Nguyễn Hoàng Tiến, Saigon International University Tóm tắt: Bài viết nêu thách thức về nguồn nhân lực tại Tp.HCM và đề xuất một số giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo nguồn n
Trang 1THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TP.HCM TRƯỚC THỀM CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Challenges and Solutions to Enhance Quality of Human Resource in Ho Chi Minh
City in a Response to Requirements of the Industrial Revolution 4.0
ThS.Nguyễn Đặng Thế Vinh,
TS Nguyễn Hoàng Tiến, Saigon International University
Tóm tắt: Bài viết nêu thách thức về nguồn nhân lực tại Tp.HCM và đề xuất một số
giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo định hướng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong việc phát triển
nguồn nhân lực tại Tp.HCM theo định hướng cách mạng công nghiệp 4.0
Abstract: The paper presents the challenge of human resources in Ho Chi Minh City and
proposes in some innovative solutions to improve the quality of human resources training, contributing to improving the quality of human resources in Ho Chi Minh City in context
of the industrial revolution 4.0
Từ khóa: Thách thức, giải pháp, chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực, cách mạng công
nghiệp 4.0, Tp HCM
Keywords: Challenges, solutions, training quality, human resources, industrial revolution
4.0, HCMC
1 Đặt vấn đề
Thế giới đang ngày một thay đổi và hiện nay thay đổi lớn nhất là cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ tư (the Fourth Industrial Revolution), để bắt kịp xu hướng, công nghệ
và thời đại các nước đang chạy đua để tiến đến một nền công nghiệp 4.0 (Industry 4.0) Các công nghệ mới nổi có ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục con người Chỉ những nhân viên có trình độ và trình độ cao mới có thể kiểm soát các công nghệ này Công nghiệp 4.0 cần hợp tác với các trường đại học Tầm nhìn chính của ngành công nghiệp 4.0 là sự xuất hiện của “các nhà máy thông minh”, sẽ được kết nối với các hệ thống không gian mạng thực-ảo (cyber-physical system) được gọi là CPS Sử dụng Internet of Things, Internet của dịch vụ và Internet của con người sẽ kết nối: máy móc-máy móc, con người-móc-máy móc hoặc con người-con người, và đồng thời thu được một lượng dữ liệu lớn Vì vậy, cần phải phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để có thể dự đoán được các lỗi có thể xảy ra và thích nghi theo thời gian thực với các điều kiện đã thay đổi [1]
Xu hướng chính của ngành công nghiệp 4.0 từ đó sẽ thay thế điều kiện này bằng hệ thống giám sát tiên lượng (Prognostics-monitoring system) Quy trình sản xuất sẽ phải cho phép sản xuất hiệu quả và đồng thời phải linh hoạt với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm cụ thể Vì lý do này các công ty sẽ sản xuất các sản phẩm thông minh Sự phân tích kịp thời dữ liệu thu được rất quan trọng cho việc lập kế hoạch
và quản lý sản xuất linh hoạt Dữ liệu thu được có thể chứa thông tin được phân loại
và điều này dẫn đến nhu cầu ngày càng tăng về an ninh mạng để ngăn chặn sự rò rỉ
dữ liệu Điều này đồng nghĩa với yêu cầu về trình độ và kỹ năng của nhân viên sẽ cao hơn hiện tại, bởi vì các công ty sẽ sử dụng công nghệ mới và phương tiện thông minh [1]
Trang 2Khả năng không giới hạn của việc có hàng tỷ người được kết nối bằng thiết bị di động, làm tăng khả năng xử lý, lưu trữ và truy cập kiến thức Nhờ khả năng kết nối bằng máy tính, các thiết bị di động tiếp cận với các cơ sở dữ liệu lớn từ nhiều nguồn, những tính năng xử lý thông tin được nhân lên nhờ những đột phá về công nghệ bằng trí tuệ nhân tạo, người máy, công nghệ in 3D, công nghệ nano, công nghệ điện toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, công nghệ vật liệu mới… [3]
Sự phát triển theo cấp số nhân và tác động của công nghệ mới trong thời hiện đại đã gây ra những thay đổi trong mọi khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội, sản xuất, quản
lý và vận hành hệ thống Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại cơ hội và thách thức lớn Khoa học và công nghệ sẽ biến những điều không thể thành có thể Năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm và dịch vụ sẽ tăng, giảm chi phí thương mại và tăng doanh số toàn cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chất lượng và cải thiện sự tiện lợi cho cuộc sống cá nhân [2]
Trong [4] cũng đặt vấn đề và đề cập đến yếu tố và năng suất lao động, dự báo tỷ trọng
đóng góp của lao động vào tăng trưởng GRDP (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố
Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế thành phố)
đến 2020 như sau: 2016: 32,46%, 2017: 26,88%, 2018: 22,81%, 2019: 15,5%, 2020: 12,38% Tính bình quân cho cả giai đoạn 2016-2020, đóng góp của lao động vào GRDP thành phố là 22% cao hơn giai đoạn trước (giai đoạn 2010-2015: 20,7%) Điều này cho thấy, năng suất lao động TPHCM ngày càng gia tăng góp phần làm giảm tỷ trọng đóng góp của lao động, nhất là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo vào tăng trưởng GRDP TPHCM; đồng thời lao động chất lượng cao, có tay nghề cao và lao động sáng tạo ngày càng góp phần quan trọng vào tăng trưởng GRDP TPHCM khi chỉ số TFP (Yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp) gia tăng tỷ trọng đóng góp vào GRDP Tp.HCM
Tp.HCM tập trung nguồn lực và cải thiện tốt môi trường đầu tư, nhất là các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, tận dụng thật tốt các thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Tập trung phát triển công nghiệp vi mạch, công nghệ thông tin vừa phục vụ việc thực hiện hiệu quả đề án thành phố thông minh của Tp.HCM vừa cung cấp công nghệ cho các tỉnh thành trong khu vực và cả nước; đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ, phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ thuộc ngành công nghiệp cơ khí chế tạo [4]
Từ những điều trên, chúng ta nhận ra những yếu kém của mình và những điều cần chú trọng đầu tư và phát triển nguồn lực để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thời đại công nghiệp 4.0
2 Thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với nguồn nhân lực tại TPHCM
Trong [3] có đề cập đến, nhiều vị trí và nghề nghiệp mới sẽ nổi lên, chúng ta không thể biết trước những gì sẽ đạt được, nhưng khả năng bắt kịp xu thế thời đại công nghệ sẽ là yếu tố quan trọng cho người lao động Vì lý do này, sự khan hiếm một lực lượng lao động
có tay nghề cao hơn là lực lượng lao động có sẵn Điều này có thể dẫn đến một thị trường làm việc ngày càng tách biệt thành các phân đoạn kỹ năng thấp/ trả lương thấp và có kỹ năng cao/ trả tiền nhiều Áp lực đó cũng sẽ buộc chúng ta phải xem xét lại “kỹ năng cao” trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Với tốc độ thay đổi công nghệ ngày càng tăng, sẽ đòi hỏi và chú trọng hơn vào khả năng của người lao động để thích nghi liên tục, học các kỹ năng và tiếp cận cái mới trong nhiều bối cảnh khác nhau
Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), số việc làm của Việt Nam sẽ tăng lên 14,5% vào năm 2025 Trong giai đoạn 2015 - 2025, nhu cầu đối với việc làm cần tay nghề trung bình nói chung sẽ tăng nhanh nhất, ở mức 28%, lao động có trình độ kỹ năng thấp là 23% và lao động có kỹ
Trang 3năng cao sẽ tăng 13% và sẽ có thêm nhiều cơ hội cải thiện cuộc sống của hàng triệu người Có 08 ngành nghề mà lao động có kỹ năng tay nghề cao được phép di chuyển trong được 10 nước ASEAN thống nhất công nhận giá trị tương đương của chứng chỉ đào tạo của các nước thành viên là dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, kiến trúc, giám sát thi công, kế toán, bác sĩ, nha sĩ, du lịch [6]
Việt Nam đang thiếu trầm trọng lao động có kỹ năng thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao Năng suất lao động không đạt hiệu quả cao cho dù được đánh giá là có óc sáng tạo, thông minh và cần cù Hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều không hài lòng với chất lượng giáo dục và kỹ năng của nhân viên, nhất là kỹ sư và kỹ thuật viên Không chỉ thiếu về kiến thức chuyên môn, các lao động Việt Nam còn yếu về kỹ năng giải quyết vấn đề, lãnh đạo và giao tiếp Nhân lực Việt Nam còn thiếu kỹ năng mềm như ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, tác phong công nghiệp và tránh nhiệm, đạo đức nghề nghiệp [6]
Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TPHCM đến 2020, tầm nhìn đến 2025” Mục tiêu tổng quát phát triển nguồn nhân lực là đáp ứng được như cầu phát triển GRDP của TPHCM trong giai đoạn 2018-2020 và giai đoạn 2021-2025 cả về số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân lực, trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và trình độ chuyên môn, đào tạo của lực lượng lao động Về định hướng phát triển nhân lực tại TPHCM giai đoạn 2018-2025 cần chú trọng: cung cấp đầy đủ nhu cầu nhân lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là đáp ứng lao động cho ưu tiên phát triển nhân lực cho những ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, đảm bảo nhu cầu lao động chất lượng cao cho 4 ngành công nghiệp trọng yếu (Cơ khí; Điện tử -CNTT; Chế biến lương thực thực phẩm; Hóa chất - Nhựa cao su), 9 ngành dịch vụ (Tài chính - Tín dụng - Ngân hàng - Bảo hiểm; Giáo dục - Đào tạo; Du lịch; Y tế; Kinh doanh tài sản - Bất động sản; Dịch vụ tư vấn, khoa học - công nghệ; Nghiên cứu và triển khai; Thương mại; Dịch vụ vận tải - Kho bãi - Dịch vụ cảng; Dịch vụ bưu chính, viễn thông và CNTT) [4]
Theo trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin TTLĐ Tp.HCM, trong giai đoạn 2017-2020 đến 2025, mỗi năm có khoảng 270.000 chỗ làm việc (130.000 chỗ làm việc mới) Trong đó, nhu cầu nhân lực qua đào tạo chiếm 80% (sơ cấp nghề, CNKT 14%, trung cấp 34%, cao đẳng 16%, đại học 14%, trên đại học 2%)
Biểu đồ 1: Nhu cầu nhân lực theo trình độ nghề tại TPHCM (2017-2025) (Nguồn:
Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin TTLĐ Tp.HCM)
Như vậy, chúng ta phải đặt ra câu hỏi rằng, liệu 80% nhu cầu nhân lực qua đào tạo này, bao nhiêu phần trăm sẽ đáp ứng nhu cầu việc làm trong thời đại công nghiệp 4.0? Đây là điều chúng ta phải quan tâm, chưa kể 20% chưa qua đào tạo thì sẽ như thế nào?
Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin TTLĐ Tp.HCM, dự báo nhu cầu nhân lực phân theo ngành kinh tế tại Tp.HCM giai đoạn 2017-2020 đến 2025 Trong đó, nông nghiệp 2%, công nghiệp - xây dựng 31%, dịch vụ 67%
2%
14%
16%
34%
14%
20%
Trên Đại học Đại học Cao đẳng Trung cấp
Sơ cấp nghề Lao động chưa qua đào tạo
Trang 4Biểu đồ 2: Nhân lực phân theo ngành kinh tế tại TPHCM (2017-2025) (Nguồn: Trung
tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin TTLĐ Tp.HCM)
Máy móc tự động hóa sẽ thay thế con người, như vậy 20% lao động chưa qua đào tạo (theo như nguồn của trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin TTLĐ Tp.HCM) sẽ ảnh hưởng từ cuộc cách mạng 4.0 là không nhỏ và khả năng bị đào thảo sẽ rất cao
Khó dự đoán xu hướng để có thể đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho tương lai Sự cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực sẽ xảy ra trong một số lĩnh vực công nghệ đang bắt đầu được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn, tạo áp lực tuyển dụng, phát triển nguồn nhân lực liên quan [4]
3 Đề xuất giải pháp
Đối với doanh nghiệp, nguồn nhân lực phải trang bị những kiến thức, kỹ năng phù hợp để đáp ứng yêu cầu công việc, học cách vận hành các máy móc, dây chuyền hiện đại… Các doanh nghiệp nên cử nhân viên có trình độ phù hợp tham gia các khóa tập huấn ngắn hoặc dài hạn để nâng cao tay nghề và tiếp cận được công nghệ cao
Đối với giáo dục vào đào tạo:
+ Các cơ sở đào tạo (CSĐT) cần căn cứ vào dự báo nguồn nhân lực của trung tâm
dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin TTLĐ Tp.HCM, để chú trọng tập trung đào tạo nguồn nhân lực các nhóm ngành trọng yếu tại TP.HCM, nâng cao kỹ năng tiếp cận công nghệ mới, đào tạo chuyên sâu, nhằm có kế hoạch, chiến lược đào tạo cho đội ngủ cán bộ giảng dạy tiếp cận các công nghệ mới, tiên tiến của thế giới, bắt kịp xu thế hiện tại trong thời đại công nghiệp 4.0
+ Các CSĐT phải đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp 4.0, tự thay đổi để phù hợp với nền công nghiệp mới Nên áp dụng mô hình đại học 4.0 [8] đang được đánh giá là mô hình phù hợp
Dạy học 4.0 [8]: có nhiều hình thức học tập mới, thời gian và địa điểm học tập không bị ràng buộc, có sự thay đổi phù hợp với đối tượng học, cung cấp nhiều kỹ năng phù hợp hơn [7] Các lớp học truyền thống sẽ được thay thế bằng các lớp học trực tuyến, lớp học ảo, Các hình thức đào tạo online, đào tạo
ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng… Không gian học tập đa dạng hơn, thay vì những phòng thí nghiệm hay phòng mô phỏng truyền thống, thì người học có thể trải nghiệm học tập bằng không gian ảo, có thể tương tác trong điều kiện như thật thông qua các phần mềm và hệ thống mạng Tài nguyên học tập số trong điều kiện kết nối không gian thật và ảo sẽ vô cùng phong phú
Nghiên cứu 4.0 [8]: hình thức nghiên cứu mới (tốc độ, kết quả, quá trình đánh giá), hệ thống dữ liệu quy mô lớn hơn và đa đạng nguồn hơn [7] Thông qua
2%
31%
67%
Nông nghiệp
Công nghiệp - Xây dựng
Dịch vụ
Trang 5lượng data đủ lớn về cá nhân người học (thời lượng học, phương pháp, lộ trình đào tạo, mức độ tương tác, kết quả học tập…), các thuật toán Machine Learning sẽ đưa ra một phương pháp giáo dục tốt nhất cho từng học sinh với
lộ trình tối ưu cá nhân hóa phương pháp học tập mà ngay cả giáo viên tốt nhất cũng không bằng được
Quản lý 4.0 [8]: giảng dạy (hệ thống phần mềm thực hiện được nhiều mục đích hơn, những công cụ quản lý hiệu quả hơn, hệ thống thông tin lớn hơn), nghiên cứu khoa học (hệ thống thông tin nghiên cứu khoa học, quản lý dự án), quản lý cơ sở đào tạo, bộ phận hỗ trợ tài chính [7] Sử dụng hệ thống máy tính và dữ liệu big data để thiết kế chương trình, tổ chức giảng dạy cho từng đối tượng một cách hiệu quả nhất Chất lượng đào tạo trực tuyến được kiểm soát dễ dàng bằng các công cụ hỗ trợ, như các cảm biến và kết nối không gian mạng Big data sẽ là nguồn dữ liệu vô tận để học tập trải nghiệm về phân tích, nhận dạng xu hướng hay dự báo kinh doanh ở mức chính xác cao + Xây dựng, cập nhật và đổi mới chương trình học phù hợp thay đổi của xã hội, đáp ứng nhu cầu công việc Bổ sung thêm các môn học về công nghệ thông tin cho SV các khối ngành Non-IT để SV có thể thích nghi với những thay đổi công nghệ trong công việc để có thể dễ dàng tiếp cận và nắm bắt công nghệ đáp ứng nhu cầu công việc ngành học của mình
+ Một số kỹ năng cũng cần được đưa vào chương trình học như: Kỹ năng mềm, tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, ngoại ngữ, tin học… + Giảng viên (GV) phải trang bị và cập nhật liên tục kiến thức, công nghệ vững vàng, phải thường xuyên tham gia các hoạt động về công nghệ chuyên môn giảng dạy của mình để cập nhật kiến thức mới và nắm bắt kịp các công nghệ mới Như [7] có đề cập, GV cần mở rộng quan hệ, hợp tác, đối thoại với doanh nghiệp để cùng nghiên cứu, tập huấn và tư vấn, qua đó GV tiếp cận điều kiện sản xuất, kinh doanh thực tế, nắm bắt được những thay đổi của thị trường để thực hiện các điều chỉnh trong công tác giảng dạy Ngoài ra, GV cần trang bị kiến thức giảng dạy cập nhật công nghệ hiện đại và khả năng truyền đạt, áp dụng bằng tiếp cận các
mô hình thực tế, những minh họa thực tiễn, demo kết hợp giữa thực hành và trình bày lý thuyết liên quan, phải thay đổi cách giảng dạy truyền thống (dạy lý thuyết chay, sau đó thực hành) nhằm mục đích tránh nhàm chán trong việc tiếp cận kiến thức lẫn kỹ năng thực hành cho người học (SV), SV sẽ hứng thú và dễ tiếp thu hơn với việc biết trước kết quả áp dụng của những kiến thức mình đang học Như trong [5] có đề cập đến việc GV giảng dạy bằng phương pháp STEM (trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) GV phải là người sáng tạo, để thiết kế và truyền đạt bài giảng theo hướng sáng tạo, thảo luận theo những chủ đề mở, nhằm kích thích sự sáng tạo, tìm tòi và ham học hỏi của SV, có như vậy mới thay đổi tính rập khuôn trong việc học của SV và đó là điều cần thiết cho SV khi tiếp cận những công nghệ mới trong thời đại công nghiệp 4.0
+ Giáo dục 4.0 sẽ kết hợp các thông tin thực tế và thế giới ảo Tài nguyên ảo, ví dụ kính cho thực tế ảo, sẽ được sử dụng để giảng dạy Giáo dục đại học sẽ được tăng cường, ví dụ như quá trình khoa học thông tin sẽ cần phải bao gồm kiến thức
về quản lý quy trình Kiến thức, khuôn khổ chất lượng và đào tạo nhân viên sẽ
là một phần thiết yếu của Công nghiệp 4.0 Các môi trường học tập ảo (Virtual Learning Environment - VLE) sẽ được sử dụng để chuyển giao kiến thức và
kỹ năng phát triển cao GV và SV sẽ gặp các ảnh đại diện (avatar) của họ trong
Trang 6VLEs VLE sẽ là bước đầu tiên trong việc giáo dục nhân viên mới Phần tiếp theo của giáo dục sẽ là việc thực hiện thực tế gia tăng trong môi trường thực Các khóa đào tạo của nhân viên mới sẽ được thực hiện qua thực tế tăng cường trong môi trường có thực Những loại hình giáo dục này rất tốn kém, Thực tế này có thể dẫn đến việc tư nhân hoá một số trường đại học hoặc thành lập các trường trung học bởi các công ty lớn [1]
+ Trong [5] nêu bốn giải pháp đồng bộ, (i) cần đổi mới phương pháp giáo dục và mục tiêu giáo dục đầu tiên đặc biệt là bậc học sau Trung học phổ thông (ĐH, CĐ, THCN), không đào tạo theo chỉ tiêu, số lượng mà đào tạo đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực thực tế (ii) đánh giá đầy đủ các số liệu thực tế về trình độ, tình trạng lao động hiện nay ở mức độ rộng, để có cái nhìn trung thực, khách quan về chất lượng nguồn nhân lực, qua đó tham mưu chính xác kịp thời để có những cơ chế, chính sách điều chỉnh hợp lý về nguồn nhân lực (iii) Tự thân các doanh nghiệp có cơ chế phối hợp theo mô hình “Nhà trường – Doanh nghiệp – Người lao động”, dựa trên nhu cầu của DN, nhà trường sẽ tiến hành đào tạo theo “đơn đặt hàng” (iv) Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực kỹ thuật, công nghệ cao Như vậy, để kết hợp nhuần nhuyễn bốn giải pháp này một cách đồng
bộ, đòi hỏi chúng ta phải khéo léo, kiên trì, nhìn nhận thực tế và không ngại đổi mới, như thế mới đào tạo ra một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu xã hội trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung và thị trường lao động tại Tp.HCM nói riêng
4 Kết luận
Như vậy, từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra cho Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng những thách không nhỏ cho nguồn nhân lực Đòi hỏi người lao động phải đủ trình độ và khả năng mới không bị đào thải, đáp ứng được nhu cầu lao động của
xã hội Nhìn nhận lại những thách thức của CMCN 4.0 đối với nguồn nhân lực tại Tp.HCM, Tp.HCM nên chú trọng đến việc giáo dục con người, tiếp cận các công nghệ mới Chỉ những nhân viên có trình độ và trình độ cao mới có thể kiểm soát và vận hành các công nghệ này Quản lý con người không chỉ tập trung vào việc tuyển chọn nhân sự
và sa thải nhân viên mà còn tập trung vào phát triển nguồn lực con người, tức là giáo dục
và đào tạo nhân viên Nếu làm tốt các nhiệm vụ đặt ra và và kết hợp hoàn mỹ giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà trường sẽ khiến cho thị trường lao động tại Tp.HCM đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong thời đại công nghiệp 4.0, góp phần vào thị trường lao động Việt Nam và các nước trên thế giới
Tài liệu tham khảo
[1] Andrea Benešová, Jiří Tupa, Requirements for Education and Qualification of People in Industry 4.0, Procedia Manufacturing 11; ScienceDirect, 2017
[2] Chu Ngoc Anh, The fourth technological revolution: Opportunities and Challenges for Sustainable Growth of Vietnam, Member of the Party Central
Committee, Minister of Science and Technology, Communist Review No 891, 2017
[3] Klaus Schwab, The Fourth Industrial Revolution, World Economic Forum, 2016 [4] Trần Anh Tuấn, Hồ Thiện Thông Minh, Tác động tăng trưởng kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 – 2025 theo cơ chế đặc thù đối với phát triển nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, 2018
[5] https://petrotimes.vn/cac-van-de-quan-tri-nguon-nhan-luc-trong-cuoc-cach-mang-40-511597.html, truy cập ngày 30/11/2018
Trang 7[6] Trần Anh Tuấn, Báo cáo tham luận nhu cầu nhân lực giai đoạn 2017 - 2025 tại Thành phố Hồ Chí Minh Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới, 2018 [7] Nguyễn Đức Nghĩa, Đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh giáo dục đại học 4.0,
2018
[8] GS Gottfried Vossen, Hội thảo “Mô hình ĐH 4.0 – Nền tảng giáo dục thế kỷ 21”,
2017