1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN Phân tích học thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson.

15 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 449,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng lý thuyết này, các quốc gia muốn đạt mức tăng trưởng kinh tế thì cần có một cú huých từ bên ngoài cụ thể như yếu tố về vốn, khoa học công nghệ hiện đại, chuyên gia… trong đó thì

Trang 1

1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế (ECO06A)

ĐỀ TÀI: Phân tích học thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và

cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson Liên hệ với vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

Giảng viên hướng dẫn : Phạm Thanh Hiền

Sinh viên thực hiện : Cao Hữu Phước

Lớp : 211ECO06A30

Mã sinh viên : 21A4040088

Hà nội, ngày 06 tháng 01 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson 4

1.1 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” 4

1.2 Lý thuyết về “cú huých từ bên ngoài” 5

Chương 2: Phân tích thực trạng vận dụng lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài vào nền kinh tế Việt Nam 7

2.1 Sơ lược đặc điểm nền kinh tế Việt Nam 7

2.2 Thực trạng vận dụng lý thuyết vào nền kinh tế Việt Nam 8

2.2.1 Từ năm 1986 đến nay 8

2.2.2 Trong đại dịch Covid-19 9

2.3 Đánh giá 10

2.3.1 Thành công 10

2.3.2 Hạn chế 10

Chương 3: Giải pháp 12

3.1 Giải pháp chung 12

3.2 Liên hệ sinh viên 13

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

3

MỞ ĐẦU

Trong vài thập kỷ qua, các nước đang phát triển chiếm 2/3 tổng số nước trên thế giới đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thế giới, từng là động cơ tăng trưởng trong thời gian sau khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên với sự phát triển không ngừng, môi trường kinh tế ở các nước đang phát triển ngày càng gặp nhiều khó khăn

Nhà kinh tế học Samuelson với tác phẩm “Kinh tế học” ra đời vào năm 1948, trong đó ông đưa ra thuyết “Cái vòng luẩn quẩn” và “Cú huých từ bên ngoài” Với

lý thuyết này nhiều quốc gia đang phát triển đã vận dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế nhất, trong đó có Việt Nam Vận dụng lý thuyết này, các quốc gia muốn đạt mức tăng trưởng kinh tế thì cần có một cú huých từ bên ngoài cụ thể như yếu tố

về vốn, khoa học công nghệ hiện đại, chuyên gia… trong đó thì yếu tố vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò là cú huých mang tính đột phá quan trọng trong yếu tố tăng trưởng kinh tế của các quốc gia

Từ những lý do trên, thông qua việc tìm hiểu về lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn”

và “Cú huých từ bên ngoài”, đề tài em chọn “Phân tích học thuyết về “cái vòng

luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson Liên hệ với vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam” sẽ làm rõ thực trạng vận dụng lý

thuyết này tại Việt Nam và giải pháp đề xuất cho những khó khăn còn tồn tại

Trang 4

Chương 1 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson

1.1 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn”

Có thể thấy, những nhân tố chính góp phần tác động đến tình hình phát triển kinh tế xoay quanh bốn yếu tố là tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, cơ cấu tư bản và kỹ thuật công nghệ Tuy nhiên, các nhân tố này ở các nước đang phát triển đang gặp khó khăn trong việc khai thác và vận dụng một cách hiệu quả vào thực tế Những hạn chế đang gặp phải khiến các nước này bị bó buộc và cứ mãi quẩn quanh trong cái “vòng” lặp đi lặp lại từ chính bốn yếu tố này tạo nên

Hình 1: Cái vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển

Theo lý thuyết này, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, do khả năng tích luỹ vốn hạn chế Những yếu tố này có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và mọi thứ trở nên khó khăn hơn khi chúng liên kết chặt chẽ với nhau theo “vòng” Nếu những yếu tố này mang sự phát triển tích cực thì chưa chắc khẳng định nó sẽ mang đến những kết quả tốt nhất Nhưng khi chúng rơi vào trạng thái khó khăn sẽ kéo theo một vòng tròn lặp lại những kết quả xấu Thu nhập thấp nên tiết kiệm thấp, tiết kiệm thấp thì nguồn vốn không được đảm bảo, vốn không thỏa đáng khiến việc theo kịp độ tiên tiến của máy móc và khoa học là không thể, kìm hãm sự tăng nhanh của năng suất, từ đó sản lượng không được như hy vọng và lại kéo theo thu nhập thấp

Cứ như vậy, một “cái vòng luẩn quẩn” khiến kinh tế các nước đang phát triển mỗi ngày lại càng trầm trọng thêm Bên cạnh đó, hệ lụy kéo theo như là trình độ giáo dục, tỉ lệ biết chữ và các kỹ năng trở nên hạn chế Những yếu tố này cản trở

Trang 5

5

một các triệt để con đường thích ứng với các tiến bộ công nghệ mới, mặt khác còn làm cho dân số tăng nhanh, tiêu dùng hết phần gia tăng sản lượng và lương thực

1.2 Lý thuyết về “cú huých từ bên ngoài”

Samuelson cho rằng, để phát triển kinh tế phải có cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn”, đó là phải có sự đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển Lý thuyết về “cú huých từ bên ngoài” đưa ra được củng cố mạnh

mẽ về tư tưởng và là mấu chốt để giải quyết vấn đề các nước đang phát triển gặp phải

• Cú huých từ bên ngoài đầu tiên: vấn đề đầu tư từ nước ngoài

Định nghĩa theo tổ chức Thương mại Thế giới đã đưa ra:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.”

FDI đã thể hiện vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển FDI bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, phát triển công nghệ, phát triển nguồn nhân lực làm việc, mở rộng thị trường để thúc đẩy xuất khẩu

và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Không chỉ bổ sung nguồn vốn để phát triển kinh tế, FDI còn là một luồng vốn ổn định so với các nguồn vốn đầu tư khác bởi vì nó được dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về khả năng phát triển và không tạo ra món nợ cho nước nhận đầu tư Điều này phần nào tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế

Ngoài nguốn vốn FDI, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng là một hình thức các tổ chức đầu tư quốc tế đầu tư vào các nước đang phát triển Dưới hai dạng là vốn ODA không hoàn lại và vốn ODA ưu đãi, nguồn vốn này giúp các nước đang phát triển tận dụng trong việc phát triển giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng trong một thời gian vay dài với lãi suất thấp

• Cú huých từ bên ngoài thứ hai: yếu tố khoa học - công nghệ

Mục tiêu chính của FDI là tìm ra những môi trường sản xuất hàng hóa với chi phí thấp nhất, nên chủ yếu các nhà đầu tư sẽ tìm các khu vực đang phát triển với tiềm năng về nhân công giá rẻ Từ đây, cũng là cơ sở để đào tạo nguồn nhân lực quốc gia các kỹ năng nghề, hơn thế nữa là học được các kỹ thuật tiên tiến, mới mẻ,

Trang 6

tiến bộ của công nghệ từ các quốc gia đầu tư khác Bên cạnh đó, công nghệ là yếu

tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ Với phương diện công nghệ thì nó được thể hiện rõ nét nhất qua hai hình thức chính là chuyển giao công nghệ sãn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trong nước

Trang 7

7

Chương 2: Phân tích thực trạng vận dụng lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài vào nền kinh tế Việt Nam

2.1 Sơ lược đặc điểm nền kinh tế Việt Nam

Việt Nam được nhận định là một quốc gia đang phát triển với định hướng nền kinh tế thị trường theo chủ nghĩa xã hội Trong 40 năm trở lại đây, Việt Nam đã và đang có những bước tiến mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế trong đó cả về hoạt động thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Mang những đặc điểm của đất nước đang phát triển, Việt Nam trở thành một điểm đến thu hút của các nguồn vốn đầu tư nước ngoài

- Về tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam là một đất nước nhỏ, tuy nhiên thiên

nhiên có phần ưu ái vì có đường biển dài chạy dọc đất nước Do vậy, các tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, hệ thống sông ngòi, các loại địa hình đa dạng trải dài trên cả nước

- Về nguồn nhân lực, nước ta được đánh giá luôn có một nguồn lao động dồi

dào chiếm đến 50% dân số cả nước Nhưng có đến trên 70% số lao động này không được đào tạo các kỹ năng chuyên môn một cách bài bản Năm 2021, lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên năm 2021 là 26,1%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước1 Mặc dù những năm gần đây đã có tăng nhưng với nguồn nhân lực như vậy là chưa thể đáp ứng được yêu cầu từ các nhà đầu tư

- Về cơ cấu kinh tế, nhận định qua các năm, Việt Nam từ một nước nông nghiệp

đã dịch chuyển tỉ trọng sang công nghiệp và dịch vụ Năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,36%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,86%; khu vực dịch vụ chiếm 40,95%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,83%2

- Về kỹ thuật – công nghệ: Hiện nay, mạng lưới các tổ chức khoa học – công

nghệ ở nước ta lên đến trên 1000 tổ chức ở mọi thành phần kinh tế Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước từ năm 2000 đã quyết định chi 2% cho các chính sách đầu tư phát triển kỹ thuật – công nghệ mới Tuy đã góp phần nào cải thiện bền vững phát triển nền kinh tế, nhưng các trang thiết bị của các viện đào tào – nghiên cứu và các trường đại học nhìn chung chưa được đầy đủ và đồng bộ

1 Tổng cục thống kê (2021), Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV và năm 2021

2 Tổng cục thống kê (2021), Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2021

Trang 8

2.2 Thực trạng vận dụng lý thuyết vào nền kinh tế Việt Nam

2.2.1 Từ năm 1986 đến nay

Trước những năm 80 của thế kỷ XX, việc thu hút nguồn đầu tư không đạt được hiệu quả như mong đợi bởi điều kiện trong nước còn gặp nhiều khó khăn Đến năm

1986, Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu giải phóng toàn bộ nguồn lực để phát triển kinh tế Năm

1987, Quốc hội chính thức thông qua Luật Đầu tư nước ngoài, đây là văn bản pháp

lý quan trọng nhất đối với đầu tư nước ngoài Sự thay đổi này khiến nền kinh tế nước ta mới thực sự bước sang một trang mới

Từ đây, thu hút vốn đầu tư nước ngoài luôn được đề cao là phương án để phục hồi và phát triển nền kinh tế Sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa kỳ, nước ta liên tục tham gia vào các tổ chứ kinh tế thế giới và khu vực như ASEAN - 1995, Tổ chức WTO - 2007 và các hiệp định thương mại (FTA)… Các quy định và điều kiện của hàng rào thuế quan hay hàng hóa xuất khẩu được nới lỏng và tháo gỡ một cách phù hợp nhất Về hoạt động trong nước, các khu công nghiệp thay đổi và phát triển dựa trên những tiêu chuẩn tốt nhất để đón được các dòng vốn FDI Giai đoạn

1995-2000, tăng trưởng kinh tế Việt Nam duy trì ở mức cao (9,54% năm 1995 và 9,34% năm 1996)

Đầu tư nước ngoài dần trở thành nguồn vốn quan trọng Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), sau hơn 30 năm “đón” vốn FDI, từ năm 1988 đến tháng 8/2018, 63 tỉnh, thành phố của cả nước thu hút 26.438 dự án FDI của 129 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 333,83 tỷ USD, vốn thực hiện ước đạt 183,62 tỷ USD, bằng 55% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực Ngoài

bổ sung nguồn vốn chất lượng, FDI đã tạo ra khoảng 330.000 việc làm trực tiếp năm 1995 lên khoảng 3,6 triệu việc làm trực tiếp năm 2017 và khoảng 5-6 triệu việc làm gián tiếp

Khoa học - công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, sản xuất tăng năng suất thì sẽ khiến GDP tăng, từ đó thu nhập cũng tăng Bởi vậy đây chính là một trong những yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển nền kinh tế Quyết định 418

về chiến lược phát triển khoa học - công nghệ đã đạt được nhiều thành công Theo tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu mới (GCI 4.0) được áp dụng từ năm

Trang 9

9

2017, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 năm 2019 của Việt Nam tăng 10 bậc

so với năm 2018 và xếp thứ 67/141 nền kinh tế3 Trong đó, trụ cột Ứng dụng Công nghệ thông tin xếp ở vị trí 41/141

2.2.2 Trong đại dịch Covid-19

Cũng như tại nhiều quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh Tuy nhiên những diễn biến mới nhất càng khẳng định những khó khăn này chỉ là nhất thời, Việt Nam đã và đang kiểm soát được dịch bệnh, thích ứng an toàn, linh hoạt, tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư Chính phủ Việt Nam quyết liệt triển khai có hiệu quả các nhóm giải pháp cho những vấn đề lớn có tác động trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp Sự quyết liệt đã chứng tỏ ngay trong những ngày dịch bệnh căng thẳng nhất, Việt Nam vẫn tiếp tục đón nhận nhiều dự án lớn Có thể kể tới dự án LG Display Hải Phòng (của Hàn Quốc), điều chỉnh tăng vốn 1,4 tỷ USD ngày 30/8/2021; dự án nhà máy sản xuất giấy tại Vĩnh Phúc (của Nhật Bản) với tổng vốn đầu tư 611,4 triệu USD (ngày 23/7/2021)

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước Cụ thể, có 1.738 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với tổng vốn đăng ký đạt trên 15,2 tỷ USD, tương đương giảm 31,1% về dự án và tăng 4,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái; 985 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn với tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 9 tỷ USD tương đương giảm 13,6% về dự án và tăng 40,5% về giá trị

Những con số đã phần nào thể hiện được sự cố gắng của Chính phủ cũng như các doanh nghiệp trong đại dịch Covid-19 Trong bối cảnh mà cả thế giới cũng đang gặp khó khăn, tình hình kinh tế bị ảnh hưởng và giảm sút nghiêm trọng Việt Nam

đã có những chiến lược, giải pháp để tránh bị cuốn và giảm thiểu nhất sự khó khăn tại tất cả các lĩnh vực có thể gây ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước Với lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài, bối cảnh dịch Covid-19 lần này là thời gian để Việt Nam vận dụng lý thuyết của Samuelson, thấy rõ được vai

3 World Bank (2019), Báo cáo GCI 4.0 năm 2019

Trang 10

trò của nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng là một phần quan trọng để nền kinh tế nước ta không bị rơi vào trạng thái nghiêm trọng

2.3 Đánh giá

2.3.1 Thành công

Việt Nam đã có nhiều bước tiến vượt bậc sau ba thập kỷ qua và được dự báo sẽ nằm trong top 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới và top 10 khu vực Châu Á vào năm

20504 Có được sự đánh giá tích này là nhờ việc đổi mới các chính sách thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Các nguồn vốn này giúp nước ta khỏa lấp thiếu hụt

về vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc hiện đại hóa công nghệ của nền kinh tế

Việc làm cho người lao động cũng được tạo ra rất nhiều, hình thành đội ngũ lao động có tay nghề cao và tinh thần lao động sáng tạo, có kỷ cương, kỷ luật Cùng với đó là gia tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần giải quyết đói nghèo, nâng cao đời sống người dân, góp phần gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Khi doanh nghiệp nước ngoài phát triển cũng thúc đẩy phát triển của đội ngũ doanh nghiệp trong nước Các tiến bộ khoa học công nghệ cũng được tiếp thu và sáng tạo đổi mới

2.3.2 Hạn chế

Bên cạnh những lợi ích to lớn mà nguồn tư bản nước ngoài đem lại, tác động của nó trở lại nước ta cũng có tính hai mặt Cùng với đó là một số hạn chế và vướng mắc trong các chính sách của nước ta khi triển khai

Thứ nhất, thực thi pháp luật: Pháp luật về đầu tư nước ngoài đôi khi còn chồng

chéo, mâu thuẫn lẫn nhau, thiếu đồng bộ và không nhất quán về chủ trương, thậm chí nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ Nhiều quy định còn rườm rà, phức tạp, khó hiểu, đặc biệt là những quy định, thủ tục liên quan đến thuế quan và đầu tư, dẫn đến việc không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn Việt Nam là nơi đặt các nhà máy sản xuất để xuất khẩu

4 PwC (2017), Báo cáo Tiêu điểm Việt Nam

Ngày đăng: 26/01/2022, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w