1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thạc sĩ Báo chí học vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của đài phát thanh và truyền hình quảng ninh

142 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong khái niệm phương thức “Tăng trưởng xanh” mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đang theo đuổi, có một nội dung hết sức quan trọng. Đó là khi xem xét công nhận một xã hội bền vững, cần phải xem xét các giá trị và tiêu chí về môi trường, xã hội và kinh tế. Như vậy, có thể thấy Môi trường sống được đặt ở vị trí hàng đầu và là mối quan tâm mang tính toàn cầu. Chúng ta, ở các mức độ nhận thức khác nhau, đều biết rằng môi trường có vai trò vô cùng to lớn thậm chí mang tính quyết định đối với sự sống trên trái đất này. Có người gọi môi trường là “ Mẹ thiên nhiên”, với lý giải, con người chúng ta giống như đứa trẻ sinh sống bằn những dây rốn gắn liền vào nước, không khí, môi sinh, vi sinh vật trọng lực….điều đó cho thấy sự thân thiết và tầm quan trọng của môi trường đối với sự sinh tồn của con người. Nhưng thực tế, kinh tế ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu về nước, đất, năng lượng, tài nguyên… cũng tăng một cách mạnh mẽ với quy mô ngày càng lớn. Phát triển kinh tế nóng nhưng chưa chú trọng đến bảo vệ môi trường, khiến tài nguyên ngày càng cạn kiệt và lãng phí tài nguyên, lạm dụng hóa chất gây hại cho môi trường… đang là những thách thức lớn đối với tất cả các quốc gia. Trong công tác bảo vệ môi trường, truyền thông là một trong những phương tiện hữu hiệu trong việc lên tiếng, vạch trần các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Vấn đề bảo vệ môi trường được thông tin thường xuyên, liên tục, đa dạng trên các loại hình báo chí như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử với lưu lượng, dung lượng khá lớn, phương thức truyền tải và cách thức thể hiện sinh động, hấp dẫn. Mỗi năm ở Việt Nam có hàng ngàn vụ vi phạm về bảo vệ môi trường được cơ quan chức năng phát hiện và xử lý. Trong đó, nhiều vụ việc được báo chí phản ánh liên tiếp, tạo dư luận xã hội mạnh mẽ và tác động trở lại buộc các nhà quản lý, những người lãnh đạo phải có hành động xử lý vụ việc. Gần đây nhất là vụ nhà máy thép Formosa xả thải, hủy hoại vùng biển miền Trung. Chỉ thị 36 – CTTW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã nêu rõ “ Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân”. Ngày 15112014, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 41 – NQTW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của báo chí truyền thông trong công tác bảo vệ môi trường. Trong đó, giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường được đưa lên vị trí hàng đầu. Quảng Ninh một địa phương tiêu biểu đang phải đối mặt với bài toán môi trường. Là nơi hội tụ những đặc điểm địa hình đặc trưng, có rừng vàng biển bạc, có đồng bằng và vùng núi… nên Quảng Ninh được ví như “ Một nước Việt Nam thu nhỏ”. Đây là địa phương có tiềm năng lớn về tài nguyên môi trường với nguồn tài nguyên than nổi tiếng từ lâu, tài nguyên rừng biển phong phú và đặc biệt là du lịch. Những năm gần đây, khi Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, Quảng Ninh được quy hoạch thành một trong những trọng điểm kinh tế ở khu vực phía Bắc, nhiều ngành kinh tế mũi nhọn được phát triển mạnh mẽ. Trong đó, các ngành khai thác than, đá vôi, du lịch, giao thông, cảng biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản và du lịch là trọng tâm thu hút đầu tư. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Quảng Ninh cũng phải đối mặt với rất nhiều mâu thuẫn và thách thức, như mâu thuẫn giữa việc phát triển công nghiệp với phát triển du lịch, dịch vụ; thách thức giữa phát triển công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh với giải quyết vấn đề môi trường sống; thách thức giữa phát triển bền vững trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Ô nhiễm môi trường nước, không khí chưa được ngăn chặn triệt để. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức; nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt; biến đổi khí hậu gây ra mưa bão, lũ lụt với cường độ ngày càng lớn, diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường. Chính vì vậy công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường là vấn đề nóng, cấp thiết và nhạy cảm, mà báo chí luôn đi trước mở đường. Trong thời gian qua, báo chí Quảng Ninh nói chung, Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh nói riêng đã tích cực thông tin tới công chúng về vấn đề môi trường trong tỉnh. Tuy nhiên, thông tin chủ yếu tập trung ở những điểm nóng về ô nhiễm môi trường dễ nhận thấy như ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than, khoáng sản, chất thải sinh hoạt, khu công nghiệp, cảng biển, du lịch, ô nhiễm do hoạt động sản xuất... Nhưng nhiều thông tin chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh, chưa đi vào chiều sâu vấn đề. Có những vấn đề gần gũi như thói quen dùng túi nilon, thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt lại ít được nhắc đến, hoặc những điểm nóng môi trường không được lên sóng do e ngại đụng chạm đến một số vấn đề nhạy cảm. Vai trò phản biện cũng chưa thực sự mạnh mẽ. Việc nghiên cứu, đánh giá tác động của thông tin về bảo vệ môi trường trong các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh đối với công chúng và xã hội có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là dịp để nhìn nhận, đánh giá những thành công cũng như hạn chế trong thông tin của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh về ý nghĩa, vai trò của việc bảo vệ môi trường đối với việc nâng cao đời sống của người dân, vì mục tiêu phát triển bền vững, góp phần thực hiện thành công việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng “Từ nâu sang xanh” mà tỉnh Quảng Ninh đã đề ra. Đó cũng chính là những lý do khiến tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài khoa học: “ Vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG 11

1.1 Các khái niệm 11

1.2 Tính cấp bách của vấn đề bảo vệ môi trường, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và định hướng, chiến lược của tỉnh Quảng Ninh về môi trường hiện nay 14

1.3 Vai trò và ưu thế của truyền hình địa phương đối với vấn đề bảo vệ môi trường 20 1.4 Nội dung, phương thức, hình thức thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trên truyền hình 32

1.5 Yêu cầu đối với thông tin về bảo vệ môi trường trên truyền hình địa phương 36

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH QUẢNG NINH VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 42

2.1 Khái quát môi trường tỉnh Quảng Ninh 42

2.2 Thực trạng vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh 50

2.3 Thành công, hạn chế và nguyên nhân thành công, hạn chế 68

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH QUẢNG NINH 77

3.1 Những vấn đề đặt ra 77

3.2 Giải pháp 80

3.3 Một số khuyến nghị 93

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 115

TÓM TẮT LUẬN VĂN 139

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng tác phẩm truyền hình về môi trường so với các nội dung khác 53

Bảng 2.2 Nội dung thông tin môi trường trong các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh 55

Bảng 2.3 Thể loại sử dụng để thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh 66

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 5

tế, kinh tế ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu về nước, đất, năng lượng, tàinguyên… cũng tăng một cách mạnh mẽ với quy mô ngày càng lớn Phát triểnkinh tế nóng nhưng chưa chú trọng đến bảo vệ môi trường, khiến tài nguyênngày càng cạn kiệt và lãng phí tài nguyên, lạm dụng hóa chất gây hại cho môitrường… đang là những thách thức lớn đối với tất cả các quốc gia

Trong công tác bảo vệ môi trường, truyền thông là một trong nhữngphương tiện hữu hiệu trong việc lên tiếng, vạch trần các hành vi vi phạm phápluật về bảo vệ môi trường Vấn đề bảo vệ môi trường được thông tin thườngxuyên, liên tục, đa dạng trên các loại hình báo chí như báo in, phát thanh,truyền hình, báo mạng điện tử với lưu lượng, dung lượng khá lớn, phươngthức truyền tải và cách thức thể hiện sinh động, hấp dẫn Mỗi năm ở Việt Nam

có hàng ngàn vụ vi phạm về bảo vệ môi trường được cơ quan chức năng pháthiện và xử lý Trong đó, nhiều vụ việc được báo chí phản ánh liên tiếp, tạo dưluận xã hội mạnh mẽ và tác động trở lại buộc các nhà quản lý, những ngườilãnh đạo phải có hành động xử lý vụ việc Gần đây nhất là vụ nhà máy thépFormosa xả thải, hủy hoại vùng biển miền Trung

Trang 6

Chỉ thị 36 – CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trongthời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã nêu rõ “ Bảo vệ môitrường là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân” Ngày 15/11/2014, Bộ chính trịban hành Nghị quyết 41 – NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt độngbảo vệ môi trường, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của báo chí truyền thôngtrong công tác bảo vệ môi trường Trong đó, giải pháp đẩy mạnh tuyên truyềngiáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường được đưa lên

vị trí hàng đầu

Quảng Ninh một địa phương tiêu biểu đang phải đối mặt với bài toánmôi trường Là nơi hội tụ những đặc điểm địa hình đặc trưng, có rừng vàngbiển bạc, có đồng bằng và vùng núi… nên Quảng Ninh được ví như “ Mộtnước Việt Nam thu nhỏ” Đây là địa phương có tiềm năng lớn về tài nguyên -môi trường với nguồn tài nguyên than nổi tiếng từ lâu, tài nguyên rừng biểnphong phú và đặc biệt là du lịch Những năm gần đây, khi Nhà nước thực hiệnchính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, Quảng Ninh được quy hoạchthành một trong những trọng điểm kinh tế ở khu vực phía Bắc, nhiều ngànhkinh tế mũi nhọn được phát triển mạnh mẽ Trong đó, các ngành khai thácthan, đá vôi, du lịch, giao thông, cảng biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản và

du lịch là trọng tâm thu hút đầu tư

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Quảng Ninh cũng phải đối mặtvới rất nhiều mâu thuẫn và thách thức, như mâu thuẫn giữa việc phát triểncông nghiệp với phát triển du lịch, dịch vụ; thách thức giữa phát triển côngnghiệp hoá và đô thị hoá nhanh với giải quyết vấn đề môi trường sống; tháchthức giữa phát triển bền vững trước những tác động tiêu cực của biến đổi khíhậu và nước biển dâng Ô nhiễm môi trường nước, không khí chưa được ngănchặn triệt để Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức; nguồn nước mặt,nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt; biến đổi khí hậu gây ra mưa bão,

lũ lụt với cường độ ngày càng lớn, diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường

Trang 7

Chính vì vậy công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường là vấn đề nóng, cấpthiết và nhạy cảm, mà báo chí luôn đi trước mở đường

Trong thời gian qua, báo chí Quảng Ninh nói chung, Đài Phát thanh vàtruyền hình Quảng Ninh nói riêng đã tích cực thông tin tới công chúng về vấn

đề môi trường trong tỉnh Tuy nhiên, thông tin chủ yếu tập trung ở nhữngđiểm nóng về ô nhiễm môi trường dễ nhận thấy như ô nhiễm môi trường dohoạt động khai thác than, khoáng sản, chất thải sinh hoạt, khu công nghiệp,cảng biển, du lịch, ô nhiễm do hoạt động sản xuất Nhưng nhiều thông tinchỉ dừng lại ở mức độ phản ánh, chưa đi vào chiều sâu vấn đề Có những vấn

đề gần gũi như thói quen dùng túi nilon, thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọtlại ít được nhắc đến, hoặc những điểm nóng môi trường không được lên sóng

do e ngại đụng chạm đến một số vấn đề nhạy cảm Vai trò phản biện cũngchưa thực sự mạnh mẽ

Việc nghiên cứu, đánh giá tác động của thông tin về bảo vệ môi trườngtrong các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình QuảngNinh đối với công chúng và xã hội có ý nghĩa rất quan trọng Đây là dịp để nhìnnhận, đánh giá những thành công cũng như hạn chế trong thông tin của ĐàiPhát thanh và truyền hình Quảng Ninh về ý nghĩa, vai trò của việc bảo vệ môitrường đối với việc nâng cao đời sống của người dân, vì mục tiêu phát triểnbền vững, góp phần thực hiện thành công việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng

“Từ nâu sang xanh” mà tỉnh Quảng Ninh đã đề ra Đó cũng chính là những lý

do khiến tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài khoa học: “ Vấn đề bảo vệ

môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng

Ninh” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, môi trường đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, đượcquan tâm và đi sâu nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn Ở Việt Nam đã cónhiều công trình nghiên cứu về vấn đề môi trường bao gồm sách, hội thảokhoa học, bài báo, khóa luận tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án tiến sỹ

Trang 8

Về vấn đề môi trường, có các công trình nghiên cứu như :

Phạm Thị Ngọc Trâm (1997), Môi trường sinh thái: Vấn đề và giảipháp, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thế Thôn (2004), Quy hoạchmôi trường và phát triển bền vững, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội; Mai

Đình Yên (1997), Môi trường và con người, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Lưu Đức

Khải (2005), Cơ sở khoa học môi trường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;Nguyễn Thị Thu Hương (2005), Những quy định về môi trường đô thị, NxbLao động; Các văn bản pháp luật liên quan đến Bảo vệ môi trường, NxbChính trị quốc gia; Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam, 2005, Nxb HàNội Những tài liệu này chủ yếu nghiên cứu và bàn luận xoay quanh chủ đềKhoa học môi trường nói chung, cung cấp những kiến thức căn bản về môitrường Đây là cơ sở để tác giả luận văn có những đánh giá một cách khoa học

và chính xác hơn về thực trạng thông tin về môi trường trên báo chí hiện nay

Các dự án về môi trường:

Chương trình Core University của Đại học Osaka (Nhật Bản) về “Đánhgiá, quan trắc môi trường, bảo tồn môi trường và xây dựng phát triển côngnghệ môi trường” (2006 – 2007), Dự án phối hợp Việt Nam – Thụy Sỹ về

“Tăng cường năng lực đào tạo cho Viện Môi trường và Tài nguyên” của Đạihọc Quốc gia – TP Hồ Chí Minh; Dự án “ Bảo vệ môi trường nước Vịnh HạLong” do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA triến khai tại Quảng Ninh

Các tài liệu đề cập đến báo chí và môi trường:

- Tác phẩm Cơ sở lý luận báo chí (2012) của tác giả PGS.TS NguyễnVăn Dững Đây là cuốn sách cơ sở lý luận có tính chất nền tảng, phân tích sâusắc về các chức năng của báo chí, như chức năng cung cấp thông tin, chứcnăng giám sát và phản biện xã hội, chức năng giáo dục Đây là những chứcnăng mang tính bao quát, phổ biến của báo chí, trong đó bao hàm cả nội dung

về chức năng của báo chí trong lĩnh vực môi trường

- Tác phẩm Báo chí truyền thông – Những vấn đề đương đại (2016)của tác giả TS Nguyễn Trí Nhiệm (chủ biên) Cuốn sách tập hợp những bàiviết sâu sắc về những vấn đề của báo chí truyền thông đương đại, như vai trò

Trang 9

của báo chí trong việc cung cấp thông tin phục vụ công tác lãnh đạo quản lý,các kỹ năng quan trọng của nhà báo trong quá trình tác nghiệp, các vấn đềliên quan đến báo mạng điện tử, báo chí trong kỷ nguyên di động, những thayđổi trong phương thức sản xuất chương trình truyền hình hiện nay Nhiều nộidung có thể được vận dụng để nâng cao chất lượng và hiệu lực của tác phẩmtruyền hình về vấn đề bảo vệ môi trường.

Các công trình nghiên cứu cụ thể về báo chí và vấn đề môi trường.Những công trình này hiện chưa có nhiều Trong quá trình tìm hiểu, nghiêncứu, tác giả luận văn tìm hiểu được một số công trình nghiên cứu chuyênngành báo chí học bàn về vấn đề này Bao gồm:

Luận văn thạc sỹ báo chí học “Truyền hình các tỉnh Đông Bắc ViệtNam với vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Thái(Tháng 7/2016) Luận văn nghiên cứu vai trò của truyền hình trong việc thôngtin về bảo vệ môi trường, khảo sát đánh giá thực trạng thông tin về vấn đề bảo

vệ môi trường trên sóng truyền hình của một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam nhưBắc Ninh, Quảng Ninh, Lạng Sơn; đánh giá những thành công và hạn chế củathông tin về bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình, chỉ ra những nguyênnhân của thành công và hạn chế đó, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nângcao chất lượng thông tin về vấn đề môi trường trên sóng truyền hình của một

số Đài Phát thanh và truyền hình các tỉnh Đông Bắc Việt Nam

Luận văn Thạc sỹ truyền thông đại chúng của Thái Hoàng Sơn “ ĐàiPhát thanh và truyền hình Đồng Nai với vấn đề môi trường” (2014) Luận vănnghiên cứu, khảo sát thực trạng chất lượng thông tin của các tác phẩm báo chí

về vấn đề môi trường đã được phát sóng trong các chương trình truyền hìnhcủa Đài PT&TH Đồng Nai hiện nay; nghiên cứu nhu cầu và thực trạng tiếpnhận thông tin về vấn đề môi trường của khán giả Đài PT&TH Đồng Nai, từ

đó đáp ứng được những nhu cầu thực tế của công chúng

Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng “ Vấn đề bảo vệ môi trường tựnhiên trên báo in hiện nay” của tác giả Phạm Thị Minh Thắm Luận văn này

Trang 10

đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về môi trường, vai trò của báo in trongviệc bảo vệ môi trường tự nhiên.

Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng của Trần Việt Phương “ Đánhgiá tác động của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh”(2009) Luận văn đã nêu được những vấn đề lý luận về môi trường và thựchiện khảo sát, đánh giá tác động của báo chí đối với môi trường ở tỉnh QuảngNinh Từ đó, có đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyêntruyền bảo vệ môi trường

Luận văn Thạc sỹ Báo chí học “ Báo in Thành phố Hồ Chí Minh vớivấn đề bảo vệ môi trường đô thị” của tác giả Nguyễn Thị Vân (Năm 2004).Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về báo chí truyềnthông, về báo in và báo in với vấn đề bảo vệ môi trường đô thị, các khái niệm

về báo chí truyền thông và các thuật ngữ liên quan, kỹ năng và phương thứctác nghiệp báo in về vấn đề bảo vệ môi trường; khảo sát, đánh giá thực trạngbáo in ở TP Hồ Chí Minh với vấn đề bảo vệ môi trường đô thị trên cơ sởnhững tiêu chí lý thuyết đặt ra, chỉ ra thực trạng của báo in ở Thành phố HồChí Minh với vấn đề bảo vệ môi trường đô thị, tìm ra nguyên nhân hạn chế,đưa ra giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của báo in trongtruyền thông về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường đô thị nói riêng ở

TP Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thế Biên “ Thông tin, tuyên truyền vềbiến đổi khí hậu trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và truyền hình HàGiang” (2015) Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của việcthông tin, tuyên truyền về BĐKH trên sóng phát thanh; khảo sát,đánh giá thựctrạng thông tin, tuyên truyền về BĐKH trên sóng phát thanh của Đài Phátthanh và truyền hình Hà Giang; phân tích, đánh giá về tần suất, mức độ xuấthiện, nội dung thông tin, tuyên truyền về BĐKH cũng như hình thức, phươngthức thông tin, tuyên truyền về BĐKH trên sóng phát thanh của Đài Phátthanh và truyền hình Hà Giang

Trang 11

Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu trước đây đã đề cập đến thựctrạng hoạt động của truyền thông đại chúng đối với vấn đề môi trường trênnhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giátác động của hoạt động thông tin về bảo vệ môi trường trong các chươngtrình truyền hình của Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ninh Vì vậy, “Vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh –truyền hình Quảng Ninh” là đề tài mới, không trùng lặp với các công trìnhnghiên cứu trước đó.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn chú trọng thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu sau:

- Hệ thống hóa các khái niệm về môi trường, vai trò và ưu thế củatruyền hình trong việc tuyên truyền bảo vệ môi trường và thực trạng vấn đềbảo vệ môi trường trên sóng truyền hình

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề bảo vệ môi trườngtrên các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình QuảngNinh Làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của thông tin

về bảo vệ môi trường

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng vấn đề bảo vệmôi trường trong các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh vàtruyền hình Quảng Ninh

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là "Vấn đề bảo vệ môi trường trênsóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh

- Lý luận về báo chí truyền thông, truyền hình và một số bộ môn khoahọc có liên quan như Tâm lý học báo chí, Kinh tế học, Môi trường học)

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu như sách,báo, tạp chí khoa học, văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu khoa học

về báo chí truyền thông, môi trường để nắm được các kiến thức về khoa họcmôi trường, báo chí truyền thông và quy định, pháp luật về môi trường

- Phương pháp phân tích tác phẩm: Thu thập, khảo sát, phân loại, phântích nội dung và hình thức các tác phẩm truyền hình nhằm đánh giá thực trạngvấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyềnhình Quảng Ninh, rút ra thành công và hạn chế trong thông tin về vấn đề bảo vệmôi trường của Đài, đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng vấn đề bảo vệ môitrường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh

- Phương pháp điều tra xã hội học:

+ Phỏng vấn anket: Áp dụng với đối tượng là khán giả xem chươngtrình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh trong thời gian từ tháng

Trang 13

01/2015 – 6/2015 để lấy số liệu khách quan chân thực minh chứng cho vấn đềnghiên cứu Cụ thể: Sử dụng phiếu điều tra, số lượng phát ra 300 phiếu và thu

về 286 phiếu, đối tượng khảo sát là khán giả ở 3 địa phương Đông Triều, HạLong và Cẩm Phả, được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS để thu thậpthông tin về nhu cầu của khán giả xem Đài Phát thanh và truyền hình QuảngNinh về vấn đề môi trường

+ Phỏng vấn sâu: Tác giả phỏng vấn trực tiếp, hoặc qua email với lãnhđạo một số cơ quan chức năng của tỉnh (01 phỏng vấn trực tiếp), lãnh đạo ĐàiPhát thanh và truyền hình Quảng Ninh 01 phỏng vấn trực tiếp và phóng viên,biên tập viên ( 01 phỏng vấn trực tiếp, 01 phỏng vấn qua email) theo dõi nộidung môi trường Phương pháp này nhằm thu được những kết quả định tính,những đánh giá khách quan và có trọng lượng về sự cần thiết phải tăng cường

và nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trên sóngtruyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh

6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

6.1.Ý nghĩa lý luận

Luận văn khẳng định vai trò của báo chí trong việc thông tin về vấn đềbảo vệ môi trường, đóng góp thêm vào lý luận báo chí, khẳng định vai trò củabáo chí trong việc bảo vệ môi trường và những nguyên tắc, yêu cầu của thôngtin báo chí để thực hiện vai trò này

6.2 Giá trị thực tiễn

Kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn sẽ góp phần nâng caochất lượng thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho Ban lãnh đạo vàphóng viên, biên tập viên của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh

Những giải pháp và khuyến nghị đưa ra trong luận văn có thể làm tàiliệu tham khảo cho các cơ quan báo chí của Tỉnh Quảng Ninh nghiên cứu, ápdụng một cách linh hoạt, nhằm đổi mới cách thức tổ chức thông tin, phát huythế mạnh của từng loại hình báo chí trong bối cảnh hiện nay

Trang 14

Quá trình thực hiện nghiên cứu cũng là dịp để tác giả luận văn bổ sungkiến thức, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác thông tin về vấn đềbảo vệ môi trường tại cơ quan mình làm việc.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn

được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyềnhình địa phương

Chương 2: Thực trạng vấn đề bảo vệ môi trường trên sóng truyền hìnhcủa Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị để nâng cao chất lượng vấn đềbảo vệ môi trường trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hìnhQuảng Ninh

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Các khái niệm

- Môi trường

Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm môi trường:Quan niệm thứ nhất cho rằng, môi trường là sinh quyển, sinh thái cầnthiết cho sự sống tự nhiên của con người Môi trường cũng là nơi chứa đựngnguồn tài nguyên cần thiết cho quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Quan điểm thứ hai cho rằng, môi trường là tổng hợp các điều kiệnbên ngoài như khí hậu, sinh thái học, xã hội và thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến

sự tồn tại và phát triển của một sự vật nào đó Vì thế, môi trường bao gồm tất

cả mọi thứ có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vicủa các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, không khí, nước, đất vàcác cơ thể sống khác Tương tự, môi trường sống của con người là tổng hợpcác điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnhhưởng đến sự sống, sự phát triển của từng cá nhân và toàn bộ cộng đồngngười Môi trường có quan hệ mật thiết, gắn chặt với sự sống

Quan điểm thứ ba cho rằng, môi trường ở thời điểm nhất định là tập hợpcác nhân tố vật lý, hóa học, sinh học và xã hội gây nên tác động gián tiếp hoặctrực tiếp, trước mắt hoặc lâu dài tới các loài vật sống và hoạt động của con người

Năm 1981, UNESCO đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: “ Môitrường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xungquanh mình, trong đó con người sống bằng sức lao động của mình, đã khai tháctài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người.”

Từ điển Tiếng Việt của NXB Ngôn ngữ (Năm 2005) định nghĩa: “ Môitrường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinhvật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy” [67, Tr.821]

Trang 16

Điều 3, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam được thông qua tại kỳ họpthứ 10, Quốc hội khóa X ngày 25/12/2001 định nghĩa “ Môi trường bao gồmcác yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởngđến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.

Như vậy, có thể rút ra một định nghĩa chung về môi trường như sau:

“Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như không khí, đất, nước, sinh vật, xã hội loài người…”

Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu trong lĩnh vựcmôi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên là bao gồm tất cả các sinh vật sống

và không sống tồn tại tự nhiên trên trái đất Trong đó bao gồm đơn vị sinh tháiđầy đủ chức năng như hệ thống tự nhiên mà không có sự can thiệp của conngười như thảm thực vật, vi sinh vật, đất đá, khoáng sản, không khí, các hiệntượng tự nhiên, khí hậu…Trong quá trình phát triển, môi trường tự nhiên có

sự thay đổi do tự thân những yếu tố cấu thành bên trong nó hoặc do hoạt độngcủa con người gây nên Có thể nói, con người là nhân tố lớn nhất làm thay đổimôi trường tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình

- Bảo vệ môi trường

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường tronglành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứngphó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiệnmôi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên;bảo vệ đa dạng sinh học Bảo vệ môi trường thực chất là bảo vệ độ tinh khiếtcủa không khí, đất, nước, thực phẩm nhằm đảm bảo các nhu cầu cơ bảncủa con người như một thực thể sinh học Bảo vệ môi trường là chống lại tất

cả những gì tác hại đến thể chất và tinh thần của con người, trả lại sự cânbằng vốn có của môi trường hoặc có thể xem bảo vệ môi trường là giảm đếnmức thấp nhất sự gây ô nhiễm môi trường và xử lý môi trường bị ô nhiễm

Trang 17

Đề tài môi trường trên báo chí có nhiều cấp độ khác nhau Cấp độ quốc

tế, bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu, khu vực như sự bùng nổdân số, đói nghèo, nạn dịch và bệnh tật, vấn nạn thiếu nước sạch, ô nhiễm đất,nguồn nước và không khí, nạn phá rừng, sa mạc hóa, thủng tầng ozon, độngthực vật tuyệt chủng, công nghệ thân thiện với môi trường… Ở cấp tỉnh thànhphố hay quốc gia, có thể kể đến những vấn đề như đô thị hóa, ô nhiễm tiếng

ồn, ô nhiễm nguồn nước, không khí do hoạt động sản xuất, sinh hoạt, các dự

án bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng hóa chất, quản lý tài nguyên, đấtđai, diệt trừ côn trùng có hại…Những cấp độ nhỏ hơn như giữ gìn môi trườngkhu phố,phòng tránh dịch bệnh, ăn uống vệ sinh, Ở đề tài này, tác giả chọnkhảo sát những tác phẩm truyền hình đề cập trực tiếp đến vấn đề như ô nhiễmmôi trường và tuyên truyền bảo vệ môi trường đã được phát trên sóng truyềnhình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh

- Khái niệm truyền hình

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, Truyền hình là một loại hình truyềnthông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vậtthể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện [67, Tr4]

Động từ “truyền” có nghĩa là đưa dẫn tới nơi này đến nơi khác (theocuốn Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điểm học, xuất bản năm 2009).Cũng từ điển này định nghĩa “truyền” là “lan rộng ra hoặc làm lan rộng ra chonhiều người, nhiều nơi biết” Còn truyền hình thức là truyền hình ảnh, âmthanh, đi xa bằng sóng vô tuyến điện hoặc bằng đường dây

Theo giáo trình báo chí Truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn,thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng HyLạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là “thấyđược”, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại

“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếngPháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “Teлeвидeниe” Như vậy, dù có phát

Trang 18

triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung mộtnghĩa [50; Tr8].

Truyền hình sử dụng công nghệ điện tử viễn thông, bao gồm tập hợpnhiều thiết bị điện tử để truyền dẫn, phát sóng các tín hiệu điện mang hìnhảnh và âm thanh được điều chế, mã hóa, dưới dạng sóng vô tuyến hoặc truyềnqua hệ thống cáp quang, hoặc cáp đồng tới thiết bị thu nhận tín hiệu sóng đó

và giải mã tái tạo lại hình ảnh, âm thanh ban đầu Truyền hình trên thế giớixuất hiện vào đầu thế kỷ 20 và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộcủa khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọngtrong đời sống xã hội Truyền hình trở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặttrận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực kinh tế xã hội Từ xuất phát điểmđược sử dụng như công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin, dần dần,truyền hình tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và địnhhướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo

và các dịch vụ khác Nhờ truyền hình, hệ thống truyền thông đại chúng trởnên hùng mạnh hơn, không chỉ tăng về số lượng mà còn cả chất lượng Côngchúng của truyền hình đông đảo khắp hành tinh

1.2 Tính cấp bách của vấn đề bảo vệ môi trường, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và định hướng, chiến lược của tỉnh Quảng Ninh về môi trường hiện nay

1.2.1 Tính cấp bách của vấn đề bảo vệ môi trường

Tình trạng ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất và sinh hoạtcủa con người gây ra đã và đang là một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong

dư luận xã hội cả nước hiện nay Không chỉ còn là những sự vụ nhỏ lẻ ở một

số địa phương, hiện nay, những vụ việc liên quan đến môi trường sinh thái bịphanh phui trước dư luận ngày càng nhiều với những quy mô và mức độ khácnhauVấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp tới phát triển kinh tế –

xã hội, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết

Trang 19

vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện naykhông chỉ đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các đơn vị, doanh nghiệp

mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội

Môi trường Việt Nam đang diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường tiếptục gia tăng ngày càng trầm trọng, đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng.Theo Bộ Tài nguyên và môi trường, nước ta đang phải đối mặt với rất nhiềuthách thức, trong đó suy thoái môi trường đang có xu hướng gia tăng, ngàymột gay gắt và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu Ô nhiễm môi trường tạicác đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông trên cả nước vànhiều vấn đề môi trường bức xúc khác đã trở thành những vấn đề nóng được

cả xã hội quan tâm Đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng, an ninh môitrường cũng đang bị đe dọa

Hiện nay, công tác bảo vệ môi trường đang đứng trước nhiều tháchthức đáng quan tâm như: thách thức giữ yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi íchkinh tế trước mắt trong đầu tư phát triển, năng lực tổ chức và quản lý môitrường còn nhiều bất cập; thách thức giữa cơ sở hạ tầng, công nghệ bảo vệmôi trường lạc hậu với khối lượng chất thải đang ngày càng tăng lên; tháchthức giữa nhu cầu ngày càng cao về kinh phí cho bảo vệ môi trường với khảnăng có hạn của ngân sách Nhà nước, đầu tư của doanh nghiệp và người dâncho công tác bảo vệ môi trường còn thấp

Xác định vai trò, tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường, là cơ

sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ mục tiêu Công nghiệp hóa – Hiện đạihóa đất nước và phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâmđến công tác bảo vệ môi trường, các chủ trương, chính sách về bảo vệ môitrường thường xuyên được chú trọng đổi mới, bổ sung và hoàn thiện

Trang 20

1.2.2 Chủ trương, đường lối của Đảng về môi trường

Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, là quan điểm được Đảng, Nhànước ta khẳng định và đề cập sớm trong kế hoạch quốc gia về môi trường vàphát triển bền vững 1991 – 2001, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và đượcsửa đổi, bổ sung năm 2005; Nghị định 26/CP, ngày 26/4/1996 của Chính phủquy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường Chỉ thị 36 ngày25/6/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII, về tăng cường công tác bảo vệ môitrường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết số41/NQ-TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trườngtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Định hướng chiến lượcphát triển bền vững ở Việt Nam năm 2006; Chiến lược bảo vệ môi trườngquốc gia năm 2020 – 2030…

Nghị quyết số 41/NQ-TW, ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệmôi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làNghị quyết của Đảng chỉ đạo riêng về công tác bảo vệ môi trường Trong đónêu “Thực hiện Luật bảo vệ môi trường, Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chínhtrị (khóa VIII) về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta thờigian qua đã có những chuyển biến tích cực Hệ thống chính sách, thể chế từngbước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho côngtác bảo vệ môi trường Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, cácngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và

sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên vàbảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt Những kết quả đó

đã tạo tiền đề tốt cho công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới”

Chỉ thị số 29-CT/TW, ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩymạnh thực hiện Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ chính trị (Khóa IX) về bảo vệmôi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 21

Trong đó, tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 41 của

Bộ chính trị; tăng cường đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục tạo sựchuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp ủy đảng,chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhândân về trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường Tăng cường nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đẩy mạnh xãhội hóa công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách khuyến khích cánhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Tăng cường đầu tư và

sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn chi thường xuyên từ ngân sách cho

sự môi trường Nghiên cứu xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ hoạchđịnh chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường…

1.2.3 Chính sách, pháp luật của Nhà nước về môi trường

Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã xây dựng được khuôn khổ pháp

lý cho công tác quản lý môi trường, thể hiện tại Điều 43, Điều 50 và Điều 63của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 và Luật bảo vệ môitrường năm 2005 và năm 2014 Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định mục tiêu cụ thể là: Giảm về cơbản các nguồn gây ô nhiễm môi trường, khắc phục, cải tạo môi trường cáckhu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái, cải thiện điều kiện sống của người dân;giảm nhẹ mức độ suy thoái; cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; kiềm chế tốc độsuy giảm đa dạng sinh học; Tăng cường khả năng chủ động ứng phó với biểnđổi khí hậu, giảm nhẹ mức độ gia tăng phát thải khí nhà kính

Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 –

2000 được Chính phủ thông qua tháng 6/1991 Đây là văn bản có tính chiếnlược đầu tiên đề cập đến tất cả các lĩnh vực môi trường và sử dụng các nguồntài nguyên thiên nhiên của đất nước Kế hoạch này đã được các bộ, ngànhtrung ương cùng các địa phương triển khai thực hiện và đạt được những kếtquả quan trọng Hệ thống quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung

Trang 22

ương đến địa phương và các bộ, ngành ngày càng được tăng cường và đi vàohoạt động có nề nếp Ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của các cơquan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồngngày càng được nâng cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được về công tác bảo vệ môitrường, song vẫn còn tồn tại những hạn chế như: Vấn đề quy hoạch môitrường lồng ghép với phát triển tài nguyên; vấn đề chiến lược phát triển cấpngành bền vững; vấn đề giáo dục và đào tạo, nâng cao nhận thức bảo vệ môitrường còn hạn chế, chưa tương xứng với nhiệm vụ Ngoài ra, việc đầu tư chomôi trường cũng còn dàn trải

Trước thực tế này, nhiều chính sách về môi trường đã được ban hànhnhư Luật bảo vệ môi trường 1993, Nghị định số 175/CP về “Hướng dẫn thihành luật bảo vệ môi trường” Nghị định số 26/CP về “xử phạt vi phạm hànhchính về bảo vệ môi trường” Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, ngày22/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình hành động của Chínhphủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳđẩy mạnh CNH-HĐH đất nước

Ngày 22/12/2005, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký lệnh vềcông bố Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Namkhóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 Luật bảo vệ môi trườngnăm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006, Quy định về hoạt độngbảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường,quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường

Có thể khẳng định, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, nhất quán đốivới vấn đề bảo vệ môi trường, thể hiện qua việc đề ra các đường lối, chínhsách về vấn đề bảo vệ môi trường, về sự quan trọng và tính cấp thiết của côngtác bảo vệ môi trường trong quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước Bảo

vệ môi trường là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi một quá trình lâu dài và bền bỉ

Trang 23

Điều này còn được thể hiện qua Quyết định số 1216/QĐ-TTg, ngày 5/9/2012của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trườngquốc gia năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Theo đó, mục tiêu đến năm 2020

là Kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy

thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; tiếp tục cải thiện chất lượngmôi trường sống; hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước Khắcphục, cải tạo môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm Giảm nhẹ mức độ suythoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; kiềm chế tốc độ suy giảm đa dạng sinhhọc Tăng cường khả năng chủ động ứng phó với biển đổi khí hậu, giảm nhẹmức độ gia tăng phát thải khí nhà kính Tầm nhìn đến năm 2030 là ngăn chặn,đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm

đa dạng sinh học; cải thiện chất lượng môi trường sống; chủ động ứng phó vớibiển đổi khí hậu; hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, ít chấtthải, các bon thấp,vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững của đất nước

1.2.4 Định hướng, chiến lược của tỉnh Quảng Ninh về bảo vệ môi trường

Với chủ trương “phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường”, trongnhững năm qua, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã

có những bước chuyển biến mạnh mẽ, các cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệthống chính trị Công tác quản lý nhà nước về môi trường, nhất là việc lồngghép các yêu cầu bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong các chiến lượcphát triển, quy hoạch kinh tế xã hội, quy hoạch ngành, chương trình, dự án

đã được tỉnh quan tâm

Ngày 18/8/2014, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành quyết định phê duyệt

“Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030” với mục tiêu đến năm 2020, Quảng Ninh sẽ là một trong những tỉnh dẫnđầu cả nước thực hiện thành công các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường trong khuônkhổ Chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam Xây dựng Thành phố Hạ long trởthành điển hình trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực hiện du lịch bền vững

Trang 24

ở tỉnh Quảng Ninh Chấm dứt khai thác than lộ thiên, giảm thiểu ô nhiễm môitrường không khí Tăng cường giá trị môi trường tự nhiên và quản lý tài nguyênthiên nhiên của tỉnh Giảm nhẹ tác động môi trường tại các khu vực được dự báo

có nguy cơ cao trong tương lại và thực hiện các biện pháp thích ứng để giảiquyết vấn đề biến đổi khí hậu Tăng cường năng lực giám sát và quản lý môitrường cấp tỉnh Tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh Quảng Ninh sẽ là một trongnhững tỉnh dẫn đầu cả nước thực hiện thành công các chỉ tiêu về bảo vệ môitrường trong khuôn khổ Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam, có thể traođổi, thông tin kinh nghiệm cho các nước trong khối ASEAN

1.3 Vai trò và ưu thế của truyền hình địa phương đối với vấn đề bảo vệ môi trường

1.3.1 Vai trò của truyền hình địa phương với vấn đề bảo vệ môi trường

- Góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho người dân địa phương

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định chứcnăng văn hóa của báo chí là “ nâng cao trình độ hiểu biết chung của nhân dân,khẳng định và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, hình thành và khôngngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội” Báo chí, hay Truyền thôngđại chúng, trong đó có truyền hình, do đặc trưng bản chất của mình, có thể xãhội hóa 1 sự kiện, vấn đề xảy ra ở một địa chỉ cụ thể được lan tỏa trên 1 phạm

vy rộng lớn, có thể tác động và làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi củahàng triệu người Tác động nhanh nhất có thể, sức lan tỏa rộng một cáchthường xuyên, liên tục với những hình thức phương thức phong phú và đadạng nhất Do đó, nó có khả năng thu hút, lôi kéo và tập hợp lực lượng xã hộiđông đảo nhất vào việc giải quyết vấn đề đang đặt ra của tiến trình phát triển

Đời sống văn hóa, xã hội, khoa học, kinh tế vận động không ngừng vàđòi hỏi con người phải thường xuyên, hoàn thiện vốn hiểu biết của mình cũngnhư điều chỉnh hành vi một cách phù hợp Truyền thông đại chúng, trong đó

Trang 25

có truyền hình là phương tiện vô cùng quan trọng và hiệu quả để thực hiệncông việc này Một trong những ưu thế lớn nhất của truyền hình, đó là khảnăng phổ biến tới đông đảo công chúng Không đòi hỏi yêu cầu quá cao về cơ

sở vật chất, nền tảng kỹ thuật, hình ảnh âm thanh sinh động, công chúng ởmọi tầng lớp, trình độ học vấn đều có thể tiếp nhận thông tin từ các chươngtrình truyền hình để nâng cao nhận thức của bản thân Đối với vấn đề bảo vệmôi trường, truyền hình có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh loại bỏ thóiquen xấu và xây dựng một lối sống văn minh về môi trường, nhất là góp phầntạo thành công luận đấu tranh với những việc là sai trái, ủng hộ những quanđiểm đúng đắn, những đóng góp tích cực của cá nhân, tập thể trong việc bảo

vệ môi trường Nhờ tiếp nhận thông tin từ các chương trình truyền hình vềvấn đề bảo vệ môi trường, công chúng có thể thay đổi nhận thức của mình vềmôi trường xung quanh, nhận ra những nguy cơ ô nhiễm môi trường, từ đóđiều chỉnh nhận thức và hành vi trong lao động sản xuất, đời sống sinh hoạthàng ngày, hoặc tạo thành thái độ, phản ứng trước những vấn đề có liên quanđến môi trường đang được dư luận xã hội quan tâm

Từ những hiện tượng, sự kiện nhỏ lẻ, nhưng khi được thông tin, phântích, dự báo khả năng tiến triển trong tương lai, truyền hình đã giúp côngchúng nhận thức được những thiếu sót, tồn đọng hay những điều đáng tuyêndương trong hoạt động bảo vệ môi trường Đôi khi những hành động đơngiản, những phong trào chỉ phát sinh trong một khu vực nhỏ bé, nhưng saukhi được đưa tin trên truyền hình, nó đã trở thành phong trào được hưởng ứng

và triển khai sâu rộng ở mức độ khu vực, quốc gia hoặc thậm chí là toàn cầu

- Góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, địa phương về môi trường, phổ biến kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường

Báo chí cách mạng Việt Nam, trong đó có truyền hình, là một bộ phậnquan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước Là công cụ sắt

Trang 26

bén tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước; đồng thời là cầu nối, kịp thời phản ánh những tâm tư, nguyệnvọng, nhu cầu cấp thiết của nhân dân Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5(khóa X) “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” chỉ rõ

“Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quảđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bám sátnhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ gương điển hình,những thành tựu của công cuộc đổi mới”

Trong quá trình CNH – HĐH và hội nhập kinh tế của đất nước, cùngvới Báo chí nói chung, truyền hình cũng có vai trò: Cung cấp thông tin; nângcao dân trí và sự hiểu biết của nhân dân; củng cố và bảo vệ sự ổn định xã hội,đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ; Bảo vệ môi trường để phát triển bềnvững…Thực tế cho thấy, một nền kinh tế tăng trưởng nóng, không đi đôi vớibảo vệ môi trường để dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồntài nguyên và nhiều vấn đề khác như: an toàn thực phẩm; việc làm của một bộphận dân cư nơi đô thị hóa; sự gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm gây bất

ổn trong đời sống Thông tin về môi trường trên báo chí nói chung và truyềnhình nói riêng không nên chỉ dừng lại ở những cảnh báo, khuyến cáo chungchung mà phải thực sự tạo ra dư luận xã hội, gây áp lực, đấu tranh kiên quyếtđối với những quan điểm, hành vi vụ lợi cá nhân mà bỏ qua những nguy cơđang đe dọa sự tồn vong của cộng đồng và nhân loại trong tương lai

Trong thời gian qua cùng với báo chí nói chung, truyền hình đã và đangtích cực làm tốt nhiệm vụ công tác thông tin, phản ánh tâm tư, nguyện vọng

và tiếng nói của nhân dân tới Đảng và chính quyền các cấp trong việc điềuchỉnh chủ trương, chính sách góp phần uốn nắn các tổ chức, đơn vị, cá nhântrong thực hiện chủ trương, chính sách đó, như việc đưa Nghị quyết củaĐảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, trong đó có pháp luật về môitrường, các hình thức xử phạt, biện pháp ngăn chặn những đối tượng có hành

vi vi phạm luật, tác động xấu đến môi trường

Trang 27

Những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật củaNhà nước về bảo vệ môi trường trải qua thực tế, không còn phù hợp, ảnhhưởng đến quyền lợi và môi trường sống của người dân, được báo chí trong

đó có truyền hình phản ánh, trở thành cầu nối quan trọng giúp người dân nóilên tâm tư, nguyện vọng của mình để từ đó Đảng, Nhà nước điều chỉnh cácchủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn, nguyện vọng của nhân dân

Việc cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trườngkhông chỉ là chức năng thông thường, mà là yêu cầu bắt buộc đối với báo chí,trong đó có truyền hình Nhất là hiện nay, khi những hành động gây ô nhiễmmôi trường ngày càng diễn ra nhiều và chính sách pháp luật của nhà nước vềmôi trườn vẫn đang được hoàn thiện, đáp ứng đòi hỏi của thực tế

Thời gian qua, nhiều vụ việc gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường là dongười dân phát hiện và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng đểcung cấp thông tin đưa sự việc đến đông đảo công chúng, hình thành dư luận

xã hội mạnh mẽ, đòi hỏi phải chấm dứt ngay các hành vi gây hại đến môitrường và có biện pháp khắc phục hậu quả ô nhiễm Tuy nhiên, để người dân

có thể phát hiện và ngăn ngừa từ sớm những hành động gây ô nhiễm môitrường, thì bản thân người dân phải có kiến thức cơ bản và hiểu biết pháp luật

về môi trường.Với tính phổ thông của mình, truyền hình là kênh thông tin tiệndụng, hữu hiệu nhất để cung cấp kiến thức cho người dân về những vấn đềliên quan đến môi trường

- Tham gia giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật về môi trường, phản biện và điều chỉnh công tác quản lý

Quản lý, giám sát và phản biện xã hội là chức năng cơ bản của báo chí.Quản lý xã hội được quan niệm là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lývào khách thể quản lý nhằm đảm bảo hoạt động, phát huy có hiệu quả và đạtđược mục đích đề ra Để sự tác động đảm bảo có ý thức, có nghĩa là dựa trên

cơ sở am hiểu đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về đối tượng quản lý, những quy

Trang 28

luật vận động và mối quan hệ tương tác giữa nó với sự vật hiện tượng xungquanh đương nhiên phải cần thông tin Chỉ có nguồn tin chính xác, toàn diện vềđối tượng, mới có thể xử lý, lựa chọn được phương hướng và cách thức tácđộng hợp lý, có hiệu quả Sự tác động ấy được thể hiện bằng quyết định quản

lý và được truyền đến khách thể quản lý dưới dạng thông tin Như vậy, về bảnchất thì quá trình quản lý là quá trình thông tin, bao gồm từ việc khai thác, thuthập, đánh giá, lựa chọn, phân tích và xử lý các thông tin đến việc đưa ra cácquyết định và truyền đạt thông tin về quyết định đến khách thể quản lý, Để đảmbảo cho sự quản lý có hiệu quả cần phải có cơ chế thông tin hai chiều thuận vàngược Chiều thông tin thuận từ chủ thể đến khách thể chuyển đi những quyếtđịnh quản lý cũng như các thông tin cần thiết để hướng dẫn về cách thức,phương pháp, điều kiện thực hiện chúng Yêu cầu đặt ra đối với chiều thông tinnày là chính xác, kịp thời, đầy đủ Đó cũng là điều kiện cần thiết cho khả năngtác động một cách có hiệu lực của chủ thể quản lý vào khách quản lý, làm chokhách thể quản lý vận động phát triển theo chiều hướng đã định

Thông tin ngược chiều là kênh thông tin từ khách thể quản lý đến chủthể quản lý Kênh thông tin ngược chiều kịp thời, đầy đủ toàn diện là điềukiện tiền đề cho việc đưa ra những sự điều chỉnh hay những quyết định quản

lý mới một cách đúng đắn, hợp lý Báo chí thực hiện chức năng quản lý củamình bằng việc cung cấp thông tin cả hai chiều thuận và ngược

Phản biện là thuật ngữ được sử dụng hầu hết trong hoạt động khoa học– phản biện khoa học, là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khicông trình được đưa ra trước hội đồng khoa học Phản biện xã hội có thể hiểu

là sự tham gia rộng rãi của xã hội của các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việcgóp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trongcác lĩnh vực kinh tế – văn hóa – xã hội Nhưng “rường cột” cho quá trìnhphản biện xã hội là đội ngũ trí thức, những người có kiến thức am hiểu rộng

Trang 29

và chuyên sâu về các lĩnh vực của đời sống, có bản lĩnh bảo vệ chính kiến vàtâm huyết vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Giám sát có thể được hiểu là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúngnhững điều quy định không” Như vậy, giám sát bao gồm hai quá trình, theodõi và kiểm tra Giám sát xã hội của báo chí thực chất là giám sát bằng dưluận xã hội Qua giám sát, theo dõi một cách khách quan và có định hướng

mà báo chí thể hiện vai trò phản biện xã hội của mình Hiện nay, truyền hìnhcùng với Báo chí cả nước đang đảm nhiệm tốt vai trò kiểm tra, giám sát việcthực hiện những chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước

về môi trường bằng những hình thức chủ yếu sau:

- Thông tin, giới thiệu các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định củaĐảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường

- Giám sát, kiểm tra việc thực hiện các đường lối, quan điểm, nghịquyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về môi trường

- Góp phần xây dựng, hoàn thiện chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của nhà nước về bảo vệ môi trường

Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của cộngđồng truyền thông đã thúc đẩy quá trình xã hội hóa các hoạt động quản lý,giám sát xã hội Bằng cách này hay cách khác, hoạt động giám sát luôn chứađựng khả năng tạo ra một trường tương tác xã hội giữa 3 nhóm cộng đồng, đó

là cộng đồng trí thức (phát hiện và lý giải vấn đề), cộng đồng truyền thông(phổ biến, chuyển tải thông tin) và cộng đồng xã hội (hưởng ứng thông tin vàhình thành dư luận)

Thông qua các tác phẩm, chương trình truyền hình, người dân có thểphát biểu ý kiến, tâm tư của mình về vấn đề bảo vệ môi trường, thể hiện sựgiám sát và phản biện xã hội của mình Bám sát sự kiện, thông tin nhanhnhạy, phân tích đúng vấn đề trọng điểm và định hướng tư tưởng, hướng dẫn

dư luận, các cơ quan thông tấn, báo chí đã thực hiện tốt chức năng giám sát

Trang 30

mang lại hiệu quả xã hội rõ nét Bởi thế, vai trò, chức năng giám sát thực hiệnnhững chủ trương, đường lối, chính sách về môi trường của Đảng, Nhà nướccủa báo chí ngày càng được khẳng định và niềm tin của công chúng đối với

cơ quan truyền thông cũng được nâng lên

Kết quả hoạt động giám sát, kiểm tra của báo chí trong đó có truyềnhình về vấn đề bảo vệ môi trường là nguồn thông tin quan trọng giúp các cơquan Đảng và Nhà nước kịp thời có quyết định, biện pháp tích cực, điều chỉnhhoạt động của các cơ quan, tổ chức cấp dưới Ngoài ra, nguồn thông tin đótrực tiếp tác động tới các cơ quan, tổ chức có khuyết điểm, giúp họ nhận thứcđược thiếu sót để tự điều chỉnh hoặc trong trường hợp khác sẽ tạo nên áp lực

xã hội buộc họ phải sửa chữa Mặt khác, thông qua những kiến nghị củangười dân được phản ánh trên truyền hình, cơ quan quản lý nhà nước sẽ kịpthời điều chỉnh chủ trương, chính sách, hoàn thiện quy định pháp luật về môitrường và thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường

Nhờ tăng cường vai trò giám sát mà thời gian qua, các cơ quan báo chí

đã kịp thời phản ánh những vụ việc tiêu cực gây ô nhiễm môi trường, nhữngvấn đề phát sinh trong thực tế, góp phần nâng cao chất lượng quá trình raquyết định của cơ quan quản lý, hoạch định chính sách, kế hoạch

- Phát hiện, đấu tranh chống lại những vi phạm về môi trường

Phát hiện và đấu tranh chống lại những hành vi vi phạm, gây ô nhiễmmôi trường là nhiệm vụ của Báo chí, thể hiện ở chỗ: Thông qua tác phẩm báochí, nhà báo thông tin, phân tích, giáo dục và định hướng công chúng về cácnguy cơ, hiểm họa tác động đến môi trường và hệ sinh thái, đề xuất các giảipháp, cổ động các biện pháp thực hiện bảo vệ môi trường, đồng thời lên án,các hành vi gây ảnh hưởng tới môi trường sống, phê phán các quyết định chưaxác đáng của cấp có thẩm quyền về xử lí hành vi gây ô nhiễm

Nhiều quyết định của chính quyền trong thời gian vừa qua cho thấy rõvai trò của cơ quan báo chí trong việc sàng lọc, cung cấp thông tin dẫn dắt

Trang 31

vấn đề để chính quyền đi tới những quyết định đúng đắn Sự tác động haichiều đó rất hợp lý trong một xã hội dân chủ và truyền thông đã làm tốt vaitrò của mình Ví dụ, tình trạng các bãi rác thải tích tụ lâu dài, làm ô nhiễmmôi trường, ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe của người dân sống ở khuvực phường Quang Hanh, TP Cẩm Phả, Quảng Ninh nhiều năm không đượcgiải quyết Sau khi được phản ánh trên báo chí, nhất là truyền hình, đã thu hút

sự quan tâm mạnh mẽ của dư luận, chính quyền địa phương và các bên liênquan đã phải có hành động cụ thể, di dời bãi rác thải và có quy hoạch hợp lý

để đảm bảo môi trường, không ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân

Trong thời gian qua, báo chí, trong đó có truyền hình không chỉ pháthiện, thông tin kịp thời về những vụ việc vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môitrường, mà còn tác động mạnh mẽ vào ý thức xã hội, vào các cơ quan quản lýNhà nước và chủ thể vi phạm để tạo nên sức ép dư luận khiến các cơ quanchức năng, những đối tượng vi phạm phải điều chỉnh hành vi vi phạm Nhiều

vụ việc tiêu cực bị phát hiện, không được đưa ra ánh sáng nếu như không có

sự vào cuộc kiên trì, đấu tranh kiên quyết của các cơ quan báo chí Vai trò nàycủa báo chí được thể hiện rất rõ qua vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ môitrường của Công ty TNHH Vedan Việt Nam xả nước thải chưa qua xử lý gây

ô nhiễm môi trường sông Thị Vải, đổ đất lấn sông Đồng Nai hay vụ xả thảicủa nhà máy thép Formosa hủy hoại môi trường biển Hà Tĩnh và một số tỉnhmiền Trung… Về thực chất, báo chí truyền hình không thể đóng vai trò phánxét với những vi phạm, nhưng bằng những thông tin kịp thời, chính xác và cụthể, từ đó tác động tích cực đến công chúng, tạo thành dư luận mạnh mẽ ủng

hộ những hành động tích cực và phản đối những hành động sai trái

Có thể nói, cùng hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng nóichung, truyền hình đã và đang ngày càng phát huy sức mạnh, góp phần khôngnhỏ trong việc giám sát và kiểm soát không chỉ phạm vi trong tỉnh, trongnước mà còn ở trong khu vực và quốc tế Truyền hình trở thành kênh thông

Trang 32

tin quan trọng đối với đông đảo công chúng trong xã hội, nó khơi dậy dư luận

xã hội, định hướng và điều hòa dư luận xã hội Hiện nay, khi công nghệ thôngtin truyền thông phát triển trong xu thế toàn cầu hóa, nhờ đặc tính và chứcnăng đặc thù này, mà truyền hình có thể khơi nguồn và phát triển dư luận xãhội để tập hợp, huy động và tổ chức nguồn lực sức mạnh của đông đảo nhândân tham gia vào việc bảo vệ môi trường

- Cung cấp kỹ năng, bài học kinh nghiệm, sáng kiến bảo vệ môi trường, biểu dương người tốt việc tốt về bảo vệ môi trường

Báo chí truyền hình là kênh thông tin hiệu quả để cung cấp kiến thứcđến công chúng Với vấn đề môi trường, việc cung cấp cho người dân kỹnăng, biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trườngsống lành mạnh có ý nghĩa rất quan trọng Nhờ hình ảnh trực quan, âm thanhsinh động, nội dung thông tin khoa học được xử lý bằng khả năng sáng tạo vàkỹ năng chuyên môn của phóng viên để trở nên hấp dẫn, dễ hiểu, dễ làm theo.Từ những chủ đề đơn giản như thay đổi thói quen sinh hoạt hàng ngày, thựchiện phân loại rác, hạn chế sử dụng túi nilon, cách tận dụng nước sinh hoạt,

nề nếp vệ sinh nhà ở, đường làng ngõ xóm, hoặc đổi mới phương thức sảnxuất, phương pháp canh tác hữu cơ, không lạm dụng hóa chất trong chănnuôi, trồng trọt Hay những bài học, kinh nghiệm của các địa phương, quốcgia trong việc bảo vệ môi trường sống, xây dựng và thực hiện phương thứcsinh hoạt và sản xuất thân thiện với môi trường Nhiều điển hình người tốtviệc tốt, những cách làm, những giải pháp hiệu quả của các cấp, các ngành,doanh nghiệp và nhân dân trong bảo vệ môi trường được phản ánh trên truyềnhình cũng có tác dụng cung cấp kỹ năng, biện pháp bảo vệ môi trường mộtcách trực quan, sinh động, người thật việc thật, khuyến khích công chúng họctập và làm theo, khơi dậy phong trào giữ gìn vệ sinh môi trường trong cộngđồng, lối sống xanh, thân thiện với môi trường

Trang 33

1.3.2 Ưu thế của truyền hình trong vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương

Bên cạnh những đặc điểm của báo chí nói chung thì truyền hình còn cónhững ưu điểm riêng biệt Nếu như tính thời sự là điểm chung của báo chí thìtruyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thôngtin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các phương tiện truyền thông khác Vớitruyền hình, các sự kiện, vấn đề có thể được phản ánh ngay lập tức khi nó vừamới diễn ra hoặc thậm chí đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cáchchi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình

có khả năng phát sóng liên tục 24/24 giờ trong ngày, có phạm vi truyền vàphủ sóng rất rộng nhờ sự phát triển của công nghệ Truyền hình mang đến chongười xem những thông tin nóng hổi về các sự kiện đang diễn ra, cập nhậtnhững tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loạihình báo chí khác

Nhờ kỹ thuật công nghệ hiện đại, truyền hình có thể truyền trực tiếp cảhình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc

Do vây, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có

độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sựkiện Cũng nhờ ưu thế truyền được cả hình ảnh và âm thanh, truyền hình cókhả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển củakhoa học công nghệ, đường truyền cáp quang, truyền hình vệ tinh và đườngtruyền internet, truyền hình ngày càng được mở rộng phạm vi và diện phủsóng, phục vụ được nhiều đối thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kì nơiđâu, bất cứ địa điểm nào, khi được phát lên vệ tinh nó sẽ được truyền đi khắpnơi, có thể cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến Ngày nay ngồi tại phòngnhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được mọi sự kiện diễn ra trên thế giới

Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiệntuy ra đời muộn, nhưng nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệphát triển, do vậy.Truyền hình được thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp

Trang 34

tạo hình, tiếng của điện ảnh và phát thanh, ở truyền hình có sự khái quát triết

lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh,phát thanh, tính hình tượng của hội họa và cảm xúc tư duy của âm nhạc

Truyền hình đem đến cho công chúng khán giả hình ảnh và âm thanh của

sự kiện, vấn đề một cách chi tiết, sống động mang lại sự tin cậy về thông tin.Nhờ khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người, nó có thể truyềntải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa, đáp ưng yêu cầu chứng kiếntận mắt của công chúng “Trăm nghe không bằng một thấy”, truyền hình cungcấp những hình ảnh chân thực về sự kiện, thỏa mãn nhu cầu “thấy” của ngườixem Đặc biệt, khi thông tin về những điểm nóng, ô nhiễm môi trường, nếu báo

in chỉ có ảnh và chữ, phát thanh chỉ có âm thanh và lời bình thì các chương trìnhtruyền hình mang tính thời sự, cập nhật tin tức nóng hổi, hấp dẫn người xembằng cả hình ảnh, tiếng động và lời bình, cho người xem thấy được thực tế đờisống của vấn đề và tác động vào nhận thức của công chúng

Hình thức thể hiện của truyền hình cũng phong phú hơn nhiều so vớicác loại hình báo chí khác, có thể sử dụng linh hoạt các thể loại như tin,phóng sự phản ánh, điều tra, phỏng vấn, tọa đàm, thậm chí tổ chức các cuộcthi, sân chơi để lồng ghép tuyên truyền bảo vệ môi trường Các chương trìnhcủa Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục “Sự kiện và bình luận”,

“Đối thoại trực tiếp”, “ Đối thoại chính sách”, “Chào buổi sáng”, “VTVchuyển động 24h”, “Môi trường” của ban Thời sự VTV1 không chỉ tác động

dư luận mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự pháttriển của xã hội và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Hay cácchuyên mục tương tác với khán giả như: “Với khán giả VTV”, “Hộp thư bạnxem truyền hình”… đã trở thành cầu nối giữa khán giả, những người làmtruyền hình và cơ quan chức năng Người dân có thể nêu lên những ý kiếnkhen chê, ủng hộ, phản đối, góp ý phê bình đối với chương trình truyền hìnhhoặc gửi đi những thắc mắc bất cập, sai trái ở địa phương Rất nhiều vụ việc

Trang 35

vi phạm môi trường đã được nhà báo làm sáng tỏ qua thông tin phản ánh củanhân dân.

Ưu thế của truyền hình địa phương trong thông tin về vấn đề bảo

vệ môi trường: Thực hiện vai trò, chức năng của báo chí nói chung, báo chí

địa phương, trong đó có Đài Phát thanh và truyền hình địa phương cũng tíchcực tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vàođời sống, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, tham giagiám sát việc tổ chức, quản lý và tuân thủ, thực thi pháp luật của nhà nước vàquy định của địa phương về môi trường của cơ quan quản lý, cơ quan hànhpháp, các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất Nhưng hơn thế, Đài Phát thanhtruyền hình địa phương nắm rõ nhất về đặc điểm môi trường, kinh tế, đờisống xã hội ở địa phương mình, hiểu rõ đặc điểm và nhu cầu tiếp nhận thôngtin của công chúng ở địa phương, từ đó lựa chọn nội dung thông tin, sự kiện,vấn đề thiết thực với đời sống, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng địaphương Ví dụ, để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền của mình, Đài Phát thanh

và truyền hình Quảng Ninh tập trung thông tin về những chủ trương đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước có liên quan đến bảo vệ môitrường trong hoạt động khai thác than, khoáng sản, hoạt động kinh doanh dulịch, dịch vụ, cảng biển, xuất nhập khẩu cũng như những quy định, chiếnlược, dự án của Tỉnh, các địa phương trong tỉnh về bảo vệ môi trường Hoặcphản ánh các điểm nóng, những hành vi hủy hoại môi trường ở địa phương.Đây là những nội dung thông tin có liên quan trực tiếp đến đời sống sản xuất,sinh hoạt hàng ngày nên rất hấp dẫn công chúng, sức ảnh hưởng và hiệu quảthông tin cũng cao Hoặc tuyên truyền biểu dương những cách làm, nhữnggiải pháp hiệu quả của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và nhân dân trongbảo vệ môi trường Việc lựa chọn và sử dụng phương thức, hình thức thể hiệnmột cách linh hoạt, đa dạng để đạt được hiệu quả thông tin tốt nhất cũng làmột trong những đặc điểm ưu việt của truyền hình so với những loại hình báochí khác cùng địa bàn

Trang 36

Phản ánh cùng một vấn đề về môi trường, truyền hình có thể sử dụnglinh hoạt các thể loại tin, phóng sự phản ánh, điều tra để làm rõ sự việc, phỏngvấn hoặc đối thoại, tọa đàm để đại diện cơ quan chức năng, các chuyên gia,doanh nghiệp trình bày quan điểm, truyền tải thông điệp đến ngườidân Truyền hình cũng là 1 kênh tham gia giám sát một cách tích cực và hiệuquả việc tổ chức, quản lý và tuân thủ, thực thi pháp luật của nhà nước và quyđịnh của địa phương về môi trường của cơ quan quản lý, cơ quan hành pháp,các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất đang hoạt động tại địa phương, là cầu nốinhanh nhất để người dân địa phương gửi gắm thông tin phản ánh những vấn

đề môi trường tại nơi ở, sản xuất hoặc phản hồi về những quy định chưa hợp

lý của chính quyền địa phương

1.4 Nội dung, phương thức, hình thức thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trên truyền hình

1.4.1 Nội dung thông tin về bảo vệ môi trường trên truyền hình

Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò quantrọng trong đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của Đảng, chính quyền và làdiễn đàn của nhân dân Truyền hình có tác động mạnh mẽ đến hành vi vànhận thức của con người Để thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trêntruyền hình có hiệu quả, thì nội dung thông tin cần tập trung vào việc nângcao nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường, truyên truyềnchủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định,chiến lược về môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương, giám sát việcviệc tổ chức, quản lý và tuân thủ, thực thi pháp luật của nhà nước và quy địnhcủa địa phương về môi trường của cơ quan quản lý, cơ quan hành pháp, cácdoanh nghiệp, đơn vị sản xuất đang hoạt động tại địa phương, góp phần hoànthiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và các quyđịnh, chiến lược về môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương, biểudương những cách làm, sáng kiến, những giải pháp hiệu quả của các cấp, cácngành, doanh nghiệp và nhân dân trong bảo vệ môi trường

Trang 37

Các tác phẩm tuyên truyền bảo vệ môi trường trên truyền hình cần đisâu phân tích, làm rõ các vấn đề về môi trường; những thách thức giữa pháttriển kinh tế và bảo vệ môi trường sống; nguyên nhân chất lượng các nguồnnước suy giảm mạnh; ô nhiễm không khí ở nhiều khu dân cư, khu côngnghiệp, chất thải độc hại; điều kiện vệ sinh môi trường, phân tích các nguyênnhân như: tư duy coi trọng tăng trưởng, phát triển kinh tế, xem nhẹ bảo vệmôi trường vẫn còn phổ biến, phát triển kinh tế còn theo chiều rộng; nhiềungành, lĩnh vực sản xuất còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng; sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa nhanh đang gây áplực lớn lên môi trường; đầu tư của Nhà nước và doanh nghiệp cho bảo vệ môitrường chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ quan chức năng còn thiếu cươngquyết, chưa xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường…

1.4.2 Phương thức, hình thức thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trên truyền hình

- Phương thức thông tin

Phương thức thông tin là sự tổng hợp của phương pháp thông tin vàhình thức thông tin Để thông tin hiệu quả vấn đề bảo vệ môi trường trêntruyền hình, cơ quan báo chí phải có kế hoạch tuyên truyền theo định hướngrõ ràng, xây dựng các chương trình, chuyên mục, chuyên đề phát sóng thườngxuyên, liên tục Về hình thức thông tin,cần sử dụng đa dạng và linh hoạt cácthể loại như tin, phóng sự, tường thuật, phỏng vấn, bình luận, giao lưu, tọađàm…nhằm thông tin về môi trường và bảo vệ môi trường tới công chúnghiệu quả và phù hợp nhất

Khai thác, tận dụng ưu thế của truyền hình để chuyển tải thông tin,phản ánh các sự kiện, vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường, nhằm cung cấpcho công chúng khán giả những thông tin xác thực và đáng tin cậy Tư vấncủa chuyên gia môi trường được sử dụng khi nhà báo muốn cung cấp thôngtin chuyên sâu về những tác động, ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường hoặc

Trang 38

những giải pháp khắc phục hậu quả Phỏng vấn hoặc tọa đàm với nhà quản lý,hoạch định chính sách, doanh nghiệp được sử dụng khi cần cung cấp chocông chúng những thông tin về chính sách bảo vệ môi trường, khai thác quản

lý tài nguyên, khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường… Kết hợp hiệu quảngôn ngữ hình ảnh, âm thanh trong tác phẩm truyền hình để tạo sức mạnhtổng hợp thông tin đến với công chúng một cách hiệu quả

Thông tin khi có sự kiện: Bám sát những sự kiện mới một cách nhạy

bén và phản ánh sự kiện ở thời điểm tiêu biểu, đỉnh cao như sự mở đầu, kếtthúc hoặc ở những thời điểm mà sự kiện bộc lộ thêm những tính chất mới.Nhằm cung cấp thông tin bảo đảm tính thời sự, thu hút công chúng bởi tínhmới lạ, tính phát hiện của thông tin Tin không phản ánh sự kiện một cách đầy

đủ theo tiến trình, diễn biến mà chỉ thông báo về sự kiện một cách kịp thời ởnhững thời điểm tiêu biểu – nơi sự kiện bộc lộ bản chất của nó rõ nhất Tinphản ánh sự kiện giống như những “lát cắt” ở những thời điểm đỉnh cao – nơi

sự kiện bộc lộ bản chất của nó rõ nhất Phương pháp thông tin này cũngthường được dùng khi thông báo đến nhân dân những chủ trương của Đảng,chính sách pháp luật của nhà nước, hay những quy định mới ban hành củachính quyền địa phương

Thông tin theo vệt chủ đề, sự việc: Cách thức thông tin này cung cấp

dần cá thông tin vấn đề, sự việc, giải quyết dần dần vấn đề, sự việc đó quatừng số chương trình phát sóng Thông tin đăng tải thường xuyên, liên tục cóvấn đề để tạo sự quan tâm của công chúng, giúp họ chủ động hơn trong việctiếp cận thông tin, bởi qua chương trình phát sóng trước công chúng sẽ biếttrong chương trình tới những bài tiếp theo sẽ viết về vấn đề gì, vấn đề ấy cóđáng quan tâm hay không, họ cần tìm hiểu gì về những thông tin sắp đăng tải

Thông tin theo phản ánh, cung cấp thông tin của nhân dân: Việc nhận

được thông tin phản hồi của người dân với các cơ quan báo chí càng nhiềuthì chứng tỏ sự quan tâm của công chúng khán giả tới cơ quan báo chí càng

Trang 39

cao Những phản hồi của người dân thông qua thông tin trên báo chí giúpĐảng và Nhà nước nắm bắt được hiện thực phong phú của cuộc sống, từ đó

có những điều chỉnh, sửa đổi hoạch định các dự án, chính sách phù hợp, đưa

ra những giải pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề xã hội Báo chí là kênhliên hệ giữ người dân với Đảng, chính quyền và ngược lại Báo chí khôngchỉ là phương tiện của Đảng, phục vụ thông tin, tuyên truyền, vận động các

tổ chức, cá nhân thực hiện các chủ trương, chính sách, mà còn thể hiện tâm

tư nguyện vọng cũng như trí tuệ của nhân dân trong việc tham gia vào côngtác quản lý, bảo vệ tài nguyên môi trường Nhờ đăng tải những thông tinphản hồi từ nhân dân và những việc làm của lãnh đạo, chính quyền các cấptrong việc giải quyết những vấn đề về môi trường mà báo chí thực sự trởthành cầu nối nhân dân với Đảng, nhà nước và chính quyền địa phương

- Hình thức thông tin

Hình thức thông tin bao gồm việc sử dụng các thể loại tin, bài, phóng

sự để kết cấu, bố cục trong chương trình kết hợp với việc sử dụng hình ảnh,

âm thanh (lời bình, tiếng động, âm nhạc) để làm nổi bật vấn đề tác phẩm màtác giả cần phản ánh

- Các chương trình, chuyên đề, chuyên mục:

Kết cấu đó là cách bố cục, sắp xếp nội dung các phần trong chương trìnhhoặc sắp xếp các chi tiết trong một tác phẩm Kết cấu chương trình gồm (cáctin, bài thời sự, các tin, bài, phóng sự chuyên mục)

Phần tin tức thời sự: Đây là phần thuộc nhóm chính luận Các tin, bài thuộcnhóm này thường có kết cấu ngắn gọn, nội dung chủ yếu mang tính chất thông tinthông báo về các sự kiện, những vấn đề đang hoặc mới diễn ra tại địa phương

Nhóm chuyên đề (gồm tin, bài nằm trong chuyên mục): Kết cấu trongmột chương trình gồm có tin tức + bài viết (phóng sự, PV, đối thoại, tọa đàm).Nội dung các tác phẩm trong nhóm chuyên đề chỉ tập trung giải quyết mộtvấn đề và vấn đề đó được khai thác sâu ở các góc tiếp cận khác nhau

Trang 40

- Thể loại tác phẩm truyền hình

Thể loại tác phẩm truyền hình được sử dụng chủ yếu để thông tin là tin,bài và phóng sự ngắn phản ánh, phóng sự điều tra, phóng sự về gương người tốtviệc tốt Trong đó thể loại tin thường chiếm số lượng nhiều hơn Giữa các tin, bàithường có sự dẫn dắt của người dẫn chương trình Ngoài ra còn sử dụng các thểloại bình luận, các chương trình truyền hình trực tiếp, tương tác, giao lưu tọađàm, lồng ghép thông tin về môi trường trong các chương trình văn hóa, vănnghệ…áp dụng đối với từng vấn đề nhằm làm sinh động nội dung cần đề cập

Trong tác phẩm truyền hình, ngôn ngữ diễn đạt chủ yếu là sử dụng hìnhảnh để mô tả sự kiện, vấn đề Việc sử dụng các cỡ cảnh chính trong truyềnhình là toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh để diễn tả được trọng tâm vấn đề, thái

độ tâm lý nhân vật trong sự kiện đó Qua các góc quay cao thấp, chính diện,các tác phẩm truyền hình có thể giúp cho người xem như đang tham gia vào

sự kiện hay trực tiếp quan sát sự kiện đó

Nhờ sử dụng hiệu quả hình ảnh cùng với tiếng động chân thực tại hiệntrường trong các thể loại tin, bài, phóng sự…thông tin về vấn đề bảo vệ môitrường trên truyền hình có thể làm phơi bày thực trạng trước mắt người xemnhững vấn đề trầm trọng về ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực của conngười lên môi trường tự nhiên…nó tác động mạnh mẽ đến tâm lý người xem,làm thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ con người trước các sự vật, sự việcmình được chứng kiến Đây thực sự là thế mạnh của truyền hình mà các loạihình báo chí khác không thể có được trong thông tin về bảo vệ môi trường

1.5 Yêu cầu đối với thông tin về bảo vệ môi trường trên truyền hình địa phương

- Thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường trên truyền hình phải bám sát

và tuyên truyền đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, định hướng, chiến lược của địa phương

Chỉ thị số 29-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về tiếp tục đẩy mạnhthực hiện Nghị quyết số 41 – NQ/TW của Bộ chính trị (khóa IX) “Về bảo vệmôi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Ngày đăng: 26/01/2022, 15:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2008), Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyềnthông đại chúng
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
2. Ban khoa giáo Trung ương, Liên hiệp các hội khoa học (2003), Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệmôi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Ban khoa giáo Trung ương, Liên hiệp các hội khoa học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạođiều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trongthời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
4. Khiếu Quang Bảo (2007), Ngôn ngữ truyền hình, Tạp chí Người làm báo (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ truyền hình
Tác giả: Khiếu Quang Bảo
Năm: 2007
5. Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên) (2010), Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo và quản lý hoạt động báochí ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
6. Bộ tài nguyên và Môi trường (2010), Báo cáo Môi trường Việt Nam 2006 – 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Môi trường Việt Nam 2006– 2012
Tác giả: Bộ tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
11. G.V.Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki (2004), Báo chí truyền hình tập 1, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền hìnhtập 1
Tác giả: G.V.Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2004
12. G.V.Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki (2004), Báo chí truyền hình tập 2, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền hìnhtập 2
Tác giả: G.V.Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2004
13. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
14. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2007
15. Mai Thị Dung (2006), Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay, Luận văn thạc sỹ Truyền thông đại chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay
Tác giả: Mai Thị Dung
Năm: 2006
16. Đức Dũng (2009), Phóng sự báo chí hiện đại, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự báo chí hiện đại
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
17. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2002
18. Đức Dũng (2001), Viết báo như thế nào, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
19. Đức Dũng (1998), Các thể ký báo chí, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể ký báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội
Năm: 1998
20. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lýthuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2012
21. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
22. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đếnđời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
23. Nguyễn Văn Dững – Trần Thế Phiệt (2000), Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn từthực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Dững – Trần Thế Phiệt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
24. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w