như được lộc Tất cả đều biểu hiện sức mạnh của sự sinh sôi, duy trì nòi giống mà dân gian quen gọi là “cầu đinh” hay “cầu con”, mang đậm sắc thái phồn thực Tục thờ đá cũng là một loại hình tín ngưỡng đáng chú ý Thờ đá là hình thức tín ngưỡng sơ khai xuất hiện rất sớm trên thế giới Với quan niệm vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ đá phổ biến
ở nhiều nơi và vẫn giữ được những nét nguyên sơ nhất Việc thờ đá cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tín ngưỡng phồn thực qua tục thờ sinh thực khí trong các nghi lễ nông nghiệp Đây là tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng khá rõ trong những lễ hội liên quan đến yếu tố nước Với tính chất cứng rắn,
đá luôn được coi là biểu tượng cho sự hiện diện của thần linh, tạo nên sức mạnh Đối với nhiều cộng đồng trên thế giới, các công cụ bằng đá không chỉ đơn thuần là vật dụng lao động, mà nó còn là vật thiêng mang ý nghĩa ma thuật Đá là tượng thân cơ bản của núi Hình dáng sừng sững của núi lại thường được xem như trục vũ trụ, thông linh giữa trời và đất, đá vì thế có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người tới các thế lực siêu nhiên khác Và đương nhiên, có một mong muốn rất mãnh liệt mà con người đã từng gửi gắm vào đá: đá có thể mang sức mạnh điều chỉnh nguồn nước theo khẩn nguyện của con người
Trang 35Hiện tượng thờ đá cầu mưa phổ biến trên thế giới là
minh chứng của tầng ý nghĩa chuyển tải khát
vọng trần thế của con người
Tục thờ Tứ Pháp ở chùa Sét trong quan hệ với
Thạch Quang Phật phần nào cho thấy, đá trong lễ
hội này đã mang ý nghĩa tượng trưng cho sinh
thực khí Thạch Quang Phật (hiện được thờ ở chùa
Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là bức
tượng đá mang ý nghĩa truyền sinh lực và pháp
thuật tạo mưa của nhà sư Khâu Đà La cho Tứ
Pháp đã giữ vai trò sinh tạo Bản thân hình dáng
pho tượng giống sinh thực khí nam đã nhấn mạnh
rõ hơn điều này Với vai trò của một thực thể chứa
đựng linh hồn thiêng liêng, phiến đá mà Linh
Lang Đại vương gối lên khi hóa được thờ trong
đền Voi Phục (Hà Nội), đã gắn kết quan hệ giữa
đá thiêng với con giao long dài trăm trượng trườn
xuống Hồ Tây Trong lần giáng độ cứu đời, đức
Huyền Thiên Trấn Vũ, một vị thần trị thủy, đã để
lại vết chân ở tảng đá lớn trên đỉnh núi Sái Núi
Sái vì vậy trở thành núi thiêng, là nơi tu hành của
người có công giúp vua Thục ngăn nước, xây thành
Như vậy, đá không chỉ là công cụ lao động mà
còn chứa đựng ý nghĩa ma thuật và là nơi trú ngụ
của thần linh Trong tâm trí con người, đá và đặc
biệt là núi đá chính là nơi có thần linh, thánh hiện
và tiên giáng trần Vì thế, đá vừa tồn tại như một
linh vật truyền dẫn ý niệm của con người đến thế giới siêu nhiên, vừa tồn tại với tư cách là vị thần (thần đá) Thế nên, khi mong ước những điều tốt lành, người ta thường dùng đá thiêng để cầu khấn các thế lực thánh thần hoặc cầu khấn chính vị
thần đang hiện hữu trong đá
* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng quan trọng của người Việt, được một số nhà nghiên cứu coi là một hình thức tôn giáo sơ khai1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống chỉ thực sự ra đời và phát triển trong thời kỳ thị tộc phụ hệ, nhất là khi gia đình trở thành một cơ
sở kinh tế độc lập về sản xuất và tiêu thụ Nền kinh tế tiểu nông theo kiểu tự cung, tự cấp tồn tại lâu dài trong xã hội Việt Nam trong đó người đàn ông đóng vai trò độc tôn là cơ sở cho sự hình thành
và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Thời kỳ này, hạnh phúc của cá nhân lệ thuộc vào gia đình, vào các bậc trưởng bối, khiến tâm lý tuân phục bề trên hình thành và dần ăn sâu vào nhận thức con người Thêm nữa, trong nhận thức, người Việt quan niệm, con người bao giờ cũng có _
1 Xem Đặng Nghiêm Vạn: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia -
Sự thật, Hà Nội, 2011
Trang 36Hiện tượng thờ đá cầu mưa phổ biến trên thế giới là
minh chứng của tầng ý nghĩa chuyển tải khát
vọng trần thế của con người
Tục thờ Tứ Pháp ở chùa Sét trong quan hệ với
Thạch Quang Phật phần nào cho thấy, đá trong lễ
hội này đã mang ý nghĩa tượng trưng cho sinh
thực khí Thạch Quang Phật (hiện được thờ ở chùa
Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là bức
tượng đá mang ý nghĩa truyền sinh lực và pháp
thuật tạo mưa của nhà sư Khâu Đà La cho Tứ
Pháp đã giữ vai trò sinh tạo Bản thân hình dáng
pho tượng giống sinh thực khí nam đã nhấn mạnh
rõ hơn điều này Với vai trò của một thực thể chứa
đựng linh hồn thiêng liêng, phiến đá mà Linh
Lang Đại vương gối lên khi hóa được thờ trong
đền Voi Phục (Hà Nội), đã gắn kết quan hệ giữa
đá thiêng với con giao long dài trăm trượng trườn
xuống Hồ Tây Trong lần giáng độ cứu đời, đức
Huyền Thiên Trấn Vũ, một vị thần trị thủy, đã để
lại vết chân ở tảng đá lớn trên đỉnh núi Sái Núi
Sái vì vậy trở thành núi thiêng, là nơi tu hành của
người có công giúp vua Thục ngăn nước, xây thành
Như vậy, đá không chỉ là công cụ lao động mà
còn chứa đựng ý nghĩa ma thuật và là nơi trú ngụ
của thần linh Trong tâm trí con người, đá và đặc
biệt là núi đá chính là nơi có thần linh, thánh hiện
và tiên giáng trần Vì thế, đá vừa tồn tại như một
linh vật truyền dẫn ý niệm của con người đến thế giới siêu nhiên, vừa tồn tại với tư cách là vị thần (thần đá) Thế nên, khi mong ước những điều tốt lành, người ta thường dùng đá thiêng để cầu khấn các thế lực thánh thần hoặc cầu khấn chính vị
thần đang hiện hữu trong đá
* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng quan trọng của người Việt, được một số nhà nghiên cứu coi là một hình thức tôn giáo sơ khai1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống chỉ thực sự ra đời và phát triển trong thời kỳ thị tộc phụ hệ, nhất là khi gia đình trở thành một cơ
sở kinh tế độc lập về sản xuất và tiêu thụ Nền kinh tế tiểu nông theo kiểu tự cung, tự cấp tồn tại lâu dài trong xã hội Việt Nam trong đó người đàn ông đóng vai trò độc tôn là cơ sở cho sự hình thành
và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Thời kỳ này, hạnh phúc của cá nhân lệ thuộc vào gia đình, vào các bậc trưởng bối, khiến tâm lý tuân phục bề trên hình thành và dần ăn sâu vào nhận thức con người Thêm nữa, trong nhận thức, người Việt quan niệm, con người bao giờ cũng có _
1 Xem Đặng Nghiêm Vạn: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia -
Sự thật, Hà Nội, 2011
Trang 37hai phần: phần xác và phần hồn Hai phần này
vừa gắn bó, vừa tách biệt với nhau Khi con người
sống, hồn nhập vào xác để điều khiển hành vi Khi
con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác hòa
vào với cát bụi nhưng linh hồn vẫn tồn tại bất diệt
thông qua hệ thống mồ mả chứa đựng di hài,
xương cốt Lúc này phần hồn sẽ chuyển sang sống
ở một thế giới khác (cõi âm) Cõi âm (được mô
phỏng từ cõi dương) là nơi mà mọi linh hồn đều có
các nhu cầu như cuộc sống nơi trần thế, nhưng
người cõi âm lại có “quyền năng đặc biệt”, có thể
phù trợ hoặc trừng phạt con cháu tùy theo cách
ứng xử của con cháu với tổ tiên Có thể hiểu là,
thế giới của linh hồn người chết luôn hiện hữu
song hành với thế giới người sống Biết ơn và thờ
cúng tổ tiên sẽ được phù trợ, ăn nên làm ra, bất
kính với tổ tiên sẽ bị trừng phạt
Theo thời gian, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ngày
càng định hình, được củng cố và phát triển Hầu hết
mọi người cho dù thuộc các tôn giáo nào đều thờ
cúng tổ tiên Tín ngưỡng này vừa như một phong
tục truyền thống, vừa như một đạo lý làm người, lại
vừa như một hình thức sinh hoạt tâm linh của người
Việt Nam
Thờ cúng tổ tiên được thể hiện ở ba cấp: gia
đình, làng xã, đất nước Trong gia đình, người Việt
thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người
cùng huyết thống đã mất Đây không chỉ là vấn đề tín ngưỡng mà còn là vấn đề đạo lý, thể hiện lòng hiếu kính, biết ơn của con cháu đối với công sinh thành, dưỡng dục của tổ tiên, ông bà, cha mẹ Nơi thờ cúng là ở gia đình và nhà thờ họ Ở cấp độ làng xã, người Việt còn thờ cúng những người có công với làng xã và được tôn vinh là Thành hoàng, nơi thờ cúng thường ở đình làng Ở cấp độ quốc gia, người Việt thờ cúng tổ tiên là các vua Hùng
và những anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo,
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - tổ tiên của người Việt, tổ tiên chung của dân tộc Việt Nam - bắt nguồn từ thời đại các Vua Hùng với niềm tin cả dân tộc có cùng chung giống nòi “con Rồng cháu Tiên”, cùng chung một nguồn cội (Tổ); đồng thời thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng
Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử của người Việt, được cai trị bởi 18 đời Vua Hùng Các Vua Hùng đã dạy dân trồng lúa nước và chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng, để thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp như thờ thần lúa, thần mặt trời để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy nở Để ghi nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng, nhân dân đã lập đền thờ tại khu
Trang 38hai phần: phần xác và phần hồn Hai phần này
vừa gắn bó, vừa tách biệt với nhau Khi con người
sống, hồn nhập vào xác để điều khiển hành vi Khi
con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác hòa
vào với cát bụi nhưng linh hồn vẫn tồn tại bất diệt
thông qua hệ thống mồ mả chứa đựng di hài,
xương cốt Lúc này phần hồn sẽ chuyển sang sống
ở một thế giới khác (cõi âm) Cõi âm (được mô
phỏng từ cõi dương) là nơi mà mọi linh hồn đều có
các nhu cầu như cuộc sống nơi trần thế, nhưng
người cõi âm lại có “quyền năng đặc biệt”, có thể
phù trợ hoặc trừng phạt con cháu tùy theo cách
ứng xử của con cháu với tổ tiên Có thể hiểu là,
thế giới của linh hồn người chết luôn hiện hữu
song hành với thế giới người sống Biết ơn và thờ
cúng tổ tiên sẽ được phù trợ, ăn nên làm ra, bất
kính với tổ tiên sẽ bị trừng phạt
Theo thời gian, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ngày
càng định hình, được củng cố và phát triển Hầu hết
mọi người cho dù thuộc các tôn giáo nào đều thờ
cúng tổ tiên Tín ngưỡng này vừa như một phong
tục truyền thống, vừa như một đạo lý làm người, lại
vừa như một hình thức sinh hoạt tâm linh của người
Việt Nam
Thờ cúng tổ tiên được thể hiện ở ba cấp: gia
đình, làng xã, đất nước Trong gia đình, người Việt
thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người
cùng huyết thống đã mất Đây không chỉ là vấn đề tín ngưỡng mà còn là vấn đề đạo lý, thể hiện lòng hiếu kính, biết ơn của con cháu đối với công sinh thành, dưỡng dục của tổ tiên, ông bà, cha mẹ Nơi thờ cúng là ở gia đình và nhà thờ họ Ở cấp độ làng xã, người Việt còn thờ cúng những người có công với làng xã và được tôn vinh là Thành hoàng, nơi thờ cúng thường ở đình làng Ở cấp độ quốc gia, người Việt thờ cúng tổ tiên là các vua Hùng
và những anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo,
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - tổ tiên của người Việt, tổ tiên chung của dân tộc Việt Nam - bắt nguồn từ thời đại các Vua Hùng với niềm tin cả dân tộc có cùng chung giống nòi “con Rồng cháu Tiên”, cùng chung một nguồn cội (Tổ); đồng thời thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng
Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử của người Việt, được cai trị bởi 18 đời Vua Hùng Các Vua Hùng đã dạy dân trồng lúa nước và chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng, để thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp như thờ thần lúa, thần mặt trời để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy nở Để ghi nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng, nhân dân đã lập đền thờ tại khu
Trang 39di tích lịch sử Đền Hùng (hiện nay) và lấy ngày
mùng Mười tháng Ba âm lịch hằng năm là ngày
giỗ Tổ
Việc thờ cúng Hùng Vương có sức sống lâu bền
qua hàng chục thế kỷ, từ trung tâm vùng núi Nghĩa
Lĩnh, đã dội ngược lên miền núi, lan xuống đồng
bằng, xuôi vào miền Trung, miền Nam, ra nước
ngoài Tổng số trên cả nước hiện có 1.417 đền thờ
Vua Hùng
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có nhiều
hình thức đa dạng như: Vua Hùng được phối thờ
(thờ chung) với nhiều nhân vật lịch sử trong
huyền thoại, nhân vật lịch sử có thật và với các
nhiên thần như Long Hải Đại Vương, Phù Đổng
Thiên Vương, các con của Lạc Long Quân Ở
nhiều nơi, các Vua Hùng còn được người dân phối
thờ tại bàn thờ dòng họ Thậm chí, người Việt
Nam sống ở nước ngoài khi có điều kiện cũng
“thỉnh” chân hương tại đất Tổ (Phú Thọ) để mang
về cắm trên bàn thờ của gia đình
Ngày 6-12-2012, UNESCO đã chính thức công
nhận tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở 109 làng
có đình, đền thờ Vua Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ là
Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân
loại Đây là di sản đầu tiên của Việt Nam được
vinh danh ở loại hình tín ngưỡng Đây cũng là lần
đầu tiên UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Tổ là
Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
* Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Tục thờ Thành hoàng ở nước ta có ảnh hưởng
từ văn hóa thời nhà Đường của Trung Quốc Sau khi du nhập làng xã Việt Nam, tín ngưỡng này đã nhanh chóng bám rễ vào tâm thức người dân Việt Nam và thay đổi, phát triển hết sức đa dạng, phong phú
Có ý kiến cho rằng, khởi đầu, Thành hoàng được thờ ở miếu Vào ngày sóc (mùng Một) và ngày vọng (ngày Rằm) dân làng đến miếu làm lễ Vấn (theo nghĩa kính viếng) Miếu này còn gọi là
“nghè”, nơi gìn giữ sắc thần Ngày tế lễ, dân làng rước sắc thần từ miếu đến đình để cử hành việc tế
lễ, sau đó lại đưa về miếu Sau này, đình mới trở thành nơi thờ Thành hoàng
Sự tích và công trạng của Thành hoàng được ghi lại trong các thần tích Các văn bản thần tích này chủ yếu được viết bằng chữ Hán, đến triều đại
Lê trung hưng (1533-1789) thì xuất hiện văn bản thần tích viết bằng chữ Nôm Lại có một số văn bản diễn ca theo lối lục bát hoặc song thất lục bát Nhiều bản thần tích có nội dung gần giống nhau, nhất là các văn bản do Nguyễn Bính phụng biên, Nguyễn Hiền phụng sao Các Thành hoàng nói chung đều do linh khí của trời đất tạo ra, công tích của các vị thường được kể dài dòng, từ thành phần xuất thân, quê hương bản quán đến việc
Trang 40di tích lịch sử Đền Hùng (hiện nay) và lấy ngày
mùng Mười tháng Ba âm lịch hằng năm là ngày
giỗ Tổ
Việc thờ cúng Hùng Vương có sức sống lâu bền
qua hàng chục thế kỷ, từ trung tâm vùng núi Nghĩa
Lĩnh, đã dội ngược lên miền núi, lan xuống đồng
bằng, xuôi vào miền Trung, miền Nam, ra nước
ngoài Tổng số trên cả nước hiện có 1.417 đền thờ
Vua Hùng
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có nhiều
hình thức đa dạng như: Vua Hùng được phối thờ
(thờ chung) với nhiều nhân vật lịch sử trong
huyền thoại, nhân vật lịch sử có thật và với các
nhiên thần như Long Hải Đại Vương, Phù Đổng
Thiên Vương, các con của Lạc Long Quân Ở
nhiều nơi, các Vua Hùng còn được người dân phối
thờ tại bàn thờ dòng họ Thậm chí, người Việt
Nam sống ở nước ngoài khi có điều kiện cũng
“thỉnh” chân hương tại đất Tổ (Phú Thọ) để mang
về cắm trên bàn thờ của gia đình
Ngày 6-12-2012, UNESCO đã chính thức công
nhận tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở 109 làng
có đình, đền thờ Vua Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ là
Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân
loại Đây là di sản đầu tiên của Việt Nam được
vinh danh ở loại hình tín ngưỡng Đây cũng là lần
đầu tiên UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Tổ là
Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
* Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Tục thờ Thành hoàng ở nước ta có ảnh hưởng
từ văn hóa thời nhà Đường của Trung Quốc Sau khi du nhập làng xã Việt Nam, tín ngưỡng này đã nhanh chóng bám rễ vào tâm thức người dân Việt Nam và thay đổi, phát triển hết sức đa dạng, phong phú
Có ý kiến cho rằng, khởi đầu, Thành hoàng được thờ ở miếu Vào ngày sóc (mùng Một) và ngày vọng (ngày Rằm) dân làng đến miếu làm lễ Vấn (theo nghĩa kính viếng) Miếu này còn gọi là
“nghè”, nơi gìn giữ sắc thần Ngày tế lễ, dân làng rước sắc thần từ miếu đến đình để cử hành việc tế
lễ, sau đó lại đưa về miếu Sau này, đình mới trở thành nơi thờ Thành hoàng
Sự tích và công trạng của Thành hoàng được ghi lại trong các thần tích Các văn bản thần tích này chủ yếu được viết bằng chữ Hán, đến triều đại
Lê trung hưng (1533-1789) thì xuất hiện văn bản thần tích viết bằng chữ Nôm Lại có một số văn bản diễn ca theo lối lục bát hoặc song thất lục bát Nhiều bản thần tích có nội dung gần giống nhau, nhất là các văn bản do Nguyễn Bính phụng biên, Nguyễn Hiền phụng sao Các Thành hoàng nói chung đều do linh khí của trời đất tạo ra, công tích của các vị thường được kể dài dòng, từ thành phần xuất thân, quê hương bản quán đến việc