Thực tế giảng dạy cho thấy Hoá học vẫn là một môn học khó, đến lớp 8 của chương trình THCS các em mới được học vì nó đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy, sự nhạy bén, thông minh… để hiểu rõ những khái niệm khá trừu tượng, những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống. Thời lượng giảng dạy trong tuần cho bộ môn này ở lớp 8 không nhiều sovới các môn khác 2 tiếttuần. Khi học các vấn đề lí thuyết thì HS có thể học thuộc nhưng khi học đến đến công thức hóa học, phương trình hóa học, các bài toán tính theo CTHH và PTHH…thì HS cần phải có kiến thức về môn toán để giải các bài tập nên những học sinh yếu, kém về môn Toán sẽ gặp khó khăn. Bên cạnh một số ít học sinh yêu thích học tập, nghiên cứu môn học để tìm tòi, sáng tạo thì vẫn còn phần lớn học sinh chưa thấy hứng thú học tập dẫn đến chán nản không thích học bộ môn này. Lâu dần, lỗ hổng kiến thức càng nhiều, các em học sinh yếu, kém chỉ còn cách chống chế, học miễn cưỡng, đối phó với tiết học cho hết giờ nên chất lượng bộ môn đi xuống. Là một giáo viên được phân công giảng dạy bộ môn Hóa học của trường THCS Thịnh Đức, tôi luôn trăn trở làm thế nào để giúp học sinh có hứng thú, yêu thích bộ môn để học tập tốt hơn. Vì vậy, sau một thời gian suy nghĩ, trao đổi với đồng nghiệp tôi mạnh dạn chia sẻ: “Một vài kinh nghiệm rèn luyện học sinh yếu, kém môn Hoá học 8” mà bản thân đã áp dụng trong quá trình giảng dạy để giúp các em từ sự chán nản, bỏ hẳn môn học có thể lấy lại tự tin, hứng thú với môn học góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Trang 1UBND THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG THCS THỊNH ĐỨC
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: MỘT VÀI KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN HỌC SINH
YẾU, KÉM MÔN HÓA HỌC 8.
Tác giả: LÊ THU HIỀN
Chức vụ: GIÁO VIÊN
Đơn vị công tác: TRƯỜNG THCS THỊNH ĐỨC
TP Thái Nguyên, tháng 3 năm 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến thành phố Thái Nguyên.
-Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT Họ và tên
Ngày tháng năm sinh
Nơi công tác Chức
danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một vài kinh nghiệm rèn
luyện học sinh yếu, kém môn Hóa học 8.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Hóa học
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 05/9/2017
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện học sinh yếu, kém môn Hóa học 8nhằm nâng cao hứng thú, yêu thích học tập bộ môn góp phần nâng cao chấtlượng học tập ở trường THCS Thịnh Đức
+ Nội dung của sáng kiến:
Trang 3với các môn khác 2 tiết/tuần Khi học các vấn đề lí thuyết thì HS có thể họcthuộc nhưng khi học đến đến công thức hóa học, phương trình hóa học, các bàitoán tính theo CTHH và PTHH…thì HS cần phải có kiến thức về môn toán đểgiải các bài tập nên những học sinh yếu, kém về môn Toán sẽ gặp khó khăn Bêncạnh một số ít học sinh yêu thích học tập, nghiên cứu môn học để tìm tòi, sángtạo thì vẫn còn phần lớn học sinh chưa thấy hứng thú học tập dẫn đến chán nảnkhông thích học bộ môn này Lâu dần, lỗ hổng kiến thức càng nhiều, các em họcsinh yếu, kém chỉ còn cách chống chế, học miễn cưỡng, đối phó với tiết học chohết giờ nên chất lượng bộ môn đi xuống Là một giáo viên được phân cônggiảng dạy bộ môn Hóa học của trường THCS Thịnh Đức, tôi luôn trăn trở làmthế nào để giúp học sinh có hứng thú, yêu thích bộ môn để học tập tốt hơn Vìvậy, sau một thời gian suy nghĩ, trao đổi với đồng nghiệp tôi mạnh dạn chia sẻ:
“Một vài kinh nghiệm rèn luyện học sinh yếu, kém môn Hoá học 8” mà bản
thân đã áp dụng trong quá trình giảng dạy để giúp các em từ sự chán nản, bỏ hẳnmôn học có thể lấy lại tự tin, hứng thú với môn học góp phần nâng cao chấtlượng học tập bộ môn
2 Giải pháp thực hiện.
Từ thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy rằng để HS không còn yếu, kémcũng như từng bước tạo hứng thú say mê đối với môn học này của các em nhằmngày càng nâng cao chất lượng bộ môn thì cần phải trải qua những bước làm cụthể sau:
2.1 Phân loại học sinh, giúp đỡ, động viên kịp thời.
Sau những tiết học đầu tiên GV sẽ kiểm tra kiến thức của HS, trao đổi vớigiáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn của năm học trước để có thể nắm rõ tínhcách, hoàn cảnh, học lực những môn học có liên quan
Phân loại đối tượng học sinh, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến học sinhhọc yếu, kém do đâu như: Do rỗng kiến thức các môn liên quan, khả năng tiếpthu kiến thức chậm, do hoàn cảnh gia đình hay do bản thân các em lười học từ
đó có biện pháp giúp đỡ kịp thời
Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà quan trọng hơn là tổ chức
Trang 4những tình huống kích thích sự tò mò, đòi học của các em, hướng dẫn các emkhắc phục khó khăn mà học tập để tiến bộ
Hướng dẫn, giúp cho các em biết cách học, có phương pháp học tập phùhợp với bộ môn ngay từ bài mở đầu như cách ghi tóm tắt, cách nhớ, mẹo nhớ…
Ví dụ: Sau khi học xong bài Hóa trị hướng dẫn học sinh học thuộc hóa trịcủa một số nguyên tố và nhóm nguyên tử thường gặp
+ Cách nhớ hoá trị I của một số nguyên tố và gốc axit: Khi (K) nào (Na) đồng (Cu) bạc (Ag) có (Cl) hẹn (H) hò (-OH) nhau (-NO3) anh (AlO2) nhé (NH4).
+ Cách nhớ hoá trị II: Ba (Ba) Thuỷ (Hg) cần (Ca) mua (Mg) sắt (Fe) kẽm (Zn) đồng (Cu) cùng (=CO3) Oanh (O) sống (=S) sung (=SO3) sướng (=SO4)…
Giúp đỡ các học sinh yếu, kém trong giờ học chính khóa ngoài ra cần giúp
đỡ ngoài giờ theo nhóm học sinh
Thường xuyên kiểm tra bài, làm những bài tập đơn giản để động viên,khích lệ tinh thần, khen tặng những tiến bộ qua từng bài tập nhỏ Chẳng hạn:Khi các em tự hoàn thành một bài tập hay đã nắm vững một vấn đề thì có thểkhen: “Hôm nay em rất tiến bộ, cố gắng thêm”, tìm ra những điểm tốt của các
em để khen ngợi như tính cẩn thận, cách trình bày rõ ràng
Bản thân luôn tự nhắc nhở phải hết sức bình tĩnh, luôn nhẹ nhàng hướngdẫn từng vấn đề, không tỏ ra nóng giận, khó chịu, buông xuôi khi các em làm saibài tập, hay hiểu chưa đúng một vấn đề Quan tâm, trò chuyện tìm hiểu rõ hoàncảnh của các em để giúp đỡ kịp thời Sự khích lệ của thầy, cô làm cho học sinh
tự hào về mình, tự tin vào bản thân và có hứng thú học tập thực sự
2.2 Tạo hứng thú say mê, yêu thích học tập bộ môn cho học sinh.
Khi tạo cho học sinh hứng thú học tập bộ môn thì học sinh sẽ tích cực chủđộng tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức, hứng thú học tập củahọc sinh được hình thành thông qua không khí học tập do giáo viên tạo ra tronggiờ học Bởi một không khí học tập đầy hứng khởi sẽ kích thích sự say mê, giúphọc sinh tập trung tốt hơn vào bài học như thế hiệu quả giáo dục sẽ được nângcao Để tạo hứng thú, yêu thích bộ môn Hóa học cho học sinh tôi đã áp dụngmột số biện pháp sau và đem lại hiệu quả cao
Trang 52.2.1 Gây hứng thú học tập cho học sinh bằng cách liên hệ thực tế.
Cái mới luôn là cái kích thích chúng ta tìm hiểu nhất Việc liên hệ thực tế
sẽ thúc đẩy học sinh tìm tòi, khám phá trong học tập Hiểu và giải thích đượccác hiện tượng tự nhiên là một động cơ thúc đẩy học sinh học tập Các kiến thứcHóa học sẽ thu hút được sự chú ý lắng nghe trong giờ học, ham thích học hỏi,tìm kiếm sách vở, rèn luyện khả năng sử dụng sách… Qua đó, các em sẽ thấyđược những lý thú của các kiến thức đã học, tăng thêm lòng yêu thích môn học
Ví dụ 1: Khi học bài sự biến đổi chất GV yêu cầu học sinh giải thích hiệntượng “Ma trơi” thường xuất hiện ở các vùng đầm lầy hay nghĩa địa là hiện
tượng vật lí hay hiện tượng hóa học? (Hiện tượng hóa học)
Giải thích: Hiện tượng “Ma trơi” do sự tham gia của hai chất khí photphin PH3 và điphotphin P2H4 xuất hiện do sự phân hủy xương, xác động
thực vật ở khu vực như đầm lầy, nghĩa địa bằng hoạt động của các vi khuẩn
trong đất Chúng tích tụ lại và khi gặp điều kiện thuận lợi thì tự bốc cháy thành lửa, các đốm lửa nhỏ với độ sáng khá nhỏ (xanh nhạt), lập lòe, khi ẩn khi hiện.
Ban đêm mới thấy được ánh sáng còn ban ngày thì các đốm lửa này có thể bịánh sáng mặt trời che khuất (có sinh ra chất mới)
HS lớp 8A theo dõi giải thích hiện tượng “ma trơi”
Ví dụ 2: Bài 31: Tính chất - Ứng dụng của hiđro
Trang 6Trong các dịp lễ hội các em thường thấy người ta thả bóng bay Vậy tạisao quả bóng bay thổi bằng hơi thở của ta không bay lên được còn nếu đượcbơm khí hiđro vào thì bay lên được?
Giải thích: Vì trong hơi thở của ta có khí cacbonic, khí này nặng hơnkhông khí, nên khi thổi vào bóng làm bóng không bay được, còn khí hiđro do nhẹ hơn không khí nên khi bơm vào bóng làm bóng bay lên được
2.2.2 Gây hứng thú bằng các trò chơi kiến thức
Giáo viên lồng các trò chơi với nội dung câu hỏi khá sát với bài dạy,không yêu cầu độ khó cao nhằm ôn tập lại kiến thức cho các em Phần này cóthể thay thế cho kiểm tra bài cũ đầy áp lực hoặc giới thiệu bài mới tạo không khívui tươi trước khi vào tiết học, củng cố bài để cho học sinh sau tiết học căngthẳng Biện pháp này vừa giúp các em thoải mái tiếp thu kiến thức mới vừa giúpcác em rèn luyện thêm nhiều kĩ năng như hoạt động nhóm, thảo luận, phản xạnhanh… Đặc biệt là học sinh yếu, kém có hứng thú học tập hơn khi tự mình trảlời được các câu hỏi Có rất nhiều trò chơi có thể áp dụng trong dạy học Hóa họcnhư ô số may mắn, trò chơi ô chữ, đấu trường, ai là triệu phú, Tùy từng phần,bài học cụ thể mà giáo viên sẽ lồng ghép các trò chơi vào bài giảng sao cho hợp
lí nhất
Ví dụ 1: Trò chơi dọn sạch đại dương
Sau khi học xong bài phản ứng hóa học (tiết 1) GV có thể cho HS chơi tròchơi này để củng cố bài học
* Giao diện trò chơi:
Trang 7Nội dung các câu hỏi:
Câu 1: Hãy đọc phương trình chữ sau
Canxi cacbonat + axit clohiđric → Canxi clorua + Khí cacbonic + Nước
Đáp án: Canxi cacbonat tác dụng với axit clohiđric tạo ra canxi clorua,
khí cacbonic và nước
Câu 2: Khẳng định nào đúng?
Trong một phản ứng hoá học, các chất phản ứng và sản phẩm phảichứa cùng:
A Số nguyên tử trong mỗi chất B Số nguyên tử của mỗi nguyên tố
C Số nguyên tố tạo ra chất D Số phân tử của mỗi chất
Đáp án: B
Câu 3: Đốt photpho trong oxi thu được chất điphotpho pentaoxit Phươngtrình chữ nào sau đây biểu diễn đúng PƯHH trên:
A Photpho + điphotpho pentaoxit khí Oxi
B Photpho khí Oxi + điphotpho pentaoxit
t 0
t 0
Trang 8C Phot pho + khí ôxi điphotpho pentaoxit
Đáp án: C
Câu 4: Chúc mừng bạn đã được dọn sạch được rác mà không phải trả lờicâu hỏi
Trò chơi này vừa có tác dụng kiểm tra được kiến thức vừa giáo dục được
ý thức bảo vệ môi trường của học sinh Đặc biệt thích hợp với bài học có nộidung giáo dục bảo vệ môi trường
Ví dụ 2: Sau bài sự biến đổi chất Giaos viên tổ chức cho học sinh chơi tròchơi ô số may mắn bằng cách cá nhân chọn ô số và trả lời câu hỏi Đánh giábằng cách cho điểm khi trả lời đúng
Giao diện trò chơi
Nội dung câu hỏi.
1 Quá trình quang hợp của cây xanh là hiện tượng hóa học hay hiệntượng vật lí? Giải thích?
2 Quan sát video và cho biết hiện tượng băng tan thuộc loại hiện tượngnào? Giải thích?
3 Hiện tượng thủy triều thuộc loại hiện tượng nào? Giải thích?
t 0
Trang 94 Em hãy cho biết hình ảnh sau đây
thuộc loại hiện tượng nào? Nêu tác hại của
hiện tượng này?
5 Ô may mắn
2.2.3 Gây hứng thú bằng việc sử dụng các câu chuyện vui
Ví dụ 1: Chuyện vui “Toán học và hoá học”
Một hôm nhà toán học Đức Karl Gauss tranh luận với nhà hoá học ÝAvogađro Ông tỏ ra khinh thường hoá học và cho rằng chỉ toán học mới có cácđịnh luật, còn hoá học chỉ là người phục vụ cho toán học mà thôi Avogađro dẫnGauss vào phòng thí nghiệm và tự mình làm phản ứng: Cho một thể tích oxi tácdụng với hai thể tích hiđro để tạo thành hai thể tích nước ở dạng hơi:
O2 + 2H2 2H2O
Lúc đó nhà hóa học mới mỉm cười, bảo nhà toán học:
- Ngài thấy chưa? Nếu hoá học đã muốn thì toán học phải chào thua Hai cộng với một, bất chấp toán học cũng vẫn chỉ là hai thôi đấy!
* Áp dụng: Bài 18: “Mol” và Bài 36: “Nước”
Ví dụ 2: Khí cười
Nhà hóa học Anh Humphry Davy khi nghiên cứu về các oxit nitơ đã pháthiện ra một loại oxit có tính chất sinh lý rất độc đáo – thậm chí kỳ cục Một sốngười tỏ ra hoài nghi kết quả này Thế là Davy quyết định sẽ công bố chất khínày trong một buổi dạ hội mà thành viên tham gia gồm toàn các bậc quý tộcAnh Khi Davy mang một cái bình lớn đến dạ hội thì các quý ông, quý bà trongnhững trang phục lộng lẫy đắt tiền đã chờ đợi sẵn Ông mở nắp bình và mộtcảnh tượng vô cùng lạ đã xảy ra Các quý bà cười như nắc nẻ, cười đến chảynước mắt, quặn ruột, mồ hôi ướt đầm đến khổ Một số quý tộc lại nhảy đại lênbàn ghế, làm vỡ mấy chiếc bình pha lê tuyệt đẹp của chủ nhà Một số vị khác lạithè mãi lưỡi ra và không ít vị xông vào nhau ẩu đả Và ông Davy, đứng trước
t 0
Trang 10cảnh đó, cũng tươi cười tuyên bố loại nitơ oxit mà ông đựng trong bình là N2O:Đinitơ oxit và khí này còn được gọi là khí cười.
* Áp dụng: Bài 26: Oxit
Ví dụ 3: Khí Hiđro
Thế kỷ XVIII, nhà hóa học Pilatrơ Rôzơ người Pháp đã quan tâm đến vấn
đề nếu hít khí hiđro vào phổi thì cái gì sẽ xảy ra Trước ông chưa ai từng thử híthiđro bao giờ và câu chuyện bắt đầu: Thoạt đầu, chẳng lưu tâm đến là liệu cóhậu quả gì không nên Rôzơ quyết định thử hít hiđro vào phổi Ông ta lại liên tụchít hiđro vào thật sâu hơn nữa, ông thở khí đó hướng vào ngọn nến đang cháy.Tất nhiên, hiđro là thứ khí khi hỗn hợp với không khí sẽ gây nổ! Về sau Rôzơ đãviết lại rằng: “Tôi tưởng là tôi đã bị bay toàn bộ hàm răng và cả lợi nữa” Chí ítthì ông cũng thỏa mãn với kết quả thí nghiệm mà với nó ông đã coi thường tínhmạng của chính mình
* Áp dụng: Bài 31: Tính chất - Ứng dụng của hiđro.
Ví dụ 4: Chuyện vui “Dung môi vạn năng”
Một hôm, người trợ lý của Jutus – Phon - Libic (1803- 1873), nhà Hoá học Đức nổi tiếng, hớt hải tìm ông để thông báo một tin tức quan trọng là anh tavừa tìm ra một dung môi vạn năng
- Nhưng dung môi vạn năng là cái gì? Libic hỏi
- Dung môi vạn năng là loại dung môi có thể hoà tan được mọi thứ
- Thế anh sẽ đựng dung môi này bằng cái gì?
* Áp dụng: Bài 40: “Dung dịch”
Những câu chuyện vui về hóa học không liên quan trực tiếp đến kiến thứcbài học nhưng sẽ giúp các em thư giãn, tạo tâm lí thoải mái trong các giờ họchóa khô khan toàn khái niệm với công thức từ đó các em học sinh sẽ không cònchán nản với môn học
2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học
Sử dụng SĐTD trong dạy học hóa học giúp giáo viên hệ thống kiến thứcmột cách khoa học và logic, nội dung bài học được thể hiện trên sơ đồ một cáchtrực quan mà không sợ bỏ sót ý, tạo ra các hình thức học tập khác nhau, sử dụng
Trang 11được linh hoạt các phương pháp học tập và sử dụng phối kết hợp các thiết bị dạyhọc với nhau…
Sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đatiềm năng của bộ não Tập cho các em thói quen tự ghi chép hay tổng kết mộtvấn đề, một chủ đề đã đọc, đã học theo cách hiểu của các em dưới dạng SĐTD
Sử dụng SĐTD trong dạy học với nhiều mục đích khác nhau, nhiều dạngbài: Dùng dạy học bài mới nhằm hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thứcsau bài học, dùng tổng hợp kiến thức một chương, hay nhiều bài học…
2.3.1 Sử dụng SĐTD trong việc hình thành kiến thức mới
Có thể sử dụng SĐTD hỗ trợ hình thành kiến thức mới Mục tiêu bài học
sẽ được cô đọng ở từ khóa trung tâm GV tự xây dựng hoặc GV hướng dẫn HSlần lượt vẽ các nhánh theo tiến trình hình thành kiến thức bài mới: Kết hợp vớicác phương pháp: Trực quan, thảo luận nhóm…để HS tự khám phá kiến thứcmới Từ mỗi nhánh lại triển khai các nhánh phụ và mỗi nhánh phụ lại đi sâu khaithác những kiến thức cụ thể hơn…
Nhìn vào SĐTD học sinh sẽ nhìn thấy bức tranh tổng thể kiến thức vừahọc một cách dễ dàng
Ví dụ 1: Bài “Sự oxi hóa – Phản ứng hóa hợp - Ứng dụng của oxi” GV tổchức phương pháp học tập kết hợp sử dụng BĐTD như sau:
Hoạt động 1: GV sẽ đưa chủ đề trung tâm “Sự oxi hóa – Phản ứng hóahợp - Ứng dụng của oxi” dưới dạng SĐTD còn thiếu thông tin gợi ý HS điềnthông tin còn thiếu ở nhánh chính hình thành nội dung của bài
Trang 12Hoạt động 2: GV cùng học sinh lần lượt từng bước đi tìm hiểu cụ thể hơn
HS đối chiếu với bài làm của mình)
Sơ đồ tư duy của HS lớp 8A
Trang 13Tên KL (hóa trị) + oxit
Ví dụ 2: Bài oxit để học sinh nắm được định nghĩa, công thức, phân loại,cách gọi tên oxit Giáo viên nên tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theonhóm nhỏ, giáo viên đưa ra từ khóa trung tâm “Oxit” và các nhánh chính, yêucầu học sinh đọc thông tin trong sách giáo khoa, thảo luận và điền tiếp các thôngtin còn thiếu Sau khi vẽ xong đại diện các nhóm sẽ thuyết trình về SĐTD củanhóm mình Các nhóm khác nhận xét, góp ý, bổ sung (nếu có) Giáo viên có thểkết hợp với việc sử dụng SĐTD thiết kế trên phần mềm để chốt luôn kiến thứccủa bài học và học sinh theo dõi để đối chiếu với bài làm của nhóm mình
* Đối với những chủ đề hay nội dung bài học lí thuyết nhiều, ít hoặckhông có thí nghiệm nghiên cứu
Hoạt động 1: HS lập SĐTD theo nhóm với gợi ý của giáo viên
Hoạt động 2: Các nhóm học sinh cùng dán SĐTD lên bảng và giáo viênmời đại diện nhóm báo cáo thuyết trình “sản phẩm” của mình Các nhóm khácnhận xét
Hoạt động 3: Giáo viên nhận xét, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiếnthức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinhhoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn
bị sẵn
Ví dụ: Bài 36: Nước, mục III Vai trò của nước trong đời sống và sản xuất.Chống ô nhiễm nguồn nước
Trang 14VAI TRÒ CỦA NƯỚC
Nước cần cho sự trao đổi chất trong cơ thể Nước cần cho sinh hoạt
Giao thông, vận tải Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất công nghiệp
NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
Vứt rác xuống sông ngòi Thuốc bảo vệ thực vật
Nước thải
sinh hoạt
Xác chết của các động vât Chất thải của các nhà máy.
Hoạt động 1: Giáo viên chia nhóm học sinh yêu cầu về nhà tìm hiểu vàtrình bày bằng SĐTD nội dung bài học mà nhóm đã được phân công Sau khihọc sinh sưu tầm tư liệu giáo viên hướng dẫn học sinh cách trình bày SĐTD trênphần mềm PowerPoint, Xmind…
+ Nhóm 1: Đưa ra dẫn chứng về vai trò của nước trong đời sống và sảnxuất
+ Nhóm 2: Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
+ Nhóm 3: Nêu biện pháp tiết kiệm nước, khắc phục nguyên nhân gây ônhiễm nguồn nước
Hoạt động 2: Giáo viên cho các nhóm thuyết trình SĐTD của nhóm mìnhtrước lớp
Hoạt động 3: Giáo viên nhận xét, bổ sung và củng cố kiến thức của mụcbằng SĐTD đã chuẩn bị sẵn
Sản phẩm của nhóm 1 - Lớp 8A
Sản phẩm của nhóm 2 – Lớp 8B