1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Xay dung van ban phap luat Cac yeu cau the thuc van ban phap luat

14 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 53,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A, MỞ ĐẦU:Các yêu cầu đối với văn bản pháp luật thường được tiếp cận dưới góc độ các tiêu chí của một văn bản pháp luật tốt, các tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản pháp luật và các yêu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT



TIỂU LUẬN

BỘ MÔN : XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Đề bài : Các yêu cầu của việc soạn thảo văn bản

pháp luật

Họ và tên: Vũ Trọng Khôi

Mã sinh viên: 20061137

Lớp K65B

Giảng viên: TS: Trần Nho Thìn

Hà Nội- 2021

Trang 2

MỤC LỤC TIỂU LUẬN

A, MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I KHÁI QUÁT VỀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI VĂN BẢN PHÁP LUẬT: 3

II YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT: 3

III YÊU CẦU VỀ THỂ THỨC CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT: 5

1, Khái niệm thể thức: 5

2 Các yếu tố của thể thức văn bản: 6

IV, YÊU CẦU VỀ NGÔN NGỮ CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT: 10

1, Văn phong trong văn bản pháp luật: 10

2, Câu văn trong văn bản và một số quy tắc ngữ pháp sử dụng trong soạn thảo văn bản pháp luật: 12

C KẾT LUẬN: 15

D TÀI LIỆU THAM KHẢO: 15

Trang 3

A, MỞ ĐẦU:

Các yêu cầu đối với văn bản pháp luật thường được tiếp cận dưới góc độ các tiêu chí của một văn bản pháp luật tốt, các tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản pháp luật và các yêu cầu về tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính.Văn bản phải có tính mục đích Văn bản quản lý hành chính nhà nước được ban hành với danh nghĩa là cơ quan Nhà nước nhằm đề ra các chủ trương, chính sách hay giải quyết các vấn đề sự việc cụ thể thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó Do đó, khi soạn thảo tiến tới ban hành một văn bản nào đó đòi hỏi phải có tính mục đích rõ ràng Thông qua bài tiểu luận này, em đã

đi sâu nghiên cứu về đề tài“ Những yêu cầu của việc soạn thảo văn bản pháp luật”

B NỘI DUNG:

I KHÁI QUÁT VỀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

Các yêu cầu đối với văn bản pháp luật thường được tiếp cận dưới góc độ các tiêu chí của một văn bản pháp luật tốt, các tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản pháp luật và các yêu cầu về tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính Dưới góc độ các tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản pháp luật, có thể xem xét các các yêu cầu đối với văn ban pháp luật theo các tiêu chí cụ thể, thuộc ba nhóm như sau: Nhóm tiêu chí về chính trị, nhóm tiêu chí về tính hợp hiến, hợp pháp và nhóm tiêu chí về tính hợp lý Theo cách tiếp cận đơn giản hơn, các yêu cầu đối với văn bản pháp luật cũng tương đồng với các yêu cầu về tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính (phần lớn quyết định hành chính là VBPL)

II YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

Dưới góc độ khoa học và từ kinh nghiệm thực tiễn xây dựng VBPL của các cơ quan nhà nước, yêu cầu về nội dung của văn bản pháp luật có thể được tiếp cận từ các tiêu chí của một VBPL tốt như sau:

-Văn bản phải thích hợp với mục đích sử dụng: Ví dụ, không dùng chỉ thị thay cho thông

báo và ngược lại Yêu cầu này đòi hỏi phải có sự phân biệt rõ ràng các loại văn bản trước khi lựa chọn văn bản

Trang 4

-Nắm vững nội dung của vấn đề cần văn bản hóa: Nội dung ở đây gồm hai mặt Một là,

nội dung văn bản được chuẩn bị ban hành phải thiết thực, đáp ứng được tối đa yêu cầu thực tế đòi hỏi, phù hợp với luật pháp hiện hành Thứ hai, nội dung này phải được thể hiện trong một văn bản thích hợp Nói cách khác, phải có sự lựa chọn cần thiết trong quá trình văn bản hóa để văn bản được soạn thảo có chức năng phù hợp Mới thoạt nhìn yêu cầu này rất đơn giản Tuy nhiên, thực tế đã chứng tỏ rằng nhiều sai sót đã có khi ban hành

là do không nắm vững yêu cầu này

- Các chính sách thể hiện trong văn bản phải rõ ràng, bảo đảm nhất quán với chính sách

chung của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực mà dự thảo điều chỉnh.

- Nội dung văn bản phải hợp hiến, hợp pháp; bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ của

hệ thống pháp luật: Trong nhà nước pháp quyền, cách xử sự của các chủ thể phải tuân

thủ pháp luật Đặc biệt đối với các cơ quan nhà nước, các mệnh lệnh ban hành phải thống nhất - đây là điều kiện cơ bản tạo lập nên nền pháp quyền Khi soạn thảo chúng, đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật Yêu cầu này buộc người soạn thảo phải xác định rõ thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung của văn bản, phân định rõ ranh giới cũng như mối quan hệ giữa nội dung của văn bản được soạn thảo với quy định hiện hành của hệ thống pháp luật Đảm bảo tính hợp pháp của văn bản có nghĩa là trong quá trình soạn thảo, chủ thể soạn thảo phải nắm vững quy định của Hiến pháp, pháp luật; văn bản soạn thảo phai phù hợp Hiến pháp, pháp luật, thống nhất với văn bản cấp trên và phù hợp với văn bản các cơ quan ngang cấp, nhất quán với văn bản do chính mình đã ban hành Tính hợp pháp hiển theo nghĩa chung nhất không chỉ đề cập về nội dung, nhưng cũng đồng thời bao hàm cả thể thức và quy trình soạn thảo ban hành văn bản

- Nội dung văn bản phải tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam dã ký kết hoặc

gia nhập

- Nội dung quy định trong dự thảo phủ hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; vừa phải đảm

bao yêu cầu quản lý nhà nước đồng thời phải đảm bảo thúc đẩy phát triển xã hội.

Trang 5

- Phải giải quyết mục tiêu vấn đề đặt ra trên cơ sở đảm bảo tính kinh tế, hiệu quả.

- Nội dung văn bản phải đảm bảo tính khả thi (các điều kiện bảo đảm thi hành văn bản

như nguồn tài chính, nguồn nhân lực ).

- Nội dung các quy định phải minh bạch, cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện: Các

thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được xử lý và đảm bảo chính xác Không nên viết văn bản với những thông tin chung chung và lặp lại từ các văn bản khác Những văn bản được viết với những thông tin không chính xác hoặc thiếu cụ thể, chính là một trong những biểu hiện của tính quan liêu trong quản lý, chúng sẽ không có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động của bất cứ cơ quan nào Đối tượng chịu sự tác động của văn bản phải biết được họ phải làm gì, được phép làm gì; cơ quan nhà nước chỉ được phép làm gì, đến mức độ nào

- Đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật; các quy định trong văn bản phải cụ thể

nhưng không quả chi tiết dẫn đến nguy cơ phải sửa đổi, bổ sung ngay sau khi văn bản được ban hành: Bên cạnh đó, các yêu cầu về nội dung của VBPL cũng phần nào được

quy định thành nguyên tắc trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và văn bản pháp luật nói chung Luật BHVBQPPL quy định rõ tại Điều 5

về các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

III YÊU CẦU VỀ THỂ THỨC CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

1, Khái niệm thể thức:

Một văn bản đầy đủ thể thức yêu cầu phải có các thành phần: Quốc hiệu, địa điểm, ngày tháng ban hành văn bản, tên cơ quan, tên đơn vị hình thành, số và ký hiệu, tên loại và trích yếu nội dung, nội dung; chữ ký của người có thẩm quyền, con dấu hợp thức của cơ quan; địa điểm nơi văn bản được gửi đến (nơi nhận) v.v Chúng đảm bảo cho văn bản có hiệu lực pháp lý và được sử dụng thuận lợi trước mắt cũng như lâu dài trong hoạt động

quản lý của các cơ quan Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm: Thể thức văn

bản là thành phần và kết cấu cần được thể hiện trong văn bản nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý, đảm bảo cho văn bản có sự thống nhất, thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng.

Trang 6

Hiện nay, thể thức của các văn bản pháp luật trong hoạt động hành chính nhà nước được quy định bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật theo nhiều nhóm như sau:

- Đối với văn bản quy phạm pháp luật: Thể thức của văn bản quy phạm pháp luật của

Quốc hội, Ủy bannThưởng vụ Quốc hội, Chủ tịch nước được quy định bởi Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 của UBTVQH quy định thể thức và kỹ thuật trình bảy văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước (Nghị quyết 35 1/2017) Thể thức của các văn bản quy phạm pháp luật khác được quy định bởi Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 34/2016)

- Đối với văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính: Thể thức của các văn bản

hành chính được quy định bởi Nghị định số 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư (Nghị định 30/2020) Theo nghị định này, văn bản hành chính gồm 27 văn bản, trong đó 25 văn bản thuần túy mang tính “hành chính” (ghi nhận thông tin, trao đổi thông tin, chỉ đạo, điều hành) Đáng lưu ý, văn bản hành chính còn bao gồm cả hai văn bản mang tỉnh áp dụng pháp luật: nghị quyết (cá biệt) và quyết định (cá biệt)

2 Các yếu tố của thể thức văn bản:

- Quốc hiệu

Quốc hiệu hay còn gọi là tiêu ngữ được trình bày đầu tiên, ở vị trí trung tâm văn bản Quốc hiệu bao gồm tên nước và chế độ chính trị của nhà nước Sắc lệnh số 49 ngày 12/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoả yêu cầu tất cả giấy tờ của Chính phủ phải có tiêu ngữ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Năm thứ nhất.” Sau khi thống nhất đất nước, ngày 02/7/1976, Quốc hội ra nghị quyết lấy tên nước

là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngày 12/8/1976 tại công văn số 1053/VP Thường vụ Hội đồng Chính phủ quy định việc dùng tiêu ngữ mới Theo đó tiêu ngữ được ghi:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 7

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

- Tên tác giả (cơ quan ban hành)

Cùng hàng với tiêu ngữ ở góc bên trái là tên tác giả ban hành văn bản Tên tác giả có thể

là cơ quan, tổ chức như Uỷ ban nhân dân hay cá nhân như Chủ tịch nước Nếu văn bản liên tịch thì tên tác giả sẽ bao gồm tên các cơ quan tham gia ban hành văn bản liên tịch

đó Tên tác giả cho biết văn bản của cơ quan nào, vị trí của cơ quan đó trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước và mối quan hệ giữa cơ quan nhận và cơ quan gửi văn bản Tên tác giả viết to, đậm nét, rõ ràng, chính xác tên đã được ghi trong quyết định thành lập cơ quan (tổ chức), không viết tắt Nếu là cơ quan có vị trí độc lập như cơ quan đứng đầu một cấp hành chính nhà nước, cơ quan chủ quan một ngành thì tên tác giả được ghi một dòng độc lập

Ví dụ: BỘ CÔNG AN

- Số, năm ban hành, ký hiệu văn bản:

Số, năm ban hành, ký hiệu văn bản được trình bày ngay dưới tên tác giả, giúp cho việc đăng ký, trích dẫn, sắp xếp, nhắc nhở công việc và kiểm tra, tìm kiếm văn bản khi cần thiết Số văn bản là số thứ tự ban hành của văn bản được ghi bằng số Ả rập liên tục từ số

01 bắt đầu 01 tháng giêng đến 31 tháng 12 mỗi năm Ký hiệu văn bản: ký hiệu theo quy định là chữ viết tắt của tên loại văn bản kết hợp với chữ viết tắt của tên cơ quan ban hành văn bản Ba yếu tố trên thường được phân cách với nhau bằng dấu / Ví dụ:

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 20/2000/QĐ-UB

- Địa danh, ngày tháng ban hành Địa danh, ngày tháng được trình bày dưới Quốc hiệu:

Địa danh là nơi đóng trụ sở của cơ quan ban hành văn bản Nhưng địa danh cũng khác với địa chỉ của cơ quan Địa danh không ghi chi tiết như địa chỉ cơ quan mà cần ghi phù hợp với phạm vi quản lý của cơ quan ban hành Ví dụ: Các cơ quan của thành phố Hà

Trang 8

Nội, các cơ quan trung ương đóng tại Hà Nội thì ghi địa danh: Hà Nội, ngày… tháng….

Năm

- Tên loại và trích yếu văn bản

Tên loại văn bản là tên gọi chính thức của văn bản như: nghị định, nghị quyết, quyết định v.v Tên gọi văn bản nói lên tầm quan trọng của văn bản, tính chất công việc mà văn bản

đề cập tạo thuận lợi cho việc đăng ký, sắp xếp hồ sơ và tổ chức thực hiện Nếu xem văn bản là câu siêu dài

- Nội dung của văn bản

Là thành phần quan trọng nhất của văn bản Toàn bộ những sự việc, những vấn đề cần giải quyết và quyết định được thể hiện đầy đủ trong nội dung văn bản Nội dung văn bản thường được chia làm 3 phần:

Phần mở đầu: nêu căn cứ, cơ sở của việc ban hành văn bản gồm có 2 nhóm căn cứ: Căn

cứ pháp lý về nội dung và căn cứ pháp lý về thẩm quyền ban hành Căn cứ thực tế gồm lý

do ban hành, thủ tục ban hành thể hiện văn bản đã được chuẩn bị xem xét, ban hành theo nghị định nào (nếu có)

Phần thứ hai: Tuỳ theo từng loại văn bản mà nội dung được trình bảy theo hai dạng:

“văn điều khoản” như quyết định, nghị định hay dưới dạng “văn xuôi pháp luật” như nghị quyết, chỉ thị,

Phần thi hành: Bao gồm chủ thể thi hành, hiệu lực không gian, hiệu lực thời gian, xử lý văn bản hết hiệu lực, điều khoản chuyển tiếp

- Nơi nhận văn bản

Nơi nhận văn bản được ghi ở cuối góc trái văn bản Nơi nhận văn bản là tên cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành hoặc liên quan công việc nói trong văn bản Thông thưởng những đối tượng tiếp nhận được ghi theo từng nhóm bao gồm: Các cơ quan có quyền giám sát hoạt động của cơ quan ra văn bản Cơ quan ra văn bản phải gửi tới để báo cáo công tác Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần nhận văn bản để thi hành là những đối tượng

Trang 9

quản lý trực tiếp Bộ phận có trách nhiệm theo dõi và lưu trữ văn bản của cơ quan ban hành thường ghi: Lưu Văn thư

- Chữ ký, dấu

Ngang hàng với nơi nhận về góc bên phải là dẫu và chữ ký

Chữ ký của người có thẩm quyền ký ban hành văn bản:

Chữ ký là yếu tố thông tin nhằm đảm bảo cho văn bản có tính hợp pháp, có giá trị pháp

lý, thể hiện trách nhiệm của người ký văn bản đối với vấn đề mà văn bản đề cập, đồng thời chữ ký có tác dụng chống giả mạo giấy tờ Người ký phải đúng thẩm quyền và ghi rõ

họ tên, chức vụ Cần lưu ý, người có thẩm quyền ký ban hành văn bản không phải luôn đồng nhất với cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản

Dấu của cơ quan, tổ chức:

Văn bản ban hành, sau khi ký phải được đóng dấu của cơ quan để bảo đảm tính pháp lý

và tính chính xác của văn bản Dấu phải được đóng ngay ngắn, rõ nét, trùm lên khoang 1/4 đến 1/3 về phía bên trái chữ ký và đúng màu sắc mực dấu đã quy định (các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, Bộ Nội vụ quy định mực dấu là mực đỏ tươi, màu Quốc kỳ) Dấu không đóng trùm lên cả chữ ký vì như vậy sẽ gây nhoẻ, khó đọc chữ ký Dấu đỏng

về phía bên trái chữ kỷ vì nơi đó có nét chủ yếu của chữ ký Dấu và chữ ký lồng nhau sẽ tăng độ an toàn chống tẩy xoá, giả mạo Không được đóng dấu không, phải quản lý con dấu chặt chẽ, không được tuỳ tiện mang con dấu trong người

IV, YÊU CẦU VỀ NGÔN NGỮ CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

1, Văn phong trong văn bản pháp luật:

Chất lượng của văn bản một phần quan trọng là do việc sử dụng ngôn ngữ công cụ và hành văn quyết định Soạn thảo văn bản đòi hỏi phải biết cách lựa chọn ngôn ngữ và văn phong thích hợp, phải sử dụng chúng một cách dúng đắn Kinh nghiệm cho thấy rằng văn bản sở dĩ không phát huy được chức năng của mình trong quản lý, là do ngôn ngữ và văn phong được sử dụng trong quá trình soạn thảo thiếu chuẩn mực Nhiều văn bản với cách

Trang 10

viết không chuẩn mực đã không truyền đạt các thông tin công vụ từ cơ quan này sang cơ quan khác, từ đó làm cho hoạt động lãnh đạo và quản lý, cũng như nhiều hoạt động thực hiện văn bản gặp khó khăn

Cần nhấn mạnh rằng ngôn ngữ không chỉ có vai trò thụ động truyền đạt các thông tin Trong thực tế của hoạt động quản lý, ngôn ngữ đã có một vai trò rất tích cực, thúc đẩy quá trình giải quyết công việc nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn Bởi vậy khi soạn thảo văn bản, xử lý thông tin, ngôn ngữ được xem là một giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt Trong vấn đề này, nắm vững phong cách ngôn ngữ của văn bản và vận dụng chúng một cách thích hợp là một điều kiện thiết yếu để soạn thảo văn bản thành công

Văn bản là phương tiện truyền đạt của cơ quan công quyền dùng để diễn tả những ý kiến trình lên cấp trên, cung cấp tài liệu, giao dịch với các cơ quan bạn, ban hành mệnh lệnh cho cấp dưới hay phổ biến tin tức cho quảng đại quần chúng Xét riêng về phương diện

kỹ thuật diễn tả, văn bản phải viết bằng chữ, không thể nói bằng lời được Sự kiện viết bằng chữ đặt ra vấn đề văn cách văn bản, tức là lối diễn tả ý tưởng bằng văn tự trong các văn kiện Nhìn chung, văn phong văn bản có mấy đặc điểm nổi bật sau đây:

- Lời văn cần mang tính khách quan: Tính khách quan của nội dung hay sự việc được nói đến và lối trình bày trực tiếp, không thiên vị Các văn bản hình thành trong bộ máy lãnh đạo và quản lý là tiếng nói của một cơ quan, một đơn vị, một tổ chức, v.v Đặc tính khách quan, vô tư này còn được gọi là đặc tính vô cả tính nghĩa là không có tính chất cá nhân, bất luận nhân vật đó là ai Về kỹ thuật diễn tả, muốn cho lời văn có đặc tính khách quan, vô tư, câu văn phải tránh dùng ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai ở những tiếng xưng hô, hạn chế tối đa việc sử dụng những từ ngữ diễn tả tình cảm

- Lời văn cần trang trọng: Văn bản, nhất là công văn, là tiếng nói của chính quyền, hoặc

cơ quan nảy với cơ quan khác, hoặc cơ quan nói với cá nhân Lời nói trong văn bản là lời nói của chính quyền, một pháp nhân có thẩm quyền sử dụng chủ quyền của quốc gia Lời nói trong công văn là lời nói có hiệu lực thi hành đối với nơi nhận Do đó, văn bản cần có tính trang trọng, uy nghi

Ngày đăng: 26/01/2022, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w