MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Trong cuộc sống hiện đại, vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng quan trọng. Nhu cầu được cung cấp thông tin của một bộ phận lớn công chúng đang trở nên không thể thiếu. Ở nước ta, nền báo chí cách mạng đã được nhiều thành tựu, hiện nay, đang có sự phát triển bùng bổ. Số lượng lớn các ấn phẩm báo in, tạp chí, các kênh phát thanh, truyền hình và trang báo mạng điện tử đã cung cấp khối lượng tin, bài “khổng lồ” đến công chúng. Sự phát triển của báo chí nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề cho công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung cơ sở lý luận. Điều đó không chỉ giúp báo chí có định hướng phát triển tốt hơn, hạn chế được những mặt tiêu cực, phát huy những xu hướng tích cực mà còn nâng cao hiệu quả của quá trình truyền thông. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng, độc giả, khán thính giả, xu hướng xuất hiện những sản phẩm báo chí chuyên sâu về một số lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội tại Việt Nam ngày càng mở rộng. Đặc biệt, các nội dung về kinh tế luôn dành được sự quan tâm rất lớn của công chúng. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay được đánh giá là phát triển năng động và dự báo sẽ tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời gian tới. Nhiều vấn đề của nền kinh tế tác động trực tiếp đến cuộc sống người dân. Chính vì vậy, thông tin kinh tế được công chúng theo dõi sát sao. Nắm bắt được xu thế đó, trong thời gian qua, các cơ quan báo chí dành một thời lượng, diện tích đáng kể để đưa thông tin về các lĩnh vực của nền kinh tế đến công chúng. Đáng chú ý, trên các loại hình báo chí như báo in, báo mạng điện tử đã có những tờ báo, trang báo thông tin chuyên sâu về kinh tế như Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Đầu tư... Kênh truyền hình kinh tế cũng đã ra đời, có thể kể đến như Info TV, InvestTV, VITV... Bên cạnh đó, còn có rất nhiều chuyên mục, chuyên trang về các lĩnh vực kinh tế được xây dựng trên báo chí. Sự nở rộ của báo chí chuyên sâu về kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế đất nước, hình thành nên đối tượng công chúng, độc giả, khán thính giả có nhu cầu cao đối với nội dung thông tin này. Đối với nhiều người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, nắm được thông tin là một trong những yếu tố quyết định đến thành công của công việc kinh doanh. Chính vì vậy, bên cạnh yêu cầu cập nhật nhanh chóng, đặc thù của thông tin kinh tế cần có sự nhìn nhận, phân tích sâu, nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy và đưa ra được dự báo xu hướng. Từ những yêu cầu đó, nhiều báo chí kinh tế đã lựa chọn sử dụng thông tin từ các chuyên gia kinh tế. Tần suất xuất hiện của chuyên gia kinh tế trên báo chí ngày càng nhiều và họ đã tạo được dấu ấn đáng kể đối với công chúng. Chuyên gia có thể xuất hiện với tư cách là người cung cấp thông tin, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm của mình; có thể phân tích, lý giải những vấn đề còn đang có nhiều cách hiểu khác nhau; bày tỏ quan điểm cá nhân về một sự kiện, vấn đề đang diễn ra; đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển... Nội dung chuyển tải từ các chuyên gia rất phong phú, thành phần các chuyên gia kinh tế cũng rất đa dạng. Chuyên gia có thể là người nghiên cứu, am hiểu sâu về một hoặc một số lĩnh vực kinh tế, hay những người có kinh nghiệm hoặc những nhà quản lý... Từ thực tế của đời sống báo chí, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò của chuyên gia kinh tế là vấn đề có tính thời sự hiện nay. Trong đó, có một số vấn đề cấp thiết đang được đặt ra hiện nay đòi hỏi cần có sự tìm hiểu, phân tích, lý giải như: Vai trò của chuyên gia đối với báo chí chuyên sâu về kinh tế được thế hiện như thế nào? Thông tin kinh tế được cung cấp bởi chuyên gia có ảnh hưởng ra sao đối với tin, bài trên báo chí kinh tế? Có vấn đề gì đặt ra đối với việc sử dụng ý kiến của chuyên gia kinh tế trên báo chí hiện nay và làm cách nào để phát huy hơn nữa vai trò của họ? Làm thế nào để lựa chọn được chuyên gia phù hợp với từng nội dung tin bài?... Việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề này sẽ góp phần trực tiếp giúp báo chí không ngừng đổi mới, cải tiến để đáp ứng tốt hơn nhu cầu công chúng. Điều này càng có ý nghĩa tích cực trong bối cảnh yêu cầu của độc giả, khán thính giả ngày càng cao, cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt. Là người đang công tác trong cơ quan báo chí, được phân công theo dõi một số lĩnh vực kinh tế, tôi mong muốn khảo sát, tìm hiểu thực tế để giải đáp một phần những vấn đề đang được đặt ra như đã trình bày ở trên. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình là “Vai trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế Việt Nam”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại, vai trò của các phương tiện truyền thông đạichúng ngày càng quan trọng Nhu cầu được cung cấp thông tin của một bộ phậnlớn công chúng đang trở nên không thể thiếu Ở nước ta, nền báo chí cách mạng đãđược nhiều thành tựu, hiện nay, đang có sự phát triển bùng bổ Số lượng lớn các ấnphẩm báo in, tạp chí, các kênh phát thanh, truyền hình và trang báo mạng điện tử
đã cung cấp khối lượng tin, bài “khổng lồ” đến công chúng Sự phát triển của báochí nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề cho công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn,
bổ sung cơ sở lý luận Điều đó không chỉ giúp báo chí có định hướng phát triển tốthơn, hạn chế được những mặt tiêu cực, phát huy những xu hướng tích cực mà cònnâng cao hiệu quả của quá trình truyền thông
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng, độc giả, khánthính giả, xu hướng xuất hiện những sản phẩm báo chí chuyên sâu về một số lĩnhvực trong đời sống kinh tế - xã hội tại Việt Nam ngày càng mở rộng Đặc biệt, cácnội dung về kinh tế luôn dành được sự quan tâm rất lớn của công chúng Nền kinh
tế Việt Nam hiện nay được đánh giá là phát triển năng động và dự báo sẽ tiếp tụcduy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời gian tới Nhiều vấn đề của nềnkinh tế tác động trực tiếp đến cuộc sống người dân Chính vì vậy, thông tin kinh tếđược công chúng theo dõi sát sao Nắm bắt được xu thế đó, trong thời gian qua,các cơ quan báo chí dành một thời lượng, diện tích đáng kể để đưa thông tin về cáclĩnh vực của nền kinh tế đến công chúng Đáng chú ý, trên các loại hình báo chínhư báo in, báo mạng điện tử đã có những tờ báo, trang báo thông tin chuyên sâu
về kinh tế như Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Đầu tư Kênh truyền hình kinh tế cũng đã ra đời, có thể kể đến như Info TV, InvestTV,VITV Bên cạnh đó, còn có rất nhiều chuyên mục, chuyên trang về các lĩnh vựckinh tế được xây dựng trên báo chí
Trang 2Sự nở rộ của báo chí chuyên sâu về kinh tế là kết quả tất yếu của quá trìnhphát triển kinh tế đất nước, hình thành nên đối tượng công chúng, độc giả, khánthính giả có nhu cầu cao đối với nội dung thông tin này Đối với nhiều người hoạtđộng trong lĩnh vực kinh tế, nắm được thông tin là một trong những yếu tố quyếtđịnh đến thành công của công việc kinh doanh Chính vì vậy, bên cạnh yêu cầu cậpnhật nhanh chóng, đặc thù của thông tin kinh tế cần có sự nhìn nhận, phân tích sâu,nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy và đưa ra được dự báo xu hướng Từ nhữngyêu cầu đó, nhiều báo chí kinh tế đã lựa chọn sử dụng thông tin từ các chuyên giakinh tế Tần suất xuất hiện của chuyên gia kinh tế trên báo chí ngày càng nhiều và
họ đã tạo được dấu ấn đáng kể đối với công chúng Chuyên gia có thể xuất hiện với
tư cách là người cung cấp thông tin, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm của mình;
có thể phân tích, lý giải những vấn đề còn đang có nhiều cách hiểu khác nhau; bày
tỏ quan điểm cá nhân về một sự kiện, vấn đề đang diễn ra; đưa ra những dự báo về
xu hướng phát triển Nội dung chuyển tải từ các chuyên gia rất phong phú, thànhphần các chuyên gia kinh tế cũng rất đa dạng Chuyên gia có thể là người nghiêncứu, am hiểu sâu về một hoặc một số lĩnh vực kinh tế, hay những người có kinhnghiệm hoặc những nhà quản lý
Từ thực tế của đời sống báo chí, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò củachuyên gia kinh tế là vấn đề có tính thời sự hiện nay Trong đó, có một số vấn đềcấp thiết đang được đặt ra hiện nay đòi hỏi cần có sự tìm hiểu, phân tích, lý giảinhư: Vai trò của chuyên gia đối với báo chí chuyên sâu về kinh tế được thế hiệnnhư thế nào? Thông tin kinh tế được cung cấp bởi chuyên gia có ảnh hưởng ra saođối với tin, bài trên báo chí kinh tế? Có vấn đề gì đặt ra đối với việc sử dụng ý kiếncủa chuyên gia kinh tế trên báo chí hiện nay và làm cách nào để phát huy hơn nữavai trò của họ? Làm thế nào để lựa chọn được chuyên gia phù hợp với từng nộidung tin bài? Việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề này sẽ góp phần trực tiếpgiúp báo chí không ngừng đổi mới, cải tiến để đáp ứng tốt hơn nhu cầu công
Trang 3chúng Điều này càng có ý nghĩa tích cực trong bối cảnh yêu cầu của độc giả, khánthính giả ngày càng cao, cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt Là người đangcông tác trong cơ quan báo chí, được phân công theo dõi một số lĩnh vực kinh tế,tôi mong muốn khảo sát, tìm hiểu thực tế để giải đáp một phần những vấn đề đangđược đặt ra như đã trình bày ở trên Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài cho luậnvăn thạc sĩ của mình là “Vai trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế ViệtNam”
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề vai trò của báo chí đối với kinh tế nhận được sự nhận được sự quantâm của một số nhà nghiên cứu Có thể kể đến như cuốn chuyên khảo “Báo chítruyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội” của TS Lê Thanh Bình [1] Trong đó, tácgiả nghiên cứu, phân tích ở một số góc độ như báo chí góp phần thúc đẩy lĩnh vựcvăn hóa phát triển; đẩy mạnh truyền thông khuyến nông ở nông thôn; truyền thông
và hoạt động dân số, kế hoạch hóa gia đình… Tác giả cũng trình bày kinh nghiệptrong công tác truyền thông về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở một số nướcnhư Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Mỹ… Ngoài ra, cuốn “Vai trò của báo chítrong phát triển doanh nghiệp” do TS Phạm Thắng và TS Hoàng Hải (chủ biên) đãtrình bày những nội dung đa dạng về đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, khẳng địnhvai trò quan trọng, những tác động của báo chí đối với sự phát triển doanh nghiệp[15]
Hội Nhà báo Việt Nam và một số cơ quan, đơn vị đã tổ chức nhiều hộithảo, diễn đàn về vấn đề nâng cao năng lực, kỹ năng của nhà báo viết về kinh tế,vai trò của nhà báo đối với doanh nghiệp Năm 2011, Hội Nhà báo Việt Nam phốihợp với Viện KAS (Cộng hòa liên bang Đức) đã tổ chức hội thảo khoa học “Nângcao năng lực và kỹ năng đội ngũ nhà báo viết về kinh tế” Tại hội thảo này, ông HàMinh Huệ, lúc đó là Phó chủ tịch thường trực Hội Nhà báo Việt Nam đã khẳng
định: “Viết một bài báo hay đã khó Viết một bài báo hay trong lĩnh vực kinh tế lại
Trang 4càng khó hơn vì đây là lĩnh vực vốn khô khan và phức tạp, chuyên sâu Vì nó đòi hỏi nhà báo không chỉ có kiến thức hiểu biết về các chuyên ngành kinh tế, mà còn cần có nghệ thuật viết sao cho công chúng hiểu được, ứng dụng được…” Năm
2015, Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam (VCCI) tổ chức diễn đàn đối thoại doanh nhân với nhà báo, chủ đề là
“Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia – hợp tác giữa báo chí và doanh nghiệp”.Mới đây, vào ngày 20/4/2016, Ban thư ký Chương trình thương hiệu quốc gia (BộCông thương) đã tổ chức “Diễn đàn thương hiệu quốc gia với truyền thông và cộngđồng”
Báo chí chuyên sâu về kinh tế mặc dù đã có sự hiện diện khá đậm nét trongđời sống báo chí nhưng đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đềliên quan đến thông tin kinh tế trên báo chí Một số công trình nghiên cứu ở cấp độluận văn thạc sĩ đã đề cấp đến báo chí kinh tế, chủ yếu ở góc độ nội dung, hìnhthức thể hiện của thông tin kinh tế trên báo chí
Luận văn thạc sỹ ngành truyền thông đại chúng của Ngô Bá Thành về đề tài
“Thông tin kinh tế trên Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC” [29] đã khảo sát những
chương trình kinh tế được phát sóng trên Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC, nhậnxét những ưu, nhược điểm của hoạt động thông tin kinh tế trên đài, từ đó dự thảokênh truyền hình chuyên biệt về kinh tế đầu tiên của Đài truyền hình Kỹ thuật sốVTC Đây là luận văn có tính thực tiễn khá cao khi mạnh dạn đưa ra mô hình kênhchuyên biệt về kinh tế cho Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC Thông qua việc tìmhiểu đặc thù của một đài truyền hình, tác giả mong muốn những nghiên cứu, đềxuất của mình sẽ được ứng dụng trong thực tế Tác giả cũng đặt thông tin kinh tếtrên Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC trong mối tương quan so sánh với một số đàitruyền hình khác Từ đó, rút ra kinh nghiệm để xây dựng kênh truyền hình chuyênbiệt về kinh tế được đề xuất trong luận văn Mặc dù vậy, phương án đề xuất của tácgiả không có điểm nhấn cụ thể cho kênh truyền hình này Nội dung các chuyên
Trang 5mục được đề xuất không có quá nhiều sự khác biệt so với kênh truyền hình kinh tếđang được phát sóng Chính vì vậy, có thể đặt nghi ngờ về sức hấp dấn, từ đó tạonên tính cạnh tranh của kênh truyền hình này
Luận văn thạc sĩ của Hà Khắc Minh nghiên cứu về một nội dung trong các
lĩnh vực kinh tế đó là “Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước”
[24] Qua khảo sát một số tờ báo in chuyên sâu về kinh tế (Báo Đầu tư, Thời báoKinh tế Sài Gòn, Tạp chí Kinh tế doanh nghiệp) và báo in có chuyên trang về kinh
tế (báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh), tác giả đánh giá thực trạng nội dung thông tin,hình thức, phương pháp thể hiện của vấn đề tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước trênbáo chí Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông tin về tái
cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước trên báo chí Cách lựa chọn đề tài của tác giả chophép nghiên cứu sâu về một nội dung của lĩnh vực kinh tế, qua đó mang đến kếtquả nghiên cứu giá trị Đề tài nghiên cứu đang có tính thời sự, được quan tâm của
xã hội Tác giả đặt vấn đề “Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhànước” nhưng mới chỉ khảo sát được một số ấn phẩm báo in, chưa đề cập đếntruyền hình, báo mạng điện tử, phát thanh Luận văn sẽ hấp dẫn, thiết thực và có ýnghĩa thực tiễn cao hơn nếu tác giả có được thông tin nghiên cứu từ phóng viêntheo dõi lĩnh vực này, những người trực tiếp đưa tin, bài về tái cơ cấu doanh nghiệpNhà nước và lãnh đạo một số doanh nghiệp Nhà nước nằm trong diện thực hiện tái
cơ cấu Những thông tin đó có thể bổ sung cho phần nội dung những vấn đề đặt rađối với việc chuyển tải thông tin về tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước trên báo chícũng như tác động, ảnh hưởng của báo chí lên chính doanh nghiệp, rộng hơn là cáinhìn của công chúng về vấn đề này sau khi tiếp nhận thông tin từ báo chí
Cũng đề cập đến nội dung tái cơ cấu, luận văn thạc sĩ của Lê Phương Vân
lựa chọn hướng nghiên cứu ở quy mô lớn hơn: “Vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế trên
báo chí kinh tế Việt Nam” [31] Luận văn khảo sát 3 ấn phẩm chuyên sâu về kinh
tế là Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Đầu tư và Thời báo Tài chính Việt Nam, làm
Trang 6rõ thực trạng thông tin, tuyên truyền về hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế, đánh giá
ưu, nhược điểm, chỉ ra nguyên nhân, đưa ra những khuyến nghị, giải pháp Cáchchọn đề tài, đặt vấn đề nghiên cứu của tác giả là một sự dũng cảm Bởi đây là vấn
đề rất lớn của nền kinh tế, liên quan đến nhiều lĩnh vực, có sức ảnh hưởng sâu rộngtrong xã hội Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, để giải quyết được vấn đềnày là nhiệm vụ không dễ dàng Cũng giống luận văn của tác giả Hà Khắc Minh,tác giả Lê Phương Vân mới khảo sát 3 ấn phẩm của một loại hình báo chí Vì vậy,nội dung nghiên cứu có thể mới chỉ được ghi nhận từ một góc độ
Lựa chọn đề tài “Đặc thù của thông tin về thị trường chứng khoán trên báo
in hiện nay”, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Trang đề cập đến một trong những
lĩnh vực kinh tế còn mới mẻ nhưng đã có bước phát triển nhanh chóng ở nước ta[30] Luận văn đã tìm hiểu những nét đặc thù về nội dung (thông tin phân tích,bình luận chuyên sâu, mức độ chính xác và tin cậy cao, tính tự chủ cao) và hìnhthức của thông tin (thể hiện ở trình bày, dung lượng tin, thể loại và việc sử dụngngôn ngữ) về thị trường chứng khoán trên báo in hiện nay Tác giả cũng đưa ranhững nhận xét khẳng định ưu thế nổi trội của thông tin trên báo in và đề xuất nângcao chất lượng thông tin thị trường chứng khoán trên báo in Về nội dung thôngtin, luận văn cho rằng cần tăng cường tính thời sự, nâng cao tính chính xác, trungthực, khách quan, tăng cường số lượng và chất lượng thông tin phân tích, bình luậnchuyên sâu Về hình thức thể hiện của thông tin, cần tổ chức các tin bài theo hướng
"nhiều cửa", khai thác hiệu quả kênh đồ hình, trau dồi ngôn ngữ, rút ngắn dunglượng bài viết Một trong những điểm đáng chú ý của luận văn là đề xuất xây dựngđội ngũ nhà báo chứng khoán chuyên nghiệp, đội ngũ cộng tác viên có uy tín Nộidung này khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc biết cách khai thác thông tin hiệuquả sẽ có tác động tích cực đến chất lượng tin, bài về các vấn đề kinh tế Trong độingũ cộng tác viên có uy tín mà tác giả đề cập, không thể thiếu các chuyên gia kinh
tế Mặc dù không phải là đối tượng nghiên cứu trực tiếp, nhưng qua luận văn này
Trang 7có thể thấy vai trò của chuyên gia kinh tế đã bắt đầu được nhìn nhận trong đời sốngbáo chí, dù chỉ mới khía cạnh rất nhỏ
Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn thạc si có vấn đề nghiên cứu liên
quan đến báo chí kinh tế ở Việt Nam như “Thông tin kinh tế trên truyền hình
Thông tấn” của Vương Huyền Linh [26]; “Báo chí với việc thông tin điển hình kinh tế nông nghiệp - nông thôn hiện nay” của Lê Duy Phong [27] hay “Ứng dụng các tính năng đa phương tiện trong tổ chức sản xuất bản tin Tài chính Kinh doanh trên kênh VTV 1 - Đài truyền hình Việt Nam” của Chu Hồng Phương [28]
Như đã nói, những công trình này chủ yếu đề cập đến khía cạnh nội dung,hình thức của thông tin kinh tế được thể hiện trên báo chí Việc nghiên cứu chủ thể,nguồn phát của thông tin đó gần như còn bỏ ngõ Đối với báo chí, nguồn tin mang
ý nghĩa sống còn Hiệu quả trong khai thác nguồn tin đóng vai trò quyết định đốivới sức hấp dẫn của từng tin, bài Chuyện gia kinh tế có thể xem là một trongnhững nguồn cung cấp thông tin rất quan trọng đối với báo chí đặc biệt là báo chíkinh tế Hiện nay, chưa có luận án, luận văn, công trình nào nghiên cứu về vấn đềvai trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế tại Việt Nam Đề tài nghiêncứu tại luận văn thạc sĩ này sẽ không bị lặp lại với công trình nghiên cứu khác, từ
đó, có cơ hội để mang đến những đóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn cho sựphát triển của báo chí kinh tế nói riêng và báo chí Việt Nam nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đi vào khảosát vai trò của chuyên gia kinh tế được thể hiện qua các tin, bài trên báo in vàtruyền hình; khảo sát ảnh hưởng của chuyên gia đối với chất lượng tin, bài; ghinhận, phát hiện những ưu điểm và hạn chế; đồng thời đề xuất giải pháp nhằm pháthuy hơn nữa vai trò của đội ngũ chuyên gia Những giải pháp này cũng sẽ nhằmnâng cao chất lượng của các tin, bài trên báo chí chuyên sâu về kinh tế, phục vụ tốthơn nhu cầu độc giả, khán giả
Trang 8Từ những mục đích đó, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau:
- Nhìn nhận về chuyên gia kinh tế với tư cách người am hiểu sâu về mộthoặc một số lĩnh vực của đời sống kinh tế
- Tìm hiểu về báo chí chuyên sâu về kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế đấtnước đang có sự phát triển không ngừng
- Khảo sát, tìm hiểu một số tin, bài về kinh tế trên báo in, báo mạng điện tử
và truyền hình để thấy được vai trò của đội ngũ chuyên gia kinh tế
- Đánh giá những mặt tích cực, hạn chế, từ đó, đề xuất giải pháp để pháthuy hơn nữa vai trò của chuyên gia kinh tế trên báo chí kinh tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của chuyên gia kinh tế đối vớibáo chí kinh tế Việt Nam thể hiện qua một số tin, bài trên báo in, báo mạng điện tử
và truyền hình đề cập đến nội dung chuyên sâu về kinh tế
Phạm vi nghiên cứu: Do đặc thù thông tin kinh tế gồm nhiều lĩnh vực khácnhau với phạm vi rất rộng, luận văn tập trung nghiên cứu lĩnh vực tài chính và lĩnhvực ngân hàng Đây là hai lĩnh vực cốt lõi của nền kinh tế, đồng thời cũng ảnhhưởng sâu rộng đến đời sống xã hội Trong điều hành kinh tế vĩ mô của cơ quanquản lý Nhà nước, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa là những công cụ hữuhiệu, tác động nhanh chóng đến các bộ phận của nền kinh tế, từ đó, trở thành giảipháp có vai trò hàng đầu khi cần sự can thiệp của Nhà nước Lĩnh vực này cũngthu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và được báo chí dành nhiềudiện tích, thời lượng đưa thông tin Do vậy, luận văn tập trung nghiên cứu về thôngtin tài chính, ngân hàng để có điều kiện tìm hiểu sâu, không quá phân tán, đồngthời, đây cũng là những linh vực có tính chất đại diện, khái quát cao
Luận văn nghiên cứu trên 3 loại hình báo chí là báo in, báo mạng điện tử vàtruyền hình Trong mỗi loại hình báo chí lựa chọn các tin, bài chuyên sâu về kinh
tế được nhiều độc giả, khán giả quan tâm, có ảnh hưởng lớn với dư luận xã hội
Trang 9Báo in là loai hình báo chí truyền thống, ra đời từ lâu và có quá trình phát triểntương đối dài Tại Việt Nam, báo in hiện nay là một trong những loại hình báo chíchủ chốt, có sự hiện diện rộng rãi trong xã hội Báo in vừa mang đậm đặc điểm củabáo chí vừa có những nét đặc thù riêng Riêng với báo chí kinh tế, báo in đã xuấthiện những ấn phẩm chuyên sâu, xuất bản hằng ngày hoặc thưa kỳ với thông tinphong phú, đa dạng, trong đó nhiều tờ báo đã tạo dựng thương hiệu lớn Bên cạnhbáo in, luận văn cũng khảo sát tin, bài về kinh tế trên báo mạng điện tử Đây là loạihình báo chí đang có sự phát triển nở rộ, đa dạng Thông tin trên báo mạng điện tửđược cập nhật nhanh chóng, thu hút ngày càng nhiều độc giả Hiện nay hầu hết các
cơ quan báo chí trong đó có báo chí chuyên sâu về kinh tế đã có ấn phẩm điện tử.Ngoài ra còn có những trang tin điện tử chuyên về các lĩnh vực của đời sống kinhtế
Luận văn cũng khảo sát trên truyền hình, loại hình báo chí mang đặc trưngnổi bật là thông tin nhanh chóng, sinh động, có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đếncông chúng Thông tin kinh tế trên truyền hình hiện nay cũng rất được chú trọngvới nhiều chương trình đặc sắc, những bản tin thu hút được số lượng khán giả đôngđảo Trong phạm vi khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, luận văn khó có điều kiệnkhảo sát tất cả các loại hình báo chí mà chỉ tập trung vào báo in, báo mạng điện tử
và truyền hình vì những lý do nêu trên
Lựa chọn khảo sát các loại hình báo chí này, luận văn mong muốn thu nhậnđược những kết quả giá trị Từ đó, có thể đưa ra những nhận định, phân tích, đánhgiá về vai trò chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế Đặt trong mối tương quan
so sánh với các tin, bài khác không sử dụng ý kiến chuyên gia, luận văn mongmuốn chỉ ra sức nặng thông tin được cung cấp bởi chuyên gia kinh tế so với cácthông tin khác như thông tin số liệu, thông tin từ điều tra, khảo sát của phóng viên,thống tin báo cáo, văn bản
Trang 10- Khảo sát báo in: Thời báo Kinh tế Việt Nam trong thời gian 1 năm (từtháng 7/2014 đến 6/2015).
- Khảo sát báo mạng điện tử: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trong thờigian 1 năm (từ tháng 7-2014 đến tháng 6-2015)
- Khảo sát truyền hình: Bản tin Tài chính Kinh doanh (VTV1 – Đài truyềnhình Việt Nam), do đặc thù về khả năng theo dõi cũng như lưu trữ nên đối với bảntin này, tiến hành khảo sát trong 6 tháng (từ tháng 6/2015 đến tháng 11/2015)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp phân tích nội dung: Khảo sát, phân tích nội dung một số tin,bài trên báo in và truyền hình về lĩnh vực tài chính, ngân hàng có sử dụng ý kiếncủa chuyên gia kinh tế Cụ thể là tin, bài trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báoKinh tế Sài Gòn Online và Bản tin Tài chính Kinh doanh (VTV 1 - Đài Truyềnhình Việt Nam) Ngoài ra, còn sử dụng nội dung từ công trình nghiên cứu về báochí, truyền thông, kinh tế vĩ mô
- Phương pháp thống kê: Thống kế một vài số liệu như tần suất xuất hiện,dung lượng, thời lượng các tin, bài có sử dụng thông tin từ chuyên gia kinh tế
- Phương pháp tổng hợp: Từ cứ liệu có được qua việc phân tích nội dung,thống kê, có được cái nhìn bao quát, từ đó có thể rút ra những luận cứ, luận điểm,đưa ra đánh giá, đề xuất
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn sâu với một số chuyêngia kinh tế thường xuyên xuất hiện trên báo chí và phóng viên theo dõi lĩnh vực tàichính, ngân hàng của một số cơ quan báo chí kinh tế như Thời báo Kinh tế ViệtNam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Đài Truyền hình Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận:
Trang 11Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về nghiên cứubáo chí kinh tế ở Việt Nam, đặc biệt là về góc độ vai trò của chuyên gia kinh tế.
Luận văn đóng góp cho quá trình nghiên cứu vai trò của báo chí nói chung
và báo chí kinh tế nói riêng trong việc phản ánh các thông tin kinh tế Định hướnggiải pháp cho những vấn đề của kinh tế nói chung và báo chí nói riêng, khẳng địnhmối quan hệ khăng khít và qua lại giữa báo chí và kinh tế
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp các cơ quan báo chí, nhà báotrong việc nhìn nhận chính xác hơn vài trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chínói chung và báo chí chuyên sâu về kinh tế nói riêng Luận văn cũng sẽ đánh giánhững vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp để nâng cao hơn nữa vai trò của chuyêngia kinh tế, từ đó, có thể nâng cao chất lượng của các ấn phẩm báo chí, chươngtrình truyền hình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chuyên gia, chuyên gia kinh tế và báochí kinh tế
Chương 2 : Sức nặng của thông tin kinh tế được cung cấp từ các chuyên giaChương 3: Một số vấn đề đặt ra đối với việc khai thác thông tin kinh tế từchuyên gia kinh tế
Trang 12CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYÊN GIA, CHUYÊN
GIA KINH TẾ VÀ BÁO CHÍ KINH TẾ 1.1 Chuyên gia, chuyên gia kinh tế
Từ điển tiếng Việt định nghĩa, chuyên gia là người trực tiếp làm công việcchuyên môn, là người có kiến thức chuyên sâu
Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, chuyên gia là thuật ngữ chỉ
về những người người được đào tạo theo hướng chuyên sâu có kinh nghiệm thựchành công việc và có kỹ năng thực tiễn, lý luận chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể
hoặc có hiểu biết vượt trội so với mặt bằng kiến thức chung Tài liệu “Điều gì làm
nên một chuyên gia” của Trung tâm Đào tạo phát triển xã hội (Trường Đại học Tôn
Đức Thắng) thì cho rằng, các chuyên gia có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp(thông qua việc cho ý kiến, tham vấn) vào một công việc hay một lĩnh vực cụ thể.Một trong những đặc điểm quan trọng để nhận dạng chuyên gia so với các chuyênviên, đồng nghiệp thông thường là: Kỹ năng, nghề nghiệp vượt trội đồng nghiệp;trong công việc luôn cho kết quả chính xác; tinh thông nghiệp vụ, am tường vềcông việc đang làm; được tổ chức có thẩm quyền thừa nhận hoặc công nhận bằngvăn bản; có khả năng tư vấn thông thạo trên mọi lĩnh vực
Thạc sĩ Đặng Thanh Vân, sáng lập viên và Giám đốc điều hành Công tyThanhs, người có nhiều nghiên cứu về xây dựng thương hiệu và truyền thông, đã
đưa ra định nghĩa về chuyên gia của riêng mình trong bài viết “Làm gì để trở
thành chuyên gia”: Chuyên gia (từ tiếng Anh là expert) có từ gốc là experience
(kinh nghiệm, trải nghiệm) và bản thân từ này lại xuất phát từ “experiment” (thínghiệm, thử nghiệm, thực nghiệm) Vậy điều kiện cần của chuyên gia trước tiên làngười có rất nhiều kinh nghiệm rút ra thông qua việc thử nghiệm/thí nghiệm/thựcnghiệm nhiều lần trong chuyên môn của họ Điều kiện đủ mới là “có khả năngtham vấn, tư vấn, hướng dẫn cho người khác về lĩnh vực đó” Cũng theo tác giảĐặng Thanh Vân, trước nay, chúng ta “dị ứng” với từ chuyên gia, cho rằng chuyên
Trang 13gia là một điều gì đó quá cao siêu không thể đạt tới Thực tế, một người quản đốcphân xưởng với tay nghề bậc 7/7 chính là một “chuyên gia” trong nghề.
Theo TS Cao Sỹ Kiêm, Chuyên gia là một khái niệm chỉ người làm chuyênsâu về một số lĩnh vực nhưng phải có tầm hiểu biết rộng rãi các mặt, có mối liên hệcác mặt kể cả trong nước và thế giới, tính lịch sử và tính thời đại Hiểu rồi, có nhậnthức toàn diện rồi, có tính chất chuyên sâu một vấn đề nhưng còn có khả năng phánđoán, phân tích, khả năng đề xuất giải pháp mà qua thực tế công tác rút ra Từ đóđưa ra kiến nghị cả về đường lối chính sách, cả giải pháp để giải quyết vấn đềchung đặc biệt là lĩnh vực chuyên sâu mình phụ trách Chuyên gia không chỉ làngười giỏi về lĩnh vực chuyên môn mà còn có khả năng đóng góp, phân tích, giảiquyết vấn đề đặt trong mối quan hệ chung [37]
Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long thì nhấn mạnh, đã là chuyên gia mỗi người
am hiểu một lĩnh vực nhất định, không có ai hiểu biết chuyên sâu về mọi mặt Đểphát huy được vai trò của mình thì mỗi chuyên gia phải có một lĩnh vực sâu, nếucái gì cũng biết thì chẳng biết cái gì cả [38] TS Nguyễn Minh Phong lưu ý đếntrách nhiệm của chuyên gia: Chuyên gia hàm ý không chỉ là người am hiểu chuyênmôn mà còn dám nói, dám chịu trách nhiệm về lời nói của mình cũng như về đaphần ý kiến của chuyên gia khá ngược với phát biểu chính thống [39]
Như vậy, có thể hiểu, chuyên gia là người được đào tạo chuyên môn sâu, cókinh nghiệm thực hành, đầy đủ năng lực và kỹ năng Chuyên gia tham gia gián tiếphay trực tiếp các hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể Chuyên gia thường cho ranhững lời nhận xét, ý kiến chuyên môn đáng tin tưởng để người khác tham khảokhi có những vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà họ thông thạo
Chuyên gia kinh tế là người được đào tạo chuyên sâu, có kinh nghiệm, kỹnăng, năng lực về một hoặc một số lĩnh vực kinh tế như tài chính, ngân hàng, bất
động sản, kinh tế vĩ mô… Tác giả Bùi Bửu Hà trong Luận văn thạc sĩ “Thông tin
Trang 14chỉ dần đầu tư trên báo chí kinh tế Việt Nam” phân chia chuyên gia kinh tế thành
hai loại là chuyên gia lý thuyết và chuyên gia thực tế
Chuyên gia lý thuyết: Là các chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu về các họcthuyết đầu tư, kinh tế chuyên ngành, họ chủ yếu đưa ra các nguyên tắc hoặc tư vấnchỉ dẫn dựa trên nghiên cứu khảo sát của mình
Chuyên gia thực tế: Bên cạnh các chuyên gia kinh tế, nhà đầu tư-công chúngcũng rất quan tâm đến những người đầu tư thực tế, những người có thể không nắmchắc về lý thuyết nhưng có sự nhạy cảm về kinh tế dựa trên bản năng hoặc nghiêncứu quy luật lên xuống của thị trường để đưa ra quyết định đầu tư [23, tr 30]
Vai trò của chuyên gia kinh tế
Thứ nhất, chuyên gia kinh tế có đóng góp nổi bật ở khía cạnh chuyên môn.Thông qua nghiên cứu của mình, chuyên gia bổ sung thêm kiến thức về lĩnh vực
mà mình chuyên sâu Nghiên cứu của chuyên gia là kết tinh công sức, trí tuệ, tâmhuyết của người làm khoa học Tri thức, kiến thức được chuyên gia chắt lọc, bổsung, phát triển có ý nghĩa nhiều mặt đối với đời sống kinh tế-xã hội, không chỉlàm giàu thêm nguồn tri thức của dân tộc, của nhân loại mà còn có tác động hỗ trợ,thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế
Thứ hai, chuyên gia kinh tế là người thường xuyên theo dõi, nắm bắt thựctiễn, gắn kiến thức, kinh nghiệm của mình vào các vấn đề đang nảy sinh trong đờisống kinh tế để từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá, khuyến nghị Theo TS Cao
Sỹ Kiêm: Chuyên gia thường phát hiện khuynh hướng, quan sát thực tiễn, phântích gắn vào chính sách, luật lệ, vào hoàn cảnh chung trong nước và thế giới.Thường thường đóng góp của chuyên gia ở khía cạnh đóng góp chính sách, phântích những đúng sai của chính sách, tổng kết bài học thực hiện, rút ra kinh nghiệm
và phán đoán tính hình sắp tới Trong đó, có một phần đóng góp vào xây dựngchính sách, giải pháp Đồng thời, cũng giúp cho các ngành chuyên môn, cơ quan
Trang 15lãnh đạo kể cả Đảng, Chính phủ, Quốc hội có thêm thông tin, tình hình thực tiễn[37].
Chia sẻ về quan điểm này TS Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh: Chuyên giađúng nghĩa phải là người nêu được toàn cảnh thực trạng, lý giải được nguyên nhân,phát hiện vấn đề và đồng thời đề xuất giải pháp, như vậy mới thành tổng thể [39] Thứ ba, chuyên gia kinh tế là người có cái nhìn tương đối toàn diện, nêu được
cả mặt tích cực và hạn chế trong mỗi hiện tượng, vấn đề Chuyên gia sẽ tổng hợp,khái quát những yếu tố thành công, chưa thành công, những vấn đề còn đang cảntrở để phát hiện, giúp cho cơ quan làm chính sách, cơ quan điều hành, quản lý cóđịa chỉ để giải quyết Giúp khơi thông những ách tắc trong sản xuất, kinh doanh,những vấn đề tồn tại, vướng mắc trong các nội dung quy định của pháp luật, chínhsách “Chuyên gia là những người nghiên cứu sâu, họ đứng bên ngoài nên nhìnsáng hơn, đầy đủ hơn, tham gia chuẩn xác, khách quan hơn” [37] Nói đến vai tròcủa chuyên gia kinh tế, PGS.TS Ngô Trí Long khẳng định: Vai trò của chuyên giatrước một vấn đề phải phân tích mặt được, chưa được, mặt tốt, không tốt và hệ lụycủa nó như thế nào Thực tế hiện này trước một cơ chế, chính sách, một hiệntượng, vấn đề trong xã hội đang xảy ra thì chuyên gia phải phân tích tác dụng,những mặt thu được và chưa thu được Ví dụ, một cơ chế chính sách ra đời chuyêngia phải cho xã hội biết được kết quả của nó thế nào, tác dụng phụ ra sao Tránhphân tích một chiều, “bám càng”, phục vụ cho một mục đích nào đó, một nhóm lợiích nào đó Một chiều là cực đoan, chỉ nói mặt tốt hoặc xấu chứ không nói tất cả[38]
Thứ tư, chuyên gia kinh tế với uy tín đã được khẳng định là người có tiếngnói trước công luận, dám nói và chịu trách nhiệm trước những phát ngôn của mình.Việc chia sẻ ý kiến, bày tỏ quan điểm trước báo chí, công luận thể hiện trách nhiệmcủa chuyên gia với cộng đồng Khi đã phát ngôn, chuyên gia phải chịu trách nhiệm
về lời nói của mình, tính chính xác của những thông tin, nhận định, đánh giá mà
Trang 16mình đưa ra Chuyên gia là những người có uy tín trong chuyên môn, trong hoạtđộng thực tiễn Thông qua báo chí, cơ quan truyền thông, uy tín của chuyên giacàng được khẳng định hơn nữa thông qua những ý kiến của chuyên gia trên báochí Nếu đó là những ý kiến chuẩn xác, khách quan, giải quyết được những vấn đềthực tiễn đang đặt ra, uy tín của chuyên gia ngày càng được nâng cao, được xã hội
và người dân ủng hộ Ngược lại, nếu ý kiến nêu lên vì dụng ý cá nhân, phục vụ chomột nhóm lợi ích nào đó, cố tình làm sai lệch bản chất hoặc hướng dư luận theothông tin một chiều, tự bản thân chuyên gia sẽ đánh mất uy tín mà mình đã gâydựng
1.2 Báo chí, báo chí kinh tế
1.2.1 Báo chí
Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của các tác giả Dương
Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, định nghĩa: Báo chí là một hình thái ýthức xã hội, là công cụ, vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng văn hóa Báo chíluôn lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh Thông tin báo chí là mộtquá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cuộc sống, nhà báo,tác phẩm, công chúng… Hiện thực tái hiện trên báo chí phải là một hiện thực sôiđộng, tiêu biểu và luôn luôn đổi mới [13, tr 20]
Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng ngày và tác động chiphối đến mọi lĩnh vực của đời sống Trong các hệ thống quyền lực chính trị khácnhau, dù cho quan điểm, chính sách và phương thức khai thác, sử dụng báo chíkhác nhau nhưng giữa chúng vẫn có điểm chung Theo PGS.TS Nguyễn VănDững, báo chí truyền thông là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội trên quy môrộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nỗi xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ
và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng
và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khuvực và quốc tế [4, tr.61]
Trang 17Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn “Xã hội học truyền thông đại chúng”
cho rằng, báo chí truyền thông là quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thôngtin nhằm thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người Truyền thông đạichúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xãhội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình[14, tr 30]
Có thể khẳng định, báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, là bộphận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất,khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng
TS Đậu Ngọc Đản trong cuốn “Báo chí với sự nghiệp đổi mới” nhấn mạnh, những
diễn biến kinh tế từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của báo chí vì kinh tế
là cơ sở của đời sống xã hội, đúng như Các Mác nói: Trước hết người ta phải có ăn,mặc, ở… rồi mới có thể bàn đến chính trị, triết học, văn học, nghệ thuật [8, tr 7]
Số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Hội nghị báo chí toàn quốcnăm 2015 cho biết, hiện nay, cả nước có 845 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơquan báo chí in, 646 tạp chí, 1 hãng thông tấn quốc gia Ngoài ra còn có 98 báo,tạp chí điện tử, trong đó có 76 báo, tạp chí điện từ của cơ quan báo chí in
1.2.2 Báo chí kinh tế
Báo chí kinh tế là một bộ phận của báo chí, được xác định ở khía cạnh nộidung, lấy thông tin kinh tế làm nội dung phản ánh chủ yếu Thông tin kinh tế đượchiểu là toàn bộ các tin tức, thông báo dưới dạng con số, lời văn của các báo cáo,hóa đơn, chứng từ… của các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu cùngcủa cải vật chất Ở cách tiếp cận khác, thông tin kinh tế là thông tin tồn tại, vậnđộng trong các thiết chế và tổ chức kinh tế liên quan, các doanh nghiệp và tổ chứckhác, phản ánh hoạt động kinh tế của chúng Nhìn chung, thông tin kinh tế là cácthông tin có liên quan tới lĩnh vực kinh tế, phản ánh tình trạng của nền kinh tế vàhoạt động sản xuất, kinh doanh hiện thời của các tổ chức kinh tế
Trang 18Trong lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam, tờ “Nông cổ mín đàm” được
công nhận rộng rãi là tờ báo kinh tế đầu tiên, ra số đầu vào ngày 1/8/1901 Một sốtài liệu còn cho biết, tại Hà Nội, năm 1883 đã có Bản tin của Ủy ban nghiên cứu
canh nông, kỹ nghệ và thương mại của Trung Kỳ và Bắc Kỳ “Nông cổ mín đàm”
nghĩa là uống trà bàn chuyện làm ruộng, đi buôn Tờ báo này do Canavagio sánglập, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu điều hành trong giai đoạn 1901-1924
Trong “Nông cổ mín đàm” đáng chú ý nhất là chuyên mục “Thương cổ luận” chuyên đăng tài các bài viết kinh doanh, buôn bán Mục “Lời rao” lại đăng tải
nhưng thông tin mới nhất về thị trường, qua đó giúp công chúng đặc biệt là giớikinh doanh có cái nhìn đầy đủ về thị trường, về xu hướng phát triển của thị trường
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) đến trước thời kỳ đổi mới (năm 1986), ởnước ta có rất ít tờ báo, tạp chí chuyên về lĩnh vực kinh tế Về tạp chí có Tạp chíNghiên cứu kinh tế do Viện Nghiên cứu kinh tế phát hành từ năm 1961, định kỳmỗi tháng một số Bên cạnh đó, có Tạp chí Kế hoạch thống kê, nhưng tạp chí nàychỉ giới hạn nội dung trong lĩnh vực kế hoạch thống kê Về báo có những tờ nhưThương mại, Thủ công, ngoài ra, các vấn đề kinh tế cũng được phản ánh trên cácbáo như Nhân dân, Lao động, Tiền phong…
Từ khi đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt từ năm 1990,
số lượng báo chí chuyên biệt về kinh tế tăng lên nhanh chóng Hầu hết các cơ quanbáo chí đều tăng cường phản ánh các vấn đề kinh tế Đối với báo in, có thể kể đếnmột số tờ như Thời báo Kinh tế Việt Nam, Diễn đàn doanh nghiệp, Đầu tư, Thờibáo Kinh tế Sài Gòn, Thời báo Ngân hàng, Thời báo Tài chính…
Đối với truyền hình, riêng Đài Truyền hình Việt Nam đã có nhiều chươngtrình về kinh tế như Tạp chí Kinh tế cuối tuần, Lựa chọn cuối tuần, Bản tin Tàichính kinh doanh Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC có Doanh nghiệp 24 giờ, Bảntin Tài chính, Khoảnh khắc vàng… Bên cạnh đó, xuất hiện một số kênh truyềnhình dành riêng cho kinh tế, tài chính Kênh Infotv, ra đời tháng 3/2007, phát sóng
Trang 19trên hệ thống truyền hình cáp Việt Nam, là kênh truyền hình chuyên biệt về kinh tếtài chính đầu tiên tại Việt Nam Kênh VITV lên sóng ngày 15/3/2009, kênh thịtrường, kinh tế - tài chính chuyên sâu, hợp tác giữa VIT media và Đài Truyền hình
kỹ thuật số VTC FBNC (financial business news channel) là kênh truyền hình củaĐài truyền hình TP Hồ Chí Minh dành cho giới kinh doanh, nói về thông tin kinh
tế, tài chính, ngân hàng Kênh Invest TV, ra mắt ngày 16/6/2009, kênh truyền hìnhchuyên biệt về đầu tư, kinh tế, phát trên truyền hình cáp Việt Nam
Với báo điện tử, trước hết là các ấn phẩm điện tử của báo chí kinh tế đã có
ấn phẩm báo in như vneconomy.vn của Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh
tế Sài Gòn Online (thesaigontimes.vn) của Thời báo Kinh tế Sài Gòn, baodautu.vncủa báo Đầu tư… Ngoài ra, còn có một số trang thông tin kinh tế như CafeF,Bizlive, NDH…
Vai trò của báo chí kinh tế
Báo chí kinh tế trước hết đóng vai trò trong tuyên truyền đường lối, chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về kinh tế Báo chí kinh tế giúpcho công chúng hiểu được đường lối chính sách phát triển kinh tế của quốc gia,hiểu được nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướngXHCN
Các lĩnh vực của đời sống kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết mọingười dân trong xã hội Do vậy, thông tin về kinh tế là một trong những nội dungđược công chúng quan tâm nhất hiện nay Việc ra đời và phát triển báo chí kinh tế
đã góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh chóng, đầy đủ của công chúng trongbối cảnh nền kinh tế luôn vận động, phát triển Kinh tế nước ta đang hội nhập ngàycàng mạnh mẽ, sâu rộng, có mỗi liên hệ chặt chẽ cũng như tác động qua lại với cácnền kinh tế trong khu vực và trên thế giới Thông tin kinh tế được phản ánh trênbáo chí hiện nay cũng giành dung lượng lớn cho các hoạt động của kinh tế thế giới
Trang 20Thông qua phân tích chính sách kinh tế - xã hội, báo chí cũng phản ánhnhững điểm chưa phù hợp giữa chính sách và thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện các
chính sách TS Hoàng Đình Cúc trong cuốn “Những vấn đề của báo chí hiện đại” đánh giá: “Báo chí góp phần hoàn chỉnh luật pháp, đặc biệt liên quan đến lĩnh vực
kinh tế, làm cho các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên một “sân chơi”
là thị trường chung mà trọng tài là hệ thống luật pháp thống nhất, công minh” [2,
Báo chí kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng để khích lệ, động viên, cổ vũđối với doanh nghiệp, doanh nhân Qua báo chí, thương hiệu của doanh nghiệpđược quảng bá, được công chúng biết đến nhiều hơn Nhiều mô hình, cách thức sảnxuất, kinh doanh sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, những doanh nghiệp, doanh nhânđiển hình được giới thiệu, nhân rộng, qua đó, có những đóng góp thiết thực cho sựphát triển của nền kinh tế Ngoài ra, những rào cản, trở ngại, gây phiền hà chodoanh nghiệp, doanh nhân cũng được báo chí phê phán, công khai ra công luận,giúp doanh nghiệp, doanh nhân có điều kiện hoạt động thuận lợi hơn
1.3 Phỏng vấn – cách thức phổ biến để khai thác thông tin từ chuyên gia kinh tế
Vai trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế được thể hiện thôngqua các ý kiến chuyên gia mà báo chí đăng tải, phát sóng Muốn có ý kiến chuyêngia, người làm báo phải biết cách khai thác Những cách thức để có được ý kiến
Trang 21chuyên gia thường được người làm báo sử dụng hiện nay đó là phỏng vấn, lấy ýkiến từ các tài liệu hội thảo, báo cáo khoa học hoặc đặt bài viết từ chuyên gia.Trong đó, phỏng vấn là cách thức phổ biến nhất như chia sẻ của Nhà báo Lê Kông
Lý (Thời báo Kinh tế Việt Nam): “Phỏng vấn là phương pháp khai thác thông tin
tôi hay sử dụng nhất khi tìm hiểu ý kiến chuyên gia, trong đó có phỏng vấn trực tiếp tại hội thảo, hẹn gặp trực tiếp hoặc phỏng vấn qua điện thoại, thư điện tử (email)”.
Xét về phương diện ngữ học, Từ điển Oxford (Anh) định nghĩa về phỏng
vấn: “Phỏng vấn là một cuộc gặp gỡ mặt đối mặt của nhiều người nhằm mục đích
bàn bạc, hoặc gặp gỡ giữa người làm công tác báo chí và người khác, qua người này, người làm báo có thể lấy được những lời tuyên bố để đăng báo” [11, tr 56].
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Phỏng vấn là hỏi ý kiến để công bố trước dư luận” [11, tr 56]
Tác giả Maria Lukina trong cuốn “Công nghệ phỏng vấn”, cho rằng:
“Phỏng vấn - đó là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa con người với nhau để thu
nhận thông tin và sản xuất ra những tri thức mà nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thông tin” [22, tr 23]
Thuật ngữ phỏng vấn là một khái niệm rộng có thể hiểu ở ba góc độ Thứnhất, phỏng vấn là hình thức giao tiếp xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp giữa ngườinày với người kia về một vấn đề mà hai bên quan tâm, chủ yếu mang tính cá nhân,diễn ra trong cuộc sống hằng ngày Thứ hai, phỏng vấn là một phương thức,phương pháp nhằm thu thập bất cứ thông tin nào mà con người cần biết về các lĩnhvực khác nhau trong đời sống xã hội Trong hoạt động báo chí, phỏng vấn làphương pháp khai thác thu thập thông tin thông qua phương thức hỏi Thực chất,đây vừa là một chiến thuật giao tiếp vừa là nghệ thuật sử dụng câu hỏi Thao tácnghiệp vụ báo chí này nhằm tìm kiếm thông tin và phản ánh hiện thực trong cácthể loại báo chí như tin, phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn, tường thuật… Thứ ba,
Trang 22phỏng vấn được xem là một thể loại báo chí độc lập, được thể hiện dưới hình thứcđối thoại thông qua các hệ thống câu hỏi của nhà báo và câu trả lời của đối tượngphỏng vấn nhằm làm rõ một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó trong đời sống xãhội có tính thời sự, thỏa mãn nhu cầu được biết của công chúng Theo PGS TS
Đinh Văn Hường trong cuốn “Các thể loại báo chí thông tấn”: Phỏng vấn là một
trong những thể loại thuộc nhóm các thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bàycuộc nói chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hộiquan tâm, có ý nghĩa chính trị xã hội nhất định, được đăng, phát trên các phươngtiện thông tin đại chúng [11, tr 22]
Để làm rõ thêm về đối tượng nghiên cứu, luân văn sẽ phân tích phỏng vấntrên phương diện là phương pháp thu thập thông tin được người làm báo sử dụng
để khai thác thông tin từ các chuyên gia kinh tế
Phỏng vấn – phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin là một trong những công việc quan trọng nhất của nhàbáo Để xây dựng được một tác phẩm có chất lượng, nhà báo phải vận dụng đếnnhững kỹ năng, những phương pháp, trong đó phỏng vấn thường là phương pháp
phổ biến nhất “Các nhà nghiên cứu Mỹ tính toán rằng phỏng vấn “ngốn mất” từ
80 - 90% thời gian làm việc của họ Bên cạnh đó, những việc không kém phần quan trọng như quan sát, xử lý tài liệu cũng được xếp vào loại hoạt động nghề nghiệp này” [22, tr 13] Như vậy có thể xem phỏng vấn là một trong những hoạt
động nghề nghiệp chính của nhà báo
Thực tế thì tư liệu khai thác từ phỏng vấn có thể được sử dụng trong rất
nhiều thể loại báo chí “Tất cả phóng sự, điều tra, câu hỏi nhân chứng đều được
tạo nên từ một loại tiểu phỏng vấn” [21, tr 9]
Sự sống động, chân thực của những tư liệu phỏng vấn giúp cho bài viết hấpdẫn hơn Nếu như phương pháp quan sát mang đến cái nhìn trực quan của tác giả,
nghiên cứu tư liệu đưa đến nhiều thông tin có độ chính xác cao, thì phỏng vấn “với
Trang 23tính chất là cuộc giao tiếp với nguồn tin “sống” làm cho tác phẩm dễ được công
bố hơn là so với các phương pháp khác” [22, tr 13] Phỏng vấn cũng giúp cho nhà
báo khai thác được nhiều thông tin có chiều sâu, tìm ra những dữ liệu đang bị “che
khuất”, đặc biệt là với những vấn đề gai góc Nhà báo Hữu Thọ trong cuốn “Công
việc của người viết báo” đã chia sẻ một số kinh nghiệm về sử dụng phương pháp
phỏng vấn trong quá trình thu thập tư liệu của phóng viên: “Một cuộc nói chuyện
bổ ích là cuộc nói chuyện mà người làm báo như một bên của cuộc trao đổi ý kiến thoải mái và bình đẳng với người tiếp chuyện Nói thật không bao giờ dễ Cho nên người làm báo phải đảm bảo và làm cho họ tin rằng: nói thật với nhà báo thì không có gì nguy hiểm cho họ Có được sự bảo đảm đó, họ mới nói thật” [18, tr
103] Để trưởng thành trong nghề nghiệp cũng như tích lũy kinh nghiệm cho bảnthân, người làm báo luôn phải trau dồi kỹ năng phỏng vấn của mình
Trong cuốn “Phỏng vấn trong báo viết” của Trường Đại học báo chí Lille
(ESJ) Cộng hòa Pháp do Hội Nhà báo Việt Nam dịch và xuất bản năm 2002 có
viết: “Mọi bước thu thập thông tin trong báo chí đều là một dạng phỏng vấn” [21,
tr 37]
Trong tác phẩm báo chí, tác giả xuất hiện với tư cách cái tôi nhân chứng,nhưng trong hoạt động báo chí thực tế, không phải bao giờ nhà báo cũng là ngườichứng kiến được sự kiện Đa số các trường hợp sự kiện xảy ra rồi, phóng viên nhậnthông tin từ một nguồn tin Những câu hỏi đặt ra chủ yếu nhằm mục đích khai thácthông tin trước hết cho chính người làm báo Điều này cũng thể hiện rõ khi nhà báophỏng vấn chuyên gia để khai thác thông tin Trong các lĩnh vực kinh tế cũng nhưnhững lĩnh vực khác của đời sống xã hội, người làm báo không phải lúc nào cũng
đủ hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm để lý giải hết mọi vấn đề, sự việc, hiện tượngxảy ra Do vậy, chuyên gia sẽ là người giải đáp hầu hết những thắc mắc nhà báo đặt
ra, đây cũng chính là những nội dung mà công chúng quan tâm, thông qua nhà báogửi đến chuyên gia mong tìm được câu trả lời Bên cạnh đó, với tư cách là người
Trang 24phản ánh chân thực, khách quan sự vật, hiện tượng cũng như các vấn đề của cuộcsống, nhà báo cần phải hạn chế tối thiểu sự thể hiện cái tôi cá nhân trong các tácphẩm báo chí, trừ một số trường hợp đặc biệt Nếu người làm báo tự đặt ra vấn đềrồi tự mình lý giải sẽ trở nên không khách quan, họ cần đến chuyên gia để bảo đảmtính trung lập của bản thân trên báo chí.
Để có được thông tin, thao tác nghiệp vụ quan trọng nhất của người làm báo
là phỏng vấn Đây là hướng tiếp cận hiện thực đặc thù, một cách khai thác thôngtin trực diện Muốn thực hiện phỏng vấn, trước hết người phỏng vấn phải nắm bốicảnh, hoàn cảnh, nội dung mình muốn hỏi là gì, có kiến thức sâu rộng về các vấn
đề của đời sống xã hội, hiểu biết các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,Nhà nước, có sự chuẩn bị, chủ động trong mọi tình huống, hướng câu chuyện theo
ý đồ mình định khai thác
Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: Phải xác định được đối tượng nào thích hợp
để cung cấp cho mình những thông tin cần thiết, chính xác và đầy đủ về sự kiện,vấn đề mình thu thập Đối với chuyên gia, phải lựa chọn chuyên gia thật sự amhiểu, phù hợp với lĩnh vực chuyên sâu của họ Có chuyên gia chuyên nghiên cứu
về ngân hàng, có chuyên gia về tài chính hoặc về chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư…Tìm được chuyên gia phù hợp là một trong những yếu tố bảo đảm cho chất lượngthông tin thu được Người phỏng vấn cần phải tìm hiểu trước người được phỏngvấn, thế mạnh của chuyên gia, họ đã từng trả lời trên báo chí như thế nào, quanđiểm của họ… Điều này cũng tăng tính chủ động của phóng viên khi thực hiệnphỏng vấn
Lựa chọn phương thức phỏng vấn: Để lựa chọn phương pháp tiếp cận thíchhợp với đối tượng được phỏng vấn, phóng viên có thể sử dụng các phương tiện kỹthuật hỗ trợ như điện thoại, email hoặc đến gặp trực tiếp đối tượng, phỏng vấn bên
lề hội nghị, hội thảo… Tùy thuộc vào trình độ, nghề nghiệp, giới tính, sở thích,thói quen thậm chí cả tâm trạng của đối tượng mà phóng viên cần lựa chọn cách
Trang 25hỏi, cách đặt vấn đề phù hợp với mục đích nhằm thu được đầy đủ, chính xác nhanhchóng thông tin Điều quan trong là phải tạo được mối quan hệ, sự cảm thông, gầngũi, tin cậy giữa phóng viên và người được phỏng vấn Phỏng vấn phải tạo đượccảm giác tự nhiên, thoải mái cho người trả lời phỏng vấn, điều này hoàn toàn phụthuộc năng lực phóng viên.
Câu hỏi phỏng vấn: Phỏng vấn là một nghiệp vụ chuyên môn báo chí có tínhđộc lập Tuy nhìn đơn giản nhưng công việc này không kém phần phức tạp Câuhỏi phỏng vấn phải thiết kế sao cho đúng vấn đề, đúng mục đích đã được xác định,trực tiếp, ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu, kích thích được người trả lời Phóng viênkhông chỉ ghi nhận thông tin mà cả quan điểm của đối tượng được phỏng vấn
Có cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở Khi phỏng vấn chuyên gia thường sửdụng câu hỏi mở Câu hỏi đóng (dạng có hay không?) thường được sử dụng khimuốn chuyên gia xác định một cách cụ thể tính chính xác của thông tin, quan điểmcủa cá nhân… Ví dụ: Có thông tin Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành quy địnhmới về trần lãi suất, thông tin này có chính xác hay không? Theo ông, việc làm này
có nên được tiếp tục triển khai hay không? Thi thoảng, phóng viên nên hỏi lại đểthẩm tra thông tin cũng như khẳng định độ chính xác, bổ sung điểm mơ hồ, chưa rõràng trong câu trả lời
Một số lưu ý khi phỏng vấn: Sau khi nêu rõ câu hỏi, điều quan trọng khi tiếnhành phỏng vấn là phải biết lắng nghe, trừ một số trường hợp đặc biệt, không nênngắt mạch đột ngột khi người được phỏng vấn đang trả lời Đặt câu hỏi mạch lạc,sống động, những câu hỏi hay thường được người trả lời đánh giá cao, tạo hứngthú cho họ trong cuộc phỏng vấn Đối với phỏng vấn chuyên gia, trước những vấn
đề có tính chuyên môn khi phóng viên chưa hiểu rõ nên hỏi kỹ lưỡng, cẩn thận chođến khi hiểu được bản chất nội dung chuyên gia trả lời Nếu hiểu mơ hồ, khichuyển tải thông tin lên báo chí rất dễ dẫn đến sai sót [25, tr 50]
Trang 26Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn đã trình bày một số vấn đề lý luận chung liên quanđến kinh tế, trong đó tập trong vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng; chuyên gia vàchuyên gia kinh tế; báo chí kinh tế; cách thức khai thác thông tin từ chuyên giabằng phương pháp phỏng vấn Luận văn đã đưa ra một số khái niệm cơ bản về kinh
tế và lĩnh vực tài chính – ngân hàng Đồng thời, cũng đưa ra một số quan niệm vềchuyên gia, chuyên gia kinh tế, từ những quan niệm đó rút ra cho tác giả luận văncách hiểu có tính khái quát, tương đối đẩy đủ về chuyên gia và chuyên gia kinh tế
Luận văn cũng phác thảo một vài nét về lịch sử hình thành và phát triển củabáo chí kinh tế Việt Nam, khẳng định những đóng góp của báo chí kinh tế đối với
sự phát triển của báo chí nói chung cũng như vai trò cung cấp thông tin, địnhhướng dư luận xã hội, tạo diễn đàn để những người quan tâm đến các lĩnh vực củađời sống kinh tế được bày tỏ quan điểm của mình Trong chương 1, luận văn tậptrung phân tích phương pháp khai thác thông tin từ chuyên gia kinh tế được sửdụng phổ biến hiện nay là phương pháp phỏng vấn
Những vấn đề lý luận được nêu ra trong chương 1 là cơ sở để định hướngquá trình nghiên cứu, khảo sát của tác giả luận văn Các kết quả của quá trìnhnghiên cứu, khảo sát được trình bày trong chương 2 của luận văn
CHƯƠNG 2: SỨC NẶNG CỦA THÔNG TIN KINH TẾ ĐƯỢC CUNG CẤP
TỪ CÁC CHUYÊN GIA
Trang 272.1 Giới thiệu về các ấn phẩm báo chí, bản tin truyền hình được khảo sát
2.1.1 Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Ra đời tháng 1/1991, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ban đầu thuộc Sở Thươngmại TP Hồ Chí Minh, hiện nay trực thuộc UBND TP Hồ Chí Minh Tờ Thời báoKinh tế Sài Gòn được xem như tuần báo kinh tế đầu tiên của TP Hồ Chí Minh saukhi đất nước thống nhất năm 1975 Ban đầu tờ báo ra đời 4 ấn phẩm: Thời báoKinh tế Sài Gòn ra hằng tuần, Saigon times weekly ra hằng tuần bằng tiếng Anh,Saigon times daily ra từ thứ hai đến thứ 6 bằng tiếng Anh và Saigon eco ra hằngtuần bằng tiếng Pháp Đầu năm 2001, tờ báo tiếng Pháp phải đình bản vì yếu tố tàichính
Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ra mắt ngày 3/1/2008 tại địa chỉthesaigontimes.vn với định hướng là tờ báo điện tử chính thức của Thời báo Kinh
tế Sài Gòn, nội dung chuyên sâu về kinh tế
2.1.2 Bản tin Tài chính kinh doanh, phát sóng trên kênh VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam (THVN)
Đài THVN là cơ quan trực thuộc Chính phủ, là đài truyền hình quốc gia,thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân Ngày phát sóngchương trình truyền hình đầu tiên 7/9/1970 Hiện nay phát sóng 130 giờ/ngày, 6kênh quảng bá, các kênh khu vực, hệ thống truyền hình cáp, truyền hình số vệ tinh
Bản tin Tài chính kinh doanh phát sóng vào các khung giờ: 7 giờ sáng,12h30 trưa, 21h30 tối và 1 bản tin tài chính tiêu dùng lúc 17h40 Thời lượng bảntin trưa và chiều 15-20 phút, bản tin sáng và tối 20-25 phút Trong đó, bản tin 7hbao gồm các tin, bài phóng sự, mục điểm báo Tiêu chí lựa chọn là những tin, bàikhông quá vĩ mô, nặng nề, khó hiểu, xen kẽ thông tin tiêu dùng hoặc những chuyệngần gũi đời sống Bản tin 12h30 gồm bài và phần tường thuận thông tin trực tiếp
Trang 28tại sàn chứng khoán Bản tin này luôn cố gắng đẩy mạnh phần nội dung chứngkhoán, tin nhanh trong ngày Bản tin 17h40 gồm tin bài liên quan đến vấn đề giá
cả, thị trường, tiêu dùng Bản tin 21h30 gồm tin bài và bình luận sâu Tùy tưng vấn
đề xảy ra trong ngày hoặc trong khoảng thời gian sự kiện diễn ra để tổ chức bìnhluận trường quay, trao đổi giữa người dẫn chương trình với phóng viên theo dõivấn đề đó hoặc với chuyên gia kinh tế, người trong cuộc Đây là bản tin tập trungcông sức thực hiện, phát sóng vào khung giờ nhiều người xem hơn so với các bảntin trước
2.1.3 Thời báo Kinh tế Việt Nam
Thời báo Kinh tế Việt Nam ra số đầu tiên vào tháng 9/1991 với tên gọi
“Thông tin kinh tế”, xuất bản 1 kỳ/tuần Từ tháng 12/1991 đổi tên thành Thời báoKinh tế Việt Nam Hiện nay, Thời báo Kinh tế Việt Nam phát hành 6 kỳ/tuần, từthứ 2 đến thứ 7 Ngoài ấn phẩm báo in tiếng Việt còn xuất bản tạp chí tiếng Anh:Vietnam Economic Times, Tạp chí The Guide; Tạp chí Tư vấn tiêu dùng và báođiện tử tại địa chỉ vneconomy.vn
Thời báo Kinh tế Việt Nam có 16 trang mỗi số, gồm các chuyên trang,chuyên mục chính: Thời sự kinh tế (từ trang 2 đến trang 4); Vấn đề thời mở cửa;Hội nhập kinh tế; Chứng khoán; Tài chính – Ngân hàng; Kinh doanh; Kinh tế - xãhội; Công nghệ thông tin; Kinh tế thế giới Trang 16 dành cho quảng cáo Riêng sốbáo ra ngày thứ 7 là số đặc biệt, gộp 2 số cuối tuần, dày 24 trang Số đặc biệt cóthêm một số chuyên trang như: Doanh nghiệp – Doanh nhân; Đời sống kinh tế phíaNam; Phát triển thị trường…
2.2 Vai trò của chuyên gia kinh tế thể hiện qua các báo được khảo sát
2.2.1 Các yếu tố cấu thành thông tin kinh tế
Trang 29Thông tin báo chí chuyển tải đến công chúng gồm nhiều yếu tố cấu thành.Các yếu tố thông tin này có được từ các cách thức khai thác, tiếp cận khác nhaucủa người làm báo Có thể chỉ ra như thông tin qua quan sát thực tế, thông tin khaithác từ phỏng vấn, thông tin từ khai thác tài liệu, thông tin dưới dạng thức thống kê
số liệu Thông tin kinh tế cũng mang các đặc điểm chung của thông tin báo chí.Qua khảo sát tin, bài trên một số ấn phẩm báo chí kinh tế có thể thấy, thông tinkinh tế được cấu thành bởi những yếu tố cơ bản sau:
2.2.1.1 Thông tin số liệu thống kê
Các số liệu thống kê có ý nghĩa rất quan trọng đối với thông tin kinh tế Cóthể thấy thông tin từ số liệu thống kê xuất hiện dày đặc trên báo chí kinh tế, trởthành nguồn “nguyên liệu” chính cho các bài viết Trên báo chí kinh tế, không khóbắt gặp những tin, bài chỉ sử dụng hoàn toàn số liệu thống kê Bên cạnh cung cấpthông tin dưới dạng nguyên văn, việc so sánh, đối chiếu các số liệu thống kê cũnggóp phần giúp công chúng hiểu rõ hơn thông điệp người làm báo muốn chuyển tải
Trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, mỗi số báo đều có chuyên trang chứngkhoán, trong đó “bài đinh” gần như hoàn toàn sử dụng số liệu thống kê Có thể lấy
ví dụ như bài viết “VN-Index vững vàng vượt mốc 605 điểm” trong chuyên trang
Chứng khoán của Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 187 ngày 6/8/2014, chỉ đăng đơnthuần thông tin số liệu:
“Kết thúc phiên giao dịch ngày 5/8/2014, VN - index tăng 8,69 điểm (+1,45%), đóng cửa tại 607,73 điểm Cổ phiếu GAS tăng giá sang phiên thứ 2 liên tiếp sau khi công bố sơ bộ về kết quả kinh doanh trong 6 tháng đầu năm với lợi nhuận sau thuế đạt 6.427 tỷ đồng, vượt 50% kế hoạch 6 tháng và đạt 75% kế hoạch cả năm Cổ phiếu VCB tăng giá sang phiến thứ 3 liên tiếp sau khi ký hợp tác toàn diện với VNBC và tham gia tái cơ cấu VNBC Tại sàn HOSE, tổng khối lượng giao dịch đạt 86,63 triệu đơn vị, tổng giá trị giao dịch 1.620 tỷ đồng Khối
Trang 30ngoại quay lại bán ròng 455.700 đơn vị, trí giá bán ròng 57,7 tỷ đồng Tại sàn Hà Nội, chỉ số HNX-index cũng tăng nhẹ 0,59 điểm (+0,74%) ”
Tương tự trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, các bài viết về chứng khoán
sử dụng chủ yếu thông tin số liệu Mang tính chất như một bài tường thuật lạiphiên giao dịch chứng khoán trong ngày, những bài viết dạng ngày không chỉ cung
cấp số liệu thô mà còn có so sánh, đối chứng Ví dự như bài “Chứng khoán ngày
cuối tháng: khối ngoại “độc diễn” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
ngày ngày 30/6/2015:
“Diễn biến thị trường khá tích cực trong buổi sáng khi mức điểm tăng được nới rộng dần theo thời gian giao dịch Áp lực bên bán mạnh lên rõ rệt từ sau 2 giờ chiều và lấy lại hầu hết điểm tăng có trước đó Hai chỉ số kết phiên trái chiều nhau, VN-Index tăng nhẹ lên 593,05 điểm (+0,22%) trong khi HNX-Index giảm về 84,94 điểm (-0,64%).
Thanh khoản đã sôi động hơn khá nhiều trong hôm nay, do cả hai bên mua bán đều khá quyết liệt Cụ thể HSX có 136 triệu đơn vị khớp lệnh với giá trị đạt 2.241 tỉ đồng (+29,3%) trong khi HNX cũng có 53,4 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng với giá trị 643 tỉ đồng (+15,2%)”.
2.2.1.2 Thông tin từ quan sát của phóng viên
Quan sát, miêu tả là một trong những kỹ năng cơ bản của người làm báo.Người viết bài với tư cách là nhân chứng có mặt tại thời điểm diễn ra sự việc, hiệntượng, ghi nhận và miêu tả lại bằng ngôn ngữ báo chí để chuyển tải thông tin đếnngười đọc Đối với các bài viết về kinh tế, thông tin từ quan sát của phóng viên tuykhông chiếm tỷ lệ lớn và không thường xuyên được sử dụng nhưng luôn mang đến
sự sinh động, chân thực cho công chúng Có thể lấy ví dụ trong bài “TP Hồ Chí
Minh: Cung ứng 40.000 tỉ đồng tiền mặt cho dịp tết” đăng trên Thời báo Kinh tế
Sài Gòn Online ngày ngày 11/2/2015, có đoạn miêu tả như sau: “Theo ghi nhận
của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, hiện tại, việc tập trung đông người rút tiền
Trang 31ATM vẫn diễn ra cục bộ ở một số khu vực, trong đó, chủ yếu là các khu chế xuất, khu công nghiệp, còn tại các trụ ATM trong khu vực nội thành, việc này hiếm xảy
ra Tuy vậy, ở đa phần các máy ATM được khảo sát, không có hiện tượng thiếu tiền hay máy đang bảo trì”.
Bên cạnh quan sát, miêu tả, báo chí, trong bài viết về kinh tế phóng viêncũng trực tiếp tiến hành khảo sát để thu nhận thông tin, ví dụ như khảo sát về sốdoanh nghiệp phá sản tại một địa phương, khảo sát sức mua trên thị trường haydiễn biến giá cả Đối với dạng thông tin này, phóng viên tự chịu trách nhiệm về
độ chính xác khi cung cấp cho công chúng Trong bài “Hơn 38.000 tỉ đồng cho
vay đầu tư cổ phiếu” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 8/2/2015,
phóng viên đã thực hiện khảo sát về lượng vốn cho vay kinh doanh cổ phiếu:
“Cuộc khảo sát thực tế do chúng tôi tiến hành với những ngân hàng quốc doanh và nửa quốc doanh cho thấy họ không chú trọng cho vay kinh doanh cổ phiếu Số dư cho vay cổ phiếu tập trung vào các ngân hàng cổ phần trong khi vốn điều lệ của tất cả các ngân hàng cổ phần chưa đầy 200.000 tỉ đồng Nghĩa là các
tổ chức tín dụng cổ phần phải điều chỉnh dư nợ cho vay cổ phiếu rất mạnh để đáp ứng quy định của Thông tư 36”.
2.2.1.3 Thông tin tài liệu văn bản
Những văn bản thường được sử dụng trên báo chí là những quy định mới, cóảnh hưởng đến nhiều đối tượng trong xã hội như văn bản quy phạm pháp luật (luật,nghị định, thông tư, quyết định ) hay các báo cáo của cơ quan chức năng, hiệp
hội, các tổ chức nghiên cứu Trong bài viết “Cải cách thủ tục thuế và hải quan”
đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam (số 199, ngày 20/8/2014) đã dẫn thông tinvăn bản từ 4 thông tư đang được Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) sửa đổi:
“Tổng cục thuế đã đề xuất sửa dổi, bổ sung 4 thông tư liên quan đến thủ tục hành chính thuế gồm thông tư 156, thông tư 219, thông tư 08, thôg tư 85 Theo đó,
sẽ lược bỏ một số chỉ tiêu trên bảo kê thuế GTGT đầu vào và đầu ra để đồng nhất
Trang 32với hệ thống kế toán của DN Với nội dung sửa đổi này, tổng cục thuế cho biết sẽ giảm được số giờ chuẩn bị khai thuế GTGT là 132 giờ/năm.
Việc bỏ quy định phải tổng hợp và khai các hóa đơn hàng hóa dịch vụ không phải tổng hợp trên tờ khai thuế sẽ giảm được số giờ chuẩn bị khai thuế GTGT là
12 giờ/năm Nội dung đáng chú ý thứ 3 là sửa các chỉ tiêu liên quan đến hạch toán thu NSNN trên các giấy nộp tiền vào NSNN của người nộp thuế giúp giảm được 8 giờ/năm Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp tổng thể của Bộ Tài chính, dự kiến số giờ thực hiện khai và nộp thuế của người nộp thuế sẽ giảm được 201,5 giờ”.
2.2.1.4 Thông tin từ các chuyên gia kinh tế
Hiện nay, phương pháp phỏng vấn được người làm báo sử dụng phổ biến vớimục đích khai thác thông tin Đối với báo chí kinh tế, chuyên gia kinh tế là đốitượng thường xuyên được tiếp cận để phỏng vấn, tìm kiếm thông tin Chuyên giakinh tế vừa là nguồn cung cấp tài liệu vừa là nhân vật trong nhiều bài viết trên báochí Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế còn đóng vai trò là tác giả, đứng tên trên bàiviết hay nói cách khác là các cộng tác viên của cơ quan báo chí Thông tin từchuyên gia kinh tế có thể xem là một nguồn thông tin, kênh thông tin bên cạnh cácyếu tố khác cấu thành nên thông tin kinh tế
2.2.2 Tần suất xuất hiện của các chuyên gia kinh tế
Khảo sát trên Thời báo Kinh tế Việt Nam trong thời gian 1 năm (tháng7/2014 đến 6/2015) với 313 số báo (bao gồm cả số báo gộp) Tổng số bài viết vềlĩnh vực tài chính - ngân hàng là 885 bài Tỷ lệ 2,8 bài về tài chính ngân hàng chomỗi số báo Cơ cấu tin bài của Thời báo Kinh tế Việt Nam, mỗi số báo có 16 trang,trừ trang 1 và trang 16 (dành cho quảng cáo) mỗi trang nội dung có 1-2 bài, nhưvậy, trung bình mỗi số báo có 15-20 bài Là tờ báo chuyên biệt về kinh tế, nội dungcủa Thời báo Kinh tế Việt Nam đề cập nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh
tế như kinh tê vĩ mô, bất động sản, công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải,
Trang 33đầu tư Tỷ lệ gần 1/5 số bài viết trên mỗi số báo đề cập đến lĩnh vực tài chính ngân hàng có thể thấy đây là lĩnh vực được quan tâm, dành khá nhiều dung lượng.
-Số bài viết về tài chính - ngân hàng có ý kiến chuyên gia trong thời giankhảo sát trên Thời báo Kinh tế Việt Nam là 405 bài Đạt tỷ lệ 45,7% tổng số bàiviết về tài chính - ngân hàng Như vậy, gần 2 bài viết về tài chính ngân hàng thì có
1 bài xuất hiện chuyên gia Nhưng bài viết không có ý kiến chuyên gia đơn thuầnđưa thông tin số liệu, văn bản, phân tích, khảo sát của chính phóng viên Tính trungbình, mỗi tháng có hơn 33 bài viết về tài chính ngân hàng xuất hiện chuyên gia.Với định kỳ xuất bản 5 số/tuần, một tháng 20 số, có thể thấy, con số trung bìnhngày nào cũng có hơn 1 bài viết xuất sự xuất hiện của chuyên gia kinh tế cung cấpthông tin về tài chính - ngân hàng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam
2.1 Khảo sát ý kiến chuyên gia trên Thời báo Kinh tế Việt Nam
Khảo sát theo từng tháng cụ thể trên Thời báo Kinh tế Việt Nam cho thấy,nhiều nhất là tháng 2/2015 và tháng 5/2015 có 42 bài viết xuất hiện chuyên giakinh tế trên tổng số 80 bài về tài chính - ngân hàng, tỷ lệ 52,5% Tháng thấp nhất làtháng 4/2014, có 28 bài xuất hiện chuyên gia trên tổng số 65 bài, tỷ lên 43% Từ
đó, có thể thấy, tần suất xuất hiện của các chuyên gia kinh tế trên những bài viết về
Trang 34lĩnh vực tài chính ngân hàng của Thời báo Kinh tế Việt Nam là khá dày, gần nhưvới bất kỳ số báo nào trong thời gian khảo sát cũng đều có mặt chuyên gia.
Khảo sát Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trong thời gian 1 năm (tháng7/2014 đến tháng 6/2015) cho thấy: tổng số có 778 bài viết về lĩnh vực tài chính -ngân hàng, trung bình mỗi ngày có hơn 2 bài Số lượng bài về tài chính - ngânhàng có xuất hiện của chuyên gia kinh tế là 237 bài, chiếm tỷ lệ 30,4% tổng số bài.Mỗi ngày, tính trung bình trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online có gần 1 bài viếtxuất hiện chuyên gia kinh tế So sánh với Thời báo Kinh tế Việt Nam ấn phẩm báo
in, có thể thấy Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online (báo điện tử) có số lượng bài viết
về tài chính ngân hàng cũng như bài có sự xuất hiện của chuyên gia kinh tế ít hơn
2.2 Khảo sát ý kiến chuyên gia trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
Thống kê cụ thể theo tháng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online: Tháng có
số bài viết xuất hiện chuyên gia kinh tế nhiều nhất là tháng 10/2014 với 27 bài trêntổng số 79 bài về tài chính - ngân hàng và tháng 5/2015 với 27 bài trên tổng số 79bài (tỷ lệ 34,1%) Tháng ít nhất là tháng 2/2015, chỉ có 11 bài xuất hiện chuyên giakinh tế trên tổng số 41 bài về tài chính - ngân hàng (tỷ lệ 26,8%)
Trang 35Khảo sát Bản tin Tài chính kinh doanh (VTV1) trong thời gian 6 tháng (từtháng 6/2015 đến tháng 11/2015), tổng số có 231 bài về lĩnh vực tài chính – ngânhàng Trong đó, có 107 bài có sự xuất hiện của chuyên gia, chiếm tỷ lệ 46,3% Tầnsuất xuất hiện của chuyên gia trên Bản tin Tài chính kinh doanh (VTV1) gần bằngtrên báo in Thời báo Kinh tế Việt Nam, cao hơn so với Thời báo Kinh tế Sài GònOnline Thống kê theo tháng, số bài xuất hiện chuyên gia kinh tế nhiều nhất trongtháng 9 với 26 bài trên tổng số 45 bài Tháng ít nhất là tháng 11, có có 9 bài xuấthiện chuyên gia trên tổng số 28 bài.
2.3 Khảo sát ý kiến chuyên gia trên Bản tin Tài chính Kinh doanh
So sánh tần suất xuất hiện chuyên gia kinh tế trên các ấn phẩm báo chí vàbản tin truyền hình tương ứng với các loại hình báo chí là báo in, báo mạng điện tử
và truyền hình có thể thấy tần suất xuất hiện khá cao, đặc biệt trên báo in và bản tintruyền hình Với tần suất như vậy, thông tin từ chuyên gia kinh tế là một bộ phậnrất quan trọng cấu thành nên thông tin kinh tế Các cơ quan báo chí, người làm báo
đã tận dụng, khai thác khá triệt để thông tin từ chuyên gia kinh tế để chuyển tải đếncông chúng
2.4 So sánh tần suất xuất hiện ý kiến chuyên gia
Trang 362.2.3 Cách thức thể hiện thông tin kinh tế khai thác từ chuyên gia
Qua khảo sát cho thấy, chuyên gia kinh tế xuất hiện trong các bài viết về lĩnhvực tài chính - ngân hàng với nhiều vai trò khác nhau, cùng với đó, thông tin từchuyên gia kinh tế được chuyển tải đến công chúng qua những cách thức khácnhau Những cách thức chủ yếu chuyển tải thông tin từ chuyên gia kinh tế là:
- Trích dẫn ý kiến trong bài viết: chuyên gia kinh tế là một trong những nhânvật của bài viết, tác giả trích dẫn ý kiến của chuyên gia để làm rõ sự kiện, vấn đềbài viết hướng tới Thông tin từ chuyên gia kinh tế nằm trong bố cục chung của bàiviết, bổ sung, làm rõ thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua bài viết
- Người trả lời trong bài phỏng vấn: Phóng viên đặt câu hỏi và ghi nhận câutrả lời từ chuyên gia, thể hiện qua thể loại bài phỏng vấn trên báo in, báo điện tửhoặc đối thoại trên truyền hình Cách thức này chuyển tải thông tin từ chuyên giakinh tế trực tiếp, đa dạng, đưa được nhiều thông tin khác nhau như cung cấp tàiliệu, nhận định, đánh giá, phân tích, dự báo
- Đăng tải ý kiến độc lập của chuyên gia: Ý kiến độc lập hay còn được biếtđến dưới dạng phỏng vấn ý kiến Ý kiến của chuyên gia sẽ được trình bày thànhkhối riêng biệt, đăng tải trọn vẹn một nội dung Ý kiến độc lập không trình bày
Trang 37dưới dạng hỏi đáp mà chỉ có nội dung trả lời của chuyên gia Thông thường, ý kiếnđộc lập sẽ gắn liền với một bài viết chủ điểm, làm rõ sự kiện, vấn đề mà bài viết đềcập đến.
- Chuyên gia kinh tế đóng vai trò là tác giả của các bài viết chuyên sâu, với
tư cách là cộng tác viên của cơ quan báo chí Bài viết của chuyên gia mang tínhchất chuyên sâu, thông tin trong bài viết được chính chuyên gia, cũng là tác giảthẩm định, chịu trách nhiệm Uy tín, “thương hiệu” của chuyên gia là yếu tố quantrọng tạo nên độ tin cậy, thu hút của bài viết
Thống kê cụ thể, trên Thời báo Kinh tế Việt Nam trong thời gian khảo sát có
67 bài phỏng vấn chuyên gia kinh tế về lĩnh vực tài chính - ngân hàng (chiếm16,5%); 12 khối ý kiến độc lập của chuyên gia (3%); 2 bài viết chuyên sâu dochuyên gia đứng tên tác giả (0,5%) và 324 bài trích dẫn ý kiến chuyên gia trong bàiviết của phóng viên (80%)
2.5 Cơ cấu bài viết có ý kiến chuyên gia trên Thời báo Kinh tế Việt Nam
Trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trong thời gian khảo sát có 9 bàiphỏng vấn chuyên gia (chiếm 3,8% số bài có ý kiến chuyên gia); 21 bài viếtchuyên sâu do các chuyên gia đứng tên tác giả (8,8%); 2 bài đăng ý kiến độc lập
Trang 38của chuyên gia (0,8%) và 205 bài trích dẫn ý kiến chuyên gia trong bài viết củaphóng viên (86,6%).
2.6 Cơ cấu bài viết có ý kiến chuyên gia trên TB Kinh tế Sài Gòn Online
So sánh có thể thấy, đa phần các bài viết trên báo chí kinh tế chuyển tảithông tin từ chuyên gia thông qua trích dẫn ý kiến trong bài viết, với Thời báoKinh tế Việt Nam là 80% bài trích dẫn ý kiến trong tổng số bài viết có xuất hiệnchuyên gia Trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, tỷ lệ này là 86,4% Các báocũng khá chú trọng lựa chọn chuyên gia kinh tế là đối tượng phỏng vấn, chuyển tảiqua các bài theo thể loại phỏng vấn, với tỷ lệ 16,5% bài phỏng vấn chuyên gia kinh
tế trên Thời báo Kinh tế Việt Nam Ở Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, tỷ lệ bàiphỏng vấn thấp hơn, chỉ 3,8% Nhưng Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online lại sửdụng nhiều bài viết chuyên sâu hay nói cách khác là chú trọng sử dụng đội ngũchuyên gia kinh tế làm cộng tác viên cho báo Tỷ lệ bài viết chuyên sâu trên Thờibáo Kinh tế Sài Gòn Online là 8,8% bài viết chuyên gia đứng tên tác giả Thời báoKinh tế Việt Nam chỉ có 3 bài viết chuyên sâu (tỷ lệ 0,7%)
Đối với Bản tin Tài chính Kinh doanh (VTV1) hình thức thể hiện thông tin
từ chuyên gia kinh tế tập trung vào các thể loại chính là bài phản ánh, phóng sự và
Trang 39phỏng vấn Với 107 bài có sự xuất hiện của chuyên gia kinh tế trong thời gian khảosát, có 18 bài phỏng vấn (chiếm 16,8%), còn lại là đưa ý kiến trong bài phản ánh,phóng sự (83,2%)
2.7 Cơ cấu bài có ý kiến chuyên gia trên Bản tin Tài chính Kinh doanh
Do đặc thu của truyền hình, các ý kiến của chuyên gia đều có thể xem là mộtđoạn phỏng vấn ngắn, không cần trình bày thành các ý kiến độc lập như trên báo inhay báo mạng điện tử Bản tin truyền hình cũng thiếu vắng các bài viêt chuyên sâu
Có thể lý giải do dung lượng bản tin không dài (30 phút) trong khi nội dung baogồm nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, khó có thể dành quá nhiều “đất” cho mộtchuyên gia riêng lẻ Sự xuất hiện của chuyên gia trên bản tin truyền hình thườngkhá ngắn, dưới 1 phút Đối với các bài phỏng vấn chỉ 3-5 phút Các chuyên giađược khai thác khá đa dạng, ít có sự lặp lại Trong thời gian khảo sát, chuyên giaxuất hiện nhiều chỉ 2-3 lần, phần lớn xuất hiện 1 lần
Khác với bản tin truyền hình, khảo sát trên báo in và báo mạng điện tử chothấy, một số chuyên gia có tần suất xuất hiện nhiều, được khai thác ở nhiều vai tròkhác nhau
Một số chuyên gia điển hình trên Thời báo Kinh tế Việt Nam
Tên chuyên gia Số lần xuất hiện trong Ghi chú
Trang 40thời gian khảo sátPGS.TS Ngô Trí Long 5 Chuyên gia kinh tế, từng
công tác tại Bộ Tài chính
Viện Khoa học thị trườnggiá cả (Bộ Tài chính)
thuộc Ngân hàng Đầu tưphát triển Việt Nam (BIDV)Luật sư Trương Thanh
Đức
13 Giám đốc Công ty luật
Basico, Chủ nhiệm CLBPháp chế Ngân hàng (Hiệphội Ngân hàng Việt Nam)
sát tài chính Quốc gia
TS Nguyễn Trí Hiếu 19 Chuyên gia tài chính - ngân
hàng, người Việt Nam đầutiên thành lập ngân hàng tạiMỹ
Nghiên cứu quản lý kinh tếTrung ương
XIII, nguyên Thống đốcNgân hàng Nhà nước ViệtNam, Chủ tịch Hội Doanhnghiệp vừa và nhỏ
PGS TS Trần Hoàng
Ngân
Quốc hội, Hiệu trưởng