1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thạc sĩ báo chí học truyền hình tuyên truyền về phòng, chống ung thư ở việt nam”(khảo sát đài truyền hình việt nam, đài truyền hình kỹ thuật số VTC và đài phát thanh truyền hình hà nội

160 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thạc Sĩ Báo Chí Học Truyền Hình Tuyên Truyền Về Phòng, Chống Ung Thư Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Báo Chí
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhiều báo cáo gần đây trên thế giới cho rằng: với một đất nước y tế chính là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của đất nước đó, bởi nhờ công tác y tế, sức khỏe của người dân sẽ được bảo vệ và chăm sóc tốt hơn. Từ đó, con người sẽ có trí tuệ và sức khỏe để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân là một yêu cầu tất yếu không thể thiếu của mỗi quốc gia. Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới trong tuyên ngôn Alm Alta năm 1978: “Sức khoẻ là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay thương tật” 42, tr.l. Theo định nghĩa này thì sức khoẻ không phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật mà còn là tình trạng thoải mái về tinh thần. Chúng ta có thể hiểu rằng đây là định nghĩa nói đến sức khoẻ của những con người cụ thể, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Công tác chăm sóc sức khoẻ là một trong những “quốc sách hàng đầu” điều này không chỉ được thừa nhận về mặt chủ trương, chính sách trong các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về công tác y tế mà đã biểu hiện cụ thể qua thái độ quan tâm sâu sắc của xã hội cũng như chính thực tiễn sôi động những năm gần đây, khi mà người dân ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của chính mình. Việc nâng cao nhận thức, giúp người dân có được cách hiểu đúng đắn về sức khoẻ, cung cấp những tri thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, cách phòng chữa bệnh để đạt được các chỉ số sức khoẻ ở mức cần có luôn luôn là vấn đề nóng bỏng nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà môi trường đất, nước, không khí đều bị ô nhiễm, khi mà các đại dịch lớn, những căn bệnh nguy hiểm của nhân loại vẫn chưa được giải quyết được triệt để. Ở Việt Nam, theo đánh giá của Bộ Y tế, bên cạnh các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng của các nước chậm phát triển thì các bệnh như: ung thư, tim mạch, tâm thần (thuộc các bệnh không lây nhiễm)... đang có nguy cơ tăng lên giống với các nước công nghiệp phát triển. Theo số liệu ghi nhận Ung thư tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, ước tính mỗi năm ở nước ta có khoảng 200.000 bệnh nhân Ung thư mới mắc và 75.000 người chết vì Ung thư, con số này có xu hướng ngày càng gia tăng. Theo tổng kết năm 2010 mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 200.000 trường hợp mới mắc và 100.000 trường hợp chết do Ung thư . Ở Việt Nam, đối với nam giới, Ung thư phổi đứng hàng đầu, đứng thứ hai là Ung thư dạ dày. Còn ở nữ giới, Ung thư vú đứng hàng đầu, tiếp đến là Ung thư cổ tử cung… Tỷ lệ mắc Ung thư vú và Ung thư cổ tử cung ở phía Bắc là 27,3100.000 dân, còn ở phía Nam là 17,1100.000 dân. Cho tới nay, bệnh Ung thư đã trở thành nguyên nhân hàng đầu đe dọa sức khỏe cộng đồng trong nhóm bệnh không lây nhiễm. Bệnh Ung thư không chỉ là nỗi đau đớn, bất lực của chính người bệnh mà còn là nỗi lo ngại cho gia đình, người thân và thiệt hại kinh tế cho quốc gia. Vấn đề phòng chống Ung thư (PCUT) luôn được coi là một trong những chiến lược ưu tiên hàng đầu của WHO. Ở các nước phát triển và một số nước khu vực Đông Nam Á như Singapore, Philippines, Thái Lan đều có chương trình Quốc gia PCUT với sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, Bộ Y tế và các Bộ, Ngành liên quan xuyên suốt từ Trung ương tới địa phương. Nhờ hoạt động tích cực trong công tác phòng, chống Ung thư mà tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do Ung thư ở các nước này đã giảm rõ rệt. Các hoạt động phòng chống Ung thư ở các nước được tiến hành bao gồm phòng bệnh, sàng lọc phát hiện sớm, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu dịch tễ học, phát triển các kỹ thuật cao, và các thử nghiệm lâm sàng... Cùng với những hoạt động đó, việc tuyên truyền về căn bệnh nan y này trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có các loại hình báo chí, đặc biệt là trên truyền hình rất được quan tâm. Còn ở Việt Nam qua khảo sát cho thấy mặc dù có nhiều nỗ lực, cùng sự cố gắng trong tìm hiểu, nghiên cứu tìm tòi đề tài cùng cách thức thể hiện nhưng việc góp phần làm thay đổi sâu sắc nhận thức của cộng đồng về vấn đề này của các chương trình truyền hình tuyên truyền về phòng chống Ung thư chưa thật sự đem lại hiệu quả cao. Số lượng khán giả trung thành với chương trình tuy ổn định (thông qua việc gửi thư tay, email, điện thoại thường xuyên đến chương trình, đa phần là người lớn tuổi), nhưng lượng khán giả trẻ và mới vẫn còn chưa nhiều. Kiến thức truyền thông trong các chương trình vẫn còn mang tính khoa giáo, chưa hấp dẫn nên việc biến những thông tin, kiến thức những nội dung tuyên truyền về phòng chống Ung thư nhằm mục đích làm thay đổi ý thức trong nội tại mỗi người xem nhiều khi chưa thật đủ “sức nặng”. Qua chương trình, phần nhiều trong số khán giả của chương trình mới chỉ xem để biết, để hiểu nhưng để biến những kiến thức trong chương trình thành thói quen trong cuộc sống như hạn chế lối sống chưa lành mạnh (hút thuốc lá, uống rượu bia, bảo vệ môi trường, ăn đúng, ăn lành mạnh...), hành động để bảo vệ sức khỏe bản thân, người thân và cộng đồng; hay biết chia sẻ, bảo vệ những người bị Ung thư, không kỳ thị, phân biệt đối xử, có những suy nghĩ không đúng về căn bệnh này ... hoặc đối với bệnh nhân Ung thư, làm sao để vượt qua khó khăn về mặt tinh thần, điều trị bệnh đúng hướng, không tin vào những trò ma thuật, đặt niềm tin sai chỗ... thì chưa thật sự có những nhận thức và chuyển biến rõ ràng và cụ thể. Vậy làm thế nào để các chương trình truyền hình tuyên truyền về phòng chống Ung thư trở nên thiết thực, phù hợp với xu thế truyền thông, phù hợp với nhu cầu của người dân trong cộng đồng và ngày càng được đông đảo công chúng đón xem. Đặc biệt, chương trình giúp công chúng thêm hiểu, thêm chia sẻ và biến thông tin, kiến thức được tuyên truyền trong chương trình thành hành vi thiết thực, hiệu quả để bảo vệ cuộc sống của nhiều người hơn trong xã hội hiện nay? Đó chính là vấn đề đặt ra rất cần sớm lời giải đáp không chỉ đối với khán giả mà cả đối với những người làm chương trình. Đây chính là khoảng trống cần nghiên cứu. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Truyền hình tuyên truyền về phòng, chống Ung thư ở Việt Nam”(Khảo sát Đài truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC và Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội, từ tháng 62014 đến tháng 62015) để nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ báo chí của mình với mong muốn góp phần giải quyết phần nào những câu hỏi nêu ra ở trên.

Trang 1

Bảng 2.1: Tần số phát sóng các chương trình truyền hình về bệnh Ung

thư trên VTV, VTC và HTV năm 2014 67Bảng 2.2: Mức độ xem chương trình truyền hình về phòng, chống ung

thư trên Đài truyền hình Việt Nam 68Bảng 2.3: Mức độ quan tâm của khán giả với các chương trình về phòng,

chống Ung thư trên truyền hình Việt Nam 70Bảng 2.4: Tỉ lệ đánh giá chất lượng chương trình truyền hình tuyên

truyền về phòng chống Ung thư (đơn vị %) 76Bảng 2.6: Tần suất thường xuyên theo dõi chương trình về phòng, chống

Ung thư phát trên VTV, VTC, HTV 84

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phát sóng chương trình liên quan đến ung thư trên

truyền hình 46Biểu đồ 2.2: So sánh tỷ lệ tuyên truyền về các chủ trương, chính sách

của Đảng, các văn bản của nhà nước trong phòng, chống ung

thư ở 3 Đài truyền hình khảo sát 52Biểu đồ 2.3: So sánh tỷ lệ tuyên truyền về các dấu hiệu, các yếu tố nguy

cơ của bệnh ung thư ở 3 đài truyền hình khảo sát 54

Sơ đồ 2.1: Quy trình chung trong sản xuất các chương trình truyền hình

về phòng chống ung thư trong các chương trình khảo sát 92

Trang 2

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG TUYÊN TRUYỀN VỀ

PHÒNG, CHỐNG UNG THƯ TRÊN TRUYỀN HÌNH 15

1.1 Một số khái niệm 151.2 Vai trò của truyền hình trong tuyên truyền về phòng, chống Ung thư

22

1.3 Nội dung tuyên truyền phòng, chống Ung thư trên truyền hình 241.4 Thế mạnh và hạn chế của truyền hình trong tuyên truyền về phòng,

chống Ung thư 28

Chương 2: tHỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ PHÒNG,

CHỐNG UNG THƯ TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY 41

2.1 Khái quát về các đài truyền hình và các chương trình truyền hình

khảo sát 412.2 Khảo sát thực trạng tuyên truyền phòng, chống ung thư trên truyền

hình ở Việt Nam hiện nay 462.3 Đánh giá chung 67

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN

TRUYỀN VỀ PHÒNG, CHỐNG UNG THƯ TRÊN

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiều báo cáo gần đây trên thế giới cho rằng: với một đất nước y tếchính là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của đất nước đó, bởinhờ công tác y tế, sức khỏe của người dân sẽ được bảo vệ và chăm sóc tốthơn Từ đó, con người sẽ có trí tuệ và sức khỏe để xây dựng, phát triển và bảo

vệ đất nước Chính vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân

là một yêu cầu tất yếu không thể thiếu của mỗi quốc gia

Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới trong tuyên ngôn Alm Alta

năm 1978: “Sức khoẻ là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh

thần, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay thương tật”

[42, tr.l] Theo định nghĩa này thì sức khoẻ không phải chỉ là tình trạng không

có bệnh tật mà còn là tình trạng thoải mái về tinh thần Chúng ta có thể hiểurằng đây là định nghĩa nói đến sức khoẻ của những con người cụ thể, trongmột giai đoạn lịch sử cụ thể

Công tác chăm sóc sức khoẻ là một trong những “quốc sách hàng điều này không chỉ được thừa nhận về mặt chủ trương, chính sách trong cácquan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về công tác y tế mà đã biểu hiện cụthể qua thái độ quan tâm sâu sắc của xã hội cũng như chính thực tiễn sôi độngnhững năm gần đây, khi mà người dân ngày càng quan tâm đến sức khoẻ củachính mình Việc nâng cao nhận thức, giúp người dân có được cách hiểu đúngđắn về sức khoẻ, cung cấp những tri thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sứckhoẻ, cách phòng chữa bệnh để đạt được các chỉ số sức khoẻ ở mức cần cóluôn luôn là vấn đề nóng bỏng nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà môi

Trang 5

đầu”-trường đất, nước, không khí đều bị ô nhiễm, khi mà các đại dịch lớn, nhữngcăn bệnh nguy hiểm của nhân loại vẫn chưa được giải quyết được triệt để.

Ở Việt Nam, theo đánh giá của Bộ Y tế, bên cạnh các bệnh nhiễmtrùng, suy dinh dưỡng của các nước chậm phát triển thì các bệnh như: ungthư, tim mạch, tâm thần (thuộc các bệnh không lây nhiễm) đang có nguy cơtăng lên giống với các nước công nghiệp phát triển Theo số liệu ghi nhậnUng thư tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, ước tính mỗi năm ởnước ta có khoảng 200.000 bệnh nhân Ung thư mới mắc và 75.000 người chết

vì Ung thư, con số này có xu hướng ngày càng gia tăng Theo tổng kết năm

2010 mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 200.000 trường hợp mới mắc và100.000 trường hợp chết do Ung thư Ở Việt Nam, đối với nam giới, Ung thưphổi đứng hàng đầu, đứng thứ hai là Ung thư dạ dày Còn ở nữ giới, Ung thư

vú đứng hàng đầu, tiếp đến là Ung thư cổ tử cung… Tỷ lệ mắc Ung thư vú vàUng thư cổ tử cung ở phía Bắc là 27,3/100.000 dân, còn ở phía Nam là17,1/100.000 dân

Cho tới nay, bệnh Ung thư đã trở thành nguyên nhân hàng đầu đe dọasức khỏe cộng đồng trong nhóm bệnh không lây nhiễm Bệnh Ung thư khôngchỉ là nỗi đau đớn, bất lực của chính người bệnh mà còn là nỗi lo ngại cho giađình, người thân và thiệt hại kinh tế cho quốc gia

Vấn đề phòng chống Ung thư (PCUT) luôn được coi là một trongnhững chiến lược ưu tiên hàng đầu của WHO Ở các nước phát triển và một

số nước khu vực Đông Nam Á như Singapore, Philippines, Thái Lan đều cóchương trình Quốc gia PCUT với sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, Bộ Y tế

và các Bộ, Ngành liên quan xuyên suốt từ Trung ương tới địa phương Nhờhoạt động tích cực trong công tác phòng, chống Ung thư mà tỷ lệ mắc và tỷ lệ

tử vong do Ung thư ở các nước này đã giảm rõ rệt Các hoạt động phòng

Trang 6

chống Ung thư ở các nước được tiến hành bao gồm phòng bệnh, sàng lọc pháthiện sớm, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu dịch tễ học,phát triển các kỹ thuật cao, và các thử nghiệm lâm sàng Cùng với nhữnghoạt động đó, việc tuyên truyền về căn bệnh nan y này trên các phương tiệntruyền thông đại chúng, trong đó có các loại hình báo chí, đặc biệt là trêntruyền hình rất được quan tâm

Còn ở Việt Nam qua khảo sát cho thấy mặc dù có nhiều nỗ lực, cùng sự

cố gắng trong tìm hiểu, nghiên cứu tìm tòi đề tài cùng cách thức thể hiệnnhưng việc góp phần làm thay đổi sâu sắc nhận thức của cộng đồng về vấn đềnày của các chương trình truyền hình tuyên truyền về phòng chống Ung thưchưa thật sự đem lại hiệu quả cao Số lượng khán giả trung thành với chươngtrình tuy ổn định (thông qua việc gửi thư tay, email, điện thoại thường xuyênđến chương trình, đa phần là người lớn tuổi), nhưng lượng khán giả trẻ vàmới vẫn còn chưa nhiều Kiến thức truyền thông trong các chương trình vẫncòn mang tính khoa giáo, chưa hấp dẫn nên việc biến những thông tin, kiếnthức - những nội dung tuyên truyền về phòng chống Ung thư nhằm mục đíchlàm thay đổi ý thức trong nội tại mỗi người xem nhiều khi chưa thật đủ “sứcnặng” Qua chương trình, phần nhiều trong số khán giả của chương trình mớichỉ xem để biết, để hiểu nhưng để biến những kiến thức trong chương trìnhthành thói quen trong cuộc sống như hạn chế lối sống chưa lành mạnh (hútthuốc lá, uống rượu bia, bảo vệ môi trường, ăn đúng, ăn lành mạnh ), hànhđộng để bảo vệ sức khỏe bản thân, người thân và cộng đồng; hay biết chia sẻ,bảo vệ những người bị Ung thư, không kỳ thị, phân biệt đối xử, có những suynghĩ không đúng về căn bệnh này hoặc đối với bệnh nhân Ung thư, làm sao

để vượt qua khó khăn về mặt tinh thần, điều trị bệnh đúng hướng, không tinvào những trò ma thuật, đặt niềm tin sai chỗ thì chưa thật sự có những nhậnthức và chuyển biến rõ ràng và cụ thể

Trang 7

Vậy làm thế nào để các chương trình truyền hình tuyên truyền vềphòng chống Ung thư trở nên thiết thực, phù hợp với xu thế truyền thông, phùhợp với nhu cầu của người dân trong cộng đồng và ngày càng được đông đảocông chúng đón xem Đặc biệt, chương trình giúp công chúng thêm hiểu,thêm chia sẻ và biến thông tin, kiến thức được tuyên truyền trong chươngtrình thành hành vi thiết thực, hiệu quả để bảo vệ cuộc sống của nhiều ngườihơn trong xã hội hiện nay? Đó chính là vấn đề đặt ra rất cần sớm lời giải đápkhông chỉ đối với khán giả mà cả đối với những người làm chương trình Đâychính là khoảng trống cần nghiên cứu Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài:

“Truyền hình tuyên truyền về phòng, chống Ung thư ở Việt Nam”(Khảo sát

Đài truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC và Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015) để nghiên

cứu cho luận văn Thạc sỹ báo chí của mình với mong muốn góp phần giảiquyết phần nào những câu hỏi nêu ra ở trên

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu khảo sát vấn đề liên quan đến tuyên truyền về Ung thư trêncác phương tiện truyền thông nói chung và báo chí nói riêng một cách chuyênsâu và bài bản còn ít tài liệu vì truyền thông về bệnh Ung thư là vấn đề khó vìđây là một chuyên ngành hẹp mang tính khoa học cao nên phần nhiều các đềtài tập trung vào những vấn đề khái quát liên quan đến y khoa nói chung vàUng thư chỉ là một phần rất nhỏ bé được nhắc tới trong đề tài đó mà thôi Cóthể kể ra một số đề tài như sau:

 Nhóm các luận văn, luận án

- Bùi Thị Hạnh (2001), “Báo Sức khoẻ và Đời sống với công tác chăm

sóc sức khoẻ nhân dân”, Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 42, Khoa báo chí

và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Ở đề tài nghiên cứu này, tác giả Bùi Thị Hạnh chỉ giới hạn nghiên cứu

Trang 8

trong phạm vi báo Sức khỏe & Đời sống mà chưa có sự mở rộng so sánh giữabáo này với các báo chí khác nói chung, báo chí ngành y tế nói riêng, nhất làbáo truyền hình trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Và đặc biệt, vấn

đề truyền thông về phòng chống Ung thư chưa được đề cập nhiều

- Trần Xuân Thân (2003), Đề tài “Báo chí với chủ đề chăm sóc sức

khoẻ sinh sản”, luận văn tốt nghiệp Đại học, khóa 43, Khoa Báo chí và

Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Đề tài nghiên cứu này mang tính chất chuyên biệt, chỉ tập trung giớihạn chuyên sâu nghiên cứu về chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, dunglượng để khảo sát phân tích về truyền thông về phòng, chống Ung thư hầunhư rất hiếm

- Đỗ Võ Tuấn Dũng (2004), “Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các

phương tiện thông tin đại chúng”, luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành

Báo chí, Khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đề tài này cũng đề cập đến thông tin sức khỏe nhưng mang tính chấtkhái quát do đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát quá rộng Vấn đềtruyền thông về phòng chống Ung thư trên báo chí nói chung và trên truyềnhình nói riêng chưa được đề cập thỏa đáng

- Nguyễn Việt Tiến (2006), “Giáo dục sức khỏe trên sóng truyền hình

Việt Nam” (khảo sát chuyên mục Sức khỏe cho mọi người phát sóng trên

kênh VTV2), Luận văn Cao học, Học viện Báo chí & Tuyên truyền

Luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu về những đặc tính, đặc thù nghiệp

vụ trong quá trình thực hiện; nghiên cứu, đánh giá những thành công vànhững hạn chế trong việc thực hiện các chương trình giáo dục sức khỏe trênsóng truyền hình Đây là một nghiên cứu chỉ dành riêng cho một loại hình báochí duy nhất - báo chí truyền hình thông qua việc khảo sát các chương trình

có nội dung GDSK trên sóng truyền hình Việt Nam Tuy nhiên, dung lượng

Trang 9

khảo sát và nghiên cứu về cách thức thông tin về phòng, chống Ung thư trênloại hình này hầu như rất ít

- Nguyễn Thị Kim Liên (2006), “Đánh giá thực trạng và hiệu quả một

số giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe trẻ em tại tuyến y tế cơ sở”, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y

Hà Nội

Nội dung luận án này đã trình bày tổng quan về các yếu tố, mô hình,vai trò, phương pháp ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao hoạt động truyềnthông giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe trẻ em; nghiên cứu về thựctrạng, kiến thức, thái độ thực hành hoạt động của giáo dục sức khỏe ở tuyến y

tế cơ sở và các vấn đề can thiệp, thực hiện can thiệp Đây là một nghiên cứu

có tính chuyên ngành, chủ yếu là nghiên cứu hoạt động truyền thông của cán

bộ truyền thông GDSK ở tuyến y tế cơ sở, việc khảo sát các loại hình báo chíchưa được đề cập

- Bùi Thị Thu Thủy (2010),“Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam

(Khảo sát Báo Sức khỏe đời sống và kênh O2TV)”, Luận văn Thạc sĩ chuyên

ngành Báo chí học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Luận văn đã tiến hành khảo sát trên báo Sức khoẻ và Đời sống và kênhO2TV về nội dung và hình thức thể hiện thông tin sức khoẻ trên 2 phươngtiện truyền thông là báo in và truyền hình và nêu một số giải pháp để nâng caohiệu quả của thông tin sức khoẻ trên báo chí Tác giả luận văn đã đưa ra một

số giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin sức khoẻ trên báo chí như giảipháp với các cấp quản lí, giải pháp về đào tạo nhân lực… để góp phần nângcao chất lượng truyền thông về sức khỏe trên báo chí nói chung và 2 tờ báokhảo sát nói riêng Tuy nhiên, đây là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rấtrộng từ đối tượng nghiên cứu đến phạm vi nghiên cứu nên dung lượng để bàn

Trang 10

sâu về việc truyền thông về công tác phòng chống Ung thư trên truyền hìnhhầu như rất hiếm

- Vũ Thị Ngọc Thu (2011),“Vấn đề công chúng truyền thông chuyên biệt”(Khảo sát công chúng Hà Nội của 3 kênh Info TV, O2TV, VOV giao

thông,) Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn Hà Nội

Nội dung luận văn này khẳng định thế mạnh của kênh truyền thôngchuyên biệt dựa theo nhu cầu, sở thích, nghề nghiệp của từng công chúng.Kênh truyền thông chuyên biệt đóng vai trò như bậc thang phát triển kế cậncủa truyền thông đại chúng, thoả mãn yêu cầu: thông tin muốn biết Và chínhnhững thông tin muốn biết ấy sẽ giúp cá nhân trở thành “thủ lĩnh ý kiến”trong lĩnh vực thông tin mà họ quan tâm Mặc dù đề tài có khảo sát kênhO2TV nhưng do công trình lại có hướng nghiên cứu về công chúng nên vấn

đề y tế nói chung và phòng chống Ung thư nói riêng gần như chỉ mới chỉ lướtqua với một số dòng phân tích

- Vũ Thị Hưởng (2011), “Báo chí với việc thông tin, giáo dục sức khỏe

sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên”- khóa luận tốt nghiệp Đại học khóa 52,

Khoa Báo chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn Hà Nội

Ở đề tài này, tác giả Vũ Thị Hưởng chỉ tập trung nghiên cứu chuyênsâu về việc thông tin, giáo dục sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên.Đây là một đề tài có hướng nghiên cứu chủ đề chuyên sâu chỉ đề cập đến mộtnội dung nhỏ trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhândân; vấn đề phòng, chống Ung thư chưa được đề cập tới

- Bùi Thị Thu Thủy (2011): “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam

hiện nay: vấn đề và thảo luận”, luận văn tốt nghiệp Cao học báo chí, Khoa Báo

chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Trang 11

Có thể nói trong số các đề tài nghiên cứu về thông tin, truyền thông liênquan đến lĩnh vực y tế - sức khỏe thì đề tài nghiên cứu của tác giả Bùi ThịThu Thủy mang tính chuyên sâu hơn so với các đề tài trước đó Đây là đề tàiđược nâng cấp từ đề tài bậc đại học lên Ở đề tài này, tác giả nghiên cứu vấn

đề thông tin sức khỏe theo hướng chuyên biệt khi chọn đối tượng khảo sát làbáo Sức khỏe & Đời sống và Kênh truyền hình chuyên về sức khỏe - kênh02TV, tuy nhiên cũng giống như nhiều công trình khảo sát ở trên do đốitượng nghiên cứu rộng vì vậy vấn đề thông tin về phòng chống Ung thư được

đề cập tới rất ít

- Nguyễn Thị Thanh Hòa (2013) “Thông tin y tế sức khỏe trên báo chí

hiện nay”, luận văn tốt nghiệp Cao học báo chí năm 2013, Khoa Báo chí và

Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Ở đề tài này, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa đã bước đầu đưa ra nhữngdiện mạo chung về báo chí phản ánh thông tin liên quan đến sức khỏe Tuynhiên, phần khảo sát của luận văn vẫn chưa nhiều thông tin vì luận văn chọn 2

tờ báo ngành để khảo sát (tờ Sức khỏe & Đời sống, tờ Khoa học & Đời sống)

và mặt khác những phân tích về truyền hình trong công tác này chưa được đềcập tới

* Nhóm đề tài khoa học, giáo trình

Nghiên cứu đã đánh giá kết quả hoạt động truyền thông phòng chốngung thư thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ung thư giai đoạn

2008 - 2010 Kết quả cho thấy 16 khoa ung bướu được thành lập và xây dựngđược mạng lưới phòng chống Ung thư ở Việt Nam Công trình thống kê vàchỉ ra được rằng dự án đã biên soạn được nhiều tài liệu truyền thông, với cáchình thức truyền thông đa dạng: tờ rơi (15 loại tờ rơi với mỗi loại 10000 -

20000 tờ/năm), chương trình truyền hình phát ở truyền hình trung ương và địaphương, đặc biệt dự án đã kết hợp với kênh truyền hình sức khỏe O2TV thực

Trang 12

hiện các chương trình truyền thông trên kênh Năm 2008, dự án Phòng chốngUng thư Quốc gia được triển khai với hai mục tiêu chính là từng bước giảm tỷ

lệ mắc, tỷ lệ chết do bệnh ung thư và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnhnhân ung thư ở Việt Nam… Tuy nhiên, do đây là một đề tài lớn nên việcnghiên cứu dừng lại ở sự khái quát, chưa dành dung lượng thỏa đáng đểnghiên cứu về loại hình truyền hình trong việc truyền thông về phòng chốngUng thư

- “Nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại

các tỉnh miền núi phía Bắc” - Trung tâm Truyền thông GDSK (2002)

Đây là một đề tài mang tính chuyên ngành có đề cập đến vai trò củatruyền thông đại chúng trong đó có nghiên cứu các thông điệp, phóng sựtruyền hình, tờ rơi, áp phích với hiệu quả giáo dục sức khỏe nói chung, màchưa dành dung lượng thỏa đáng để nghiên cứu về công tác phòng chống Ungthư – một căn bệnh nan y hiện nay

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác có liên quan như:

Đỗ Nguyên Phương (1996), “Phát triển sự nghiệp y tế nước ta trong giai

đoạn hiện nay”, Nxb Y học; BS Đặng Thanh Hùng và CN Ngô Gia Trường,

“Sự cần thiết của truyền thông giáo dục sức khỏe trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân”, Trung tâm Truyền thông GDSK Trà Vinh… Các công

trình này vẫn ở trong tình trạng của đa số các công trình khoa học đề cập tớiphía trên, đó là đề tài quá rộng và chung chung, dung lượng khảo sát về cănbệnh nan y trên thế giới – bệnh Ung thư còn rất khiêm tốn

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến một sốkhía cạnh của bệnh Ung thư và cách thức phòng, chống bệnh Ung thư (kháiniệm, công tác quản lý, chỉ đạo thông tin hoạt động phòng chống Ung thư );thực trạng thông tin tuyên truyền chăm sóc sức khỏe nói chung, ung thư nóiriêng… Tuy nhiên, phần nhiều thiên về học thuật, chuyên sâu về ngành y, gần

Trang 13

như chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể, bài bản thông tin về phòngchống Ung thư trên loại hình truyền hình Trong khi loại hình truyền hình vớirất nhiều những thế mạnh sẵn có là một phương tiện có khả năng thông tinhữu hiệu và không thể thiếu trong chuyển tải các kiến thức về việc phòngchống Ung thư hiện nay.

Đó chính là khoảng trống về cả mặt lý luận và thực tiễn cần tiếp tục

được nghiên cứu sâu.Vì vậy, tôi chọn đề tài “Truyền hình tuyên truyền về

phòng, chống Ung thư ở Việt Nam” (Khảo sát Đài truyền hình Việt Nam, Đài

truyền hình kỹ thuật số VTC và Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, từtháng 6/2014 đến tháng 6/2015) để nghiên cứu, với mong muốn có một sựđóng góp phù hợp trong quá trình tuyên truyền phòng chống Ung thư sao chochất lượng, hiệu quả trên truyền hình.Trong luận văn, tôi sẽ kế thừa những ýtưởng khai phá của những nhà nghiên cứu đi trước và coi đó là tiền đề lý luận

và thực tiễn để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn vấn đề tuyên truyềnphòng, chống Ung thư trong một số chương trình truyền hình của một số đàitruyền hình tiêu biểu, luận văn chỉ ra thực trạng, ưu điểm và những hạn chếtrong công tác tuyên truyền về vấn đề này trên truyền hình hiện nay;từ đó đềxuất các giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả củatruyền hình trong việc tuyên truyền phòng, chống Ung thư trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Một là, làm rõ những vấn đề lý luận trong tuyên truyền về phòng,

chống Ung thư trên truyền hình

Trang 14

- Hai là, phân tích làm rõ vai trò, những thế mạnh, hạn chế của truyền

hình trong việc tuyên truyền về phòng, chống Ung thư

- Ba là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng, thành

công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế của các chương trình truyềnhình về phòng, chống Ung thư hiện nay

- Bốn là, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng

hiệu quả chương trình truyền hình tuyên truyền về phòng, chống Ung thư trêntruyền hình trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tuyên truyền về phòng, chống ungthư trên truyền hình

4.2 Đối tượng khảo sát

- Luận văn tập trung vào khảo sát một số chương trình của các đài sau:

+ Đài truyền hình Việt Nam: chương trình “Sống khỏe mỗi ngày” (VTV2), “Giờ chiến thắng ung thư” (O2TV);

+ Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội: chương trình “Lắng nghe cơ

thể bạn”;

+ Đài truyền hình kỹ thuật số VTC: “Cuộc chiến ung thư” (VTC14)

Đây là những chương trình tiêu biểu, ra đời sớm và đã có thời giantuyên truyền lâu dài và đạt nhiều hiệu quả trong thời gian qua ở Việt Nam

- Các nhà báo, các nhà lãnh đạo quản lý, phóng viên của các chươngtrình khảo sát

- Khán giả truyền hình - công chúng mục tiêu của kênh truyền hình

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào khảo sát các chương trình nêu trên trong vòng 1năm từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015

Trang 15

Do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn chỉ tập trungnghiên cứu ở địa bàn Hà Nội và Vĩnh Phúc.

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là các quanđiểm của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng,Nhà nước và các chủ trương, định hướng về công tác báo chí, y tế, chăm sócsức khỏe cộng đồng ; một số lý thuyết về báo chí truyền hình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phương pháp này được sử dụng thu thập, đọc các tài liệu liên quan đến

đề tài nghiên cứu nhằm khái quát, hệ thống hóa, bổ sung mặt lý thuyết vềtruyền hình nói chung, tuyên truyền về phòng chống ung thư trên truyền hìnhnói riêng Đây chính là những lý thuyết cơ sở phân tích, đánh giá các kết quảkhảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê:

Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định tần số xuất hiện; mức

độ, nội dung tuyên truyền; chất lượng, hiệu quả những chương trình có nộidung tuyên truyền về phòng chống ung thư trên một số kênh của VTV, VTC

và HTV Phương pháp này được dựa chủ yếu vào việc tác giả phải lưu giữ,xem lại các chương trình liên quan đến vấn đề khảo sát từ tháng 6/2014 đếntháng 6/2015

- Phương pháp phân tích nội dung:

Trang 16

Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, khảo sát việc thông tin

và đáp ứng nhu cầu hiểu biết, phòng, chữa bệnh của công chúng về ung thưtrên truyền hình hiện nay

Trang 17

- Phương pháp điều tra xã hội học:

Phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng tuyên truyền và tiếp nhậnthông tin về vấn đề ung thư trên truyền hình ở Việt Nam hiện nay Trong quátrình khảo sát đối với việc truyền hình tuyên truyền phòng, chống ung thư ởViệt Nam hiện nay, tác giả luận văn đã gửi phiếu xin ý kiến 300 người dân

Số phiếu thu về được là 238 phiếu Trong đó, nam là 117 người chiếm tỷ lệ49.2%; nữ 121 người chiếm tỷ lệ 50.8% Diện khảo sát nhằm đánh giá đượcthực trạng tần xuất tuyên truyền về phòng chống ung thư ở Việt Nam hiện naytrên sóng truyền hình tác giả đã chọn lựa khảo sát ở vùng nông thôn VĩnhPhúc là 100 người chiếm tỷ lệ 42.0%; đối với các quận nội thành Hà Nội là

138 người chiếm tỷ lệ 58.0%

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phương pháp này được thực hiện với một số lãnh đạo Đài truyền hình,kênh truyền hình , phóng viên, chuyên gia, khách mời của các đài truyền hìnhkhảo sát nhằm thu thập ý kiến đánh giá của cá nhân xung quanh vấn đềnghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn tập trung hệ thống hoá và phân tích cụ thể vai trò, thực trạng,giải pháp cho truyền hình trong việc tuyên truyền về phòng, chống Ung thưhiện nay trên cơ sở khảo sát trên diện rộng những chương trình của 03 đàitruyền hình tiêu biểu ở Việt Nam là VTV, VTC và HTV Kết quả nghiên cứu

hy vọng góp phần bổ sung vào lý thuyết truyền thông tuyên truyền về y tế nóichung và công tác phòng chống Ung thư nói riêng là Đề tài có thể làm tài liệutham khảo cho hoạt động nghiên cứu, cho các đơn vị truyền thông và cơ sởđào tạo báo chí, thông qua việc đưa ra những phân tích về thực trạng và giảipháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền trên sóng truyềnhình về vấn đề phòng, chống Ung thư cho cộng đồng

Trang 18

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cho thấy một cách nhìn cụ thể, bản chấthơn, chỉ ra sự cần thiết của truyền hình trong việc tuyên truyền trong xã hộigóp phần phòng, chống Ung thư - một vấn đề cấp thiết liên quan trực tiếp đếnsức khỏe của cộng đồng hiện nay Từ đó gợi ý giúp các nhà quản lý đưa rađược những cách thức để có thể sản xuất được những chương trình truyềnhình có nội dung thiết thực, thu hút được ngày càng nhiều sự quan tâm củacông chúng và hơn nữa những chương trình đó phải góp phần quan trọngtrong việc giúp nhân dân thay đổi cách nghĩ, cách sống để làm sao ngày càngđẩy lùi căn bệnh Ung thư- một căn bệnh hiểm nghèo trong xã hội

Đề tài cũng là có thể là tài liệu tham khảo cho những người quan tâmđến việc tuyên truyền về vấn đề này trên truyền hình nói riêng và các loạihình báo chí nói chung

Với bản thân tác giả, quá trình hoàn thành công trình nghiên cứu này là

sự vận dụng hệ thống lý luận đã được tiếp thu trong cả khóa học để nghiêncứu một vấn đề cụ thể Đó cũng là quá trình tự hoàn thiện thêm về phươngdiện lý thuyết, và các vấn đề thực tiễn từ đó tạo cơ sở cho hoạt động báo chísau này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính văn của luận văn gồm 3 chương, với 10 tiết :

Chương 1: Một số lý luận và thực tiễn về tuyên truyền phòng, chống ung thư trên truyền hình

Chương 2: Thực trạng tuyên truyền về phòng, chống ung thư trên truyền hình ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền

về phòng, chống ung thư trên trên truyền hình

Trang 19

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG TUYÊN TRUYỀN

VỀ PHÒNG, CHỐNG UNG THƯ TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Ung thư

Theo Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, giáo sư đầu ngành trong cả

nước về bệnh ung thư trong lời tự cuốn sách “Ung thư biết sớm trị lành” của tác giả có nêu: “Ung thư là một nhóm bệnh gồm trên 100 loại có chung đặc

tính cơ bản quan trọng Ung thư bắt nguồn từ nơi sâu thẳm của sự sống: ADN bị hư hạn là do tiếp xúc với cái gì đó trong môi trường sống, thí dụ như khói thuốc lá, các virut, ánh nắng Ung thư nào cũng do sự tăng trưởng quá

đà, sinh sôi vô tổ chức cả các tế bào bất thường Hàng tỉ tế bào này tích tụ thành khối bướu (khối u), đè nén, xâm lấn và phá hủy các vùng mô bình thường lân cận Thật kỳ lạ, các tế bào ưng thư di động được, lang thang đây

đó, lần lần nắm quyền chủ động, rồi tàn hại cơ thể cho đến sụm luôn” [36, tr

9] Theo cách quan niệm như vậy thì, Ung thư là một nhóm các bệnh liênquan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó cókhả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lâncận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn) Đây là quan niệm được đưa ra dướigóc nhìn về nghiệp vụ y tế, và cho rằng: ung thư là do lỗi gen – AND bị hỏng

Cùng quan điểm như trên, PGS TS Nguyễn Bá Đức, Trưởng bộ mônUng thư Trường Đại học Y Hà Nội, Giám đốc bệnh viện K cũng cho rằng:

“Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, trong đó các tế bào bị biến đổi, tăng

sinh vô hạn không chịu sự kiểm soát của cơ thể” [23, tr 9] Quan niệm này đã

chỉ rõ hơn nguyên do của căn bệnh Ung thư là do hệ thống điều khiển sựnhân lên của tế bào bị hỏng Tế bào lạ sẽ nhân lên như không có kế hoạch hóa

Trang 20

gia đình làm dân số tăng lên Nếu hệ thống điều khiển sự chuyên biệt hóa của

tế bào và hệ thống sửa chữa những sai lạc bị hỏng sẽ sinh ra những tế bàoquái lạ, không có những chức năng cần thiết và có thể gây hại cho cơ thể Haihiện tượng sai lạc này tựa như không có giáo dục hay giáo dục sai lạc, conngười trở thành vô giá trị hoặc thành những kẻ phá hoại trong xã hội

TS.BS Nguyễn Thanh Đạm, Tổng thư ký Hội phòng chống Ung thư

Việt Nam cũng cho rằng: “Ung thư là một nhóm bệnh bắt đầu từ những tế

bào - đơn vị cơ bản của cơ thể sống Để hiểu về bệnh ung thư chúng ta nên xem xét điều gì xẩy ra khi các tế bào bình thường trở thành tê bào ung thư.

Cơ thể chúng ta được cấu tạo từ nhiều loại tế bào Thông thường tế bào sinh trưởng và phân chia để tạo ra tế bào mới chỉ khi cơ thể cần chúng Quá trình này diễn ra một cách tuần tự giúp cơ thể khỏe mạnh Tuy nhiên thỉnh thoảng tế bào cứ tiếp tục phân chia khi cơ thể không cần những tế bào mới Những tế bào mọc thêm này hình thành một khối mô, được gọi là khối u Các khối u này có thể được gọi là khối u lành hoặc khối u ác tính” [23, tr

11] Về cơ bản cũng giống như các quan niệm của các nhà khoa học nêu trênkhi đưa ra khái niệm về Ung thư, TS.BS Nguyễn Thanh Đạm còn chỉ ra lịch

sử, sự xuất hiện và quá trình phát sinh phát triển của nhóm bệnh Ung thư,đây là cơ sở giúp các nhà khoa học tìm ra những cách thức điều trị, ngănngừa bệnh này hiệu quả

Như vậy, có khá nhiều quan niệm về Ung thư Mặc dù có những cáchdiễn giải khác nhau về căn bệnh này nhưng nhìn chung đều khẳng định đây làcăn bệnh nguy hiểm Các quan niệm đều cho rằng, ung thư là một loại bệnhliên quan đến sự phát triển của tế bào Ung thư là sự sai hỏng của ADN, tạonên các đột biến ở các gen thiết yếu điều khiển quá trình phân bào cũng nhưcác cơ chế quan trọng khác Một hoặc nhiều đột biến được tích lũy lại sẽ gây

ra sự tăng sinh không kiểm soát và tạo thành khối u Khối u là một khối mô

Trang 21

bất thường, có thể ác tính, tức ung thư hoặc lành tính, tức không ung thư Chỉnhững khối u ác tính thì mới xâm lấn mô khác và di căn Ung thư có thể gây

ra nhiều triệu chứng khác nhau phụ thuộc vào vị trí, đặc điểm và khả năng dicăn của khối u Chẩn đoán xác định ung thư thường đòi hỏi phải sinh thiết rồiquan sát trên kính hiển vi Người bị ung thư có thể được chữa trị bằng phẫuthuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu Nếu không được chữa trị sớm, hầu hết cácloại ung thư có thể gây tử vong, đây là một trong những nguyên nhân gây tửvong chính trong những nước phát triển Hầu hết các bệnh ung thư có thểchữa trị và nhiều bệnh có thể chữa lành, nếu được phát hiện và điều trị sớm

Từ các cách quan niệm về “Ung thư” của các bác sĩ đầu ngành nhưnêu trên, tác giả luận văn tổng hợp, biên tập và kết hợp với thực tiễn xin đưa

ra một quan niệm như sau: “Ung thư là quá trình bị lỗi một số gen tế bào bị

tổn thương và phát triển thành các khối u Khi các khối u phát triển, các khối u phát triển thành hai chiều hướng, U lành tính và U ác tính Ung thư

Cũng trong cuốn từ điển nêu trên tác giả Lê Thị Huyền đã đưa ra quan

niệm về “chống” “Chống là làm cho khỏi bị sụp đổ, bị xâm hại, bị lấn chiếm,

bị tổn thương” [37, tr210].

Như vậy, hành động “phòng” và “chống” là hai hoạt động có chủ đíchcủa con người “Phòng” là hành động diễn ra trước nhằm để tránh, giảm thiểumột hậu quả không tốt nào đó có thể đem lại cho cuộc sống hay một côngviệc nào đó Còn “chống” có thể hiểu mức độ và diện rộng hơn, nghĩa là một

Trang 22

điều không tốt đã xảy ra hoặc đang đe dọa nghiêm trọng tới cuộc sống haymột hoạt động nào đó, khiến cho cuộc sống hay hoạt động đó bị đe dọa có thểdiễn biến xấu, vậy nên “chống” là tìm cách góp phần giảm thiểu những thiệthại cho hoạt động đó hoặc cho nó được bảo vệ, hạn chế bị ảnh hưởng hoặcgiảm thiểu mức ảnh hưởng.

- Phòng, chống Ung thư

Từ các quan niệm và cách phân tích nêu trên về các thuật ngữ “phòng”,

“chống”, “ung thư” tác giả xin đưa ra khái niệm “phòng, chống Ung thư” theogóc nhìn của mình để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tiếp sau như sau:

“Phòng, chống ung thư là việc ngăn chặn, phòng tránh, chống lại sự phát triển, xâm lấn của khối u ác tính trong cơ thể con người”.

Với quan niệm như vậy cho thấy “phòng, chống Ung thư” đây là hai

công việc song hành đó là việc đề phòng sao cho không bị mắc Ung thư vàviệc đối mặt để hạn chế “chống chọi” nhằm giảm thiểu tới mức tối đa nhữngrủi ro, thiệt hại khi đã bị mắc Ung thư

Công việc này chỉ hiệu quả, có giá trị khi con người hiểu biết và thật sựtrân quý sự sống của bản thân mình và những người thân xung quanh

theo nghĩa hẹp đã tương đối cụ thể so với quan niệm tuyên truyền theo nghĩarộng Tuyên truyền ở đây chính là truyền bá những quan điểm, tư tưởng về

Trang 23

một vấn đề cụ thể nhằm mục đích hình thành ở đối tượng được tiếp nhậnnhững quan điểm đó một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhấtđịnh và cổ vũ tính tích cực cho vấn đề được tuyên truyền.

“Tuyên truyền” (tiếng Latinh propagare có nghĩa là “phổ biến”) - đó làhoạt động phổ biến những tư tưởng nền tảng, được dùng làm cơ sở cho ý thứcquần chúng, nghĩa là hoạt động nhằm khẳng định một thế giới quan nhất định,một vũ trụ quan, một ý thức lịch sử nhất định trong ý thức quần chúng Hay

cụ thể hơn, người ta còn đưa ra thuật ngữ “tuyên truyền” ở góc độ, đó là mọihình thức hoạt động thông tin, mọi sự phổ biến mọi tri thức, mọi quan niệm

và quan điểm (tuyên truyền các kiến thức khoa học, kinh nghiệm tiên tiến,tuyên truyền lối sống lành mạnh )

Người ta còn sử dụng thuật ngữ “tuyên truyền” để chỉ mọi hình thứchoạt động tư tưởng, chính trị - đại chúng Tuy nhiên, thuật ngữ này có tính haimặt, phụ thuộc vào đối tượng thực hiện việc tuyên truyền Nghĩa là tuyêntruyền nhằm mục đích tạo nên tư tưởng, ý thức xã hội tích cực Nhưng cũng

có những đối tượng không tốt trong xã hội sử dụng ý nghĩa, sức mạng củahoạt động tuyên truyền để phổ biến, hình thành những ý thức, nhận thức tiêucực trong người tiếp nhận Hoạt động tuyên truyền chỉ có giá trị tích cực khihình thành nên những ý thức quần chúng tích cực dựa trên những giá trị cănbản của cuộc sống

Bên cạnh những quan niệm nêu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Hồ

Chí minh toàn tập”, tập 5, trang162 cho rằng: “Tuyên truyền là đem một việc

gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” Khái niệm này rất giản dị nhưng dễ hiểu.

Theo Bác, người làm công tác tuyên truyền cần xác định rõ ràng nội dung, đốitượng, mục đích và phương pháp: Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai?Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Việc nắm vững đối

Trang 24

tượng được tuyên truyền rất quan trọng vì tùy theo từng đối tượng, trình độ

mà chọn phương pháp tuyên truyền, mỗi đối tượng có một cách tuyên truyềnkhác nhau Chỉ khi nắm được những câu hỏi và có câu trả lời thỏa đáng trướcnhững câu hỏi đó thì việc tuyên truyền mới hiệu quả

Hay theo cuốn “Nguyên lý tuyên truyền”, khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền thì: “Tuyên truyền theo tiếng La tinh (Prapagand là

truyền bá, truyền đạt một quan niệm nào đó.” Quan niệm này cũng tương đối

ngắn gọn, đơn giản, chủ yếu nói về phương thức, cách thức của việc tuyêntruyền đó là “truyền bá”, “truyền đạt” Tuy nhiên, quan niệm này lại chưa chỉ

ra được mục đích, ý nghĩa cuối cùng của việc tuyên truyền là gì

Như vậy có thể thấy, với thuật ngữ “tuyên truyền” có rất nhiều cáchquan niệm khác nhau Tuy nhiên, các quan niệm này đều tiệm cận đến mộtđiểm chung Đó là, tuyên truyền là hành động truyền bá thông tin với mụcđích đưa thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng

có lợi cho một phong trào hay tập đoàn, thường lồng sau đó mục tiêu cụ thể,đặc biệt là mục tiêu chính trị Mục tiêu tối hậu của tuyên truyền hiện đạikhông dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phảitạo hành động trong quần chúng Tuyên truyền không chỉ lôi kéo cá nhân rakhỏi sự tin tưởng cũ, mà cần phải làm cá nhân đó tin vào suy nghĩ mới và đưađến hành động có lợi cho đối tượng thực hiện việc tuyên truyền Cá nhânđược tuyên truyền sẽ tin tưởng và hành động theo người tuyên truyền

Từ những quan niệm cơ bản trên tác giả nhận thấy quan niệm của Chủtịch Hồ Chí Minh đơn giản, dễ hiểu nhất và tác giả luận văn xin phép lấyquan niệm này để soi rọi và làm nền tảng phân tích những phần tiếp sau củaluận văn

1.1.4 Tuyên truyền về phòng, chống Ung thư

Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm, khái niệm về “ung thư”, “phòng,chống ung thư” như đã phân tích ở trên, tác giả luận văn khái quát và đưa ra

Trang 25

quan niệm của mình về thuật ngữ “Tuyên truyền về phòng chống Ung thư”

như sau: “Tuyên truyền về phòng, chống ung thư là việc truyền đạt những

thông tin liên quan đến bệnh Ung thư tới cho công chúng để mọi người hiểu, nhớ và chủ động làm theo sao cho việc ngăn chặn, phòng tránh căn bệnh này hiệu quả”

Thông tin cần truyền đạt đó là những biểu hiện, nguyên nhân của sựphát triển, xâm lấn của khối u ác tính trong cơ thể con người, cách đối mặt vàđiều trị căn bệnh này sao cho hiệu quả

Qua nghiên cứu tác giả luận văn nhận thấy, tuyên truyền nói chung vàtuyên truyền về phòng chống Ung thư nói riêng là hoạt động xã hội đặc biệt.Tính chất đặc biệt của nó thể hiện ở chỗ cả chủ thể và đối tượng đều là conngười Hoạt động tuyên truyền là hoạt động của con người tác động đến conngười Con người với tư cách là đối tượng, nhưng nếu xem xét trong quan hệđối với thông tin thì lại là chủ thể tiếp nhận Con người vừa là đối tượng làmnên thông tin, vừa là đối tượng tác động, tiếp nhận thông tin

Hoạt động tuyên truyền nói chung và tuyên truyền về phòng chống Ungthư nói riêng chỉ có giá trị khi các thông tin được lặp đi, lặp lại nhiều lần,dưới nhiều hình thức khác nhau trong một thời gian nhất định nhằm thuyếtphục đối tượng chấp nhận những ý tưởng, quan điểm hoặc một hành vi nào

đó Tuy nhiên, khác với việc thông tin đơn thuần, đặc trưng của tuyên truyền

là tính một chiều, luôn nhằm đạt được mục đích nhất định nào đó

Truyền hình là một loại hình báo chí có nhiệm vụ thông tin, định hướng

xã hội các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Phòng chống Ung thư như phântích ở trên – đó là một căn bệnh nguy hiểm luôn đe dọa tới tính mạng, sự bìnhyên của cuộc sống của con người Việc tuyên truyền về phòng chống Ung thưkhông phải chỉ là công việc của ngành Y tế, của mỗi người mà là của cả xãhội và đặc biệt là không thể thiếu được sự ra tay góp sức của truyền thông nói

Trang 26

chung và truyền hình nói riêng Chính vì vậy, tuyên truyền về phòng chống

Ung thư trên truyền hình có thể hiểu đó việc: “Truyền hình tham gia vào việc

truyền đạt những thông tin liên quan đến bệnh Ung thư tới cho công chúng để mọi người hiểu, nhớ và chủ động làm theo sao cho việc ngăn chặn, phòng tránh căn bệnh này hiệu quả thông qua những tác phẩm truyền hình”

1.2 Vai trò của truyền hình trong tuyên truyền về phòng, chống Ung thư

Một là, truyền hình cung cấp thông tin giúp cho công chúng có những kiến thức để nhận thức đầy đủ về căn bệnh Ung thư và hệ quả của nó đối với con người và xã hội

PGS BS Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở y tế TP HCM, trong hộithảo lần thứ 17 năm 2014 về tuyên truyền phòng, chống ung thư cho rằng:Bệnh lý ung thư ngày càng gia tăng trên thế giới, ở Việt Nam, theo báo cáotrên thế giới hiện nay ở cả nước 125.000 người bệnh mắc mới trong đó có90.000 người bệnh mắc bệnh là tử vong Đây là bệnh lý, khi mắc bệnh đặcbiệt chữa trị là rất khó khăn Chính vì vậy việc tuyên truyền phòng chống làmột trong những chiến lực của cả một quốc gia, trong đó sở y tế giao nhiệm

vụ cho bệnh viên u bướu thực hiện trong thời gian dài tuyên truyền trongnhững hội thảo về tuyên truyền phòng chống ung thư hàng năm…

Những con số nêu trên cho thấy một sự báo động về một căn bệnh nguyhiểm ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe và tinh thần của con người và cả xã hội.Mặc dù ngành y tế đã có những chiến lược cho việc truyền thông, tuy nhiên,việc ngăn chặn và đối mặt với căn bệnh nguy hiểm này một mình ngành y tếthực hiện sẽ khó có hiệu quả

Để góp phần ngăn chặn căn bệnh này không thể không nhắc tới vai trò,trách nhiệm của các cơ quan truyền thông trong đó có truyền hình Cùng vớicác loại hình truyền thông khác, truyền hình có trách nhiệm trong việc cung

Trang 27

cấp thông tin sinh động giúp cho công chúng có những kiến thức để nhận thứcđầy đủ về căn bệnh Ung thư và hệ quả của nó đối với con người, đối với xãhội Những thông tin đó bao gồm: kiến thức liên quan đến sức khỏe, bệnh tậtcủa người mắc bệnh ung thư; những nguyên nhân gây bệnh; hệ quả của bệnhnếu mắc phải đối với người bệnh và xã hội; và những kiến thức để phòngtránh ngay từ khi còn khỏe cũng như cách thức đối mặt khi không may mắccăn bệnh hiểm nghèo này Đó có thể chỉ đơn giản là hướng dẫn cách ăn uống,chế biến thức ăn – một công việc thường xuyên hàng ngày của mỗi conngười, mỗi gia đình; đến những thông tin khuyến khích thực hiện những việclớn hơn như đi khám sức khỏe định kỳ; hướng dẫn cách sống sao cho khoahọc, có trách nhiệm với bản thân với cộng đồng Bên cạnh những kiến thứctrực tiếp cơ bản như vậy, truyền hình còn góp phần cung cấp những thông tingián tiếp như những chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, Bộ y tế, cácđơn vị liên quan trước căn bệnh thế kỷ này… để công chúng hiểu hơn, đồnghành với họ, với cuộc sống của mỗi người còn có những tổ chức xã hội Cácchương trình còn là sự cổ vũ, động viên, thúc đẩy quần chúng hăng hái thamgia các phong trào, biến nhận thức, niềm tin thành nhiệt huyết của người dân,những người bệnh đang phải chống trọi với căn bệnh ung thư Ngoài ra, tuyêntruyền trên truyền hình về phòng, chống ung thư còn thể hiện ở việc có nhữngthông tin, định hướng những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quanđiểm, cách làm sai trong cách phòng, chống bệnh ung thư hiện nay.

Hai là, truyền hình cung cấp thông tin giúp cho công chúng có những thay đổi trong nhận thức và hành vi một cách hợp lý để phòng, chống Ung thư

Nếu truyền hình chỉ giúp công chúng có những thông tin và biết vềnhững vấn đề xoay quanh việc phòng chống Ung thư thì chưa đủ, truyền hìnhcòn có vai trò, trách nhiệm quan trọng và lớn lao hơn đó là làm sao giúp cho

Trang 28

người dân có những thay đổi trong nhận thức và mức cao hơn nữa đó là thayđổi trong hành vi Nghĩa là khi xem những chương trình đó, công chúng tựthấy rất nguy hiểm, nếu không thay đổi hành vi đồng nghĩa với việc nguy cơrình rập tới bản thân mình rất lớn Khi có suy nghĩ đó, công chúng sẽ thay đổicách sống, sinh hoạt cho phù hợp hoàn cảnh điều kiện Và chỉ khi làm tốt điềunày truyền hình mới thể hiện được hết vai trò, trách nhiệm của mình trongcông cuộc tuyên truyền phòng, chống Ung thư – căn bệnh nguy hiểm Và điềunày cũng đồng nghĩa truyền hình nói chung, chương trình truyền hình nóiriêng đạt chất lượng, hiệu quả tuyên truyền.

GS.TS Nguyễn Bá Đức, trong hội thảo về cách phòng, chống ung thư

lần thứ 17 năm 2014 hội thảo diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh cho rằng:

“Ung thư được coi là nỗi sợ hãi kinh hoàng nhưng lại không mấy ai quan tâm đến việc dự phòng trong khi đây là căn bệnh hoàn toàn có thể phòng tránh được.” Như vậy, ung thư hoàn toàn có thể phòng tránh, chế ngự được

nếu như con người có hiểu biết và có những hành động đúng đắn, kịp thời Vìvậy, việc tuyên truyền các thông điệp như vậy cùng cách phòng chống ungthư hiện nay cần thiết và cấp bách trên các phương tiện truyền thông hiện naynói chung và trên truyền hình nói riêng

Để làm được điều này, các chương trình truyền hình cần có những nộidung đặc sắc, chân thực, thiết thực về chủ đề, cũng như đa dạng, sinh động vềhình thức thể hiện

1.3 Nội dung tuyên truyền phòng, chống Ung thư trên truyền hình

Ung thư là căn bệnh nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng con người.Căn bệnh này không chừa một ai nếu như không có những cách chủ động đểphòng tránh Vậy phòng, tránh bằng cách nào? Phòng, tránh chỉ có hiệu quảkhi mỗi người tự chủ động phòng, tránh, đối mặt với căn bệnh này khi cónhiều thông tin, kiến thức thiết thực, bổ ích về bệnh Truyền hình, một loại

Trang 29

hình truyền thông hấp dẫn có trách nhiệm cùng các loại hình truyền thôngkhác cung cấp thông tin, tri thức về bệnh và cách phòng, chống bệnh ung thưcho mọi người Một số nội dung liên quan đến việc tuyên truyền về phòng,chống ung thư có thể kể ra sau đây:

(1)Tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, các văn bản của nhà nước về y tế và đặc biệt trong phòng chống ung thư;

Tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước là nhiệm vụ của báo chí Truyền hình là một loại hình báo chínên cũng không nằm ngoài vai trò, nhiệm vụ này Thực tiễn cuộc sống rấtnhiều lĩnh vực, công việc phải làm, vậy nên về phía Đảng, Nhà nước cũng

có nhiều những định hướng, chủ trương để các cấp, các ngành, nhân dâncùng thực hiện Về lĩnh vực y tế nói chung và bệnh ung thư nói riêng Đảng,Nhà nước cũng có nhiều chủ trương, chính sách liên quan Chính vì vậy, báotruyền hình cũng phải tham gia vào công tác này, nghĩa là phải tham giatuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước về chăm sóc sức khỏe, phòng chống ung thư; qua đó, giúp côngchúng hiểu rõ quyết tâm chống ung thư – căn bệnh hiểm nghèo đang rình rập

cả xã hội

Hiện tại, nhiều Đài truyền hình đã có những chương trình truyền hìnhriêng để tuyên truyền về căn bệnh hiểm nghèo này, ví dụ : Giờ chiến thắngUng thư (kênh 02TV – VTV); ở đó ngoài những thông tin về bệnh Ung thưcòn có những dung lượng nhất định để tuyên truyền về các chủ trương chínhsách mới của Đảng về y tế nói chung về căn bệnh ung thư nói riêng Thôngqua phương tiện truyền tải của mình, truyền hình góp phần thông tin, tuyêntruyền giúp công chúng nâng cao nhận thức về sức khỏe bản thân, nhận thứcđược sự quan tâm như thế nào tới sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nước

(2) Tuyên truyền về các biểu hiện, nguyên nhân của bệnh ung thư;

Trang 30

Đây là một trong những nội dung quan trọng mà các cơ quan báo chí nóichung, truyền hình nói riêng cần dành thời lượng thỏa đáng để tuyên truyền.

Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) khuyến cáo về mô hình bệnh tậttrong thế kỉ 21: Các bệnh không lây nhiễm trong đó có ung thư sẽ trở thànhnhóm bệnh chủ yếu đe dọa đến sức khỏe con người chiếm 54% nguyên nhângây tử vong ở người Tuy nhiên, phát triển với tốc độ nhanh nhưng biểu hiệncủa bệnh nhiều khi không rõ ràng, thậm chí đến giai đoạn cuối mới phát hiệnđược và khi phát hiện chỉ còn chờ chết Chính vì tính chất nguy hại như vậynên, chỉ khi báo chí nói chung truyền hình nói riêng đưa ra được những thôngtin, số liệu về căn bệnh (ung thư một căn bệnh không lây nhiễm nhưng có tốc

độ phát triển rất mạnh ), những biểu hiện của bệnh (về sức khỏe bên trong,

về hình thức bên ngoài của con người để nhận diện bệnh, nguyên nhân gâybệnh một cách rõ ràng thì công chúng mới có trực quan trong nhìn nhận, từ

đó có cách tổ chức cuộc sống cho phù hợp và cũng chỉ khi đó mới mong giảmthiểu được căn bệnh hiểm nghèo này

(3) Tuyên truyền cách thức, kinh nghiệm trong phòng, chống ung thư

Không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những biểu hiện, phân tích nguyênnhân, hậu quả của bệnh ung thư Truyền hình còn có nhiệm vụ phân tích tìnhhình, cách thức, kết quả trong phòng, chống ung thư một cách đầy đủ kịpthời để giúp công chúng hiểu, nắm được diễn biến, cách thức phòng chốngbệnh để tự thực hiện một cách hiệu quả Cần cho công chúng biết nhữngthông tin thiết thực bổ ích trong việc phòng, chống ung thư Đó là thông tin

về cách ăn uống, sinh hoạt để hạn chế tối đa mắc căn bệnh nan y này vàhướng dẫn cách chống chọi để giảm thiểu rủi ro về suy kiệt sức khỏe và tàichính khi mắc căn bệnh này; đó là thông tin cho biết việc chẩn đoán sớmung thư rất quan trọng, nó quyết định kết quả điều trị, mang tính hiệu quảcao, giảm giá thành điều trị

Trang 31

Khi được thông tin đầy đủ, kịp thời, bao quát cách thức phòng chốngung thư thông qua những vụ việc, con người cụ thể sẽ góp phần cho côngchúng có những cái nhìn cụ thể trong việc phòng chống ung thư từ đó điềuchỉnh cách sống của bản thân phù hợp.

(4) Tuyên truyền những tấm gương tiêu biểu trong công tác phòng chống ung thư

Đó có thể là những người trong cuộc những người đã, đang bị bệnh ungthư nhưng có ý trí, nghị lực trong chống chọi, vượt bệnh tật một cách khoahọc, hiệu quả để vươn lên trong cuộc sống; đó cũng có thể là những ngườikhỏe mạnh bình thường nhưng có ý thức trách nhiệm và có phương cáchphòng bệnh ung thư khoa học; đó cũng có thể là những tập thể có những đónggóp, hỗ trợ nhất định về mọi mặt trong cuộc chiến về ung thu Những tấmgương tiêu biểu này chính là những gương sáng, là ví dụ sinh động để xã hộihọc hỏi và noi theo

(5) Tuyên truyền những công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong nước và thế giới trong phòng chống ung thư hiệu quả

Ung thư là căn bệnh nan y, đó là ung thư là một loại bệnh liên quan đến

sự phát triển của tế bào, sự sai hỏng của ADN, bởi sự đột biến ở các gen Ungthư gây ra nhiều triệu chứng khác nhau phụ thuộc vào vị trí, đặc điểm và khảnăng di căn của khối u Chẩn đoán xác định ung thư thường đòi hỏi phải sinhthiết rồi quan sát trên kính hiển vi Người bị ung thư có thể được chữa trịbằng phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu Hay nói cách khác để phát hiện

và điều trị ung thư luôn cần đến công nghệ, kỹ thuật hiện đại Bởi vậy, việcgiới thiệu những công nghệ kỹ thuật mới cùng những tính năng, hiệu quả của

nó rất quan trọng, nó khẳng định sự tiến bộ trong nghiên cứu khoa học nhưngđồng thời cũng là tia hy vọng là cơ hội thoát bệnh hay kéo dài sự sống chonhiều bệnh nhân

Trang 32

Việc thông tin, tuyên truyền về sự tiến bộ của khoa học và công nghệcùng những tiện ích của chúng giúp cho những cơ quan chức năng có nhữngđầu tư thỏa đáng trong trang bị thiết bị cứu người; và với người bệnh họ cũngbiết để có cách thức tận dụng, khai thác phù hợp với điều kiện của bản thân vàgia đình.

1.4 Thế mạnh và hạn chế của truyền hình trong tuyên truyền về

phòng, chống Ung thư

1.4.1 Thế mạnh

- Truyền hình là loại hình có thâm niên trong hệ thống các phương tiệntruyền thông đại chúng Đây là phương tiện được nhà nhà yêu thích Phầnnhiều các gia đình có thể không có tờ báo giấy nào, hay không có chiếc radionào trong nhà nhưng luôn cố gắng đầu tư cho gia đình một chiếc tivi để theodõi tin tức và giải trí Và giờ đây với nhiều gia đình truyền hình như mộtngười bạn thân thiết Chính điều này đã làm nên cơ hội, tạo nên sự thuận lợitrong tiếp cận công chúng của truyền hình Vậy nên, việc thông tin tuyêntruyền về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống nói chung và tuyên truyền về phòng,chống ung thư qua loại hình truyền hình cũng trở nên gần gũi, dễ để tiếp quảncông chúng hơn Đây chính là thế mạnh của truyền hình

- Truyền hình truyền tải thông tin đến công chúng bằng hình ảnh và âmthanh Đó là ưu thế tiếp theo không thể không kể tới với loại hình này so vớinhiều loại hình báo chí khác Với hình ảnh và âm thanh chân thực, sinh động,thông tin trên truyền hình đến với công chúng dễ dàng hơn Công chúng đượctiếp nhận những sự kiện, vấn đề nói chung và những thông tin xung quanhcông tác phòng, chống ung thư nói riêng một cách cụ thể, chân thực Khán giảđược tận mắt chứng kiến con người thực, hành động thực chứ không phảinghe kể lại như ở loại hình báo in và báo phát thanh

Trang 33

- Ngoài ra, với sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ,truyền hình không chỉ phát những chương trình có hậu kỳ (làm sẵn – thờiđiểm thực hiện và thời điểm phát sóng khác nhau) mà giờ đây công chúngđược tương tác, được chứng kiến, tham gia trực tiếp vào những sự kiện đangdiễn ra Với những chương trình về y tế, khán gỉa có thể giao lưu, tham vấn ýkiến từ các bác sĩ đầu ngành tham gia chương trình Từ đây, thông tin, tri thức

là dòng chảy hai chiều , những thắc mắc bấy lâu, khán giả không quá khó đểđược trả lời, tư vấn trực tiếp từ những người có chuyên môn Đây cũng chính

là thế mạnh của truyền hình mà khó có loại hình nào sánh được

1.4.2 Hạn chế

- Để tuyên truyền được trực quan cần có hình ảnh sinh động với nhữngcâu chuyện cụ thể Tuy nhiên, Ung thư là căn bệnh nan y, bản thân ngườibệnh thì luôn chán nản, mệt mỏi, thất vọng, bi quan, chán nản; gia đình ngườibệnh thì mệt mỏi, đau buồn Chính tâm lý đó khiến cả người bệnh và gia đìnhngười bệnh không muốn xuất hiện trên báo chí nói chung và trên truyền hìnhnói riêng Bởi họ cảm thấy buồn nản, tự ti Và khi không có được sự hỗ trợ,hợp tác của những đối tượng đó thì đồng nghĩa không có sản phẩm bằng hìnhảnh, âm thanh… không có tác phẩm truyền hình để tuyên truyền tới côngchúng Đó chính là khó khăn đầu tiên mà những người làm chương trìnhtruyền hình rất dễ gặp phải

- Khoa học công nghệ phát triển, nhiều trang thiết bị kỹ thuật hiện đạiđược các loại hình báo chí khai thác để phát triển, nâng cao chất lượng thươnghiệu của mình Ngoài ra, cùng với đó, nhiều loại hình báo chí truyền thôngmới ra đời, như báo mạng điện tử Chính sự phát triển rầm rộ này đã làm nênnhững khó khăn không nhỏ trong bước đường phát triển của truyền hình.Truyền hình bị cạnh tranh gay gắt về tính thời sự, về độ dày của thông tin,cũng như chất lượng thông tin Giờ đây công chúng có nhiều cơ hội để tiếpcận, lựa chọn thông tin mình quan tâm, yêu thích hơn từ nhiều phương tiện

Trang 34

khác nữa so với trước nếu như truyền hình không có những đổi mới phù hợp

và hấp dẫn trong việc cung cấp, chuyển tải thông tin Đó chính là điều khókhăn trong việc tuyên truyền ở các lĩnh vực nói chung và tuyên truyền vềcông tác phòng chống ung thư nói riêng trên truyền hình hiện nay

1.5 Tiêu chí đánh giá chất lượng việc tuyên truyền về phòng chống Ung thư trên truyền hình

Tác giả Hoàng Phê, chủ biên cuốn Từ điển Tiếng Việt, đã định nghĩa:

“Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật,

sự việc” [48, tr 456] Theo từ điển Anh – Việt danh từ “Quality có nghĩa là

chất lượng “Chất lượng là phẩm chất, tính chất, là đặc trưng, đặc tính, hảo

hạng; rất tốt” [ 1, tr 569] Hay, theo Giáo sư Juran (Mỹ), tác giả cuốn sách

Juran’s Quality Handbook thì: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” [40,

tr 49 ] Còn theo Giáo sư Crosby, tác giả cuốn sách Tổng quan về quản lý chất lượng thì: “Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất

định”[10] Giáo sư Ishikawa (Nhật) cho rằng: “chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” [39, tr 30].

Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy, ở mỗi lĩnh vực khác nhau, với mụcđích khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm về “chất lượng” khác nhau.Tuy nhiên, có một định nghĩa về “chất lượng” được thừa nhận ở phạm viquốc tế, đó là định nghĩa “chất lượng” của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế.Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005, thuật ngữ “chất lượng” đượccho rằng: chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặctính vốn có Và suy cho cùng “chất lượng” dùng để đánh giá một loại sảnphẩm, hàng hóa

Tiếp thu, phân tích những khái niệm trên của các nhà nghiên cứu, các

nhà khoa học và kết hợp với thực tiễn, theo tác giả luận văn: “Chất lượng chỉ

mức độ thỏa mãn nhu cầu, yêu cầu của thị trường của một sản phẩm nào đó”.

Trang 35

Khi có thị trường, thì ở đó có người sản xuất và người tiêu dùng Vậynên, việc thỏa mãn nhu cầu, yêu cầu của thị trường có thể hiểu là thỏa mãnnhu cầu và yêu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng Chất lượng là "làmthích hợp sử dụng" và "phù hợp mục đích"; hay là "thỏa mãn người sử dụng"

và đáp ứng mọi yêu cầu của người sử dụng Trên cơ sở những phân tích ởtrên, tiêu chí chất lượng của việc tuyên truyền về phòng, chống Ung thư trêntruyền hình nhu sau:

- Nội dung tuyên truyền đa dạng, cụ thể, thiết thực đáp ứng được nhu cầu thông tin, hiểu biết của đông đảo công chúng

Trong cuốn Tác phẩm báo chí đại cương (tập 1) của Phân viện Báo chí

và Tuyên truyền, đã chỉ ra những yếu tố cơ bản để tạo nên nội dung của tácphẩm báo chí đó là đề tài, chủ đề, chi tiết,

Đề tài là phạm vi cuộc sống được thể hiện trong tác phẩm hay mộtchương trình truyền hình Đề tài báo chí nằm ngay trong cuộc sống, ở mọinơi, mọi lúc Đề tài phải cho biết tác phẩm viết về ai? về cái gì? về lĩnh vực gìtrong cuộc sống? Có những đề tài xuất hiện rõ ràng, có những đề tài ẩn sâudưới nhiều tầng sự kiện Nhiệm vụ của nhà báo là phải tìm và phát hiện ra đềtài, thể hiện nó trong tác phẩm của mình để mọi người cùng biết, cùng suyngẫm về thời cuộc Đề tài tuyên truyền về phòng chống Ung thư cần xoayquanh các nội dung cơ bản đó là: (1) Tuyên truyền về các chủ trương, chínhsách của Đảng, các văn bản pháp luật của nhà nước về phòng chống ung thư;(2) Tuyên truyền về những biểu hiện của bệnh ung thư; (3) Tuyên truyền vềcách thức, kinh nghiệm trong phòng chống ung thư (cách ăn uống, sinh hoạt

để hạn chế tối đa mắc căn bệnh nan y này và hướng dẫn cách chống chọi đểgiảm thiểu rủi ro về suy kiệt sức khỏe và tài chính khi mắc căn bệnh này); (4)Tuyên truyền về những điển hình tiêu biểu trong công tác phòng chống ung

Trang 36

thư; (5) Tuyên truyền về những thành tự công nghệ, kỹ thuật trong phòng,chống ung thư

Đề tài với những nội dung được tuyên truyền từ đa dạng góc độ nhưvậy sẽ giúp cho công chúng, các đối tượng liên quan đến công tác phòngchống ung thư có cái nhìn đa chiều về căn bệnh này, từ đó có những hành viphù hợp để phòng, chống hiệu quả với căn bệnh hiểm nghèo này

Một tác phẩm với đề tài về phòng chống ung thư với chủ đề rõ ràng,nhiều chi tiết tiêu biểu, đặc sắc thể hiện được sự lựa chọn kỹ lưỡng nhưngđiều đó cũng chưa chắc chắn chương trình đã đạt chất lượng – thỏa mãn đượchết nhu cầu tiếp nhận của công chúng Vì vậy, về mặt nội dung (đề tài, chủ

đề, chi tiết ) tác phẩm hay chương trình chỉ có giá trị và thực sự hấp dẫnkhán giả khi đáp ứng được các yêu cầu nữa đó là:

* Thông tin chính xác:

Đây là yếu tố bắt buộc đối với tất cả các thông tin trên truyền hình nóichung và các chương trình về phòng chống ung thư nói riêng Đối với chươngtrình tuyên truyền về phòng chống ung thư thì yêu cầu về độ chính xác củathông tin có ý nghĩa thiết thực, bởi những thông tin này có ảnh hưởng trựctiếp đến người phòng chống bệnh nói chung đến con người đã mắc bệnh nóiriêng Thông tin chính xác mới tạo nên độ tin cậy cho công chúng

* Thông tin nhanh chóng, kịp thời:

Đây là một trong những yêu cầu hàng đầu của báo chí, truyền hình,đồng thời cũng là một yếu tố thu hút sự quan tâm của khán giả Đối vớichương trình truyền hình có nội dung liên quan đến phòng chống ung thư, yêucầu nội dung thông tin nhanh chóng, kịp thời vô cùng quan trọng Bởi có nhưvậy thì công chúng mới có đánh giá, cái nhìn khách quan về những sự việc đã

và đang diễn ra từ đó có những nhận thức và hành vi phù hợp, kịp thời trướcdiễn biến của xã hội

Trang 37

* Thông tin trung thực:

Thông tin phản ánh cần đúng và trúng bản chất của sự kiện, hiện tượng,vấn đề Thông tin mà báo chí truyền hình phản ánh phải xuất phát từ lợi củaĐảng của nhân dân Đối với những chương trình truyền hình có liên quan đếnphòng chống ung thư thì yêu cầu này đóng vai trò quan trọng Bởi thông tin

về phòng chống ung thư mà không trung thực thì sẽ làm mất lòng tin của côngchúng, gây hoang mang cho xã hội

* Thông tin có tính định hướng:

Định hướng dư luận xã hội trong báo chí là vô cùng cần thiết Khithông tin, đánh giá, phân tích, bình luận về một vấn đề cần phải xuất phát từlợi ích của Đảng và nhân dân Báo chí có thể phân tích, bình luận về nhiềuvấn đề xuất phát từ cuộc sống để tất cả công chúng có thể tự đưa ra cho mìnhnhững nhận xét rằng: Đâu là tốt? Đâu là xấu? Việc gì nên? Việc gì khôngnên? Đối với các chương trình truyền hình có liên quan đến phòng chống ungthư, việc định hướng và điều hòa dư luận xã hội có thể thông qua việc đưa ranhững tấm gương người tốt việc tốt, đưa ra những con người đã một thời lầm

lỡ nhưng nay đã tự đứng dậy, hoặc thông qua việc phân tích những sự việctrái với pháp luật từ đó người xem có thể nhận thức và điều chỉnh hợp lýhành vi của mình

* Thông tin thiết thực với nhiều người:

Đây là một yêu cầu không thể thiếu Công chúng có quyền lựa chọnkênh truyền hình, lựa chọn nội dung trên truyền hình và nếu những nội dungtrên truyền hình không thiết thực, không mang lại lợi ích gì thì họ có thểchuyển kênh hoặc tắt tivi Để đảm bảo sự gần gũi, để truyền hình thực sự trởthành “món ăn tinh thần”, tivi trở thành người bạn thân thiết thì những nhàlàm truyền hình nên quan tâm đến sự thiết thực của thông tin Đối với nhữngchương trình truyền hình có nội dung liên quan đến phòng chống ung thư thì

Trang 38

sự thiết thực là điều quan trọng hàng đầu bởi khi xem ở các chương trình này,công chúng không chỉ muốn biết về thông tin ung thư, tình hình khống chếbệnh, các công nghệ chữa bệnh trong nước và thế giới mà qua những chươngtrình này họ có thể học được những bài học về cách thức phòng, chống ungthư, Và để các chương trình về phòng chống ung thư không phải là nỗi ámảnh (với những hình ảnh tiều tụy, chạy thận, truyền hóa chất, ) xuất hiện trêntruyền hình thì những nhà làm truyền hình nên quan tâm đến sự thiết thực củathông tin hơn tốt lành hơn như những phương thuốc trên thế giới đang ápdụng cũng như những phác đồ hiệu quả cùng chiến dịch tuyên truyền, truyềnthông, cảnh báo trong nước và thế giới.

- Hình thức tuyên truyền sinh động, hấp dẫn thu hút được sự theo dõi của khán giả

Một chương trình truyền hình nói chung và chương trình truyền hìnhtuyên truyền về phòng chống ung thư nói riêng nếu thỏa mãn các tiêu chí vềnội dung như nêu trên cũng chưa đảm bảo tuyệt đối sự hấp dẫn và cũng có thểchưa thu hút được đầy đủ sự quan tâm của khán giả Nội dung đó cần có cáchtrình bày hấp dẫn, sinh động bởi khán giả không chỉ dừng lại ở tiếp nhậnthông tin một cách đơn thuần mà còn có nhu cầu tiếp nhận thông tin sinhđộng, hấp dẫn, thỏa mãn nhu cầu thưởng thức, thẩm mỹ của công chúng Và

về góc độ hình thức của chương trình có một số tiêu chí để đánh giá về chấtlượng như sau:

* Kết cấu chương trình mạch lạc, hiện đại

Kết cấu chương trình là sự sắp xếp, xếp đặt các nội dung, các “linhkiện” trong một chương trình truyền hình Việc kết cấu một chương trình cóvai trò quan trọng, góp phần làm cho chương trình trở lên rõ ràng, liền mạch,khoa học, dễ hiểu và có sức truyền cảm đối với người tiếp nhận thông tin

Trang 39

Nguyên tắc quan trọng nhất đối với việc sắp xếp, kết cấu chương trình là phải

dễ hiểu, dễ theo dõi và thật sự mạch lạc, logic

*Thể loại trong chương trình được sử dụng hợp lý

Tùy vào nội dung của tác phẩm báo chí mà nhà báo lựa chọn, sử dụngthể loại báo chí phù hợp Ví dụ như những vấn đề lớn, phức tạp mà lại dùngthể loại tin để thông tin chưa chắc phù hợp; hay ngược lại: vấn đề nhỏ, chỉ cầnthể loại tin để chuyển tải nhưng lại chọn thể loại phóng sự, hay phóng sự điềutra để thực hiện thì lại thành thừa, không cần thiết Ngay này, ngoài thể loạibáo chí truyền thống, có nhiều thể loại mới ví dụ như giao lưu gặp gỡ, tròchơi Nếu các nhà báo sử dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn các thể loạitrong một chương trình truyền hình cũng có thể dễ dàng trong việc chuyển tảinội dung thông tin Và đó cũng là một tiêu chí đánh giá sự linh hoạt, chấtlượng của tác phẩm truyền hình

* Linh hoạt trong khai thác, sử dụng hình ảnh và âm thanh làm nên tác phẩm

Hình ảnh - Ngôn ngữ trong các tác phẩm truyền hình là sự kết hợpgiữa yếu tố hình ảnh và âm thanh Hình ảnh là chính ngôn – ngôn ngữ chính

để chuyển tải nội dung thông tin Hình ảnh là lợi thế tuyệt đối của truyềnhình nếu sử dụng, hợp lý Đề tài, câu chuyện sẽ trở nên sinh động, thuyếtphục khi hình ảnh chuyên chở câu chuyện đó được lựa chọn và cấu trúc phùhợp Những tác phẩm truyền hình có giá trị (chất lượng) cao khi chưa có lờibình nhưng hình ảnh đã diễn tả được phần lớn câu chuyện Muốn thực hiệnđược điều đó, hình ảnh liên quan đến đề tài phải được tư duy tốt từ khi có ýtưởng đến khâu quay phim lẫn khâu dựng hình Hình ảnh trong một tácphẩm về phòng chống ung thư được đánh giá chất lượng cần đảm bảo nhữngtiêu chí sau:

Trang 40

(1) Hình ảnh đem lại giá trị thông tin: điều này thể hiện ở việc sắp xếp

các hình ảnh đơn lẻ thành chuỗi hình ảnh Những hình ảnh này cho ngườixem biết sự kiện gì xảy ra? Câu chuyện được đề cập đến là gì? Ai liên quan?Diễn ra ở đâu? Như thế nào?

(2) Hình ảnh đảm bảo giá trị thẩm mỹ: hình ảnh phải đẹp Điều này thể

hiện ở việc: bố cục khuôn hình chặt chẽ, ánh sáng trong mỗi cảnh phù hợp, rõ, nét

(3) Ngoài hai giá trị quan trọng đó ra, hình ảnh còn cần đảm bảo giátrị nhân văn

Điều này càng quan trọng với những chương trình liên quan đến ungthư Thực tế cho thấy, lợi thế của truyền hình là hình ảnh Tuy nhiên, đối vớiviệc thông tin về vấn đề phòng chống ung thư thì việc sử dụng hình ảnh trongtác phẩm như thế nào cho hợp lý cần luôn phải tư duy và cân nhắc nhất là khiphải đề cập đến những bệnh ung thư trong giai đoạn cuối và cực kỳ nghiêmtrọng nghiêm trọng đến sức khỏe với những hậu quả cùng những hình ảnh rấtbuồn thảm như: truyền hóa chất, xạ trị, với những con người tiều tụy giànhgiật sự sống… Tác phẩm truyền hình về phòng chống ung thư ở góc độ hìnhảnh, được đánh giá đạt chất lượng tốt khi xử lý hài hòa giữa việc cung cấpthông tin chân thực và yếu tố nhân văn, nhân đạo Có như vậy, chương trìnhmới tránh được sự hoang mang, gây “sốc” (gây lo lắng, sợ hãi) cho xã hộinhưng vẫn đảm bảo đầy đủ thông tin chân thực

Điều này có thể giải quyết trong việc lựa chọn các cho tiết hình ảnh.Chi tiết “đắt” được tác giả khai thác dưới những cỡ cảnh, góc quay, động tácmáy phù hợp và nhân văn Bên cạnh đó, ngoài việc sử dụng hình ảnh liênquan trực tiếp đến sự kiện hay vấn đề về phòng chống ung thư thì việc sửdụng thêm những dạng hình ảnh khác một cách linh hoạt cũng góp phần đemlại thông tin và tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm hay chương trình Các dạng hình

Ngày đăng: 26/01/2022, 16:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w