các doanh nghiệp khỏi chức năng quản lý hành chánh Nhà nớc; góp phần phát huy sự năng động, quyền tựchủ trong sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo điều kiện để thành phố chủ độn
Trang 2Phần thứ nhất Tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố hồ chí minh giai đoạn 1996 - 2000
I Kết quả phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000 và so sánh với giai đoạn 1991 - 1995: 1/ Tăng trởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả kinh tế:
1.1- Tăng trởng kinh tế:
Năm 1995, GDP của thành phố là 36.975 tỷ đồng (giá hiện hành) tơng đơng 3,37 tỷ USD, năm 2000 là76.660 tỷ đồng (giá hiện hành) tơng đơng 5,46 tỷ USD Giai đoạn 1991-1995, nền kinh tế thành phố đã cóbớc tăng trởng nhanh chóng, GDP tăng bình quân 12,6%/năm, GDP bình quân đầu ngời tăng từ 620 USDnăm 1991 (giá so sánh năm 1994) lên 937 USD năm 1995
Trong giai đoạn 1996-2000, tốc dộ tăng trởng GDP bình quân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đạt 10,15%/năm, nâng tỷ trọng GDP của thành phố so với cả nớc tăng từ 16% năm 1995 lên 18,93% năm
1999 và GDP bình quân đầu ngời tăng từ 937USD (giá so sánh năm 1994) năm 1995 lên 1365 USD năm
2000 (gấp 1,45 lần) Tuy nhiên mức tăng trởng GDP bình quân 10,15%/năm thấp hơn so với mức tăng ởng 12,62% của thời kỳ 1991-1995 và mục tiêu 15%/năm mà thành phố đã đề ra Trong cả thời kỳ 1991-
tr-2000, dự ớc GDP thành phố tăng bình quân 11,4%/năm, cao hơn tốc độ 7,6%/năm của cả nớc là 1,5 lần.
Năm 1995, tốc độ tăng GDP của thành phố đạt 15,3%, năm 1996 đạt 14,7%, năm 1997 đạt 12,1% ; năm
1998 đạt 9,0% ; năm 1999 đạt 6,2% và năm 2000 ớc đạt 9% Nh vậy, tốc độ tăng trởng kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh đã suy giảm từ năm 1996 trớc cả khi có tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính ởkhu vực Đông á bắt đầu từ cuối năm 1997 Điều đó cho thấy việc tăng trởng kinh tế chững lại trớc hết làxuất phát từ những yếu kém trong nội bộ nền kinh tế
1.2- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
1.2.1- Chuyển dịch cơ cấu ba khu vực kinh tế công nghiệp-xây dựng, dịch vụ và nông nghiệp:
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu dựa vào công nghiệp-xây dựng và dịch vụ Giá trị gia tăng của khuvực công nghiệp và xây dựng luôn có tốc độ cao nhất, bình quân giai đoạn 1996-2000 là 13,2%/năm; tiếpđến là khu vực dịch vụ với tốc độ tăng bình quân là 8,4%/năm, còn khu vực nông nghiệp chỉ tăng1,2%/năm Bình quân 10 năm từ 1991 đến 2000, công nghiệp-xây dựng tăng 14,7%/năm; dịch vụ tăng9,8% và nông nghiệp tăng 2,5%/năm, hình 1, phụ lục 2
Với tốc độ tăng trởng nh vậy, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP giảm liên tục từ 4,6% năm
1991 xuống 2,9% năm 1996 và 2,2% năm 2000 Trong giai đoạn 1991-1995, tỷ trọng công nghiệp - xâydựng giảm từ 40,6% năm 1991 xuống 38,9% năm 1995, còn tỷ trọng dịch vụ tăng từ 54,8% năm 1991 lên57,8% năm 1995 Trong giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng tăng từ 40,1% năm 1996 lên44,6% năm 2000, còn tỷ trọng dịch vụ giảm từ 57,0% năm 1996 xuống còn 53,2% năm 2000
Theo chỉ tiêu đề ra thì đến năm 2000 tỷ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp và xây dựng là 46%,khu vực dịch vụ là 52%, của khu vực nông nghiệp là 2% Nh vậy, thì nhìn chung cơ cấu ba khu vực kinh tếchuyển dịch đúng theo định hớng (xem bảng 1, phụ lục 1)
Trang 3Tuy nhiên, nếu xét về tốc dộ tăng trởng; thì mức tăng ở cả 3 khu vực đều không đạt và còn chênh lệch khá
xa so với kế hoạch đề ra cho cả thời kỳ 1996-2000 Cụ thể là mức tăng giá trị gia tăng đối với khu vực công nghiệp và xây dựng giai đoạn 1996-2000 theo kế hoạch là 17%/năm, song thực tế đạt 13,2%/năm; khu vực thơng mại - dịch vụ theo kế hoạch là 14%/năm, thực tế là 8,4%/năm, khu vực nông nghiệp theo kế hoạch là 5%/năm, thực tế là 1,2%/năm.
Đóng góp của ba khu vực kinh tế vào mức tăng trởng GDP:
Giai đoạn 1996-2000, GDP tăng bình quân gần 10,15%/năm, trong đó 5,4% là do khu vực công nghiệp vàxây dựng đóng góp, 4,8% là do khu vực dịch vụ đóng góp (xem bảng 2, phụ lục 1) Đóng góp của khu vựcnông nghiệp vào tốc độ tăng trởng GDP hầu nh không đáng kể
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố thể hiện rõ hơn qua sự thay đổi cơ cấu đóng góp vào GDP của 14ngành và nhóm ngành quan trọng sau đây (xem bảng 3):
Bảng 3: Cơ cấu GDP chi tiết của thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1990-2000:
Trang 4Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh 2000
Theo bảng 3, so với năm 1995 trong năm 2000, năm ngành có sự gia tăng tỷ trọng trong GDP nhiều nhất làđiện tử, cơ khí, nhựa-cao su, da giày, hóa chất
Sáu ngành có sự giảm tỷ trọng trong GDP là kinh doanh tài sản t vấn, nông- lâm-ng, tài chánh-tín dụng,khách sạn-nhà hàng-thơng mại, lơng thực-thực phẩm và dệt Bốn ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất(trên 5%) trong GDP là ngành khách sạn-nhà hàng-thơng mại (20,4%), chế biến lơng thực-thực phẩm(9,5%), vận tải-bu điện (8,3%) và xây dựng (5,6%), chiếm tổng cộng 43,8% GDP của thành phố Năm
2000, tất cả 14 ngành kinh tế trong bảng 3 chiếm 65,7% giá trị GDP của thành phố
1.2.2- Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế:
Cũng giống nh tốc độ tăng GDP, tốc độ tăng giá trị gia tăng của các thành phần kinh tế đều giảm liên tục từnăm 1996 đến năm 1999 So sánh giữa các thành phần kinh tế (Hình 2, phụ lục 2) cho thấy khu vực có vốnđầu t nớc ngoài có tốc độ tăng trởng cao nhất, bình quân đạt 22, 13%/năm trong giai đoạn 1996-2000 Kinh
tế nội địa gồm hai thành phần là kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh có tốc độ tăng trởng xấp xỉ nhau
là 8,61% và 7,74%/năm
Tốc độ tăng trởng của các thành phần kinh tế đã dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nh trong bảng 4.Khu vực kinh tế quốc doanh, dù vẫn chiếm u thế về tỷ lệ đóng góp vào GDP, song tỷ trọng đã giảm từ54,9% năm 1991 xuống 47,4% năm 1996 và xuống còn 45,9% năm 2000 Tỷ trọng của khu vực ngoài quốcdoanh giảm từ 42,2% năm 1991 xuống 38,6% năm 1996 và xuống còn 35,5% năm 2000 Ngợc lại, khu vực
có vốn đầu t nớc ngoài với tốc độ tăng trởng nhanh nên tỷ trọng trong GDP tăng mạnh từ 2,9% năm 1991lên 14,O% năm 1996 và lên đến 18,6% năm 2000
Bảng 4: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế thời kỳ 1996-2000
Đóng góp của ba thành phần kinh tế vào tăng trởng GDP:
Bình quân giai đoạn 1996-1999, trong tốc độ tăng GDP l0,4%/năm, có 3,9% là do khu vực quốc doanhđóng góp, 3, l% là do khu vực ngoài quốc doanh và 3,4% là do khu vực có vốn đầu t nớc ngoài (bảng 5,phụ lục 1) Nh vậy, khu vực quốc doanh, với tỷ trọng lớn nhất trong GDP, có mức đóng góp cao nhất vàotăng trởng GDP, kế đó là khu vực có vốn đầu t nớc ngoài, rồi mới đến khu vực ngoài quốc doanh nội địa
Doanh nghiệp nhà nớc do Thành phố quản lý:
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 7 Tổng Công ty Nhà nớc do thành phố quản lý chiếmkhoảng 24% tổng vốn kinh doanh, 42% lao động và 38% mức nộp ngân sách của khu vực doanh nghiệpnhà nớc do thành phố quản lý Sự hình thành các Tổng Công ty đã tách chức năng quản lý kinh doanh của
Trang 5các doanh nghiệp khỏi chức năng quản lý hành chánh Nhà nớc; góp phần phát huy sự năng động, quyền tựchủ trong sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo điều kiện để thành phố chủ động hơn trong việcthực hiện các chủ trơng phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh vàhiệu quả kinh doanh của các Tổng Công ty cha cao Trên thực tế việc thành lập các Tổng Công ty cha tạonên đợc một sự thay đổi về chất trong hoạt động kinh doanh do các u thế của doanh nghiệp lớn cùng vớitính năng động và mối liên kết giữa các đơn vị thành viên cha đợc khai thác và phát huy.
Thực hiện chủ trơng sắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nớc, từ năm 1998 đến nay thành phố
đã sắp xếp lại 392 doanh nghiệp và đến thời điểm 31/5/2000 còn 345 doanh nghiệp Nhà nớc do thành phốquản lý đang hoạt động Đã tiến hành cổ phần hoá 52 doanh nghiệp Một số doanh nghiệp sau khi thực hiện
cổ phần hóa đã hoạt động tốt hơn nh Công ty Cơ điện lạnh, Công ty Bông Bạch Tuyết, Công ty Mỹ phẩmSài gòn, Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn vớng mắc trong việc xử lý công nợ; vật t hàng hóa tồn kho;thủ tục chuyển giao bất động sản; nghiệp vụ định giá và do tình hình biến động phức tạp của các doanhnghiệp nên tiến trình thực hiện sắp xếp lại và cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc còn chậm
Hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp Nhà nớc nói chung giảm sút trong giai đoạn 1996- 1999 Doanhthu bình quân một Doanh nghiệp Nhà nớc giảm từ 68,0 tỷ đồng năm 1995 xuống 64,5 ty đồng năm 1999
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các Doanh nghiệp Nhà nớc của thành phố cũng giảm từ 9,3% năm 1995xuống 7,1% năm 1999
Doanh nghiệp khu vực t nhân :
Kinh tế t nhân của thành phố hoạt động chủ yếu ở các ngành: nông nghiệp, xây dựng, khách sạn-nhà hàng,công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác, thơng nghiệp, vận tải, tài chính-tín dụng, kinh doanh bất độngsản, giáo dục-đào tạo và phục vụ cá nhân, bình quân thời kỳ 1996-2000 đóng góp khoảng 37% vào cơ cấuGDP của thành phố (bảng 4) song đã góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm trên địa bàn thànhphố Tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực này chiếm tới 73,2% lao động đang có việc làm
Tuy nhiên do đặc điểm kinh doanh, sản xuất nhỏ, thiếu vốn, năng suất và hiệu quả hoạt động cha cao nênmức tăng giá trị gia tăng của khu vực này còn hạn chế (đạt 8,7% vào năm 2000 trong khi mức tăng GDPcủa thành phố là 9%; và đạt bình quân suốt thời kỳ 1996-2000 là 8,3%, trong khi GDP của thành phố tăngbình quân suốt thời kỳ là l0,15%) Tính chung các chỉ tiêu tổng hợp thì khu vực này có tỷ lệ đóng góp ítnhất vào trong mức tăng trởng GDP chung của thành phố (bảng 5, phụ lục 1)
Kể từ đầu năm, nay sau 9 tháng thực hiện Luật Doanh nghiệp, tại thành phố Hồ Chí Minh đã có 3.9 16doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 4.099 tỷ đồng đợc thành lập, tăng 97% về số lợng doanh nghiệp và61% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 1999 Số lợng doanh nghiệp gia tăng này chính là một trongnhững động lực thúc đẩy sản xuất phát triển không chỉ trong năm 2000 mà cả trong những năm tiếp theo
Kinh tế hợp tác:
Trong gần 4 năm thực hiện Luật Hợp tác xã từ 01/Ol/1997, có 63 Hợp tác xã đợc thành lập mới trong tổng
số 328 Hợp tác xã hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Theo Báocáo của Liên minh các Hợp tác xã thành phố Hồ Chí Minh, hiện có 30% Hợp tác xã phát triển tốt và làm ănkhá giỏi, 50% số Hợp tác xã ở mức trung bình song có khả năng phát triển trong tơng lai, còn 20% các Hợptác xã hoạt động yếu kém và cầm chừng Trong thời gian qua đã xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh mớicủa Hợp tác xã nh: Mô hình siêu thị, đa hàng về vùng sâu, vùng xa đã thu đợc kết quả tốt
Hiện nay, nhu cầu hợp tác là khách quan của một bộ phận lực lợng sản xuất, nhng trong cơ chế thị trờnghiện nay, nhu cầu này có xu hớng chựng lại, phát triển chậm và thu hẹp so với tổ chức doanh nghiệp Phầnlớn tổ chức Hợp tác xã hiện nay là nhỏ, lẻ, rời rạc, cha có quan hệ hợp tác rộng rãi; từng Hợp tác xã vốn ít,khả năng quản lý điều hành có nhiều hạn chế
Trang 61.3- Hiệu quả quản lý và năng suất:
Trong tốc độ tăng trởng bình quân l2,6% của GDP giai đoạn 1991-1995, có 3,9% là do tăng vốn sản xuất
và l,2% là do tăng lao động tạo ra Phần chênh lệch, 7,5%, là do tăng hiệu quả quản lý (quản lý vốn, côngnghệ, lao động, tổ chức) Tức là, trong mức tăng GDP có 31% do tăng vốn đem lại; 9,5% là do tăng laođộng và 59,5% là do quản lý tốt hơn về vốn, công nghệ, lao động và tổ chức đem lại Trong giai đoạn1996-2000, GDP tăng bình quân gần 10,2%/năm, việc tăng vốn sản xuất đã đóng góp vào tăng GDP là5,3%, tăng lao động đóng góp l,4%, còn lại nhân tố quản lý tốt hơn đóng góp 3,5% Tức là 52% mức tăngGDP là do tăng vốn đem lại; 13,7% là do tăng lao động, còn 34,3% là do quản lý tốt hơn đem lại Nói mộtcách khác, sự giảm sút tốc độ tăng trởng giai đoạn 1996-2000 so với 1991-1995 chủ yếu là do hiệu quảquản lý vốn, công nghệ, quản lý lao động và quản lý tổ chức chậm đợc cải thiện, nền kinh tế phát triển chủyếu theo chiều rộng (tăng vốn, tăng lao động) còn trình độ quản lý tăng quá chậm, cha theo kịp yêu cầuphát triển
Năng suất lao động tính bằng giá trị gia tăng do 1 lao động tạo ra năm 1999 bình quân chung các ngànhkinh tế là 25 triệu đồng/lao động (giá so sánh 1994), trong đó khu vực nông-lâm-ng có năng suất 4,7 triệuđồng/lao động, công nghiệp 27,8 triệu đồng/lao động; xây dựng 38,2 triệu đồng/lao động; dịch vụ 27,8 triệuđồng/lao động Nh vậy năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 17% năng suất lao động công nghiệp hoặcdịch vụ Điều này làm cho việc đầu t vào nông nghiệp thiếu hấp dẫn và phản ánh thu nhập thấp của nôngdân so với khu vực công nghiệp và dịch vụ
2/ Công nghiệp:
Trong cơ cấu các ngành công nghiệp trên thành phố Hồ Chí Minh (gồm công nghiệp chế biến, công nghiệpkhai thác mỏ và sản xuất - phân phối điện, nớc), công nghiệp chế biến chiếm u thế và có tỷ trọng trên 96%giá trị sản xuất công nghiệp trong suốt giai đoạn 1996-2000; công nghiệp khai thác chiếm bình quân0,15%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nớc chiếm bình quân 3,4%
Khu vực các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn chiếm u thế trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, mặc dù tỷtrọng đóng góp của khu vực này có giảm (hình 4, phụ lục 2) Năm 1999, giá trị sản xuất của khu vực doanhnghiệp Nhà nớc chiếm 45,9%, trong khi sự đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh chỉ chiếm 24,5% vàcủa khu vực có vốn đầu t nớc ngoài chiếm 29,6% (hình 4, phụ lục 2)
2.1- Công nghiệp chế biến:
Hiện nay 7 ngành có tỷ trọng giá trị sản xuất cao nhất trong cơ cấu công nghiệp chế biến của thành phố là:chế biến thực phẩm và đồ uống (22%), cơ khí (13%), may mặc (11%), da giày (9%), hóa chất (8,1%), dệt(7%) và nhựa cao su (6,5%) (hình 3, phụ lục 2) Cơ cấu công nghiệp chế biến theo giá trị gia tăng thể hiện
Trong giai đoạn 1996-2000, hai ngành công nghiệp truyền thống là thực phẩm - đồ uống và dệt có tỷ trọnglớn trong cơ cấu ngành công nghiệp thành phố, tăng bình quân khoảng 10%/năm, thấp hơn so với tốc độtăng bình quân hàng năm của toàn ngành công nghiệp chế biến là 14,2% (bảng 6, phụ lục 1) Ngành maymặc và da giày tiếp tục có tốc độ tăng trởng cao (lần lợt là 18,27%/năm và 19,07%/năm) và tỷ trọng trong
cơ cấu tổng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến trên địa bàn chiếm lần lợt 10,6% và 9,9%, hình 3 và bảng
6 (phụ lục 2 và 1)
Trang 7Các ngành có tỉ trọng tơng đối khá nhng vẫn giữ đợc tốc độ tăng cao là nhựa - cao su và hóa chất (với tốc
độ tăng trởng lần lợt là 21% và 18,4%/năm và tỷ trọng lần lợt là 6,3% và 8,1%)
Trong ngành cơ khí, sản xuất máy móc thiết bị có tốc độ tăng cao nhất là 36,7%/năm giai đoạn 1996-2000.Tuy nhiên, sản xuất sản phẩm từ kim loại, dụng cụ chính xác và phơng tiện vận tải chỉ có tốc độ tăng từ20%/năm trở xuống Tính chung, giá trị sản xuất cơ khí tăng bình quân 22%/năm là cao nhất trong giaiđoạn 1996-2000 và tỷ trọng ngành cơ khí trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp chế biến tăng từ 8,3%năm 1996 lên 13,4% năm 2000
Ngành điện tử (radio, tivi, thiết bị truyền thông) có tốc độ tăng trởng ở mức 21%/năm, song quy mô cònnhỏ bé nên tỉ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp chế biến vẫn chỉ ở mức 3% (hình 3, phụ lục 2)
Năng suất lao động các ngành công nghiệp thành phố (tính bằng giá trị gia tăng do 1 lao động tạo ra trong 1năm) có sự chênh lệch rất lớn Ngành Da-giày có tốc độ tăng trởng cao, song năng suất lao động thấp nhấttrong 8 ngành (bảng 6, phụ lục 1) chỉ đạt 8 triệu đồng/năm Ngành may truyền thống cũng có năng suất laođộng rất thấp, chỉ 10 triệu đồng/năm Bình quân toàn ngành công nghiệp chế biến năng suất lao động là 27triệu đồng/năm Ngành Dệt và Cơ khí có năng suất lao động xấp xỉ mức bình quân này, trong khi Nhựa -Cao su và Điện tử có năng suất lao động khá cao là 35 và 49 triệu đồng/năm, còn hóa chất và thực phẩmchế biến năng suất lao động cao nhất là 53,5 và 72 triệu đồng/năm
Ngành cơ khí và điện tử - tin học thuộc bốn lĩnh vực mà thành phố chọn là "mũi nhọn" để phát triển tuy cótốc độ phát triển cao nhất, song do mức xuất phát thấp, nên tỷ trọng tổng cộng của hai ngành chỉ chiếm hơn16% giá trị sản xuất công nghiệp chế biến Còn vật liệu mới và công nghệ sinh học thực ra là ngành khoahọc đợc ứng dụng trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp chứ bản thân những ngành này không phải
ới điện đã đợc phủ khắp và mức tiêu thụ điện bình quân đầu ngời tăng từ 371 Kwh/ngời/năm năm 1991 lên
958 Kwh/ngời/năm năm 1999, vợt chỉ tiêu đề ra cho năm 2000 là 800 Kwh/ngời/năm Tuy nhiên, hệ thốngđiện truyền tải thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều trạm trung gian 110/15 KV và 66/15 KV bị đầy tải vàquá tải; mạng lới điện hiện nay phần lớn vẫn là dây nổi - dây trần thiếu an toàn và mất mỹ quan đối với mộtthành phố lớn
2.2.2- Nớc:
Trong 5 năm qua, đã nâng sản lợng nớc sạch từ 688.000 m3/ngày trong năm 1995 lên 850.000m3/ngàytrong năm 2000 Giá trị sản xuất và phân phối nớc tăng từ 269 tỉ đồng năm 1996 lên 297 tỷ đồng năm 1999(giá năm 1994) chiếm bình quân 0,48% giá trị sản xuất công nghiệp thành phố Nớc cấp bình quân đầu ng-
ời chung toàn thành phố tăng đáng kể, (năm 1991 là 95,6 lít/ngời/ngày đêm) năm 2000 đạt ời/ngày đêm Đã thay thế hơn 100 km đờng ống nớc mục bằng vốn ngân sách và 65 km bằng nguồn vốnADB, giảm tỷ lệ thất thoát nớc từ 40% năm 1995 xuống còn 34,1% năm 1999
1171ít/ng-Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống cấp nớc của thành phố đã quá tải cả về nguồn và mạng lới, song do quản lýcòn yếu kém và nguồn kinh phí có hạn nên chỉ giải quyết từng khu vực, trong khi mạng lới hiện nay đòi hỏiphải đợc cải tạo và thay thế mới cho đồng bộ với nguồn nớc tiêu thụ chủ yếu là cho nớc sinh hoạt trên 80%,cho sản xuất là 16% và dịch vụ là 4%
Trang 83/ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:
Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp diễn ta theo hớng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi vàdịch vụ nông nghiệp, hớng tới sản xuất hàng hóa tập trung vào cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao.Tuy nhiên sự chuyển dịch trên còn diễn ra rất chậm chạp Cụ thể từ năm 1996 đến năm 1999, tỷ trọng trồngtrọt giảm từ 42,2% xuống còn 41,4%; chăn nuôi tăng từ 31,7% lên 33,2%; dịch vụ nông nghiệp hầu nhkhông thay đổi và vẫn chiếm khoảng 9,5% giá trị trong cơ cấu chung Diện tích trồng lúa còn lớn, năm
1996 còn 80.300 ha, năm 2000 còn 77.300 ha, trong khi đó diện tích mía giảm từ 5.400 ha xuống 4.300 ha,diện tích đậu phộng giảm từ 6.000 ha xuống 3.100 ha, diện tích rau giảm từ 12.500 ha xuố.ng 9.400 ha.Diện tích cây ăn trái tăng từ 5.500 ha lên 8.000 ha, diện tích hoa kiểng từ 250 ha lên 650 ha Tốc độ tăng tr-ởng ngành chăn nuôi tăng bình quân 4,72%/năm Đàn heo ổn định mức trên 190.000 con, đàn bò sữa đạt24.000 con, vợt mức kế hoạch 15.000 con Thành phố đã tạo đợc đàn giống heo thịt và bò sữa có năng suấtcao, cung cấp cho nhiều tỉnh Tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị gia tăng nông nghiệp tăng từ 37,9% năm
1996 lên 39,4% năm 1999 Một số mô hình kinh tế mới xuất hiện nh mô hình nông nghiệp kết hợp du lịchsinh thái, mô hình kinh tế vờn, trang trại
Trong lâm nghiệp, rừng ngập mặn Cần Giờ với diện tích 29.000 ha đã đợc khôi phục và đợc tổ chứcUNESCO công nhận là vùng dự trữ sinh quyển của thế giới rừng phòng hộ Củ Chi, Bình Chánh với diệntích 386 ha đợc bảo vệ và chăm sóc
Giá trị sản xuất ngành thủy sản chiếm 12,7% giá trị sản xuất toàn bộ khu vực nông lâm ng và tỷ lệ nàykhông thay đổi nhiều trong giai đoạn 1996-1999 Mặc dù phơng tiện khai thác thủy sản đã đợc cải tạo vàphát triển nhng đầu t vào ngành này vẫn thấp
Trong những năm qua, mặc dù gặp khó khăn về vốn, nhng thành phố đã dành phần vốn đáng kể (từ 20 25% vốn ngân sách tập trung) để đầu t cho ngoại thành: cơ sở hạ tầng giao thông (làm mới 500 km đờnggiao thông nông thôn, bê tông hóa 75% số cầu khỉ), điện khí hóa, giáo dục y tế, trung tâm văn hóa thể dụcthể thao, thủy lợi, nớc sạch nông thôn, hạ tầng các khu dân c rnới nhờ đó bộ mặt nông thôn đã có nhữngthay đổi đáng kể, giảm bớt sự cách biệt giữa các vùng đô thị và vùng còn khó khăn của thành phố; thôngqua chơng trình xóa đói giảm nghèo đã xóa đợc hộ đói, giảm đáng kể hộ nghèo Tuy nhiên, đời sống một
-bộ phận nông dân ngoại thành vẫn còn hết sức khó khăn Cơ cấu kinh tế của ngoại thành đã có sự chuyểnbiến rõ rệt, theo hớng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày một gia tăng
Giá trị sản xuất khu vực nông lâm ng tăng bình quân hàng năm 0,75% trong giai đoạn 1996-2000, thấp hơn
6 lần chỉ tiêu đã đề ra là 5% và rất thấp so với mức tăng 4,7% thời kỳ 1991 - 1995 Giá trị gia tăng của khuvực này trong giai đoạn 1996-2000 chỉ tăng bình quân 1,2%/năm Trong cả giai đoạn 1991-2000, giá trị giatăng nông nghiệp tăng bình quân 2,7%/năm Năng suất lao động tính theo giá trị gia tăng/lao động trongkhu vực nông nghiệp, đạt 4,7 triệu đồng năm 1999 (giá 1994), thấp hơn 5 lần so với con số 27,2 triệu đồngnăm 1999 của khu vực công nghiệp và 27,7 triệu đồng của khu vực dịch vụ
Năng suất lúa bình quân từ 1995 đến 2000 không tăng, chỉ đạt mức 3,1 tấn/ha, so với 4,11 tấn/ha ở các tỉnhmiền Tây, tức là thấp hơn gần 25% Năng suất mía không tăng, chỉ đạt gần 47 tấn/ha so với 61 tấn/ha củamiền Tây, thấp hơn 23%
Bên cạnh lý do kém lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, việc đầu t thấp cho nông nghiêp và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiêp góp phần /àm cho sản xuất nông nghiệp của thành phố có mặt thua kém so với các tỉnh khác trong vùng Nông lâm ng nghiệp chiếm 2,2% GDP, nhng đầu t đợc tính cho nông nghiệp chỉ chiếm 1,1% tổng đầu t trong giai đoạn 1996-2000.
Với mức tăng trởng giá trị sản xuất bình quân 0,75%/năm trong giai đoạn 1996 - 2000, trong khi nông nghiệp cả nớc tăng trởng bình quân 5%/năm, nông nghiệp thành phố đã rơi vào tình trạng kém phát triển.
Có 3 nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là: cơ cấu cây, con cha phù hợp với việc tạo ra u thế cạnh tranh cho sản phẩm; đầu t ít cho nông nghiệp và đất bị giảm, do quá trình đô thị hóa (hàng năm bị giảm
Trang 9khoảng 870 ha); việc sử dụng đất còn lãng phí (vẫn còn đất bỏ hoang vì đã đợc quy hoạch làm Khu công nghiệp hoặc cơ sở hạ tầng).
4/ Đầu t:
Tổng vốn đầu t thực hiện trên địa bàn trong 5 năm 1991 - 1995 là 37.889 tỷ đồng, tơng đơng khoảng 3,5 tỷUSD Trong giai đoạn 1996-2000, tổng vốn đầu t tăng lên đến 101.486 tỷ đồng, tơng đơng khoảng 8 tỷUSD gấp 2,68 lần giai đoạn trớc Mặc dù tăng lên đáng kể nhng mức đầu t này thấp hơn nhiều so với mụctiêu huy động vốn đã đề ra là 12 - 13 tỷ USD
Tỉ trọng đầu t so với GDP trên địa bàn thành phố tăng từ 21,4% năm 1991 lên 34,38% năm 1995 nhng đãgiảm mạnh từ 40,9% năm 1996 xuống 25,7% năm 2000 Cùng với sự suy giảm về tốc độ tăng trởng kinh
tế, đầu t cũng chững lại từ năm 1993 trở lại đây và tổng vốn đầu t đã giảm về số tuyệt đối trong năm 1999
Trong khi đó, đầu t của khu vực t nhân tăng lên từ 9,7% năm 1996 lên 13,1% năm 2000 Tỷ trọng đầu t đavào thực hiện của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài tăng từ 36% năm 1996 lên 38% năm 1997, nhng giảmxuống 34,3% năm 1998, 33,4% năm 1999 và 27,7% năm 2000
Theo khu vực kinh tế, bình quân trong giai đoạn 1996 - 2000, sản xuất công nghiệp và xây dựng chiếm
39,1% tổng vốn đầu t, các ngành dịch vụ chiếm 59,9% và nông nghiệp chỉ chiếm 1,0% (bảng 7, phụ lục 1).
Cơ cấu đầu t trong nội bộ khu vực công nghiệp chế biến chủ yếu cũng chỉ tập trung vào một số ngànhtruyền thống nh thực phẩm, dệt, cao su và nhựa, còn đầu t vào cơ khí, điện tử, tin học và vào các ngànhcông nghiệp khác còn rất thấp
Trong cơ cấu đầu t cho khu vực dịch vụ 59,9% thì đầu t cho ngành nhà hàng, khách sạn cao (chiếm 9,4%tổng đầu t, chủ yếu là nguồn vốn của t nhân) Đầu t cho các hoạt động dịch vụ khác (chủ yếu là các dịch vụthông thờng phục vụ cá nhân và cộng đồng bao gồm cả đầu t xây dựng nhà ở) cũng rất cao (chiếm 16,4%tổng đầu t)
Đầu t vào giao thông, kho bãi, viễn thông chiếm 15,3%, còn điện - nớc chiếm 7,4% tổng đầu t Mặc dù tỷtrọng đầu t vào cơ sở hạ tầng không nhỏ, nhng việc triển khai chậm do các vớng mắc trong khâu quy hoạch,xét duyệt, đền bù giải tỏa và quản lý thi công đã làm giảm đáng kể hiệu quả Một lĩnh vực cơ sở hạ tầngnữa có vai trò rất quan trọng và mang tính quyết định cho sự phát triển trong những năm tới là cơ sở hạtầng thông tin mới chỉ đợc đề cập trong thời gian gần đây
Đầu t vào các ngành cơ sở hạ tầng xã hội nh giáo dục, y tế, thể dục - thể thao (mà chủ yến là nguồn vốnngân sách) cũng chỉ chiếm 4,6% tổng vốn đầu t trong giai đoạn 1996-2000
Trang 10Tỉ lệ đầu t vào các ngành dịch vụ cao cấp nh khoa học, công nghệ, tài chính - tín dụng còn thấp (cha đợc0,5% tổng đầu t).
4.1- Đầu t trực tiếp nớc ngoài:
Tính đến cuối tháng 10 năm 2000, trên địa bàn thành phố có 886 dự án còn hiệu lực đang hoạt động vớitổng vốn đầu t là 10.524,5 triệu USD, trong đó hình thức liên doanh chiếm 40,3% số dự án và 62,2% tổngvốn đầu t; hình thức đầu t 100% vốn nớc ngoài chiếm 54,4% số dự án và 27,2% tổng vốn đầu t Các ngànhđợc đầu t nhiều nhất là: công nghiệp (chiếm 63,3% về số dự án và 38,88% tổng vốn đầu t); hoạt động kinhdoanh tài sản, dịch vụ t vấn (chiếm 17% số dự án và 24% tổng vốn đầu t) Đài Loan là lãnh thổ có số dự án
và tổng vốn đầu t lớn nhất (chiếm 22,8% số dự án và 18,8% tổng vốn), tiếp đến là Hong Kong (chiếm17,1% tổng vốn đầu t) và Singapore (chiếm 11,8% tổng vốn) Riêng tại hai khu chế xuất Tân Thuận vàLinh Trung có 140 dự án với tổng vốn đầu t là 728,9 triệu USD; trong đó có 104 dự án đã đi vào sản xuấtkinh doanh, thu hút lực lợng lao động trên 53.000 ngời và đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu từ năm 1993 đếnnay gần 2 triệu USD
Đầu t nớc ngoài vào thành phố tăng nhanh vào thời kỳ 1993 - 1995: Từ năm 1996 tình hình đầu t bắt đầugiảm, năm 1999 chỉ đạt 470 triệu USD, bằng 20% của năm 1995 (hình 7, phụ lục 2) Nh vậy giai đoạn 1991
- 1995, bình quân hàng năm đầu t nớc ngoài tăng 40,6%, còn giai đoạn 1996 - 2000, bình quân hàng năm
và đơn giản hóa Cơ chế "một cửa, tại chỗ" đợc áp dụng tại các khu chế xuất, khu công nghiệp đợc các nhàđầu t nớc ngoài hoan nghênh
Ngoài những thành tựu đạt đợc, trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài trên địa bàn thành phố trong thời gian quacũng đã bộc lộ một số hạn chế Do đầu t vào địa bàn chủ yếu là từ các nớc Đông á nên khi các nớc này gặpkhủng hoảng vào năm 1997 thì đầu t nớc ngoài vào thành phố giảm mạnh Do đó, việc đa dạng hóa đầu tcần đợc chú trọng hơn nữa trong tơng lai Mặc dù thành phố đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến các thủtục liên quan đến hoạt động đầu t nhng nhìn chung các nhà đầu t nớc ngoài vẫn phàn nàn về thủ tục hànhchính rờm rà, chậm trễ, giá của các loại dịch vụ mặc dù đã có sự điều chỉnh nh ng vẫn còn cao đối với ngờinớc ngoài và nhiều loại hình dịch vụ vẫn còn thực hiện cơ chế hai giá
4.2- Đầu t từ nguồn vốn ODA:
Trong giai đoạn 1996-2000, tổng vốn đầu t đã ký kết từ nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA), trong
đó chủ yếu là vay u đãi, do thành phố quản lý là 478 triệu USD, trong đó đầu t vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật(nớc, giao thông) chiếm 80%, bảo vệ môi trờng chiếm 15% và y tế - giáo dục chiếm 5% Các dự án ODAđều đợc tập trung vào cơ sở hạ tầng và có tính thiết thực cao, đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội chothành phố Hồ Chí Minh Ngoài vốn ODA do thành phố, vốn ODA đầu t trên địa bàn thành phố do các Bộ -ngành Trung ơng quản lý cũng tơng đối lớn nh dự án nâng cấp Quốc lộ 1A, dự án cải tạo lới điện thànhphố
Nhợc điểm của các dự án ODA là tốc độ giải ngân và triển khai chậm làm giảm hiệu quả; quản lý chồngchéo và trong nhiều trờng hợp không phù hợp với thông lệ quốc tế; sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện
dự án với các sở ban ngành khác cha đợc chặt chẽ cũng nh năng lực của các ban quản lý dự án còn hạn chế
4.3- Chính sách kích cầu:
Trang 11Chính sách kích cầu, mặc dù đợc tích cực triển khai để khắc phục tình trạng thiểu phát và thúc đẩy tăng ởng, nhng cho đến nay việc phát huy tác dụng còn chậm Tình hình thực hiện các dự án kích cầu triển khaichậm, trong đó có lý do khách quan là các quy định về đấu thầu và giao đất cho đầu t không dùng vốn ngânsách có nhiều bất hợp lý chậm đợc điều chỉnh Một số công trình trọng điểm về cơ sở hạ tầng đã đợc bố trí
tr-kế hoạch nhng triển khai chậm do gặp khó khăn vớng mắc về di dời, giải tỏa hoặc phát sinh khối lợng, thayđổi thiết kế phải trình duyệt lại
5/ Dịch vụ:
5.1 Thơng mại:
a) Nội thơng:
Tổng mức bán ra trên địa bàn thành phố năm 1998 đạt 132.346 tỉ đồng, năm 1999 đạt 135.076 tỉ đồng và
dự kiến năm 2000 đạt 147.500 tỉ đồng (giá hiện hành) Tỉ trọng bán buôn giảm dần, tuy chậm, từ 59,3%năm 1998 xuống 59,2% năm 1999 và 58,8% năm 2000 Tỉ trọng bán lẻ tăng chậm từ 40,7% năm 1998 lên41,2% năm 2000 Tỉ trọng thơng mại quốc doanh giảm chậm, năm 1998 là 34,7%, 1999 là 33,5% và năm
2000 ớc 33,4%, tơng ứng với sự tăng tỉ trọng thơng mại ngoài quốc doanh 64,3%, 65,5% và 65,8% Đónggóp của đầu t nớc ngoài vào thơng mại còn nhỏ bé và không đổi, chiếm 0,8% tổng mức bán ra trong 3 năm
1998 - 2000 Toàn thành phố có 216 chợ với 60.412 tiểu thơng, chất lợng hoạt động các chợ chậm đợc cảithiện Mặt nổi bật của thơng mại thành phố là sự ra đời 19 siêu thị và 8 trung tâm thơng mại trong thời kỳ
1996 - 2000, trong đó tiêu biểu là hệ thống siêu thị Coopmart có chất lợng phục vụ tốt, doanh số bình quân
1 tỷ đồng/ngày Hiện nay, 70% hàng bán ở các siêu thị là hàng Việt Nam
Tỉ trọng đóng góp của thơng mại vào tổng giá trị GDP của thành phố giảm từ 17,6% năm 1996 xuống14,6% năm 1999, do mức tăng trởng giá trị đóng góp của thơng mại 3 năm 1997 - 1999 thấp hơn mức giatăng tổng sản phẩm nội địa của thành phố
b) Xuất nhập khẩu:
Bình quân thời kỳ 1991-2000, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,4%/năm Về giá trị tuyệt đối, kim ngạch xuấtkhẩu đã tăng từ 1,1 tỷ USD năm 1991 lên 3,8 tỷ USD năm 1996 và 5,9 tỷ USD năm 2000 (hình 8, phụ lục2) Nh vậy tỷ lệ xuất khẩu so với GDP của thành phố năm 2000 là 107% (5,9 tỷ USD so với 5,5 tỷ USD)tức là nền kinh tế thành phố rất nhạy cảm với xuất khẩu và cạnh tranh ở thị trờng nớc ngoài
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1996-2000 trên địa bàn là 17,8%/năm Đây là tốc độ tăng ởng khá cao, nhng vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng 27,1%/năm trong giai đoạn 1991-1995 và thấp hơn mục tiêu 22%/năm đã đề ra So cả nớc, giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố luôn chiếm tỷ trọng lớn (xấp xỉ hoặc trên 40%; đặc biệt năm 1996 chiếm 52,6%; năm 2000 dự ớc chiếm gần 40%).
tr-Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu đã có sự chuyển dịch đáng kể trong 5 năm qua Nếu trớc đây xuất khẩu chủyếu là các mặt hàng nông sản thô, nông sản chế biến, và một số hàng thủ công, mỹ nghệ thì nay xuất khẩu
của thành phố chủ yếu là hàng công nghiệp Tỷ trọng hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu
địa phơng của thành phố tăng từ 20,4% năm 1991 lên 62,3% năm 1996 và 69,7% năm 1999 Số loại sản phẩm xuất khẩu tăng từ 35 sản phẩm năm 1991 lên 664 sản phẩm năm 1997, bình quân mỗi năm tốc độ tăng sản phẩm mới để xuất khẩu đạt gần 80% Việc thay đổi cơ cấu hàng công nghiệp trong xuất khẩu là tích cực, phản ánh đợc lợi thế so sánh của thành phố Tuy nhiên, hiện nay xuất khẩu hàng công nghiệp của thành phố vẫn chủ yếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động và có năng suất lao động rất thấp nh may mặc và giày dép Trong khi năng suất lao động bình quân của công nghiêp thành phố năm 1999 là 27,2 triệu đồng giá trị gia tăng/lao động (giá 1994) thì năng suất lao động của ngành may chỉ là 10,1 triệu đồng/lao động; của ngành giày dép 8,2 triệu đồng/lao động Xuất khẩu các sản phẩm có hàm lợng công nghệ cao bớc đầu đã xuất hiện nhng còn chiếm tỷ trọng nhỏ và đợc sản xuất chủ yếu là ở các khu chế xuất
và một số công ty có vốn đầu t nớc ngoài Bên cạnh đó phần lớn nguyên liệu lại đợc cung cấp từ nớc ngoài
Trang 12nên, phần giá trị gia tăng trong nớc chủ yếu là công lao động Nh vậy, mặc dù hoạt động xuất khẩu đã có nhiều bớc tiến đáng kể về mặt lợng, song sự chuyển biến về chất và hiệu quả xuất khẩu còn chậm.
Về thị trờng xuất khẩu, mặc dù thị trờng Đông á vẫn là thị trờng xuất khẩu chính của thành phố song đếnnay thành phố đã giảm đợc một phần sự phụ thuộc quá nhiều vào các thị trờng này nhờ việc đa dạng hóa thịtrờng, chuyển hớng sang những thị trờng mới nh EU và Mỹ (hai thị trờng này tổng cộng chiếm 49,8% kimngạch xuất khẩu trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2000, trong khi các năm trớc tỷ lệ này là 60-70%)
Năm 1995, mức nhập khẩu của thành phố là 2,9 tỷ USD, năm 1999 là 3,4 tỷ USD Tốc độ tăng trởng nhậpkhẩu giai đoạn 1996-2000 trên địa bàn là 5,2%/năm, thấp hơn nhiều so với giai đoạn 1991 - 1995 là 24,6%.Bình quân 10 năm 1991-2000, tốc độ tăng nhập khẩu là 14,9%/năm; nguyên nhân do nhập khẩu giảm mạnhtrong năm 1998 và 1999 Trên địa bàn thành phố, chênh lệch kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu năm 2000
ớc là 2,2 tỷ USD Cơ cấu nhập khẩu từ năm 1998 đã có nhiều bớc cải thiện đáng kể theo hớng ngày càngphục vụ sát hơn nhu cầu sản xuất Tỷ trọng nhập hàng tiêu dùng đã giảm từ 23% năm 1994 xuống còn12,8% năm 1998 và 5,6% năm 1999 Tỷ trọng nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu luôn chiếm tỷ trọng lớn(năm 1999 chiếm gần 77% tổng kim ngạch nhập khẩu) và có chiều hớng ổn định Nhóm hàng máy mócthiết bị còn chiếm tỷ trọng nhỏ (năm 1999 chiếm gần 15%) so với nhu cầu đổi mới thiết bị
5.2- Du lịch:
Mời năm qua, du lịch thành phố đã có bớc phát triển mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lợng du lịch, đadạng hóa loại hình du lịch, liên kết với các tổ chức du lịch quốc tế Tuy nhiên, do tác động của khủnghoảng kinh tế - tài chính và khả năng cạnh tranh quốc tế còn hạn chế, hoạt động du lịch gần đây không còngia tăng mạnh mẽ nh trong giai đoạn trớc Doanh thu dịch vụ du lịch giảm liên tục trong 3 năm 1997 - l
999 Tỷ trọng doanh thu du lịch so với GDP giảm từ 11,6% năm 1996 xuống chỉ còn 5,3% năm 1999 Số l
-ợt khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh giảm trong hai năm 1997 và 1998, nhng đến năm 1999 vànăm 2000 đã tăng trở lại (hình 9, phụ lục 2) Bình quân trong giai đoạn 1996 - 1999, một năm có 546 nghìnlợt khách quốc tế tới thành phố Năm 1999, thành phố đã đón tiếp 975 ngàn lợt khách và dự ớc trong năm
2000 sẽ đón khoảng 1.100 lợt khách quốc tế
Trong giai đoạn này, bên cạnh việc tập trung đầu t vào xây dựng khách sạn và nhà hàng, các khu vui chơigiải trí cũng đã đợc đầu t nâng cấp nh Đầm Sen, Suối Tiên và xây dựng mới nh sân gôn, các công viên n-ớc, Tuy nhiên, các khu du lịch có quy mô lớn đợc đề ra trong quy hoạch hầu nh cha đợc triển khai thựchiện nh Khu di tích địa đạo Củ Chi, Khu du lịch rừng ngập mặn Cần Giờ, Khu di tích lịch sử văn hóa ThủĐức, cụm du lịch Bình Thạnh, Gò Vấp, ven sông Sài Gòn
5.3- Giao thông vận tải:
Trong thời gian qua, thành phố đã có nhiều nỗ lực tập trung nguồn vốn duy tu, cải tạo, nâng cấp và đầu tmới nhiều công trình giao thông Đã nâng cấp, làm mới 500km đờng giao thông nông thôn, nâng cấp 27cầu, 34 km tuyến đờng Nhà Bè - Cần Thạnh, xây mới 18 km đờng Bắc Nhà Bè, (Nam Bình Chánh - BắcNhà Bè), cải tạo, mở rộng 15 nút giao thông Khối lợng vận chuyển hàng hóa hành khách tăng nhanh quacác năm, năm 1999 đạt 24,5 triệu tấn hàng hóa, tăng 47% so với 1995 và 194 triệu l ợt ngời hành khách,tăng 35% so với 1995 Năm 1999, tổng lợng hàng thông qua các cảng của thành phố là 13 triệu tấn, bốc xếp
21 triệu tấn Vận tải công cộng có bớc tiến mới : loại hình xe khách đợc củng cố và phát triển, có 13 Công
ty và 14 Hợp tác xã taxi đã đi vào hoạt động Tuy nhiên, mạng lới cầu đờng trên địa bàn thành phố vẫn chịutình trạng quá tải Vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng đờng sông cha đợc quan tâm đúng mức, trong khi thànhphố rất có u thế để phát triển dịch vụ vận chuyển đờng sông Tình trạng kẹt xe gia tăng, tai nạn giao thông,
ô nhiễm đang tạo nên những áp lực đáng kể cho quá trình phát triển kinh tế
5.4- Bu chính viễn thông:
Bu chính viễn thông là ngành phát triển mạnh mẽ nhất trong các ngành cơ sở hạ tầng kỹ thuật Đặc biệttrong những năm 1996-2000, ngành bu chính viễn thông chuyển sang giai đoạn tăng tốc, hiện đại hóa mạng
Trang 13lới, bắt nhịp đợc trên nhiều lãnh vực so với các nớc khu vực Số lợng bu cục tăng từ 91 năm 1991 lên 177năm 2000, đại lý bu điện tăng từ 14 điểm năm 1992 lên 280 năm 2000 Số máy điện thoại tăng từ 267.800máy năm 1996 lên 538.452 máy năm 1999 và 647.000 máy năm 2000 (bình quân 12,7 máy trên 100 ngờidân), đờng cáp quang tăng từ 160 km năm 1996 lên 643 km năm 1999.
5.5- Tín dụng ngân hàng:
Hoạt động Tín dụng - Ngân hàng trong những năm qua luôn gắn liền với đời sống và sự phát triển kinh
tế-xã hội của thành phố Tổng số huy động năm 1996 là 24.173 tỷ đồng, năm 1999 đạt hơn 41.000 tỷ đồng,tăng bình quân
18%/năm Hệ thống các ngân hàng khu vực trong nớc vẫn chiếm tới 78,8% thị phần vốn huy động năm1999
Hoạt động tín dụng tăng nhanh Bình quân suốt thời kỳ 1990-1999 tăng trởng tín dụng đạt 47,9% Tỷ lệ d
nợ cho vay trung và dài hạn đã tăng từ 14% tổng d nợ đang luân chuyển năm 1992 lên 27, l%/năm 1999
Tỷ lệ cho các doanh nghiệp Nhà nớc vay là hơn 60% số cho vay, trong khi cho các doanh nghiệp t nhân chỉ
có 14,8%
Tình trạng vốn bị ứ đọng trong ngân hàng kéo dài Tính đến cuối tháng 9 năm 2000, ớc vốn huy động củacác tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng 26, l% so với đầu năm Tuy nhiên, tổng d nợtín dụng chỉ tăng 13,6% so với đầu năm Nh vậy, vốn huy động vẫn tăng nhanh hơn rất nhiều so với vốncho vay
Có nhiều nguyên nhân làm cho các ngân hàng không cho vay trong nớc đợc đó là: một số doanh nghiệp có
tỷ suất lợi nhuận thấp và không muốn vay vốn để đầu t mở rộng sản xuất; tuy nhiên vẫn có rất nhiều doanhnghiệp đang sản xuất-kinh doanh phát triển, có nhu cầu và có khả năng vay vốn Nhng do thiếu thông tin vàkhả năng phân tích còn hạn chế nên các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thơng mại quốc doanh, cótâm lý ngại cho vay vì sợ rủi ro
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhng những cải cách trong hệ thống ngân hàng từ năm 1999 trở lại đây đợctiến hành rất tích cực Các nỗ lực tái cơ cấu ngân hàng đợc tập trung vào các ngân hàng thơng mại cổ phầncủa thành phố Hồ Chí Minh Một số ngân hàng đã đợc sát nhập, giải thể hay đợc đặt dới sự kiểm soát hoặcgiám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nớc Các ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng đợc rà soát lại vềtình hình tài chính Các quy định về quản lý rủi ro cũng đã đợc ban hành Việc ra đời Trung tâm giao dịchchứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh là một bớc phát triển quan trọng của thị trờng vốn của thành phố.Nhìn chung, chức năng trung gian tài chính của các ngân hàng và định chế tài chính tren địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh vẫn cha đợc thực hiện một cách có hiệu quả
Ngoài chức năng huy động vốn và cung cấp tín dụng, chức năng cung cấp dịch vụ thanh toán của hệ thốngngân hàng còn rất yếu Công nghệ dịch vụ thanh toán còn sơ khai, Vì vậy, tỷ lệ đóng góp của dịch vụ tàichính-tín dụng vào GDP của thành phố chỉ đạt 2,3% vào năm 2000, hoàn toàn ch a tơng xứng với vị trí mộtTrung tâm tài chính của cả nớc
5.6 Hoạt động khoa học - công nghệ
Trong 5 nărn qua, hoạt động khoa học và công nghệ có bớc phát triển, phát huy sáng tạo của đội ngũ khoahọc kỹ thuật của thành phố và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong nhiều lĩnh vực, đã triển khai nghiêncứu và ứng dụng và thực tế nhiều đề tài mang hiệu quả Trong công nghiệp, việc đổi mới máy móc thiết bị,công nghệ, cải tiến mẫu mã chất lợng ngày càng đợc quan tâm, nhiều sản phẩm mới ra đời đủ sức cạnhtranh với hàng ngoại nhập và vơn ra thị trờng các nớc Trong nông nghiệp đã đạt đợc những tiến bộ vềgiống heo, gà, bò và cây trồng Trong khoa học xã hội và nhân văn triển khai nhiều đề tài nghiên cứu, đề
Trang 14xuất các giải pháp kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Các giải pháp quản lý khoa học - công nghệ làm
rõ nhiều yếu tố và định hớng cơ bản của cơ chế hoạt động khoa học công nghệ phù hợp với kinh tế thị tr ờng và điều kiện xuất phát thấp của chúng ta Đã tổ chức tổng kết các bài học và mô hình hiện đại hóathành công trong điều kiện vốn ít, các giải pháp cạnh tranh tổng hợp khi công nghệ còn lạc hậu Thực hiệncác lớp đào tạo để nâng cao năng lực quản lý của các doanh nghiệp trên địa bàn nh Chơng trình 1000 Giámđốc cho năm 2003, Chơng trình bồi dỡng Doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh tham gia AFTA 2003.Thực hiện các chơng tnnh hỗ trợ doanh nghiệp nh áp dụng hệ thống quản lý chất lợng ISO 9000, (tại 60doanh nghiệp với kinh phí hỗ trợ 12 tỷ đồng); chơng trình giới thiệu thiết bị, sản phẩm và công nghệ mớingành thực phẩm chế biến, nhựa cao su tại thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ Bớc đầu hình thành thị tr-ờng công nghệ ở thành phố và sự liên kết giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà n ớc và các Đại học,Viện nghiên cứu Xây dựng và đa vào khai thác mạng thông tin khoa học và công nghệ của thành phố
-6/ Môi trờng:
Công tác bảo vệ môi trờng đợc đẩy mạnh, đã triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo vệ môi trờng và hạn chế
sự gia tăng về ô nhiễm, nh hình thành đội ngũ chuyên trách về công tác môi trờng ở 22 quận-huyện, cáchoạt động liên kết giữa Sở Khoa học-Công nghệ và Môi trờng, Sở Giao thông công chánh và Thành ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, liên tục phát động tuần lễ "sạch và xanh", triển khai mạng l ới giám sátnớc và không khí; kiểm soát ô nhiễm trong giao thông đờng bộ, ô nhiễm trong công nghiệp nh thực hiệnchơng trình giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp với quỹ cho vay vốn cải thiện một trờngtrên 13 tỷ đồng, triển khai sản xuất sạch hơn tại 6 công ty và doanh nghiệp Công tác vệ sinh công cộng đ -
ợc chú ý phát triển và cải thiện đáng kể (nhà vệ sinh công cộng, lò thiêu rác y tế cho toàn thành phố, hỏatáng bằng khí đốt ở Bình Hng Hòa và đặt 7.500 thùng rác công cộng trên đờng phố toàn thành) Việc quét,thu gom rác đô thị đợc tổ chức phủ kín khắp 22 quận - huyện và vận chuyển xử lý trên 3.800 tấn rác/ngày.Nâng tổng số cây xanh đờng phố từ 26.600 câỵ năm 1995 lên 44.700 cây năm 2000
Năm năm qua, đã xây dựng thêm 61 km đờng cống thoát nớc các loại, nạo vét các kênh rạch, giải quyết dầnviệc ngập lụt khi có ma hoặc thủy triều lên Đặc biệt, công trình cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè đã gópphần chỉnh trang đô thị khu vực này, cải thiện điều kiện sống cho 35.000 ngời dân nghèo, tạo một ấn tợngmới về thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, nhìn chung tình hình ô nhiễm trong công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của thành phố còn ch a
có cải thiện căn bản, ô nhiễm kênh rạch còn nghiêm trọng Xử lý rác còn theo ph ơng pháp thô sơ, chôn lấp
là chủ yếu, bãi rác cha có hệ thống xử lý nớc thải hoặc xử lý sơ bộ nên gây ô nhiễm môi trờng ở các vùnglân cận bãi rác Mặt khác, do việc tổ chức quản lý đợc dựa theo địa giới hành chánh nên việc điều hànhhiệu quả cha cao ở một số quận- huyện, sự quan tâm của lãnh đạo tới công tác bảo vệ môi trờng còn hạnchế, hiệu lực quản lý Nhà nớc về môi trờng còn yếu
7/ Văn hóa - xã hội
7.1- Giáo dục và đào tạo:
Từ năm 1995, thành phố tiến hành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, huy động tối đa trẻ vào hệ thống tr ờnglớp chính quy, giảm nhanh tỷ lệ bỏ học ở tiểu học từ 3,7% năm 1990 xuống còn 0,97% năm 1999 và giảm
tỷ lệ lu ban từ 14,6% năm 1990 xuống còn 2,5 l% năm 1999 Đến nay thành phố đã có 301 trên 303
phờng-xã đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học, trong đó có 240 phờng-phờng-xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểuhọc đúng độ tuổi; 9 trên 22 quận- huyện với 18 l trên 303 phờng-xã (chiếm 60%) đạt chuẩn phổ cập giáodục trung học cơ sở và nhiều phờng ở các quận đang triển khai kế hoạch phổ cập trung học phổ thông trớcnăm 2002 Mặt bằng dân trí của ngời dân thành phố tăng từ lớp 6, l năm 1994 lên lớp 7,56 năm 1999 Hiệnnay, tỷ lệ ngời biết chữ ở thành phố là 97,41 % Trong 5 năm 1996-2000, thành phổ đã xây mới 4.500phòng học cho giáo dục mầm non và phổ thông
Trang 15Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có 17 trờng đại học, cao đẳng Trung ơng và 22 trờng trung họcchuyên nghiệp với số lợng học viên theo học năm 2000 khoảng 260.000 ngời bậc đại học, cao đẳng (gấp 2lần năm 1995) và 41.000 ngời bậc trung học chuyên nghiệp; có 185 cơ sở dạy nghề, trong đó có 146 cơ sởdạy nghề ngắn hạn, với quy mô đào tạo khoảng 150.000 học viên/năm, trong đó đào tạo dài hạn có trình độbậc 3/7 trở lên chỉ đạt khoảng 6% số học viên.
Nhìn chung cơ cấu về quy mô giữa các cấp học, bậc học trong giáo dục phổ thông có chuyển biến tích cực,nhng cơ cấu giữa dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, đại học cao đẳng vẫn cha đợc cải thiện mà còn ngàycàng mất cân đối
Khoảng cách mặt bằng học vấn giữa nội thành và ngoại thành vẫn còn chênh lệch khá xa Vấn đề phânluồng học sinh sau trung học phổ thông bị bỏ ngỏ, thiếu hẳn một chiến lợc phát triển đồng bộ và toàn diện.Vấn đề giáo dục nghề cha đợc chú ý đúng mức cả về phía lãnh đạo quản lý và ngời học
7.2- Y tế:
Mạng lới y tế của thành phồ đợc phân bổ đến tận phờng-xã với l00% trạm y tế phờng-xã có bác sĩ Nhiềubệnh viện của thành phố là các trung tâm y tế chuyên sâu đầu ngành của các tỉnh phía Nam Số gi ờng bệnhqua các năm đều gia tăng nhng không nhiều và đạt 15.550 giờng năm 1999, bình quân đạt gần 30 giờngbệnh/l0.000 dân Việc khám và điều trị của ngành y tế có nhiều nỗ lực, áp dụng nhiều thành tựu kỹ thuậtmới, hạ thấp ngày điều trị trung bình và giảm tỷ lệ tử vong Bình quân l năm có 15 triệu lợt ngời đợc khámbệnh và hơn 500.000 ngời đợc điều trị nội trú ở các cơ sở y tế Nhà nớc
Các chơnng trình chăm sóc sức khỏe ban đầu đợc triển khai đều khắp với nhiều kết quả tốt trong kế hoạchhóa gia đình, phòng chống các bệnh xã hội, các bệnh truyền nhiễm, chăm sóc trẻ em, Chơng trình y tếcho ngời nghèo đợc thực hiện khá tốt Từ tuyến cơ sở phờng xã đến bệnh viện đều có giờng miễn phí chongời nghèo Hoạt động của Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo ngày càng thể hiện rõ tính u việt của xã hội mới.Tính đến nay Hội đã chữa bệnh miễn phí cho 600.000 lợt bệnh nhân nghèo; thực hiện 30.43 l ca giải phẩughép thủy tinh thể nhân tạo, 9.000 ca giải phẩu vá môi hở hàm ếch
Thực hiện chính sách thúc đẩy xã hội hóa hoạt động khám chữa bệnh, hệ thống mạng lới y tế t nhân tínhđến 30/6/2000 có 8.582 cơ sở hoạt động, trong đó có 2 bệnh viện đa khoa, 14 phòng khám đa khoa, 4 l01phòng mạch, 2.282 nhà thuốc - đại lý thuốc góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh thông thờng củangời dân, giảm nhẹ sự quá tải của y tế Nhà nớc
Tại Thành phố nhiều bệnh truyền nhiễm" đặc trng thờng xuất hiện ở các nớc đang phát triển đã đợc kiểm soát, nhng một số bệnh phổ biến ở các nớc công nghiệp phát triển lại có xu hớng tăng nh bệnh về tim mạch,
bệnh nghề nghiệp, tai nạn giao thông Bên cạnh đó, thành phố vẫn là nơi có số bệnh nhân nhiễmHIV/AIDS lớn nhất nớc
Khó khăn lớn nhất của ngành y tế hiện nay là sự quá tải ở nhiều bệnh viện do các bệnh viện này là tuyếnchuyên ngành cao nhất của khu vực phía Nam với nhiều chuyên khoa đầu ngành Việc khám chữa bệnh
không chỉ riêng cho nhu cầu ngời dân thành phố mà còn cả nhiều tỉnh ở phía Nam Bình quân trên 30%
bệnh nhân nội trú là của các tỉnh, trong đó có bệnh viện lên tới 60% nh Trung tâm Ung bớu, do đó đầu tcho ngành y tế phải đợc xem xét trên bình diện rộng hơn
7.3- Văn hóa, thông tin và phát thanh, truyền hình
Hoạt động văn hóa nghệ thuật thông tin có nhiều cố gắng, tiến bộ trong việc xây dựng và phát triển nền vănhóa tiên tiến, phát huy truyền thống cách mạng và bản sắc văn hóa dân tộc Hoạt động văn hóa ở các vùngsâu, vùng xa đợc quan tâm, cơ sở vật chất đợc tăng cờng đầu t xây dựng Hoạt động sáng tác, nghiên cứu,đào tạo, định hớng, phê bình đã đợc quan tâm và đầu t thích đáng hơn Công tác vận động xây dựng nếpsống văn minh, bài trừ mê tín dị đoan, phòng chống tệ nạn xã hội đợc duy trì thờng xuyên Hàng năm, các
Trang 16hoạt động văn hóa vào các ngày lễ lớn đợc duy trì và tổ chức tốt Các hoạt động văn hóa quần chúng vàphong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đợc mở rộng, góp phần ổn định an ninh chínhtrị.
Lãnh vực báo chí, in ấn, xuất bản phát hành sách phát triển khá nhanh, đa dạng và phong phú Hệ thống thviện, các điểm di tích bảo tồn bảo tàng đợc bảo vệ tôn tạo kết hợp với các hoạt động du lịch và giáo dụctruyền thống Phát thanh, truyền hình trở thành phơng tiện hiệu quả để đa chủ trơng, chính sách, thông tinkinh tế-xã hội đến ngời dân Cơ sở vật chất phát thanh, truyền hình đợc đổi mới, tăng cờng để tiếp nhận-phủ sóng toàn quốc và tăng thời lợng phát Nội dung chơng trình đợc mở rộng về giáo dục học đờng, đàotạo từ xa, dạy tiếng nớc ngoài, đa dạng loại hình phim ảnh nghệ thuật, bớc đầu đáp ứng đợc nhu cầu nângcao hởng thụ văn hóa, thông tin kinh tế - xã hội góp phần cải thiện đời sống tinh thần ngời dân
7.4- Thể dục - thể thao:
Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là 2 trung tâm thể dục thể thao lớn đ ợc tập trung phát triển để tiến tớiViệt Nam có thể đăng cai tổ chức các giải SEA Game - ASIAD nên các cơ sở vật chất ngành tiếp tục đ ợcduy trì cải tạo Các Liên đoàn Thể dục thể thao đợc tăng cờng Hoạt động thể thao đợc đầu t từ nhiều nguồnvốn sớm đa vào hoạt động, cải thiện đáng kể điều kiện cơ sở vật chất tập luyện là nền tảng để thành phố HồChí Minh đứng đầu về thành tích thể thao tại các cuộc thi toàn quốc và cung cấp nhân lực cho Việt Namtham gia các giải quốc tế, khu vực
Phong trào thể dục thể thao thờng xuyên đợc duy trì mở rộng nhất là trong hệ thống giáo dục phổ thông, sốngời tập luyện thể dục thể thao thờng xuyên tăng qua các năm đạt trên 13% dân số năm 1999, góp phầnnâng cao thể lực, tăng cờng sức khỏe ngời dân
Những khó khăn và tồn tại là tiến độ đầu t cơ sở vật chất những năm qua còn chậm, thiếu nguồn đầu t; trình
độ nghiệp vụ quản lý của ngành còn yếu kém để xảy ra tiêu cực trong hoạt động Liên đoàn bóng đá ảnh h ởng đến tinh thần thể thao
-7.5- Lao động, nhà ở và đời sống:
Theo kết quả Tổng điều tra dân số 01/4/1999 thì dân số của thành phố Hồ Chí Minh là 5.037.155 ng ời Dựkiến năm 2000 dân số của thành phố lên đến 5,17 triệu ngời Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 1996-
2000 là 19%/năm, trong đó tỷ lệ tăng tự nhiên là l,38% và tỷ lệ tăng cơ học là 0,8 l%
Tỷ lệ tăng chung dân số trong giai đoạn 1996-2000 thấp hơn hẳn so với tốc độ tăng 2,42% trong giai đoạn1991-1995 và so với mức tăng trong quy hoạch là 2,77% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm dần qua cácnăm và thấp hơn mức khống chế l,5% đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Tỷ lệ tăng cơ học cũng giảm so với mức 0,9% trong giai đoạn 1991-1995 và mức tăng trong quy hoạch làl,35%
Số ngời đang làm việc tăng qua các năm và đạt l.928.746 lao động vào năm 1999, chiếm 38, l% tổng dân số
và 66,5% nguồn lao động Tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp giảm từ 13,2% năm 1996 xuống12,5% năm 1999 (241.000 lao động); khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 37,8% lên 37,9% (73 l.000ngời) và khu vực dịch vụ tăng từ 49,0% lên 49,6% (956.000 ngời) So với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sựchuyển dịch cơ cấu lao động trong ba khu vực kinh tế diễn ra rất chậm và tỷ trọng lao động của các khuvực hầu nh không thay đổi trong giai đoạn 1996- 1999
Trong 5 năm 1996-2000, đã giải quyết đợc việc làm cho 906 ngàn lợt ngời, trong đó số lao động có việclàm ổn định chiếm 90,2% Nh vậy, bình quân l năm có 18l ngàn chỗ làm mới đợc tạo ra trên địa bàn thànhphố, cha tính số chỗ làm việc bị bỏ hoặc mất do nguời lao động chuyển khỏi nơi làm việc, cao hơn chỉ tiêu160.000 chỗ làm đã đợc đề ra Tuy nhiên, số ngời cha có việc làm vẫn tăng lên qua các năm với tốc độ bình
Trang 17quân giai đoạn 1996- 1999 là 18,3% Tỷ lệ thất nghiệp (lao động cha có việc làm so với nguồn lao động)năm 1996 là 7,79% và năm 2000 là 6,87%.
Diện tích nhà ở mới xây hàng năm gia tăng ở mức độ trên 2 triệu m2 giai đoạn 199l- 1995 và 3, l triệu m2giai đoạn 1996-2000 Đến năm 1999, diện tích nhà ở bình quân đầu ngời đạt l0,3m2 Tỷ lệ hộ có nhà ở năm
1999 toàn thành phố là 99,7%, trong đó thành thị là 99,5% và nông thôn là l00% Phong trào nhà tìnhnghĩa, tình thơng đã cải thiện điều kiện nhà ở cho một bộ phận dân c nghèo Đến nay đã xây dựng đợcl0.228 căn nhà tình nghĩa với tổng giá trị trên 130.406 triệu đồng và 6285 căn nhà tình th ơng với tổng giátrị trên 3 l 365 triệu đồng Chơng trình chỉnh trang đô thị, giải tỏa nhà trên kênh rạch gắn với việc tái định
c, xây dựng các khu dân c mới bớc đầu tạo ra bộ mặt đô thị mới cho thành phố (35.000 ngời dân nghèo đãđợc cải thiện đời sống qua công trình Nhiêu Lộc-Thị Nghè) Đã và đang xây dựng 5l chung c với tổng sốl0.088 căn hộ Đến nay đã xây dựng hoàn thành xong 38 chung c với tổng số 6306 căn hộ
Hởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, các đơn vị trong thành phố đang phụng dỡng gần l.300 Bà mẹ ViệtNam anh hùng, đỡ đầu hàng ngàn thơng binh nặng và ngời thân của các liệt sĩ Các hoạt động cứu trợ đồngbào bị thiên tai, hỏa hoạn ở thành phố và các tỉnh trong cả nớc đã trở thành phong trào của mọi tầng lớpnhân dân thành phố
Phát triển kinh tế đã thực sự cải thiện đời sống của đại bộ phận nhân dân thành phố nhất là các tiện nghisinh hoạt gia đình Tính đến cuối năm 1999, bình quân 87,7% hộ gia đình có máy thu hình, 40,8% hộ có tủlạnh, 75,2% hộ có xe gắn máy, 58,3% hộ có bếp ga và 41,3% hộ có điện thoại Mức chi tiêu bình quân mộtngời l tháng tăng từ 415.582 đồng năm 1996 lên 506 l00 đồng năm 1999, trong đó tỷ lệ chi cho ăn uốnggiảm từ 49,3% xuống 46,8% trong cùng giai đoạn
8/ Thu và chi ngân sách:
Thu ngân sách hàng năm của thành phố đợc thể hiện ở bảng 8 Tổng thu ngân sách 5 năm 1996-2000 là l16.2 l0 tỷ đồng
Bảng 8: Thu ngân sách trên địa bàn
Tỷ lệ điều tiết cho TP
trong tổng thu ngân
sách trên địa bàn (%)
Nguồn: Cục Thuế thành phố năm 2000
Trang 18Trong những năm qua thành phố luôn đóng góp trên 30% cho tổng nguồn thu của ngân sách quốc gia Tỷ lệthu ngân sách trên địa bàn thành phố so với cả nớc tăng từ 22,6% năm 199 l lên 3 l,4% năm 1996 và 37,4%năm 1999 Năm 2000, đóng góp 3 l,6% (Bảng 8).Từ năm 1999, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu do Hảiquan thu, không tính vào thu nội địa do thành phố thu, do đó tỉ trọng thu nội địa năm 1999 và 2000 giảm sovới trớc.
Bảng 8 còn cho thấy 1: tỷ lệ động viên vào ngân sách từ GDP giảm từ 43% năm 1996 xuống 33,3% năm
2000, sau khi tăng lên liên tục trong giai đoạn 199 l-1995 Tuy nhiên, tỷ lệ thu ngân sách so với GDP bìnhquân ở mức trên 30% là rất cao Điều đáng quan tâm là trong tổng số thu ngân sách này, tỷ lệ điều tiết chongân sách thành phố chỉ ở mức bình quân là 16,4% trong những năm 1996-2000 Điều này đã hạn chế khảnăng cân đối đầu t cho phát triển so với nhu cầu đầu t hàng năm (bình quân chỉ đáp ứng đợc khoảng 25-30% nhu cầu dầu t của các sở-ngành và quận-huyện) Cụ thể trong năm 2000 nhu cầu vốn để bảo trì duy tu
hệ thống cầu đờng trên địa bàn thành phố (không kể tuyến đờng Nhà Bè-Cần Giờ) là 65,88l tỷ đồng, songchỉ cân đối đợc 47,800 tỷ đồng, đáp ứng 72,6% nhu cầu (phần còn thiếu là trên 18,000 tỷ đồng)
Bảng 9: Cơ cấu chi ngân sách địa phơng
3470,9 100,00
3948,24 100,00
4203,8 100,00
4583 100,00
3758,11 100,001.Chi XDCB (tỷ
Trang 19Nguồn: Sở Tài chính - Vật giá thành phố Hồ Chí Minh
Trong cơ cấu chi ngân sách bình quân giai đoạn 1996-2000, chi cho đầu t xây dựng cơ bản chiếm 3 l,33%tổng chi (bảng 9)
Bình quân hàng năm thời kỳ 1996-2000, ngân sách đã đầu t trên 2.200 tỷ đồng cho lĩnh vực giao thông,điện, cấp thoát nớc, giáo dục, y tế, nhà ở, vệ sinh môi trờng, công trình phúc lợi công cộng để phục vụyêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện điều kiện sống cho dân Trong điều kiện nguồn vốn đầu t từ ngânsách tập trung, theo kế hoạch Trung ơng phân bổ và các nguồn thu đợc để lại còn chiếm tỷ trọng nhỏ, thànhphố đã thực hiện nhiều giải pháp huy động vốn nh hình thành định chế tài chính mới (Quỹ Đầu t Phát triển
Đô thị thành phố); phát hành trái phiếu xây dựng công trình; áp dụng phơng thức đầu t "đổi đất lấy hạtầng"; cho thu một số loại phí nh phụ thu tiền điện, tiền nớc, phát hành vé số; huy động trong đoàn viênthanh niên (phong trào xây dựng l000 phòng học); cổ phần hóa và bán mặt bằng, nhà xởng không cần dùngcủa doanh nghiệp Nhà nớc, để đa vào đầu t xây dựng cầu đờng, trờng học, cải tạo và phát triển lới điện,điện khí hóa nông thôn, cải tạo nâng cấp hệ thống cấp thoát nớc, di dời và đổi mới thiết bị công nghệ đốivới các doanh nghiệp đang làm ăn có hiệu quả
Trong những năm qua, nhiều công trình đầu t từ ngân sách đã đợc hoàn thành và đa vào sử dụng, làm thayđổi bộ mặt của thành phố nh chơng trình giải tỏa, tái định c và xây dựng hạ tầng dọc kênh Nhiêu Lộc-ThịNghè, cải tạo phát triển mạng lới điện và điện khí hóa các xã ngoại thành, chơng trình nớc sạch nông thôn Một số nút giao thông (Hàng Xanh, Phú Lâm, Nguyễn Tri Phơng, đờng 3/2, Ông ích Khiêm - Âu Cơ, CầuChông, chân cầu Sài Gòn) đợc cải tạo và mở rộng đã góp phần giải tỏa đợc tình trạng thờng xuyên ùn tắcgiao thông, nhiều cầu, đờng đơc xây dựng và sửa chữa nâng cấp giúp cho việc giao lu kinh tế và đi lại củanhân dân đợc thuận lợi Đầu t vào giáo dục với hàng ngàn phòng học đợc xây dựng và sửa chữa đã gópphần ngăn chặn đợc tình trạng học ca ba và giải quyết số lợng học sinh tăng thêm hàng năm Nhiều bệnhviện trung tâm chuyên khoa, cơ sở y tế đã đợc đầu t nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm tăngthêm số giờng bệnh và nâng cao chất lợng khám, điều trị
9/ Vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong cả nớc:
Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số cả nớc Qua l0 năm phát triển, 199 l-2000xét một cách tổng quát thì tỷ trọng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục gia tăng, song mức v ợttrội về tốc độ phát triển đã giảm
Năm 1990, GDP của thành phố chiếm 13,66% của cả nớc, năm 1995 là 16,67% và năm 1999 là 18,93% Tỷtrọng giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố so với cả nớc ở ba thời điểm tơng ứng là 26,24%; 28,55%
và 29,69% Tỷ trọng giá trị dịch vụ là 20,09%; 22, 12% và 24,74% Bán lẻ của thành phố chiếm 23,41%;
28,76% và 28,32% của cả nớc Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 199l chiếm 22,6% của cả nớc và năm
1999 là 37,39% Giá trị sản lợng công nghiệp thành phố năm 1999 là 49,6 ngàn tỷ đồng, lớn hơn giá trị sảnlợng của Bà Rịa-Vũng Tàu (22,4 ngàn tỷ đồng đồng), Hà Nội ( 13, l ngàn tỷ đồng) và Đồng Nai (12,2 ngàn
Trang 201991-Trong quan hệ với các tỉnh Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thành phố cha tìm đợc cơ chếphối hợp với các tỉnh nhằm phát huy thế mạnh của một địa phơng và tạo nên sự cộng hởng trong phát triển.
Về xã hội, thành phố là nơi có nhiều sáng kiến, đã hình thành các phong trào nh: Nhà tình nghĩa, nhà tìnhthơng, bảo trợ bệnh nhân nghèo, đỡ đầu các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xã hội hóa giáo dục, y tế đ ợcnhiều địa phơng khác hởng ứng
II Đánh giá khái quát nguyên nhân các thành tựu và hạn CHế, CáC BàI HọC:
l/ Khái quát những thành tựu trong 5 năm 1996-2000:
1- Mặc dù tốc độ tăng trởng kinh tế không bằng giai đoạn trớc, giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) vẫn
tăng bình quân gần l0,2%/năm trong giai đoạn 1996-2000, làm cho GDP bình quân đầu ngời tăng từ 937USD/năm năm 1995 lên l.365 USD năm 2000 (giá 1994)
2- Công nghiệp giữ đợc tốc độ tăng trởng cao, bình quân 14,2%/năm; cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh tiếp tục chuyển dị(h theo hớng tăng tỷ trọng công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến chiếm 96%.Hai khu chế xuất và nhiều khu công nghiệp đi vào hoạt động ổn định, có hiệu quả
3- Khu vực kinh tế nhà nớc vẫn giữ vị trí quan trọng so với các thành phần kinh tế khác trong các ngành
kinh tế chính của thành phố và đóng góp trên 45,9% trong cơ cấu GDP
4- Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế góp phần thúc đẩy tốc độ tăng
trởng kinh tế chung và giải quyết trên 70% việc làm cho ngời lao động
5- Tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1996-2000 đạt 17,8%/năm Tỷ trọng hàng công nghiệp
chế biến trong kim ngạch xuất tăng lên qua các năm, đạt 70% vào năm 1999 Thị trờng xuất khẩu đợc mởrộng và đa dạng hóa; sự phụ thuộc vào các thị trờng Đông Bắc á và Đông Nam á đã giảm
6- Thu ngân sách luôn tăng theo đà tăng trởng GDP Tỷ lệ thu ngân sách trên địa bàn thành phố so với cả
n-ớc tăng từ 3 l,4% năm 1996 lên 35,2% năm 1999, và 7,4% năm 2000
7- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đợc u tiên đầu t với nhiều hình thức và từ nhiều nguồn vốn, nên đã phần nào đợc
cải thiện
8- Tốc độ tăng dân số giảm so với thời kỳ 199l- 1995 (2,19% so với 3,18%) cả về mức tăng tự nhiên lẫn
mức tăng cơ học
9- Đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân tiếp tục đợc cải thiện Mặt bằng dân trí của ngời dân
thành phố tăng từ lớp 6, l năm 1994 lên lớp 7,56 năm 1999
10- Các chơng trình chăm sóc sức khỏe đợc triển khai đều khắp với nhiều kết quả tốt trong phong trào kế
hoạch hóa gia đình, phòng chống các bệnh xã hội, các bệnh truyền nhiễm, chăm sóc trẻ em
11- An ninh chính trị đợc giữ vững
12- Vai trò trung tâm kinh kế của cả nớc tiếp tục đợc khẳng định.
2/ Nguyên nhân các thành tựu:
Trang 211- Về tiềm lực kinh tế, do giai đoạn 199 l-1995 đã tạo đợc một nền tảng kinh tế - xã hội nhât định và tổng
đầu t tăng liên tục trong 3 năm 1996 - 1998 nên Thành phố vẫn duy trì đợc một tốc độ tăng trởng cao trong
3 năm 1996 - 1998
2- Các chính sách kinh tế vĩ mô, môi trờng pháp lý kinh doanh và các yếu tố căn bản của cơ chế thị trờng
không ngừng đợc hoàn thiện
3- Ngời dân thành phố tiếp tục phát huy tính năng động, sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và
xã hội
4- Trong công tác lãnh đạo và quản lý, đảng bộ và chính quyền các cấp của thành phố đã có nhiều sáng tạo
nỗ lực, cố gắng bám sát tình hình thực tiễn, từ đó đề ra các giải pháp, biện pháp thực hiện cụ thể đồng thờichủ động kiến nghị với Chính phủ, phối hợp với các bộ, ngành trung ơng cùng xử lý các vấn đề liên quantới cơ chế quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các chính sách xã hội
3/ Khái quát những tồn tại trong 5 năm 1996 - 2000:
1- Tốc độ tăng trởng chậm dần trong suốt 4 năm 1996- 1999 Trừ chỉ tiêu giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ
tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các khu vực là vợt hoặc đạt, còn các chỉ tiêu tăng trởng kinh
tế khác đã đợc Đại hội VI đề ra không đạt đợc
2- Bốn lĩnh vực mà thành phố chọn là "mũi nhọn" để phát triển là: cơ khí, điện tử - tin học, vật liệu rnới và
công nghệ sinh học đều cha đạt đợc kết quả tơng xửng Ngành nông nghiệp rơi vào trạng thái tụt hậu vềtăng trởng và năng suất Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp đợc cải thiện nhng cha nhiều
3- Hiệu quả đầu t xã hội giảm Cơ cấu các ngành kinh tế cha chuyển hớng theo đúng tiềm năng và thế mạnh
của thành phố Đầu t nớc ngoài giảm mạnh và chiều hớng tăng lại còn chậm
4- Các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật triển khai chậm so với kế hoạch Hệ thống đờng giao thông,
cung cấp nớc sạch bị quá tải kéo dài, vận tải công cộng cha phát triển
5- Việc sắp xếp doanh nghiệp Nhà nớc trong những năm qua vẫn cha đem lại hiệu quả theo mong muốn 6- Các doanh nghiệp của thành phố nói chung vẫn cha có những chuẩn bị cần thiết cho tiến trình hội nhập.
Đặc biệt là nhiều doanh nghiệp cha sẵn sàng với lộ trình AFTA,
7- Trong hệ thống ngân hàng, vốn bị ứ đọng với tốc độ tăng vốn huy động cao hơn tốc độ tăng d nợ Vai trò
trung tâm tài chính-tín dụng của thành phố còn hạn chế
8- Ô nhiễm môi trờng về nớc thải, rác thải, khí thải và chất thải rắn công nghiệp cha đợc cải thiện về cơ
bản
9- Cha có các tác phẩm công trình văn học, nghệ thuật lớn tơng xứng với đòi hỏi của cuộc sống và tầm vóc
của thành phố
10- Các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy và mại dâm, vẫn gia tăng.
11- Nội dung và cơ chế quản lý nhà nớc ở các cấp chính quyền trong cơ chế thị trờng còn cha hoàn thiện,
vai trò và công cụ của Nhà nớc trong hỗ trợ đầu t và kinh doanh còn phải đợc tiếp tục đổi mới phù hợp
4/ Nguyên nhân các tồn tại:
Trang 224.1- Về quan điểm chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của các cấp chính quyền thành phố:
+ Trong thời kỳ 1991-1995, nền kinh tế thành phố đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể, kinh tế tăng đều đặnqua các năm, do vậy khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 1996-2000 những khó khănnội tại của nền kinh tế cha đợc nhận thức đầy đủ và cũng cha lờng hết đợc những diễn biến kinh tế quốc tế
Vì vậy, các dự báo và mục tiêu phát triển đợc đề ra ở mức cao và những diễn biến kinh tế trong giai đoạn1996-2000 đã làm cho những dự báo và mục tiêu này khác xa so với thực tế Quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội dài hạn đang đợc điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới nhng việc gắn kết các chơng trình, dự ánvới các mục tiêu trong quy hoạch vẫn cha đợc thật sự chú trọng Bên cạnh đó, do thu hút đầu t toàn xã hộikhông đạt kế hoạch, cộng với hiệu quả quản lý giảm, nên mức tăng trởng GDP không đạt chỉ tiêu đề ra
+ Trong khi đầu t từ ngân sách chỉ chiếm khoảng l0% đầu t của toàn xã hội thì thành phố) cha tìm ra cơ chế
để phát triển các ngành sản xuất áp dụng công nghệ cao trong điều kiện khả năng tài chính của các doanhnghiệp và của Nhà nớc còn hạn chế, cha hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu t vào các lĩnh vực có thị trờng,
có khả năng cạnh tranh và thu nhập cao Việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đầu t đổi mới công nghệ,sản xuất hàng xuất khẩu, di dời xí nghiệp gây ô nhiễm thiếu sự chỉ đạo tập trung và thiếu các biện phápđồng bộ
Đối với các ngành kinh tế mũi nhọn, việc xây dựng chơng trình cha hợp lý phân công chịu trách nhiệmkhông rõ ràng, cơ chế đầu t cha phù hợp, sự liên kết giữa nhà nớc với doanh nghiệp không chặt chẽ, không
có chỉ tiêu định lợng cho mỗi ngành
+ Công tác chỉ đạo và điều hành của thành phố, bộ máy quản lý điều hành của Chính quyền và sở-ngànhcác cấp còn cha đáp ứng yêu cầu của một thành phố lớn đang trong quá trình hội nhập với khu vực và thếgiới Những cố gắng đổi mới bộ máy quản lý nhà nớc, bao gồm cải cách thể chế hành chính, củng cố và sắpxếp tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ công chức cha mang lại nhiều kết quả Đây là nguyên nhân chínhlàm cho nhiều chủ trơng, chính sách và biện pháp đã ban hành nhng triển khai chậm, thậm chí bị biến dạngqua các tầng nấc và thủ tục hành chính
Bên cạnh đó, lý do cơ bản hạn chế vai trò định hớng phát triển kinh tế của thành phố là việc phơng phápxây dựng kế hoạch và điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế- xã hội cấp thành phố hiện ch a có thay đổi cơbản so với giai đoạn kế hoạch hóa tập trung, trong khi nền kinh tế đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng
và đầu t từ ngân sách thành phố chỉ chiếm khoảng l0% tổng đầu t hàng năm của toàn xã hội
Cơ chế "xin - cho" vẫn tồn tại trong hoạt động quản lý nhà nớc trên các lĩnh vực đầu t, sử dụng ngân sách,
t xây dựng Thủ tục về đầu t xây dựng tuy đã đợc cải thiện nhng vẫn còn rờm rà và mất rất nhiều thời gian,nhất là các thủ tục liên quan đến triển khai xây dựng sau khi có quyết định đầu t Việc triển khai thực hiệnquy chế quản lý đầu t và xây dựng và quy chế đấu thầu gặp một số vớng mắc, gây trì trệ trong triển khaithực hiện Bên cạnh đó, nhiều công trình trong quá trình triển khai thực hiện do gặp khó khăn về công tácđền bù giải tỏa, di dời, nên thời gian xây dựng kéo dài
+ Trớc xu thế toàn cầu hóa và hội nhập trên thế giới, thành phố cha phối hợp đợc với các cơ quan Trung ơng để tìm ra hớng phát tnển cho các lĩnh vực kinh tế đối ngoại để vừa tranh thủ đợc các cơ hội thuận lợi,vừa hạn chế đợc các nguy cơ và rủi ro ngày càng gia tăng
Trang 23-4.2- Về các chính sách và cơ chế quản lý chung của Trung ơng:
+ Các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô nhằm tạo ra động lực mới kích thích sự tăng trởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung, nhng tác dụng còn hạn chế trong thực tế Nhiều chính sách ban hành khi triển khai vào thực tiễn thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ làm mất thời cơ.
Nhiều giải pháp mang tính bị động, đối phó hơn là chủ động, đón đầu Trong khi dó, nhiều quy dịnh về xuất nhập khẩu, về thuế, tín dụng, tài chính doanh nghiệp thờng xuyên thay đổi đã tạo ra nhiều khó khăn cho các thành phần kinh tế trong đầu t và kinh doanh, nhất là những nhà đầu t muốn làm ăn lâu dài.
Việc ban hành mới hoặc điều chỉnh các văn bản pháp quy đợc tập trung, nhng việc xây dựng và đổi mớikhuôn khổ thể chế để có thể áp dụng và triển khai một cách hữu hiệu các luật và cơ chế, chính sách lại thiếuchú trọng
+ Chính sách điều tiết ngân sách của Chính phủ cha hợp lý Tỷ lệ điều tiết ngân sách cho thành phố Hồ
Chí Minh hàng năm quá thấp nên không đủ, thậm chí chỉ để tái đầu t đúng nguyên trạng và chống xuống cấp các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội Hơn thế nữa, hiệu quả phân bổ cũng bị xói mòn khi một nguồn lực lớn đợc chuyển từ nơi có lợi thế và tiềm năng tăng trởng cao đến nơi có tiềm năng thấp
4.3- Về các doanh nghiệp:
+ Nhiều doanh nghiệp, thay vì đầu t phát triển sản xuất kinh doanh theo chiều sâu để từ đó nâng cao giá trịgia tăng thì lại chuyển sang đầu t theo chiều rộng vào những lĩnh vực hoàn toàn không có kinh nghiệm kinhdoanh
+ Đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, xu hớng chạy theo đơn hàng có sẵn vẫn phổ biến.Chiến lợc tạo lập thơng hiệu và một chỗ đứng vững chắc trên thị trờng thế giới vẫn không đợc chú trọng và
bị nhiều doanh nghiệp coi là điều không thể làm đợc trong điều kiện hiện nay Việc dựa duy nhất vào lợithế nhân công rẻ khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu bị phụ thuộc hoàn toàn vào môi trờng bên ngoài vàchịu nguy cơ đào thải khi lợi thế duy nhất đó bị mất dần đi
+ Nhiều doanh nghiệp Nhà nớc quy mô lớn vẫn coi trọng khuynh hớng mở rộng quy mô với mục tiêu tăngdoanh thu hơn là tối đa hóa lợi nhuận Một biểu hiện của khuynh hớng này là phơng châm phải thắng thầubằng mọi giá, cho dù là có lỗ Lối kinh doanh này đã làm giảm hiệu quả và xói mòn giá trị tài sản doanhnghiệp Mô hình tổ chức các Tổng Công ty cha đạt đợc hiệu quả cao và cha khai thác đợc lợi thế của quy
mô lớn
+ Đứng tróc d âm tác động của khung hoảng kinh tế-tài chính khu vực và sức mua yếu trong nền kinh tếnội địa, nhiều doanh nghiệp có chiều hớng co cụm, không đầu t mở rộng sản xuất Hơn thế nữa, các vụ ánkinh tế lớn trong năm 1998-1999 càng làm xấu đi môi trờng kinh doanh
4.4- Về tác động của môi trờng bên ngoài:
Nguyên nhân khách quan chủ yếu dẫn tới sự suy giảm mức tăng trởng kinh tế thành phố trong giai đoạn1996-1999 là do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính khu vực xảy ra vào giữa năm 1997,Trong giai đoạn 1996- 1999, kinh tế thành phố gặp khó khăn lớn trên phơng diện cầu - tức thị trờng tiêu thụ
- so với các năm trớc 1996 Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính làm cho thị trờng xuất khẩu của thành phố
Hồ Chí Minh bị thu hẹp lại
Cuộc khủng hoảng đã làm giảm mạnh đầu t nớc ngoài và du lịch quốc tế trên địa bàn, và đến lợt nó, lại làmgiảm nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của hai loại hình này
5/ Năm bài học rút ra từ thực tiễn:
Trang 245.1- "Khuyến khích sáng tạo, giải phóng tiềm lực của mỗi ngời dân": Tính năng động và sự nhạy bén với
cơ chế kinh tế thị trờng của nhân dân thành phố chính là thế mạnh của thành phố Hồ Chí Minh trong quátrình phát triển
Các chính sách và cơ chế quản lý kìm hãm sự sáng tạo, năng động của nhân dân phải đợc xóa bỏ Khuyếnkhích sáng tạo, giải phóng tiềm lực của mỗi ngời dân là thớc đo của đổi mới
5.2- " Phát huy 3 yếu tố tạo động lực phát triển nhanh ":
Để phát triển kinh tế-xã hội nhanh với trình độ và điều kiện xuất phát thấp đòi hỏi chúng ta phải tạo ra độnglực phát triển mạnh Động lực này đợc hình thành vừa dựa trên các yếu tố quy luật chung, vừa phải thể hiệnnét riêng của Việt Nam và của thành phố Hồ Chí Minh Từ thực tiễn các nớc và của thành phố, cần pháthuy hệ thống ba yếu tố tạo động lực phát triển nhanh nh sau :
+ Tạo động lực dựa trên quy luật kinh tế thị trờng: khuyến khích cạnh tranh lành mạnh là con đờng hiệuquả nhất làm cho chi phí giảm, chất lợng sản phẩm tăng và thái độ phục vụ ngày một hoàn thiện Hớng rathị trờng thế giới sẽ tạo nhu cầu lớn gấp nhiều lần cho sản xuất trong nớc, thoát khỏi sự giởi hạn về sứcmua trong nớc do thu nhập đầu ngời rất thấp và dân số hạn chế
+ Tạo động lực dựa trên yốu tô chính trị và công cụ quản lý hành chính: Trong xã hội chúng ta, lợi ích củadoanh nghiệp, của ngời dân, của Nhà nớc suy cho cùng cũng là ở dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằngdân chủ và văn minh Thông qua sự tác động của Nhà nớc, có thể tạo nên sự liên kết, hợp tác, đối thoạigiữa các doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu khoa học và các cơ quan quản lý Nhà nớc để xác định cácvấn đề có ý nghĩa lớn cần tập trung giải quyết, chia xẻ và sử dụng chung thông tin các nguồn tài nguyêncủa 3 bên để xây dựng và triển khai các chơng trình hoạt động phối hợp, hớng tới mục tiêu chung đồng thời
vì lợi ích của các doanh nghiệp, của cơ quan nghiên cứu khoa học và cơ quan quản lý Nhà nớc
+ Tạo động lực dựa trên yếu tố văn hóa Ngời Việt Nam có truyền thống yêu nớc, đề cao lợi ích của cộngđồng và thờng học tập kinh nghiệm của láng giềng Cần tạo một quyết tâm, một khí thế sôi nổi, sáng tạo vì
tổ quốc trong thời kỳ mới, một phong trào làm theo các gơng xuất sắc trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến vănhóa-xã hội trong mọi giới và mọi lứa tuổi
5.3- " Triển khai 3 nhóm giải pháp để tăng trởng kinh tế nhanh ":
Vị trí trung tâm nhiều mặt của thành phố là một tiền đề hết sức quan trọng để phát triển nhanh, song tự nókhông thể phát huy tác dụng mà phải thông qua hoạt động có mục tiêu của hệ thống chính quyền, của giớidoanh nghiệp, giới khoa học và giáo dục Để đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế thành phố cần tiến hành 3nhóm giải pháp sau đây:
+ Nâng cao tổng đầu t toàn xã hội ở thành phố: Cải thiện môi trờng kinh doanh ở thành phố, xúc tiến đầu tmạnh mẽ, đổi mới hệ thống tín dụng tiền tệ, có chính sách dẫn dắt và khuyến khích đầu t theo định hớng
+ Nâng cao hiệu quả đầu t: Cải cách mạnh mẽ hệ thống quản lý hành chính để nâng cao hiệu quả quản lýcủa Nhà nớc Đổi mới triệt để phơng thức Nhà nớc kinh doanh thông qua các doanh nghiệp Nhà nớc, làmcho Nhà nớc phải thật sự là chủ tài sản của mình đã đa vào kinh doanh Đổi mới sâu sắc phơng thức lập kếhoạch và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển ngành, địa bàn theo tinh thần: dân chủ, khảthi, hiệu quả Chấm dứt tình trạng quản lý bị chia cắt theo địa giới quận-huyện, tỉnh thành, hệ thống tổ chứcTrung ơng-Địa phơng
+ Mở rộng thị trờng cho sản xuất và dịch vụ của thành phố: Khai thác triệt để thị trờng trong nớc, phối hợpgiữa doanh nghiệp và Nhà nớc để nhanh chóng tiến ra thị trờng nớc ngoài, lựa chọn thị trờng mục tiêu chomỗi thời kỳ, dùng nhu cầu của thị trờng thế giới và khu vực để kích cầu cho sản xuất và dịch vụ ở ViệtNam và thành phố
Trang 255.4- Thực hiện đồng thời năm xã hội hóa:
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, năng lực quản lý của bộ máy Nhà nớc còn hạn chế, thì đểđẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội cần tiến hành đồng thời "năm xã hội hóa": Xã hội hóa đầu t cho giáodục, y tế, văn hóa, khoa học và công nghệ và hạ tầng kỹ thuật của thành phố
5.5- Tiên phong giải quyết các vấn đề quốc gia dựa trên lợi thế của thành phố Hồ Chí Minh:
Trong giai đoạn 1991- 1995 khi kinh tế cả nớc tăng trởng nhanh thì kinh tế thành phố cũng tăng trởngnhanh Giai đoạn 1996-2000, kinh tế cả nớc tăng trởng chậm lại, đầu t nớc ngoài giảm sút thì kinh tế thànhphố cũng tăng chậm lại, đầu t nớc ngoài cũng giảm sút Điều này thể hiện hai nguyên nhân: Thứ nhất vàkinh tế thành phố gặp phải khó khăn cơ bản chung của kinh tế cả nớc mà nếu chúng ta cha tìm ra giải phápcho nó thì các nỗ lực khác không thay đổi đợc xu thế vận động bao nhiêu Khó khăn chung đó là: chúng taphải hiện đại hóa, tham gia cạnh tranh toàn cầu trong khi trình độ công nghệ lạc hậu và năng lực tài chínhquốc gia và của các doanh nghiệp rất hạn hẹp
Nguyên nhân thứ hai là: các giải pháp mà thành phố đã thực hiện cha khai thác u thế đặc thù của thành phố
là một trung tâm về khoa học công nghệ, trung tâm kinh tế và tài chính, một trung tâm về giao thông, dulịch và một trung tâm về văn hóa Thành phố muốn phát triển nhanh thì phải đi tiên phong trong việc gópphần giải quyết các vấn đề của quốc gia trên thành phố mình và giải quyết nó bằng các giải pháp phù hợpvới lợi thế của một trung tâm nhiều mặt của cả nớc
Phần thứ hai Định HƯớNG Kế HOạCH PháT TRIểN KINH Tế Xã HộI GiAI ĐOạN 2001 – 2005
A - TầM NHìn 2010
I Thời cơ và thách thức của thời kỳ phát triển mới
Bớc vào thế kỷ 21, cả nớc nói chung và thành phố nói riêng đứng trớc những thời cơ và thách thức mới donhững biến chuyển của tình hình trong nớc và thế giới và điều này sẽ chi phối việc xác định mục tiêu, địnhhớng phát triển, lựa chọn các giải pháp cho thời kỳ 2000-20l0, kế hoạch 5 năm 2001-2005
1/ Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nớc:
Thuận lợi:
Trên bình diện tổng thể thế và lực của ta đã mạnh hơn nhiều so với trớc Chính trị-xã hội tiếp tục ổn định;quan hệ sản xuất đợc đổi mới phù hợp hơn; thể chế kinh tế thị trờng đã hình thành và bớc đầu vận hành cóhiệu quả Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách phù hợp đang phát huy tích cực trong phát triển kinh tế vàđời sống xã hội Cơ cấu kinh kế có bớc chuyển biến tích cực Mối quan hệ kinh tế, ngoại giao của nớc ta đ-
Trang 26cần cù, năng động và nhạy bén với những nhu cầu và phơng thức hoạt động của cơ chế thị trờng là một uthế lớn cho sự phát triển kinh tế thành phố.
Khó khăn:
- Trình độ phát triển kinh tế của cả nớc nói chung và thành phố nói riêng còn thấp, GDP bình quân đầu
ng-ời dân thành phố hiện nay khoảng l.365 USD/năm (tính theo giá năm 1994), qui mô và năng lực tài chínhcủa các doanh nghiệp còn nhỏ bé; kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội cha đáp ứng yêu cầu phát triển
- Nhịp độ tăng trởng kinh tế thành phố giai đoạn 1996-1999 có xu hớng giảm dần Hiệu quả kinh doanh củacác doanh nghiệp còn thấp Nhiều doanh nghiệp cha tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hiện các camkết quốc tế, có tâm lý chờ đợi sự u đãi và bảo hộ của Nhà nớc Mối liên kết giữa doanh nghiệp và khoa họccha phát triển Hoạt động tín dụng còn nhiều khó khăn
- Tỷ lệ thất nghiệp cao và có xu hớng gia tăng, chất lợng nguồn nhân lực cha đáp ứng nhu cầu phát triểntrong giai đoạn mới Các tệ nạn xã hội nhất là ma túy và mại dâm vẫn cha đợc ngăn chặn và đẩy lùi
2/ Bối cảnh quốc tế:
Thời cơ:
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, đặc biệt là công nghệ thông tin; xu thế toàn cầuhóa; khả năng ổn định và phục hồi của nền kinh tế khu vực và thế giới trong thập kỷ mới sẽ có những tácđộng tích cực, tạo điều kiện cho nớc ta mở ra khả năng hợp tác kinh tế, khai thác lợi thế so sánh, tranh thủnguồn lực bên ngoài để phát huy tốt hơn nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp xây dựng đất nớc
- Việc thực hiện AFTA, gia nhập APEC, ký kết hiệp định thơng mại song phơng Việt - Mỹ, chuẩn bị điềukiện gia nhập WTO, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập và mở rộng thị trờng xuất khẩu hàng hóa,trong đó có một số mặt hàng truyền thống của thành phố Đặc biệt là mở ra thị trờng rất to lớn cho ngànhcông nghiệp phần mềm phát triên Mặt khác, đây là cơ hội để đẩy mạnh thu hút đầu t nớc ngoài vào thànhphố
- Sự phát triển nhanh chóng của thị trờng sản phẩm điện tử, tin học, truyền thông và việc hình thành cáchình thức sản xuất-kinh doanh, giáo dục - đào tạo, phát triển khoa học-công nghệ, phát tnển văn hóa dựatrên công nghệ thông tin trên toàn thế giới trong những năm gần đây cho thấy nhân loại đang đứng trớc ng-ỡng cửa của một bớc chuyển biến vô cùng to lớn: giai đoạn chuyển sang xã hội thông tin và nền kinh tế trithức, mà chúng ta có thể hội nhập ngay
Thách thức:
- Năng lực cạnh tranh của nhiều nớc đợc cải thiện, nhất là các nớc trong khu vực nền kinh tế đang phục hồicủa các nớc này sau khủng hoảng sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh đối với nền kinh tế của nớc ta vốn đangkém sức cạnh tranh Một đặc điểm đáng chú ý là cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của các nớc trong khu vựcASEAN mang tính tơng đồng, gần giống nhau, do vậy việc cải thiện năng lực cạnh tranh là một thách thứcrất lớn đòi hỏi chúng ta phải vợt qua Chính vì vậy, việc nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh cácmặt hàng xuất khẩu là một nhiệm vụ trọng tâm đặt ra hiện nay
- Việc ký kết các hiệp định thơng mại đa phơng, song phơng vừa tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập củanền kinh tế nớc ta, nhng đồng thời cũng đặt ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nh hàng hóa của taphải cạnh tranh với các nớc ngay trên thị trờng nội địa do xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan
Tóm lại, khó khăn và thách thức lớn nhất của chúng ta là quy mô kinh tế nhỏ bé, khoa học công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu, /ại phải cạnh tranh trên qui mô toàn cầu, trong khi các nớc ở khu vực và thế giới