Hệ thống câu hỏi thực tế môn Tiền tệ - Ngân hàng Câu 1: Phân tích hoạt động của chính sách tiền tệ của NHNN từ đầu năm đến nay Trả lời: Chính sách tiền tệ của NHNN trong 3 quý đầu của
Trang 1Hệ thống câu hỏi thực tế môn Tiền tệ - Ngân hàng
Câu 1: Phân tích hoạt động của chính sách tiền tệ của NHNN từ đầu năm đến nay
Trả lời:
Chính sách tiền tệ của NHNN trong 3 quý đầu của năm 2015
9 tháng đầu năm chính sách tiền tệ đã góp phần kiểm soát lạm phá, ổn định thị trường vàng,ngoại tệ và tỷ giá, giảm mặt bằng lãi lỗ, hỗ trợ vốn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn hoạt động nâng cao hệ thống ngân hàng Việt Nam Những kết quả trên đã giúp ổn định kinh tế vi mô, thúc đẩy kinh tế phát triển
Mặt bằng lãi suất trên thị trường hiện nay đã giảm 1,5- 2%/năm so với cuối năm 2013 Tuy nhiên ngay từ giữa năm, lãi suất đã tăng sau 2 lần điều chỉnh Điều này khiến cho dự địa cho vay khó có cơ hội giảm sâu thêm
Từ đầu tháng 6/2015, lãi suất đầu vào của nhiều ngân hàng đã rục rịch tăng Một số ngân hàng sau thời gian dài giữ mặt bằng lãi suất tiền đồng đứng yên hoặc giảm xuống nay đã bắt đầu tăng lãi suất huy động Với mức điều chỉnh lãi suất huy động từ 0,2-0,5% Cụ thể: tại agribank, lãi suất kì hạn 18 tháng: 6,5%/năm thay cho 6,2%, kì hạn 24 tháng : 6,8%/năm thay cho 6,3 %/năm,
Chưa dừng lại ở đó, sau khi NHNN liên tục đưa ra quyết định điều chỉnh tỷ giá trong đầu tháng 9 năm 2015 một số ngân hàng thương mại cổ phần đã niêm yết biểu lãi suất mới theo hướng nhích nhẹ lãi suất huy động ở một vài kỳ hạn thêm từ 0,1- 0,3% điển hình như sacombank với kỳ hạn 3 tháng là 4,9% tăng 0,3%, kỳ hạn 6 tháng là 5,5% tăng 0,1 %
Tính chung toàn hệ thống, lãi suất huy động tiếp tục duy trì ở mức với kỳ hạn dưới 6 tháng vào khoảng từ 4,5-5,4%/năm, kỳ hạn trên 6 tháng từ 5,4-7,2%/năm.Việc mặt bằng huy động trong 2 năm gần đây tăng được các chuyên gia phân tích là tất yếu và phù hợp
Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại lãi suất cho vay vẫn đang được ổn định không có xu hướng tăng theolãi suất huy động, so với mặt bằng lãi suất trước đây ở mức 20% thì mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay là rất thấp Trong khi đó lãi suất cho vay ở các lĩnh vực ưu tiênvào khoảng từ 6-7% /năm vs ngắn hạn và 9-10% năm vs trung và dài hạn, còn lãi suất cho vay ở
Trang 2các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường chiếm từ 7-9% vs ngắn hạn từ 9,3-11% năm vs trung và dài hạn
Với nền kinh tế đang được hồi phục thì mức cho vay này vẫn còn khá cao đối với sức chịu đựng của khá nhiều doanh nghiệp
Với việc hàng loạt các ngân hàng thương mại đang tăng lãi suất huy động như hiện nay khiến cho việc giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp ngày càng khó khăn hơn Phần lớn các doanh nghiệp đều hy vọng lãi suất cho vay tiếp tục giảm trong năm 2015 như mục tiêu ban đầu đã đề ra Tuy nhiên , với việc lãi suất cho vay vẫn đang tăng như hiện nay thì mục tiêu giảm lãi suất như năm 2014 sẽ rất khó khăn bởi nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi
Hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng hiện nay đang ở mức tăng trưởng cao nhất tính
từ năm 2011 đến nay Tính đến 31/8/2015 tín dụng nền kinh tế tăng 10.23% so với cuối năm
2014 Đây là con số khá ấn tượng, gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái Hồi đầu năm ngân hàng nhà nước đặt mức tăng trưởng là 13-15% trong năm nay Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng với diễn biến của hoạt động tín dụng thời gian qua thì mục tiêu 15% sẽ dễ dàng vượt qua Như vậy tín dụng có sự khởi sắc ngay từ những tháng đầu năm và tăng trưởng đều trong những tháng còn lại Trong đó thị trường bất động sản là điểm nhấn đáng chú ý tác động lên tăng trưởng tín dụng, dòng tín dụng đổ vào bất động sản tăng 70% so vs năm 2012 và vẫn đang ở mức tăng trưởng nhanh
Ngay từ đầu 2015, thống đốc NHNN ra thông điệp cả năm sẽ điều chỉnh tỉ giá trong biên độ 2%, tuy nhiên cam kết này đã chính thức bị phá vỡ , khi cả năm nhà nước đã 3 lần tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng và 2 lần nới biên độ tỉ gía
Động thái này được coi là điểm bất ngờ trong chính sách điều hành tỉ giá Ngày 12/8, trước
sự việc TQ phá giá đồng NDT, NHNN có thông báo điều cỉnh biên độ từ +/-1% lên +/-2% với
tỉ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 21673VND/1USD Ngày 19/8 NHNN bất ngờ tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1%
Lạm phát 9 tháng đầu năm nay ở mức rất thấp, hơn 70% doanh nghiệp kinh doanh không có lãi Hệ thống doanh nghiệp đang chờ đợi ngân hàng giảm lãi suất, nới lỏng room tín dụng thế nhưng thời điểm này NHNN có nên nới lỏng chính sách tiền tệ hay không vẫn
là điều gây ra nhiều tranh cãi
Trang 3Câu 2: Phân tích biến động chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam từ đầu năm đến nay và dự báo 6 tháng tiếp theo
Trả lời:
K/n: Chỉ số giá tiêu dùng CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ là tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào 1 giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng
Xu hướng chủ đạo của CPI từ đầu năm đến nay là Tăng thấp, xu hướng còn tiếp diễn, trong
đó có các thời điểm đáng chú ý sau:
CPI T5/2015: tăng 0,16% cao nhất đầu năm đến nay
Nguyên nhân:
+ Thời tiết chuyển nóng , nhu cầu đối với 1 số hàng hóa, DV ( đồ uống, thiết bị, đồ dùng gia đình , nước sạch ) tăng nhẹ, gây sức ép đối với giá hàng hóa , dịch vụ này
+ 5/2015 : do tác động giá xăng dầu thành phẩm thế giới => giá xăng dầu điều chỉnh tăng 2 đợt Trong đó điều chỉnh tăng giá xăng dầu T5/2015 tác động chủ yếu đến mức tăng CPI 5/2015 của nhóm giao thông tăng 1,02 %
+ Ngoài ra, do chịu ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá bán điện bình quân và lượng điện tiêu thụ tăng do nắng nóng => CPI tăng , đóng góp làm tăng CPI chung T5 0,11%
CPI T8/ 2015 : CPI giảm 0,07% so với tháng 7 Đây là lần đầu tiên trong 10 năm gần đây CPI tháng 8 giảm so với tháng trước
So với tháng 12 năm trước, CPI tháng 8/2015 tăng 0,61% , còn CPI bình quân 8 tháng đầu năm so với cùng kì năm trước tăng 0,83% ( mặt hàng lương thực giảm do xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn , mặt hàng thực phẩm tăng nhẹ do tác động do nhu cầu sản xuất các sản phẩm dịp Tết Trung Thu)
Đồ uống thuốc lá tăng 0,07% , may mặc, mũ nón tăng 0,28 % do chuẩn bị năm học mới , thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,11% , giáo dục tăng 0,87%
CPI tháng 8 giảm do:
+ chủ yếu do xăng dầu được điều chỉnh giảm => làm nhóm giao thông giảm 2,12%, đóng góp 0,19% vào mức giảm chung CPI
Trang 4+ Giá Gas giảm ( do giá gas NK giảm ) => chỉ số giá gas giảm 2,5% so với tháng trước + Tháng 8 bớt nắng nóng => lượng điện tiêu dùng thấp hơn so với tháng 7 => chỉ số giá tiêu dùng nhóm điện giảm 0,32%
- CPI T11/2015 :CPI tăng nhẹ 0,07% so với tháng trước
+ Tăng chủ yếu do chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,31% do các thương lái thu gom lúa gạo cho hợp đồng xuất khẩu gạo sang In-đô-nê-xi-a và Phi-lip-pin
+ Miền Bắc và tháng giao mùa => nhu cầu về quần áo, giày dép thu đông tăng cao, bên cạnh đó việc giá gas tăng thêm gần 4% kể từ đầu T11 cũng là những yếu tố chính tạo nên xu hướng tăng CPI cả nước
+ Bưu chính viễn thông và giao thông là 2 nhóm có chỉ số giá giảm
- Dự báo 6 tháng tiếp theo:
+ CPI 2016 sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp
+ CPI cao hơn 2015 do giá cả 1 số mặt hàng cơ bản và dịch vụ tiếp tục đc điều chỉnh
+ Tuy nhiên giá trên thị trường quốc tế tiếp tục thấp, nhu cầu trong nước chưa tăng mạnh , CPI được dự báo tiếp tục mức thấp 3,5%- 4,5% ( giá dầu thô, nguyên liệu trên thế giới tiếp tục
cố định với mức thấp)
Câu 3: Phân tích diễn biến lãi suất thị trường Việt Nam từ đầu năm đến nay và dự đoán 6 tháng tiếp theo:
Trả lời:
+ 6 tháng đầu 2015, mặt bằng lãi suất giảm khoảng 0,3%/năm tạo điều kiện cho tăng
trưởng tín dụng, huy động vốn, tổng phương tiện thanh toán tăng so với cuối năm 2014
Thanh khoản của hệ thống NHTM tiếp tục được cải thiện, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả
+ 6 tháng cuối2015, xu hướngtănglãi suất của một số ngân hàng gần đây không phải là
hàng giảm sâu lãi suất huy động và hiện nay tăng lên ngang với mặt bằng chung Còn lãi suất huy động kỳ hạn trên 6 tháng cơ bản vẫn ổn định
Trong những tháng cuối của năm 2015, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, nhằm kiểm
Trang 5soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng và nền kinh tế
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tập trung điều hành các giải pháp tín dụng linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng, đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng, đảm bảo cung
ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn vay ngân hàng
Dự đoán 6 tháng tiếp theo:
Lạm phát kỳ vọng tăng trở lại cùng với tăng trưởng sáng lên khiến HSBC cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng lãi suất thêm 0,5% vào quý III/2016 do lạm phát có thể tăng lên do hiệu ứng giá vào cuối năm 2016 Một lý do khác để tổ chức này cho rằng bước tiếp theo của Ngân hàng Nhà nước là tăng lãi suất chứ không giảm, là thâm hụt thương mại Trong quá khứ, thâm hụt thương mại của các công ty trong nước, đặc biệt là các công ty nhà nước đã gia tăng cùng với tiêu thụ và đầu tư thông qua vay mượn, gây áp lực cho tiền đồng và tạo ra thách thức cho
nền kinh tế
Câu 4: Nhận xét về hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ hiện nay ở Việt Nam
Trả lời:
Chính sách tiền tệ là 1 trong những chính sách KT Vĩ mô, qua đó NHTW qua các công
cụ thực hiện kiểm soát, điều tiết khối lượng tiền, lãi suất để đạt được mục tiêu cuôí cùng: ổn
định giá, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm
Mục tiêu cuối cùng: Kiểm soát lạm phát
1997-2011: theo đuổi đa mục tiêu, kể cả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định tỷ giá và
kiềm chế lạm phát Tuy nhiên trong ngắn hạn các mục tiêu lại không thể thống nhất, đồng bộ
Từ 2011 về sau: (sau giai đoạn dài tín dụng dễ dãi dẫn đến lạm phát cao, tỷ giá điều chỉnh
mạnh và cuối cùng dẫn đến vỡ bong bóng tín dụng và tài sản năm 201) chú trọng hơn vào kiểm soát lạm phát (phù hợp chuẩn mực quốc tế)
Tính đến tháng 11/2015, CPI mới chỉ tăng 0,58% - thấp nhất trong vòng 14 năm qua
Việc thiết lập các mục tiêu cuối cùng của NHNNVN đều phải qua sự ủng hộ của Chính phủ
=> Hạn chế phần nào sự độc lập của NHNN
Chính sách tiền tệ được điều hành theo lạm phát cơ bản Và lạm phát cơ bản ở mức 2-3% như hiện này là mức cân bằng, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế bền vững
Trang 6+ Mục tiêu trung gian: Chọn chỉ tiêu chính M2, chỉ tiêu bổ sung: dư nợ tín dụng
Thực tế đã chỉ ra rằng sự biến động của khối tiền M2 hoàn toàn phù hợp với sự biến động
của mức giá và sản lượng Tuy nhiên, chính sách lãi suất ấn định phần nào làm giảm hiệu quả
của mục tiêu trung gian này
+ Mục tiêu hoạt động: Chọn MB và R
Bằng việc đạt được mục tiêu về các chỉ tiêu này, NHTW có thể đạt được mục tiêu trung gian và do đó mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất định Sự phản ứng nhanh chóng và chính xác của các chỉ tiêu này mỗi khi NHTW điều chỉnh CSTT giúp cho NHTW có thể kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định trong điều hành CSTT hàng ngày
Câu 5: Hãy bình luận ý kiến cho rằng “Ổn định giá cả trở thành mục tiêu không bàn cãi của chính sách tiền tệ” Liên hệ với Việt Nam
Trả lời:
Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn của chính sách tiền tệ
Các ngân hàng Trung Ương (NHTW) thường lượng hoá mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ số giá cả tiêu dùng xã hội Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm
ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn Điều này có nghĩa là NHTW sẽ không tập trung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt ngắn hạn Do những biện pháp về chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đối với NHTW trong việc theo đuổi để kiểm soát giá cả trong ngắn hạn
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia
vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với
sự thịnh vượng kinh tế của quốc gia
Lạm phát cao hay giảm phát liên tục là rất tốn kém cho xã hội, thậm chí ngay cả trong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quan nhất Sự biến động liên tục của các tỷ lệ lạm phát
dự tính làm méo mó, sai lệch thông tin và do đó làm cho các quyết định kinh tế trở nên không
Trang 7đáng tin cậy và không có hiệu quả Nguy hiểm hơn, sự bất ổn định giá cả dẫn đến sự phân phối lại không công bằng các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát bằng không Những nghiên cứu về lạm phát cho thấy trong khi cố gắng duy trì lạm phát ở gần mức 0, chính sách tiền tệ dễ đưa nền kinh tế đi quá đà và rơi vào tình trạng thiểu phát gây hậu quả còn trầm trọng hơn, đó là làm nền kinh tế suy thoái
Hầu hết ngân hàng trung yêu đều đặt mục tiêu bình ổn giá là mục tiêu dài hạn và chủ yếu của CSTT.Nhưng trong ngắn hạn,dưới áp lực chính trị,họ có thể tạm từ bỏ mục tiêu chủ yếu để hạn chế thất nghiệp.NHTW không thể đồng thời đạt được tất cả các mục tiêu trong ngắn hạn và thường thì NHTW theo đuổi một mục tiêu trong dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn
Liên hệ với Việt Nam:
Từ năm 2011 trở lại đây, nhờ đổi mới hoạt động điều hành CSTT, lạm phát Việt Nam có xu hướng ổn định và có thể kiểm soát tốt
Trước tình hình CPI cao năm 2011 ( CPI bình quân năm 2011 tăng 18,58%), Chính phủ đã
đề ra chủ trương với các biện pháp mạnh, từ đó CPI hằng năm bắt đầu giảm nhanh Từ mức 18,58% năm 2011 thì CPI bình quân cả năm 2012 giảm mạnh chỉ tăng tăng 6,81%, tiếp tục còn 6,04% năm 2013, CPI bình quân cả năm 2014 chỉ dừng ở mức 4,09% và trong 9 tháng đầu năm 2015 tăng 2,15% so cùng kỳ 2014
Nhờ vào việc CPI tăng thấp diễn ra lên tục đang trở thành điều kiện thuận lợi cho cộng đồng DN tiết giảm chi phí mua nhiên, vật liệu dầu vào phục vụ hoạt động sản xuất; từ đó giúp
DN hạ giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường Nhờ đó giúp cho nền kinh tế Việt Nam có nhiều thay đổi, kinh tế vĩ mô ổn định tạo môi trường góp phần thúc đẩy kinh tế
Câu 6: Bình luận sự thay đổi mục tiêu cuối cùng trong điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam
Trả lời:
Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết
định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục
Trang 8tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ
và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”
Có thể nói, trong giai đoạn từ 2011 đến nay, có được những kết quả tích cực về kinh tế vĩ
mô, tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trong đó nổi bật là kiểm soát được lạm phát ở mức một con
số trong thời gian qua là nhờ NHNN đã có những thay đổi trong cách thức điều hành chính sách tiền tệ, khắc phục được những điểm bất cập trong thời kỳ trước, cụ thể:
Trước năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã theo đuổi chính sách đa mục tiêu một cách linh hoạt và mềm dẻo, trong đó mục tiêu duy trì lạm phát thấp và ổn định giữ vai trò chủ đạo
Từ năm 2011, NHNN đã luôn kiên định theo mục tiêu là ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, đồng thời chú trọng đảm bảo an hoàn hoạt động của hệ thống ngân hàng
Trước bối cảnh lạm phát năm 2011 ở mức cao 18,13%, NHNN đã đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát theo định hướng của Chính phủ là khoảng 7-8% năm 2012 và khoảng 7% trong năm
2013 Theo đó, các giải pháp điều hành trong ngắn hạn đều nhất quán và không ảnh hưởng đến mục tiêu xuyên suốt này Với mức lạm phát thực tế là 6,81% của năm 2012 và 6,04% trong năm 2013, có thể nói, đây là hai năm đầu tiên trong vòng nhiều năm qua mức lạm phát thực tế sát với mức lạm phát mục tiêu do Quốc hội đề ra
Trong năm 2014 trước những thách thức chính yếu trên đòi hỏi NHNN tiếp tục phải kiên định với mục tiêu điều hành, phải tăng cường phối hợp chặt chẽ và đồng bộ hơn nữa với các
Bộ, ngành, phải có những chiến lược mạnh mẽ và nỗ lực cao hơn để giải quyết thành công những thách thức Trên cơ sở đó, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 đã được Quốc hội phê duyệt, với chỉ tiêu tăng trưởng đạt mức khoảng 5,8%; lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng - CPI) ở mức khoảng 7%
Do vậy, mục tiêu CSTT cần đạt được trong năm 2014 là: tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát không vượt quá mục tiêu Quốc hội phê chuẩn, ổn định tiền tệ và hệ thống các TCTD, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế
Trong năm 2015, trước những vấn đề đặt ra để đạt được mục tiêu lạm phát 5% của năm
2015 - tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đồng thời tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và góp phần tăng trưởng
Trang 9kinh tế đạt mức 6,5% do Quốc hội đề ra, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ; phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, nhất là chính sách tài khóa để
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không ảnh hưởng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát Tuy nhiên, để thúc đẩy tăng trưởng bền vững, thực sự tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, ngoài các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ, cần triển khai quyết liệt các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp từ các bộ, ngành và địa phương
Kết luân:
Cần xác định rõ mục tiêu ưu tiên trong điều hành CSTT trong từng thời kỳ: Trong điều hành cần có sự thống nhất quan điểm về mục tiêu 153 chính sách, các công cụ chính sách và sự
ưu tiên về mục tiêu trong từng thời kỳ, vì giữa các mục tiêu có sự đánh đổi, chẳng hạn giữa mục tiêu lạm phát và mục tiêu tăng trưởng kinh tế (chẳng hạn muốn kiểm soát lạm phát thì cần điều hành lãi suất tăng, điều này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng; để hỗ trợ ổn định tỷ giá, NHNN điều hành lãi suất liên ngân hàng theo hướng tăng lên để hạn chế hiện tượng đầu cơ ngoại tệ, tuy nhiên nếu kéo dài có thể làm tăng lãi suất huy động cho vay, ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng)
Vì vậy, trong từng thời kỳ, NHNN cần xác định rõ mục tiêu hàng đầu/mục tiêu cuối cùng cũng như mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của CSTT và cần định lượng rõ ràng các mục tiêu đó để có cơ sở điều hành nhất quán
Câu 7: Đánh giá việc kiểm soát mức cung tiền của NHNN Việt Nam từ đầu năm đến nay Trả lời:
Trong năm 2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đổi mới hoạt động điều hành cung ứng tiền theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ với điều hành lãi suất và tỉ giá:
- Một là, điều hành lượng tiền cung ứng một cách linh hoạt nhằm điều tiết thanh khoản TCTD ở mức hợp lý, kiểm soát tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và hoạt động ngân hàng Trong đó, NHNN đã chủ động điều tiết cung ứng tiền thông qua hình thức hỗ trợ tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, nhất là vào thời điểm trước Tết hoặc khi thị trường có biến động, qua đó đã ngăn chặn áp lực lạm phát
Trang 10- Hai là, kết hợp nhịp nhàng giữa các kênh cung ứng tiền với điều hành tỉ giá để ổn định thị trường ngoại hối Việc điều tiết thanh khoản VND hợp lý đã góp phần ổn định tỉ giá và thị trường ngoại hối, đồng thời hỗ trợ các TCTD có tiền mặt để mua ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và tất toán huy động vàng theo lộ trình
-Ba là, triển khai các giải pháp linh hoạt cung ứng tiền hỗ trợ các chương trình ưu tiên của Chính phủ, góp phần giảm lãi suất, và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh
-Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc trường Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra trong Báo cáo kinh tế quý 3 công bố ngày 19-10-2015: Cung tiền được gia tăng qua kênh thị trường mở để bù đắp lượng tiền đồng thu về qua nghiệp vụ bán ngoại tệ Trong khoảng thời gian từ sự kiện ngày 11-8 (khi Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ) đến cuối tháng 9, khoảng 118.000 tỉ đồng được đưa ra lưu thông từ lượng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đáo hạn để cung cấp thanh khoản cho thị trường
-Bên cạnh đó, NHNN thực hiện tái cấp vốn trực tiếp cho các NHTM bị thiếu hụt thanh khoản tạm thời; tái cấp vốn cho các NHTM để cho vay chi phí mùa vụ đối với khu vực nông nghiệp Nhờ các biện pháp của NHNN nên thanh khoản của hệ thống đã bớt căng thẳng và lãi suất trên thị trường liên NH cũng giảm xuống
Nhìn chung, với các chính sách rõ ràng và biện pháp quyết liệt, NHNN đã có những nỗ lực đáng kể trong việc kiểm soát mức cung tiền phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ khó khăn, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao
Câu 8: Đánh giá hiệu quả cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam từ năm 2008 đến nay
Trả lời:
Giai đoạn từ 2007 -2011 (cơ chế lãi suất tự do)
- Năm 2007 NHNN điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt để rút mạnh tiền
từ lưu thông về, giảm tốc độ tăng trưởng phương tiện thanh toán và tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
+ Mức lãi suất cơ bản: 8,25%/năm
+ Lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm
+ Lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm