Để phù hợp với nội dung kiến thức của khung chương trình đào tạo mới,chúng tôi biên soạn giáo trình Nguyên lý thống kê gồm 5 chương: Chương 1 : Một số vấn đề chung về thống kê học Chương
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCGNB ngày…….tháng….năm
của Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Ninh Bình
Trang 2TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các phương pháp thống kê luôn là công cụhữu hiệu không thể thiếu trong hoạt động nghiên cứu và công tác thực tiễn, Lýthuyết thống kê đã trở thành một môn học cơ sở của tất cả học sinh, sinh viênkhối kinh tế
Giáo trình Nguyên lý thống kê được biên soạn trên cơ sở tiếp thu những nội dung và kinh nghiệm giảng dạy môn Nguyên lý thống kê trong nhiều năm
qua và yêu cầu ứng dụng trong quản lý kinh tế theo xu hướng hội nhập Giáotrình do tập thể giáo viên tổ bộ môn kế toán doanh nghiệp biên soạn, đã đượchội đồng thẩm định của Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình xét duyệt
Để phù hợp với nội dung kiến thức của khung chương trình đào tạo mới,chúng tôi biên soạn giáo trình Nguyên lý thống kê gồm 5 chương:
Chương 1 : Một số vấn đề chung về thống kê học
Chương 2 : Quá trình nghiên cứu thống kê
Chương 3 : Phân tổ thống kê
Chương 4 : Các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội
Chương 5 : Sự biến động của hiện tượng kinh tế - xã hội
Mặc dù tập thể nhóm biên soạn đã có rất nhiều cố gắng trong quá trìnhbiên soạn, song không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Nhóm biên soạn rấtmong nhận được những đóng góp ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc
Tập thể tác giả
Phạm Thị Hồng
Đỗ Quang KhảiNguyễn Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC 7
1 Sự ra đời và phát triển của thống kê học 7
2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học 10
3 Nhiệm vụ của thống kê học 12
4 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học 12
4.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể thống kê 12
4.2 Tiêu thức thống kê 14
4.3 Chỉ tiêu thống kê 14
5 Bảng thống kê và đồ thị thống kê 15
5.1 Bảng thống kê 15
5.2 Đồ thị thống kê 18
CHƯƠNG 2: 20
QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ 20
1 Điều tra thống kê 20
1.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê 20
1.2 Các loại điều tra 21
1.3 Các phương pháp điều tra thống kê 23
1.4 Các hình thức tổ chức điều tra thống kê 24
1.5 Sai số trong điều tra thống kê 25
2 Tổng hợp thống kê 26
2.1 Khái niệm ý nghĩa và nhiệm vụ tổng hợp thống kê 26
2.2 Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê 27
3 Phân tích và dự đoán thống kê 28
3.1 Khái niệm ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích và dự báo thống kê 28
3.2 Những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê 29
CHƯƠNG 3: PHÂN TỔ THỐNG KÊ 31
1 Khái niệm ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tổ thống kê 31
1.1 Khái niệm 31
1.2 Ý nghĩa 31
1.3 Nhiệm vụ 32
2 Tiêu thức phân tổ 32
Trang 53 Xác định số tổ cần thiết 33
3.1 Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính 34
3.2 Phân tổ theo tiêu thức số lượng 34
CHƯƠNG 4: 42
CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI 42
1 Số tuyệt đối trong thống kê 42
1.1 Khái niệm số tuyệt đối 42
1.2 Ý nghĩa số tuyệt đối 42
1.3 Đặc điểm của số tuyệt đối 42
1.4 Đơn vị đo lường số tuyệt đối 43
1.5 Các loại số tuyệt đối 44
2 Số tương đối trong thống kê 45
2.1 Khái niệm số tương đối 45
2.2 Ý nghĩa số tương đối 45
2.3 Đặc điểm số tương đối 45
2.4 Hình thức biểu hiện số tương đối 45
2.5 Các loại số tương đối 46
2.6 Điều kiện vận dụng số tương đối và số tuyệt đối 48
3 Số bình quân trong thống kê 48
3.1 Khái niệm số bình quân 48
3.2 Ý nghĩa số bình quân 49
3.3 Đặc điểm số bình quân 49
3.4 Các loại số bình quân 49
3.5 Điều kiện vận dụng số bình quân 53
CHƯƠNG 5: 56
SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ – XÃ HỘI 56
1 Dãy số thời gian 56
1.1 Khái niệm, ý nghĩa 56
1.2 Các loại dãy số thời gian 57
1.3 Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian 57
2 Chỉ số 65
2.1 Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm chỉ số thống kê 65
2.2 Phân loại chỉ số 66
2.3 Các ký hiệu thường dùng khi tính chỉ số 66
2.4 Phương pháp tính chỉ số 67
Trang 62.5 Hệ thống chỉ số 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
Trang 7Tên môn học: Nguyên lý thống kê
Mã môn học: MH 12
Thời gian thực hiện môn học: 45 giờ; (Lý thuyết: 25 giờ; Thực hành, thảo
luận, bài tập: 18 giờ; Kiểm tra: 2 giờ)
I Vị trí, tính chất của môn học:
- Vị trí: Môn học được bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn họcchung;
- Tính chất: Là môn học lý thuyết cơ sở
II Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức:
+ Trình bày được các vấn đề cơ bản của lý thuyết thống kê;
+ Trình bày được trình tự nghiên cứu thống kê, các phương pháptính sử dụng trong thống kê học
- Về kỹ năng:
+ Thu thập được tài liệu về hiện tượng cần nghiên cứu;
+ Tổng hợp và dự báo được các hiện tượng kinh tế có thể xảy ra;+ Ứng dụng được kiến thức lý thuyết thống kê vào môn học Thống
kê doanh nghiệp
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Xác định được đúng mục tiêu của môn học;
+ Có thái độ nghiêm túc, cẩn thận và chính xác trong luyện tập
III Nội dung môn học:
Trang 8CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC
Mã chương: NLTK01 Giới thiệu:
Trang bị cho người học những kiến thức chung về sự ra đời và phát triểncủa thống kê học, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của thống kê và một số kháiniệm thường dùng trong thống kê học
Mục tiêu:
- Trình bày được sự ra đời, phát triển và nhiệm vụ của thống kê học;
- Trình bày được đối tượng nghiên cứu của thống kê học;
- Định nghĩa được một số khái niệm thường dùng trong thống kê học;
- Hệ thống hoá được một số vấn đề chung về thống kê học;
- Có ý thức học tập nghiêm túc, tính cẩn thận, chính xác
Nội dung chính:
1 Sự ra đời và phát triển của thống kê học
Trong cơ chế kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh, nhà quản lý, nhàkinh tế có nhiều cơ hội thuận lợi cho nhiều công việc nhưng cũng có không ítthử thách Vấn đề này đòi hỏi các chuyên gia đó phải nâng cao trình độ về thống
kê Đây là một trong những điều kiện tất yếu của kiến thức để cạnh tranh trênthương trường, là yếu tố cần thiết của vấn đề nghiên cứu xu hướng và dự báo vềmức cung cầu từ đó đưa ra các quyết định tối ưu trong các lĩnh vực hoạt độngkinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá dịch vụ
Thuật ngữ “ Thống kê “ được sử dụng và hiểu theo nghĩa:
- Thứ nhất: Thống kê được hiểu là một hoạt động thực tiễn về thu thập
tích luỹ xử lý và phân tích các dữ liệu số Những số liệu đặc trưng về dân số,văn hoá, giáo dục và các hiện tượng khác trong đời sống xã hội
- Thứ hai: Thống kê có thể hiểu là một môn khoa học chuyên biệt hay là
một ngành khoa học chuyên nghiên cứu các hiện tượng trong đời sống xã hộinhờ vào mặt lượng của chúng Như một công cụ lý thuyết thống kê là cácphương pháp quan trọng của việc lập kế hoạch và dự báo của các nhà kinhdoanh, nhà quản trị, và các chuyên gia kinh tế
Giữa khoa học thống kê và thực tiễn có mối tương quan và liên hệ mậtthiết khoa học thống kê sử dụng các số liệu thực tế từ các cuộc điều tra thống kêtổng hợp chúng lại để phân tích, nhận định về hiện tượng nghiên cứu Ngược lại,trong những hoạt động thực tiễn, lý thuyết khoa học thống kê được áp dụng đểgiải quyết cho từng vấn đề quản lý cụ thể
Trang 9Thống kê có lịch sử phát triển qua nhiều thế kỷ Sự xuất hiện và phát triểncủa nó là do nhu cầu thực tiễn xã hội; khi cần để tính toán dân số gia súc đất đaicanh tác số tài sản, những hoạt động này xuất hiện rất sớm ở trung Quốc từ thế
kỷ 23 trước công nguyên Vào thời la mã cổ đại cũng diễn ra sự ghi chép tínhtoán những người dân tự do số nô lệ và của cải.cùng với sự phát triển của xã hộihàng hoá
Thị trường thế giới ngày nay tăng lên điều này đòi hỏi phải có các thôngtin về thống kê Phạm vi của thống kê ngày càng được mở rộng dẫn đến sự hoànthiện của các phương pháp thu thập xử lý và phân tích thống kê Trong thực tếcác hoạt động đa dạng của thống kê được thể hiện nhờ vào sự phân tích hợpnhiều nguyên lý từ đó khoa học thống kê được hình thành
Nhiều nhận định cho rằng: Nền tảng của khoa học thống kê được xâydựng bởi nhà kinh tế học người Anh Wiliam Petty (1623 – 1687) Từ các tácphẩm “Số học chính trị” “ Sự khác biệt về tiền tệ” và một số tác phẩm khác nữa
K Markc đã gọi Petty là người sáng lập ra môn thống kê học Petty đã thành lậpmột hướng nghiên cứu khoa học gắn với “số học chính trị”
Một hướng nghiên cứu cơ bản khác cũng làm khoa học thống kê pháttriển đó là hướng nghiên cứu của nhà khoa học người Đức G.Conbring (1606 –1681) ông đã xử lý phân tích hệ thống mô tả chế Nhà nước Môn sinh của ông làgiáo sư luật và triết học G Achenwall (1719 – 1772) lần đầu tiên ở trường Tổnghợp Marburs (1746) đã dạy môn học với tên “Statistics” Nội dung chính củakhoá học này là mô tả tình hình chính trị và những sự kiện đáng ghi nhớ củaNhà nước Số liệu về Nhà nước được tìm thấy trong tác phẩm của M.B.Lomonosov (1711 – 1765) trong đó các vấn đề đưa ra xem xét là dân số tàinguyên, thiên nhiên, tài chính, của cải, hàng hoá Được minh hoạ bằng các sốliệu thống kê Hướng phát triển này của thống kê được gọi là thống kê mô tả
Sau đó Giáo sư trường Đại học tổng hợp Gettinggen A Slier ( 1736 –1809), cải chính lại quan đểm trên Ông cho rằng thống kê không chỉ mô tả chế
độ chính trị Nhà nước mà đối tượng của thống kê, theo ông là toàn bộ xã hội
Sự phát triển tiếp theo của thống kê được vun đắp bởi nhiều nhà khoa học
lý thuyết và các nhà khoa học thực nghiệm Trong đó đáng quan tâm là thống kêhọc người Bỉ A.Kettle (1796 – 1874), ông đóng góp một công trình đáng giá về
lý thuyết ổn định của các chỉ số thống kê
Xu hướng toán học trong thống kê được phát triển trong công trình nghiêncứu của Francis Galton (Anh 1822 – 1911), K Pearson (Anh 1857 – 1936),
Trang 10V.S.Gosset (Anh 176 – 1937), R.A.Fsher (Anh 1890 -1962) F.Gallton đi tiênphong ở nước anh về thống kê học ông đưa ra khái niệm mở đầu về hệ thốngtương hỗ cách thăm dò thống kê để xác định hiệu quả của việc cầu kinh Ôngcùng K.Pearson thành lập tạp chí sinh trắc
Kế tục công trình của Gallton, K.Pearson là một trong những người sánglập ra ngành toán học thống kê hiện đại Ông nghiên cứu các mẫu đưa ra những
hệ số mà ngày nay người ta gọi là hệ số Pearson Ông nghiên cứu lý thuyết tiếnhóa theo mô hình thống kê toán học của ông Còn nhà toán học V Gosset đãđưa ra lý thuyết chọn mẫu nhỏ để rút ra kết luận xác đáng nhất từ hiện tượngnghiên cứu R Fhisher đã có công phân chia các phương pháp phân tích sốlượng ông đã phát triển các phương pháp thống kê để so sánh những trung bìnhhai mẫu từ đó xác định sự khác biệt của chúng có ý nghĩa hay không M.Mitrel
đã đóng góp ý tưởng “phong vũ biểu kinh tế” Như vậy địa diện cho khuynhhướng này là cơ sở lý thuyết xác suất thống kê Đó là một trong những ngànhtoán ứng dụng
Góp phần quan trọng cho sự phát triển của thống kê là các nhà khoa họcthực nghiệm; ở thế kỷ XVIII trong công trình khoa học của I.C Kirilov (1689 –1737) và V.N.Tatisev (1686 – 1750) thống kê chỉ được luận giải chủ yếu nhưmột ngành khoa học mô tả Nhưng sau đó vào thế kỷ XIX khoa học thống kê đãtrở thành ý nghĩa nhận thức V.S Porosin (1809 – 1868) trong tác phẩm “Nghiêncứu nhận xét về nguyên lý thống kê” đã nhấn mạnh: “Khoa học thống kê khôngchỉ giới hạn ở việc mô tả” Còn I.I.Srezenev (1812-1880) trong quyển “Kinhnghiệm về đối tượng các đơn vị thống kê và kinh tế chính trị” đã nói rằng:
“Thống kê trong rất nhiều trường hợp ngẫu nhiên đã phát hiện ra”: ”những tiêuchuẩn hoá” Nhà thống kê học danh tiếng D.P.Jurav (1810-1856) trong nghiêncứu “Về nguồn gốc và ứng dụng của số liệu thống kê” đã cho rằng: “Thống kê làmôn khoa học về các tiêu chuẩn của việc tính toán”
Trong nghiên cứu của giáo sư trường địa học Bách khoa PeterburA.A.Truprov (1874-1926), thống kê được xem như phương pháp nghiên cứu cáchiện tượng tự nhiên và xã hội số lớn
Như vậy, lịch sử phát triển thống kê cho thấy: Thống kê là một môn khoahọc, ra đời và phát triển nhờ vào sự tích luỹ kiến thức của nhân loại rút ra được
từ kinh nghiệm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn cho phép con người sử dụng đểquản lý xã hội
Trang 11Trong việc chuẩn bị nhằm có được thông tin chính xác, đầy đủ cho hoạtđộng kinh doanh các nhà quản trị, chuyên viên kinh tế cần được trang bị tốt vềkiến thức thống kê, bao gồm nhiều môn học Trước hết là môn lý thuyết thống
kê – môn cơ sở để nghiên cứu thống kê kinh tế xã hội Ngoài ra cần môn thống
kê chuyên ngành, Thống kê doanh nghiệp – Là các phương pháp thống kê, đánhgiá phân tích hoạt động kinh doanh của ngành và doanh nghiệp; môn Dự báo –Dùng dự báo hàng hóa, dịch vụ, thị trường và các hiện tượng khác trong mốiquan hệ phụ thuộc lẫn nhau
2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học
- Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng của các hiện tượng xãhội số lớn trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất của chúng, là biểu hiện sốlượng của các quy luật phát triển xã hội trong điều kiện thời gian và địa điểm cụthể
+ Thống kê nghiên cứu các hiện tượng xã hội
+ Thống kê nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng đó
+ Thống kê nghiên cứu những hiện tượng số lớn
Để phân biệt môn khoa học này với môn khoa học khác phải dựa vào đốitượng nghiên cứu riêng biệt của từng môn Như vậy đối tượng của thống kê học
là gì? Nó khác với các môn khoa học khác như thế nào
Thống kê học là một môn khoa học xã hội vì phạm vi nghiên cứu của nó
là các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội Các hiện tượng và quá trình nàybao gồm:
+ Các điều kiện của sản xuất và trình độ sản xuất: dân số, sức lao động,tài nguyên thiên nhiên, của cải quốc dân tích luỹ
+ Quá trình tái sản xuất xã hội qua các khâu: sản xuất, phân phối, và sửdụng sản phẩm xã hội
+ Ngoài ra nó còn nghiên cứu về đời sống và sinh hoạt của nhân dân:trình độ văn hoá, tình hình sức khoẻ, tình hình sinh hoạt chính trị, xã hội
* Phạm vi nghiên cứu của thống kê học
Là các hiện tượng sản xuất không bao gồm các hiện tượng tư nhiên, cácvấn đề kỹ thuật, tuy nhiên trong nghiên cứu, thống kê học phải nghiên cứu đếnnhững ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên và kỹ thuật đối với sự phát triển của sảnxuất, phải nghiên cứu đến tình hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất tiêntiến nhằm phân tích trình độ sản xuất của xã hội và tác dụng của kỹ thuật mớiđối với sự phát triển của sản xuất
Trang 12-Thứ hai, thống kê học nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội nhờ vàoviệc nghiên cứu các con số thực tế của hiện tượng đó, hay nói cách khác thống
kê nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ chặt chẽ với mặt chất của một hiệntượng, một quá trình cụ thể, tức là sẽ thông qua những biểu hiện về số lượng, qui
mô kết hợp quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển để rút ra những kết luận về bảnchất và tính qui luật của hiện tượng nghiên cứu, bởi vì mọi sự vật cũng như mọihiện tượng sản xuất đều có mặt chất và mặt lượng không tách rời nhau Mặtlượng phản ánh qui mô, tốc độ phát triển trong nội bộ sự vật Ví dụmặt lượnggiúp ta nghiên cứu qui mô sản xuất của một doanh nghiệp: có số công nhân làbao nhiêu, số sản phẩm sản xuất ra trong một ngày hoặc giúp ta nghiên cứuđược kết cấu công nhân: bao nhiêu % là công nhân nông nghiệp, bao nhiêu % làcông nhân công nghiệp Mặt chất giúp ta biết được sự vật đó là cái gì? Giúp taphân biệt sự vật ấy với sự vật khác Ví dụnghiên cứu chế độ sản xuất, chế độphục vụ, quy mô phục vụ của bưu cục và của bưu điện văn hoá xã giúp ta phânbiệt được sự khác nhau giữa bưu cục và bưu điện văn hóa xã Như vậy ta thấyrằng lượng và chất là một thể thống nhất trong một sự vật, sự vật không thể cóchất mà không có lượng và ngược lại lượng nào cũng là lượng của một chất nhấtđịnh
- Thứ ba, các hiện tượng mà thống kê học nghiên cứu phải là hiện tượng
số lớn, là tổng thể các hiện tượng cá biệt vì như ta biết lượng của hiện tượng cábiệt thường chịu tác động của nhiều nhân tố, có những nhân tố bản chất, tấtnhiên, cũng có những nhân tố không bản chất, ngẫu nhiên, do đó chỉ có thôngqua việc nghiên cứu một số lớn hiện tượng, tác động của các nhân tố ngẫu nhiênđược bù trừ và triệt tiêu, bản chất và tính qui luật của hiện tượng mới có khảnăng thể hiện rõ rệt
- Ngoài ra, những qui luật mà thống kê tìm ra được với một hiện tượngkinh tế xã hội nào đó nó chỉ đúng trong một phạm vi nhất định, một thời kỳ nhấtđịnh, chứ không như quy luật tự nhiên, nó đúng trong bất kỳ thời gian và địađiểm nào
Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng:
Thống kê học là một môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu mặt lượngtrong sự liên hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội số lớntrong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Trang 133 Nhiệm vụ của thống kê học
- Phản ánh trung thực về mặt lượng của các hiện tượng kinh tế chính trị xãhội; phục vụ tốt cho sự lãnh đạo quản lý hoạt động đó của các cơ quan, củaĐảng và Nhà nước
- Tổng kết, đánh giá thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của DN, ngành vàtừng địa phương, góp phần tổng kết thành tựu phát triển các mặt của đất nước
- Cung cấp số liệu cần thiết cho việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch
và chương trình phát triển kinh tế xã hội của DN, ngành, địa phương và cả nướckiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch qua từng thời kỳ
- Đảm bảo tài liệu cho việc thông tin, tuyên truyền, động viên thi đuatrong DN, trong ngành và trên toàn quốc
4 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học
4.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể thống kê
4.1.1 Tổng thể thống kê
* Khái niệm
- Tổng thể thống kê nó xác định phạm vi nghiên cứu của hiện tượng nào
đó đang là đối tượng nghiên cứu thống kê Một tổng thể thống kê là bao gồmtoàn thể những đơn vị hoặc phần tử cá biệt của các hiện tượng kinh tế xã hội sốlớn được đưa vào quan sát và phân tích mặt lượng của chúng Là tập hợp nhữngđơn vị, yếu tố, hiện tượng cá biệt trên cơ sở một đặc điểm chung
+ Trong doanh nghiệp sản xuất tập hợp các tổ, phân xưởng sản xuất cấuthành một tổng thể vì nó là một tập hợp những đơn vị sản xuất ra sản phẩm,không phân biệt tổ đó hoạt động như thế nào, là tổ giao dịch, tổ khai thác, đónggói, đóng túi miễn là tổ đó phải tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm
Việc xác định đúng đắn tổng thể thống kê có ý nghĩa quan trọng trong
nghiên cứu thống kê Nếu xác định không đúng tổng thể thống kê (tức là bao gồm cả những đơn vị thực ra không nằm trong tổng thể đó) các kết luận rút ra sẽ
sai lầm, mục đích nghiên cứu không đạt được
Trang 14* Phân loại tổng thể thống kê
- Tổng thể bộc lộ: Là tổng thể gồm các đơn vị mà ta có thể trực tiếp quan
sát hoặc nhận biết được (tổng thể nhân khẩu tổng thể các trường đại học củaViệt nam )
- Tổng thể tiềm ẩn: Là tổng thể gồm các đơn vị mà ta không trực tiếp quan
sát hoặc nhận biết được Muốn xác định được ta phải thông qua một hay một sốphương pháp trung gian nào đó (tổng thể những người thích chèo tổng thểnhững người mê tín dị đoan )
- Tổng thể đồng chất: Là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau ở một
hay một số đặc điểm chủ yếu có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu
- Tổng thể không đồng chất: Là tổng thể gồm các đơn vị khác nhau ở
những đặc điểm chủ yếu liên quan đến mục đích nghiên cứu
Lưu ý: Việc xác định một tổng thể là đồng chất hay không đồng chất làtuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể Các kết luận rút ra từ nghiên cứuthống kê chỉ có ý nghĩa khi nghiên cứu trên tổng thể đồng chất hay nói cáchkhác tổng thể thống kê là tổng thể đảm bảo được tính số lớn và tính đồng chất
- Tổng thể chung: Là tổng thể gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi hiện
tượng nghiên cứu đã được xác định
- Tổng thể bộ phận: Là tổng thể chỉ bao gồm một số đơn vị thuộc phạm vi
hiện tượng nghiên cứu đã được xác định
Tổng thể thống kê có thể là hữu hạn cũng có thể là vô hạn (không thể hoặc khó xác định được số đơn vị như tổng thể trẻ sơ sinh, tổng thể sản phẩm do một loại máy sản xuất ra ) Cho nên khi xác định tổng thể thống kê không những phải giới hạn về thực thể (tổng thể là tổng thể gì) mà còn phải giới hạn về thời gian và không gian (tổng thể tồn tại ở thời gian nào không gian nào)
4.1.2 Đơn vị tổng thể
- Đơn vị tổng thể là các đơn vị cá biệt (người vật sự việc ) cấu thànhtổng thể thống kê cùng có một hoặc nhiều đặc điểm chung Trong từng trườnghợp cụ thể các đơn vị tổng thể là những phần tử không thể chia nhỏ được nữa:
Ví dụ: Trong tổng thể dân số Việt Nam thì đơn vị tổng thể là mỗi ngườidân có quốc tịch Việt Nam Trong tổng thể doanh nghiệp công nghiệp thì mỗidoanh nghiệp là một đơn vị tổng thể
- Số đơn vị tổng thể càng nhiều thì quy mô của tổng thể thống kê cànglớn Các đơn vị tổng thể thống kê chỉ giống nhau ở đặc điểm cơ bản tạo nên tổngthể các đặc điểm còn lại có thể khác nhau nhiều hay ít
Trang 15Đơn vị tổng thể là căn cứ quan trọng để xác định phương pháp điều tra,tổng hợp và áp dụng các công thức tính toán khi phân tích thống kê.
4.2 Tiêu thức thống kê
Là khái niệm chỉ đặc điểm của đơn vị tổng thể mỗi đơn vị tổng thể cónhiều tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta sẽ chọn ra một
số tiêu thức nhất định để làm nội dụng điều tra, tổng hợp và phân tích thống kê
Ví dụ: Trong tổng thể dân số thì mỗi người dân đều có đặc điểm như giớitính, tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, dân tộc Hay mỗi DN trong tổng thểcác DN có đặc điểm như: Quy mô các loại vốn, số công nhân, sản lượng sảnphẩm sản xuất ra
- Mỗi đặc điểm khi sử dụng để nghiên cứu được gọi là tiêu thức thống kê+ Tiêu thức số lượng là tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng con số
Ví dụ: Tiêu thức tuổi được biểu hiện bằng độ tuổi, tiêu thức số công nhânđược biểu hiện bằng số lượng công nhân của từng đơn vị nghiên cứu
+ Tiêu thức thuộc tính (chất lượng) là tiêu thức phản ánh tính chất củađơn vị tổng thể sự biểu hiện của nó thường bằng lời văn, là những tiêu thức phảnánh thuộc tính bên trong của sự vật, không biểu hiện trực tiếp bằng các con sốđược
Ví dụ: tiêu thức giới tính biểu hiện là nam hay nữ, tiêu thức hình thức sởhữu được biểu hiện: Nhà nước tập thể hay tư nhân
* Tiêu thức chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổngthể được gọi là tiêu thức thay phiên Ví dụ: tiêu thức chất lượng có thể có haibiểu hiện: đạt chất lượng và không đạt chất lượng Tiêu thức sức khỏe có thểchia thành: người bị bệnh, người không bị bệnh
4.3 Chỉ tiêu thống kê
- Chỉ tiêu thống kê là khái niệm biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm về
mặt lượng trong sự thống nhất với mặt chất của tổng thể thống kê (năng suất lao động của công nhân giá thành một đơn vị sản phẩm ) Các chỉ tiêu thống kê
được biểu hiện bằng các trị số cụ thể, các trị số này sẽ thay đổi theo thời gian vàkhông gian
Ví dụ: Tổng kim ngạch xuất khẩu của tập đoàn dầu khí Việt Nam trong 2năm rưỡi (2007, 2008 và 6 tháng đầu năm 2009) đạt 24 tỷ USD
- Chỉ tiêu thống kê có hai mặt:
+ Khái niệm bao gồm định nghĩa và giới hạn về thực thể, không gian, thờigian của hiện tượng nghiên cứu, nó chỉ rõ nội dung của chỉ tiêu thống kê
Trang 16+ Con số của chỉ tiêu được biểu hiện bằng trị số với đơn vị tính toán phùhợp, nó nêu lên mức độ của chỉ tiêu
Ví dụ: Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội năm 2008 là 6.936 triệuUSD, trong đó giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt nam năm 2008 là mặt kháiniệm của chỉ tiêu, còn 6.936 triệu là mặt con số của chi tiêu
- Phân loại chỉ tiêu
* Căn cứ vào nội dung người ta chia chỉ tiêu thống kê thành 2 loại
+ Chỉ tiêu khối lượng: là chỉ tiêu biểu hiện qui mô của hiện tượng nghiêncứu: Số lượng học sinh; số lượng CNV; số nhân khẩu
+ Chỉ tiêu chất lượng: Là chỉ tiêu biểu hiện trình độ phổ biến mối quan hệcủa tổng thể biểu hiện sự hao phí lao động sản xuất và thường được tính bìnhquân cho một đơn vị tổng thể như: Năng suất lao động, giá thành đơn vị sảnphẩm, tỷ suất lợi nhuận, chi phí sản xuất trên 1 đ giá trị sản lượng, mức lươngcủa công nhân
* Căn cứ vào hình thức biểu hiện của chỉ tiêu thống kê:
+ Chỉ tiêu hiện vật là chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên như: cái, con,chiếc Hay đơn vị đo lường như kg, tấn, tạ, yến
+ Chỉ tiêu giá trị là chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ như đồng Hoặcđơn vị tiền tệ nước ngoài như USD, Yên, Mác
5 Bảng thống kê và đồ thị thống kê
5.1 Bảng thống kê
5.1.1 Khái niệm:
- Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách
có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về lượng của hiệntượng nghiên cứu
ý nghĩa
- Bảng thống kê giúp ta tổng hợp phân tích và nhận định chung về hiệntượng nghiên cứu
5.1.2 Cấu thành của bảng thống kê
- Về hình thức: Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang, cột dọc, các tiêu
đề và các con số
+ Các hàng ngang, cột dọc phản ánh qui mô của bảng thống kê, số hàng
và số cột càng nhiều thì qui mô của bảng càng lớn, càng phức tạp Các hàng vàcác cột thường của bảng thường được đánh số thứ tự để tiện sử dụng hoặc trìnhbày
Trang 17+ Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung của bảng và từng chi tiết trongbảng; Trước hết có tiêu đề chung là tên gọi của bảng thống kê, phản ánh nộidung của bảng thường được viết ngắn gọn dễ hiểu và đặt lên phía trên đầu của
bảng Các tiêu đề nhỏ (tiêu mục) gọi là tên của từng hàng từng cộ phản ánh rõ
nội dung ý nghĩa của hàng cột đó
+ Các con số là kết quả tổng hợp thống kê được ghi vào các ô của bảngmỗi con số phản ánh một đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu
- Về nội dung:
+ Phần chủ đề (phần chủ từ): Nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày
trong bảng thống kê, tổng thể này được phân thành những bộ phận nào, đôi khiphần chủ đề biểu hiện bằng thời gian hay tên các địa phương vùng lãnh thổ
+ Phần giải thích (phần tân từ): Gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm
của đối tượng nghiên cứu, nghĩa là giải thích phần chủ đề của bảng Thôngthường phần chủ đề được đặt bên trái của bảng và tạo thành nội dung của hàngcòn phần giải thích phía trên của bảng tạo thành nội dung của các cột Đôi khingười ta thay đổi vị trí của hai phần cho nhau
+ Ngoài hai phần chủ yếu trên đây trong trường hợp cần thiết phía dướibảng thống kê còn có thêm chú thích về nguồn tài liệu, phương pháp tính một sốchỉ tiêu
Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau
Tên bảng thống kê (tiêu đề chung)
Phần giải thíchPhần chủ đề
Các chỉ tiêu giải thích (tên cột)
Tên chủ đề (tên hàng)Tổng cộng
5.1.3 Các loại bảng thống kê.
a Bảng giản đơn Là bảng trong đó phần chủ đề chỉ liệt kê các đơn vị bộ phậncủa tổng thể
- Là loại bảng phần chủ đề không phân tổ Phần chủ đề của loại bảng này
có liệt kê các đơn vị tổng thể hay tên gọi của các địa phương hoặc thời gian khácnhau của quá trình nghiên cứu
b Bảng phân tổ:
Trang 18- Là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ
đề được phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó
Ví dụ: Có tài liệu về số DNTM ở địa phương X
Phân tổ số DNTM
theo số CNV
Tổngsố
Chia theo cấp quản lýTrung
ương
Địaphương
- Loại bảng này giúp ta nghiên cứu được sâu sắc bản chất của hiện tượng
5.1.4 Nguyên tắc chung của việc xây dựng bảng thống kê
- Quy mô bảng không nên quá lớn (tức là không nên phân tổ kết hợp nhiều tiêu thức và quá nhiều chỉ tiêu) Nếu trường hợp nghiên cứu nhiều chỉ tiêu
hay phân tổ theo nhiều tiêu thức thì nên xây dựng thành một vài bảng thống kênhỏ thay cho một bảng lớn
- Các tiêu đề của bảng: Cần diễn đạt ngắn gọn, chính xác và dễ hiểu; tiêu
đề chung (tên của bảng) phản ánh nội dung chủ yếu của bảng, địa điểm, thờigian nghiên cứu và được viết chữ to, đậm ở phía trên chính giữa bảng Các tiêu
đề nhỏ (các đề mục của hàng và cột) phải ghi rõ nội dung nghiên cứu của từng
dòng và cột ấy
- Việc ghi chú đơn vị tính
+ Nếu tất cả các con số đều có cùng một đơn vị tính thì ta có thể ghi đơn
vị tính ấy ở góc trên bên phải của bảng
Trang 19+ Nếu các đơn vị tính thống nhất theo dòng (hàng) nên xây dựng một cột(liền cột ghi tiêu đề) gọi là đơn vị tính.
+ Nếu các con số trong một cột cùng đơn vị tính thì nó được ghi ở trongngoặc đơn ngay dưới tiêu đề đó
- Các dòng (hàng) và cột của bảng có thể được ký hiệu bằng những chữcái hay ghi số thứ tự để tiện sử dụng và giải thích
- Các chỉ tiêu giải thích (phần tân từ) của bảng cần sắp xếp theo trình tựhợp lý và logíc Ví dụ: Kế hoạch, thực hiện, tỷ lệ phần trăm hoàn thành kếhoạch
- Cách ghi các số liệu vào bảng thống kê
+ Nếu có ô nào của bảng không có số liệu phù hợp thì trong ô ghi một dấugạch ngang (-)
+ Đối với cùng một chỉ tiêu số chữ thập phân phải bằng nhau đơn vị tínhcủa chỉ tiêu phải ghi thống nhất theo đơn vị đo lường qui định
+ Nếu số liệu nào còn thiếu sau này có thể được bổ xung thì dùng ký hiệudấu 3 chấm ( )
+ Nếu số liệu trong ô không có ý nghĩa thì dùng dấu gạch chéo (x)
+ Trường hợp có quá nhiều chữ số thì có thể ghi số tính tròn để giảm sốchữ số
+ Các số cộng và tổng cộng có thể ghi ở đầu hàng hoặc cuối và cột tuỳtheo mục đích nghiên cứu Nếu các số này được ghi ở đầu hàng, đầu cột khi tacần nghiên cứu chủ yếu các đặc trung chung của hiện tượng còn các đặc trưngcủa từng bộ phận chỉ có tác dụng phân tích thêm Các số tổng cộng được ghi ởcuối hàng, cuối cột khi ta cần nghiên cứu đi sâu từng tổ, từng bộ phận là chủyếu
- Phần ghi chú (chú thích) ở cuối bảng thống kê được dùng để giải thích
rõ nội dung của một số chỉ tiêu trong bảng, để nói rõ các nguồn gốc của số liệu
đã sử dụng trong bảng và những chỉ tiêu cần thiết khác
Trang 205.2 Đồ thị thống kê
Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình học được sử dụng
để miêu tả có tính quy ước các số liệu thống kê tổng hợp và tính toán được.Hình vẽ đồ thị biểu thị khái quát đặc điểm chủ yếu về bản chất và quá trình pháttriển, xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu Số liệu tổng hợp được mô
tả trên đồ thị giúp người xem nhận thức một cách cụ thể, rõ ràng có sức thuyếtphục về xu hướng và quy luật phát triển biến động của hiện tượng nghiên cứu,đồng thời thấy được mức độ phát triển hơn kém của các đơn vị trong tổng thể,mức độ phát triển cao thấp của hiện tượng nghiên cứu qua thời gian
Đồ thị thống kê thường sử dụng con số kết hợp với hình vẽ, đường nét vàmàu sắc để trình bày các đặc điểm số lượng của hiện tượng Bởi vậy, đồ thịthống kê có tác dụng thu hút sự chú ý của người đọc, giúp người đọc nhận thứcđược những đặc điểm cơ bản của hiện tượng một cách dễ dàng, nhanh chóng,giúp kiểm tra bằng hình ảnh độ chính xác của thông tin
Đồ thị thống kê bao gồm các loại: biểu đồ hình cột, biểu đồ hình tượng,biểu đồ diện tích (vuông, chữ nhật, tròn), biểu đồ đường gấp khúc, bản đồ thốngkê
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1) Hãy giải thích ngắn gọn tại sao nói: “Thống kê học là một môn khoa học xãhội nó nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiệntượng kinh tế - xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.”
2) Phân biệt tiêu thức số lượng và tiêu thức thuộc tính mỗi loại cho 3 ví dụ.3) So sánh sự giống và khác nhau giữa tiêu thức và chỉ tiêu
4) Các chỉ tiêu sau chỉ tiêu nào là chỉ tiêu khối lượng:
a năng suất lao động bình quân một công nhân
b Số lao động bình quân trong kỳ của doanh nghiệp
c Giá bán một đơn vị sản phẩm
5) Trong các chỉ tiêu sau chỉ tiêu nào là chỉ tiêu chất lượng:
a Số lao động bình quân trong kỳ của doanh nghiệp
b Số lượng sản phẩm sản xuất ra trong doanh nghiệp
c Tổng số nguyên liệu đã tiêu hao cho sản xuất doanh nghiệp
d Năng suất lao động bình quân một công nhân
Trang 21CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ
Mã chương: NLTK02 Giới thiệu:
Trang bị cho người học những kiến thức chung về điều tra thống kê, tổng hợp thống kê, phân tích và dự báo thống kê
Mục tiêu:
- Trình bày được nội dung của điều tra, tổng hợp thống kê;
- Trình bày được nội dung của phân tích và dự báo thống kê;
- Tổng hợp được các tài liệu đã thu thập được;
- Phân tích được số liệu thu thập và tổng hợp được;
- Dự báo các hiện tượng kinh tế có thể xảy ra;
- Có ý thức học tập nghiêm túc, tính cẩn thận, chính xác;
- Tuân thủ các bước trong quá trình nghiên cứu thống kê
Nội dung chính:
1 Điều tra thống kê
1.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
1.1.1 Khái niệm
Thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội đáp ứng mục đích, yêu cầunghiên cứu là công việc đầu tiên của quá trình nghiên cứu thống kê Tài liệu thuthập được là những căn cứ số liệu và tình hình phục vụ cho phân tích thống kêhiện tượng kinh tế - xã hội Phương pháp cơ bản thu thập tài liệu về hiện tượngkinh tế - xã hội là phương pháp điều tra thống kê – phương pháp quan sát số lớn
Điều tra thống kê là tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạchthống nhất việc thu thập, ghi chép các tài liệu thống kê theo mục đích, yêu cầunghiên cứu đối với hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện địađiểm và thời gian cụ thể
Điều tra thống kê là giai đoạn đầu tiên của quá trình nghiên cứu thống
kê Đây là giai đoạn thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về các hiện tượng
và quá trình kinh tế - xã hội
Điều tra thống kê không đơn thuần là việc ghi chép giản đơn mà là mộtcông tác tổ chức, một công tác khoa học thực hiện theo một kế hoạch thống nhất
và phương án cụ thể của từng cuộc điều tra
Trang 22- Xác định đúng mục đích điều tra thống kê (theo mục đích nghiên cứu)
- Xác định đúng đối tượng điều tra thống kê (xác định các đơn vị tổng thểthuộc phạm vi điều tra – cũng gọi là đơn vị điều tra)
- Quy định các chỉ tiêu cần lấy tài liệu khi điều tra
- Phương pháp điều tra
- Thời điểm điều tra (thời điểm làm mốc để ghi chép tài liệu, thường phảiphù hợp với từng hiện tượng)
- Thời kỳ điều tra (độ dài thời gian của đối tượng cần thu thập tài liệu)
- Thời điểm kết thúc điều tra
1.2 Các loại điều tra
1.2.1 Căn cứ vào phạm vi tiến hành điều tra thực tế
a Điều tra toàn bộ: Là tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu trên tất cả
các đơn vị thuộc đối tượng điều tra không bỏ sót bất kỳ 1 đơn vị nào
Ví dụ: Điều tra dân số, điều tra tồn kho vật tư ở các DNNN năm 2008
- Ưu điểm: Cung cấp tài liệu đầy đủ, chính xác Đặc biệt trong việc đánhgiá qui mô, khối lượng của hiện tượng, cũng như việc kiểm tra tình hình thựchiện kế hoạch
- Nhược điểm: Chi phí tốn kém, kết quả chậm
b Điều tra không toàn bộ: Là tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu trên
một số đơn vị trong tất cả các đơn vị thuộc đối tượng điều tra
Ví dụ: Điều tra ngân sách của một số gia đình, điều tra giá cả một số hànghoá trong thương mại, điều tra chất lượng sản phẩm
Trang 23- Mục đích: Nhằm để nhận định hoặc tính toán suy rộng ra đặc điểm củatổng thể chung.
- Ưu điểm: Nhanh, gọn, kịp thời, chi phí tiết kiệm, phù hợp với điều kiệnthực tế nước ta hiện nay
- Nhược điểm: So với điều tra toàn bộ thì tính toàn diện, tính chính xácthấp hơn
Trong thực tiễn thống kê, thường áp dụng các loại điều tra không toàn bộsau:
- Điều tra chọn mẫu: là công tác điều tra trên một số đơn vị tổng thể đượcchọn ra từ tổng thể chung theo phương pháp khoa học (được gọi là mẫu) Kếtquả điều tra trên mẫu được suy rộng cho tổng thể chung Loại điều tra này có thểthay thế cho điều tra toàn bộ, khi chưa có điều kiện điều tra toàn bộ
- Điều tra trọng điểm: là công tác điều tra chỉ tiến hành ở bộ phận chủ yếucủa tổng thể chung Kết quả điều tra không suy rộng cho toàn bộ tổng thể,nhưng vẫn giúp ta nắm những đặc điểm cơ bản của hiện tượng Loại điều tra nàythích hợp với hiện tượng có từng bộ phận tương đối tập trung, bộ phận này phảichiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể
- Điều tra chuyên đề: là công tác điều tra chỉ tiến hành trên một số rất ítđơn vị cá biệt thuộc tổng thể nghiên cứu, nhưng đi sâu nghiên cứu chi tiết nhiềukhía cạnh khác nhau của đơn vị đó Hình thức này thường được ứng dụng đểnghiên cứu kinh nghiệm của các đơn vị tiên tiến hoặc phân tích nguyên nhân củacác đơn vị lạc hậu
1.2.2 Căn cứ vào tính chất liên tục hay không liên tục của việc đăng ký, ghi chép tài liệu.
a Điều tra thường xuyên:
Những tài liệu thu được qua điều tra thường xuyên phản ánh một cách tỉ
mỉ, sát với thực tế, có hệ thống liên tục gắn với tình hình phát triển biến độngcủa hiện tượng nghiên cứu qua từng thời kỳ Do vậy, tài liệu điều tra thườngxuyên có ý nghĩa tác dụng to lớn trong công tác xây dựng và quản lý có kếhoạch nền kinh tế quốc dân, lĩnh vực sản xuất, dịch vụ thương mại Đồng thời,còn làm cơ sở số liệu để lập báo cáo thống kê định kỳ
Điều tra thường xuyên là việc thu thập tài liệu một cách liên tục theo thờigian Loại điều tra này thường dùng đối với các hiện tượng cần được theo dõiliên tục do nhu cầu quản lý
Trang 24Ví dụ: Biến động nhân khẩu của địa phương (sinh, tử, đi, đến ), thu chigia đình, số sản phẩm sản xuất, số công nhân có mặt tại nơi làm việc, vốn lưuđộng.
Điều tra thường xuyên tốn kém nhiều chi phí và mất nhiều thời gian Dovậy, thường được áp dụng đối với những hiện tượng kinh tế - xã hội yêu cầuphải có số liệu thường xuyên đáp ứng yêu cầu nghiên cứu
b Điều tra không thường xuyên:
Điều tra không thường xuyên là tổ chức điều tra thu thập tài liệu về hiện
tượng kinh tế - xã hội nghiên cứu một cách không thường xuyên, không liên tục,không gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng nghiên cứu đó Điều
tra không thường xuyên áp dụng với các đối tượng điều tra cần theo dõi thường
xuyên nhưng chi phí lớn, như: điều tra dân số, điều tra nông nghiệp, tài sản cốđịnh các đối tượng điều tra không xảy ra thường xuyên
Ví dụ: Điều tra dân số, điều tra tình hình thiệt hại do thiên tai, điều tra tìnhhình dịch bệnh
- Đặc điểm:
+ Tài liệu điều tra phản ánh trạng thái của hiện tượng ở một thời điểm+ Đối tượng của loại điều tra này là những hiện tượng xảy ra khôngthường xuyên hoặc xảy ra thường xuyên nhưng không đòi hỏi nghiên cứuthường xuyên
+ Những hiện tượng biến động chậm, hoặc ít biến động
- Phân loại:
+ Điều tra không thường xuyên định kỳ (ấn định trước thời gian)
+ Điều tra không thường xuyên bất thường (không ấn định trước thời gian)
1.3 Các phương pháp điều tra thống kê
1.3.1 Phương pháp trực tiếp
Là phương pháp thu thập tài liệu mà trong đó nhân viên điều tra phải trựctiếp tiếp xúc với đơn vị được điều tra, đến tiến hành hoặc giám sát việc cân đođong đếm để xác định mặt lượng của hiện tượng và sau đó tự ghi chép các tàiliệu vào phiếu điều tra
Ví dụ: Người điều tra có thể quan sát số lượng và thái độ của các kháchđến thăm gian hàng của công ty tại một hội chợ hay một cuộc triển lãm
Phương pháp trực tiếp thể hiện theo hình thức chủ yếu: đăng ký trực tiếp,phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điện thoại
- Ưu điểm: Độ chính xác cao
Trang 25- Nhược điểm: Chi phí tốn kém, phạm vi áp dụng bị hạn chế , kết quả điềutra chậm.
1.3.2 Phương pháp gián tiếp
Là phương pháp thu thập, tài liệu thông qua những bài viết, phiếu tự ghibáo của đơn vị điều tra, internet hoặc thông qua điện thoại, các chứng từ sổ sách,văn bản đã có sẵn
Ví dụ: Điều tra dư luận xã hội, điều tra nghiên cứu khách hàng về mộthoặc một số sản phẩm hàng hoá
- Ưu điểm: Chi phí ít tốn kém, có thể áp dụng trong phạm vi rộng rãi
- Nhược điểm: So với đăng ký trực tiếp thì độ chính xác không cao, kếtquả điều tra phụ thuộc vào đối tượng được điều tra
1.4 Các hình thức tổ chức điều tra thống kê.
1.4.1 Báo cáo thống kê định kỳ
- Khái niệm: Là hình thức tổ chức điều tra thống kê thường xuyên định
kỳ theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo thống nhất do cơ quan cóthẩm quyền qui định
Ví dụ: Định kỳ tháng, quý, năm các DNNN phải lập và gửi báo cáo theomẫu biểu thống nhất lên cơ quan quản cấp trên
- Đặc điểm: Đây là hình thức tổ chức điều tra theo con đường hành chínhbắt buộc Đòi hỏi người báo cáo phải chấp hành đúng qui định và chế độ báocáo
- Đối tượng áp dụng: Chủ yếu với DNNN và cơ quan NN đối với khu vựctập thể, tư nhân có áp dụng nhưng nội dung báo cáo hạn chế hơn
- Nội dung báo cáo thống kê định kỳ: Thường bao gòm các chỉ tiêu cóliên quan đến lĩnh vực quản lý vĩ mô toàn bộ nền kinh tế, nhằm phục vụ choviệc lãnh đạo và quản lý nền kinh tế tập trung thống nhất
- Đặc trưng của báo cáo thống kê định kỳ: Là áp dụng loại điều tra toàn
bộ, thường xuyên và phương pháp thu thập tài liệu gián tiếp
- Những vấn đề cần giải quyết trong báo cáo thống kê định kỳ:
+ Ghi chép ban đầu;
+ Hệ thống chỉ tiêu thống kê (xác định và xây dựng hệ thống chỉ tiêu thốngkê)
1.4.2 Điều tra chuyên môn
Trang 26- Khái niệm: Là hình thức tổ chức điều tra thống kê không thường xuyên,được tiến hành theo một kế hoạch và phương pháp qui định riêng cho mỗi lần điềutra.
- Ví dụ
+ Điều tra dân số cả nước
+ Điều tra nghiên cứu nhà ở và hãng tiêu dùng
+ Tổng kiểm kê TSCĐ trong toàn ngành
- Đối tượng: Là những hiện tượng mà báo cáo thống kê định kỳ chưa hoặckhông thể thường xuyên phản ảnh được Đó là những hiện tượng tuy biến độngnhưng chậm, không lớn lắm, hoặc nhũng hiện tượng xảy ra bất thường (thiên tai,dịch hoạ.) Điều tra chuyên môn còn được tổ chức để kiểm tra chất lượng tài liệucủa báo cáo thống kê định kỳ
- Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những nhiệm vụ quantrọng là xây dựng văn kiện điều tra Văn kiện điều tra bao gồm các vấn đề cơ bảnsau:
+ Mục đích điều tra
+ Xác định đối tượng và đơn vị điều tra
Đối tượng điều tra: Là tổng thể các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu Đơn vị điều tra: Là đơn vị thuộc đối tượng điều tra cần thu thập tài liệu.+ Nội dung điều tra: Là mục lục các tiêu thức cần thu thập trên các đơn vịđiều tra, các tiêu thức này thường được diễn đạt thành các câu hỏi ngắn gọn, rỗràng
+ Biểu điều tra và bảng giải thích
Biểu điều tra (phiếu điều tra) là loại bảng in sẵn theo mẫu qui định trong
văn kiện điều tra, để ghi tài liệu của đơn vị điều tra
Kèm theo biểu điều tra, có các bản giải thích cách ghi biểu
Xác định rõ thời điểm điều tra và thời kỳ điều tra và thời hạn điều tra.Thời điểm điều tra là những thời gian được qui định để ghi chép thốngnhất tài liệu của tất cả các đơn vị điều tra
1.5 Sai số trong điều tra thống kê
Khái niệm: Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số của đặcđiểm điều tra thu thập được so với trị số thực của hiện tượng nghiên cứu Các sai
số này sẽ làm giảm chất lượng điều tra, ảnh hưởng đến chất lượng của tổng hợp
và phân tích thống kê, do đó ta phải nắm được các nguyên nhân phát sinh sai số
để có biện pháp khắc phục hoặc hạn chế sai số
Trang 27- Sai số do ghi chép : người điều tra quan sát sai ghi chép sai do vô tình
đối tượng trả lời sai do không hiểu nội dung (sai số này có khả năng bù trừ nếu tổng thể đủ lớn) Hoặc do người điều tra và đối tượng làm sai do cố ý (sai số này rất nguy hiểm vì không thể bù trừ)
- Sai số do tính chất đại biểu : chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu
- Cách khắc phục sai số:
+ Cần huấn luyện kỹ nội dung điều tra+ Tuyển chọn điều tra viên nghiêm ngặt+ Chuẩn bị dụng cụ đo lường và kiểm tra có hệ thống toàn bộ cuộc
điều tra (về mặt logic về mặt tính toán).
Muốn có được tài liệu phản ánh chung cho cả tổng thể nghiên cứu nhưtrên thì từ các thông tin riêng biệt của từng đơn vị chúng ta sắp xếp lại, hệ thốnghoá, phân loại theo tiêu thức cần nghiên cứu Để bước đầu nêu lên một số đặctrưng chung của toàn bộ tổng thể ta sẽ tiến hành giai đoạn 2 của quá trình nghiêncứu thống kê đó là giai đoạn tổng hợp thống kê
Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hoá các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra thống kê của từng đơn vị tổng thể thành tài liệu phản ánh đặc trưng chung của cả tổng thể.
2.1.2 Ý nghĩa
- Tài liệu điều tra thống kê được tổng hợp đúng đắn khoa học sẽ trở nên
có giá trị hơn và thuận lợi cho giai đoạn nghiên cứu thống kê tiếp theo
- Tổng hợp thống kê có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiêncứu thống kê Tạo điều kiện cho phân tích và dự đoán thống kê đạt kết quả tốt
Tổng hợp thống kê không phải chỉ là một công tác kỹ thuật để sắp xếp cóthứ tự các tài liệu ban đầu hoặc chỉ dùng máy tính để tính toán các con số cộng
và tổng cộng mà trái lại đây là một công tác khoa học phức tạp chủ yếu dựa vào
sự phân tích lý luận một cách sâu sắc Nếu chúng ta có số liệu một cách phongphú chính xác nhưng chúng ta không tổng hợp được một cách khoa học thì
Trang 28không bao giờ chúng ta có được một kết luận đúng đắn không thể giải thíchđược thật khách quan chân thực hiện tượng xã hội.
2.1.3 Nhiệm vụ
- Tập trung và sắp xếp các tài liệu theo một trình tự nhất định Nếu tài liệuđiều tra thu thập đựơc ở số ít các đơn vị người ta thường sắp xếp dữ liệu theomột trình tự nào đó
- Sắp xếp các đơn vị vào các tổ nhóm theo một hay một vài tiêu thức đặctrung và tính toán các đại lượng thống kê đặc trng cho tổ nhóm và toàn bộ tổngthể Thường gặp khi tài liệu điều tra thu thập ở số lớn các đơn vị, khối lượng dữliệu nhiều
Ví dụ: Trong điều tra dân số, tài liệu thu thập ở từng người dân rất lớn,người ta thường tổng hợp theo các sắp xếp ngời dân theo độ tuổi, trình độ vănhoá hay nghề nghiệp sau đó tính các chỉ tiêu thống kê mô tả theo từng tổ
- Trình bày dữ liệu tổng hợp dưới hình thức bảng hay đồ thị thống kê
- Làm cho các đặc trưng cá biệt của đơn vị tổng thể chuyển thành các đặctrưng chung của tổng thể Đặc trưng chung của tổng thể là căn cứ cho phân tích
và dự đoán thống kê
2.2 Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê
2.2.1 Xác định mục đích tổng hợp
Là cụ thể hoá tiêu thức cần sắp xếp và phân loại Đây là bước quan trọng
vì tổng thể nghiên cứu có biểu hiện khác nhau Khái quát hoá những đặc trưng
chung của tổng thể biểu hiện cụ thể bằng các chỉ tiêu thống kê
Ví dụ: Tổng thể dân số có biểu hiện về nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ vănhoá, ngoại ngữ, quê quán, tôn giáo Do vậy, khi nghiên cứu tổng thể ở đặc tínhnào thì tổng hợp thống kê mới khái quá hoá, sắp xếp, hệ thống hoá theo các đặctrưng và khía cạnh đó
2.2.2 Nội dung tổng hợp
Nội dung tổng hợp được căn cứ vào một trong những tiêu thức được xácđịnh trong giai đoạn điều tra Tổng hợp theo nội dung nào phải xuất phát từ mụcđích nghiên cứu thống kê Nhưng không phải tất cả các biểu hiện thống kê đềuđưa vào tổng hợp
Ví dụ: Điều tra dân số người ta thường tổng hợp theo độ tuổi: Dưới 1 tuổi,1-3 tuổi 4-6 tuổi, 7-11 tuổi, 12-15 tuổi, 16-55 tuổi, 56-100 tuổi, hơn 100 tuổi.Nhưng tên quê quán không nhất thiết phải tổng hợp
2.2.3 Kiểm tra tài liệu trước khi tổng hợp
Trang 29Trước khi tổng hợp cần phải kiểm tra lại tài liệu về mặt logíc, so sánh cáctài liệu, kiểm tra về mặt tính toán và độ hợp lý của tài liệu, phát hiện các bấtthường để thẩm tra lại Làm tốt được khâu này sẽ hạn chế được nhiều sai phạmtrong khâu tổng hợp và phân tích thống kê và cũng không mất nhiều thời gian
Nội dung kiểm tra gồm:
- Kiểm tra điển hình: Chọn mẫu theo phiếu điều tra để kiểm tra
- KIểm tra theo nội dung: Chính xác, đầy đủ, kịp thời và lô gíc
2.2.4 Phương pháp tổng hợp
Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê
3 Phân tích và dự đoán thống kê
3.1 Khái niệm ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích và dự báo thống kê
Đặc điểm phân tích và dự đoán thống kê: lấy con số thống kê làm tư liệu,dùng các phương pháp thống kê làm công cụ và dựa vào lý luận kinh tế xã hội
Phân tích và dự đoán thống kê chỉ có thể rút ra được kết luận đúng đắndựa trên cơ sở tài liệu điều tra và kết quả tổng hợp chính xác
Trang 30- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, nhằm phục vụ kịp thời cho côngtác quản lý kinh tế của các ngành, các cấp.
3.2 Những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê
3.2.1 Lựa chọn đánh giá tài liệu liệu dùng để phân tích và dự đoán.
Phân tích và dự đoán thống kê thường dùng một khối lượng lớn tài liệu từnguồn như: Báo cáo thống kê định kỳ, từ điều tra chuyên môn, từ các cơ quan
khác phải lựa chọn đánh giá một cách đầy đủ Tài liệu dùng vào phân tích và
dự đoán phải được đánh giá nhằm đảm bảo chất lượng tài liệu, nội dung đánhgiá tài liệu gồm:
- Tài liệu có đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và kịp thời không? Phương
pháp thu thập có khoa học? (bằng cách điều tra chọn mẫu).
- Khi đánh giá phải xem xét các tài liệu có được chỉnh lý, phân tổ khoahọc không có đáp ứng mục đích phân tích của mình không?
- Xem xét các chỉ tiêu được tính toán theo phương pháp nào, các tài liệu
có đảm bảo tính chất so sánh được hay không?
3.2.2 Xác định các phương pháp và các chỉ tiêu phân tích
- Các phương pháp phân tích gồm: Phương pháp phân tổ, phương phápchỉ tiêu tổng hợp, phương pháp dãy số thời gian, phương pháp chỉ số, phươngpháp hồi qui tương quan Việc lựa chọn phương pháp phân tích và dự đoán cầnchú ý những đặc điểm sau:
+ Phải xuất phát từ mục đích phân tích cụ thể, từ đặc điểm, tính chất, sựbiến động và mối liên hệ của hiện tượng kinh tế xã hội để xác định dùng phươngpháp nào là phù hợp nhất
+ Phải nắm được ưu, nhược điểm, điều kiện vận dụng của mỗi phươngpháp để lựa chọn một cách linh hoạt cho từng trường hợp
+ Phải biết kết hợp nhiều phương pháp để phát huy tổng hợp tác dụng củachúng giúp cho việc phân tích sâu sắc và toàn diện
- Phải xác định được các chỉ tiêu cần thiết phù hợp với mục đích nghiêncứu, chú ý:
+ Phải lựa chọn các chỉ tiêu quan trọng nhất, phản ánh đúng đắn nhất đặcđiểm và bản chất của hiện tượng nghiên cứu
+ Các chỉ tiêu phân tích phải có sự liên hệ và bổ sung cho nhau để tiệncho việc đối chiếu và so sánh
3.2.3 So sánh và đối chiếu các chỉ tiêu
Trang 31Thông qua việc so sánh và đối chiếu các chỉ tiêu mới biểu hiện rõ đượcđặc điểm bản chất và xu hướng phát triển, cũng như tính qui luật của hiện tượng
từ đó với vạch ra được những mặt tích cực mặt tiêu cực
Các chỉ tiêu đem so sánh phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được(Đảm bảo tính đồng nhất: Nội dung kinh tế, phạm vi, phương pháp, đơn vị tính)
3.2.4 Dự đoán các mức độ tương lai của hiện tượng
- Dự đoán thống kê là căn cứ vào tài liệu thống kê của hiện tượng nghiêncứu trong quá khứ và hiện tại, sử dụng các phuơng pháp thích hợp để tính toáncác mức độ tương lai của hiện tượng
- Kết quả của dự đoán thống kê là những căn cứ tin cậy khoa học giúp choviệc xây dựng kế hoạch định ra các chính sách kinh tế xã hội một cách chính xáctạo điều kiện cho công tác quản lý chủ động và có kế hoạch
Tuỳ theo tính chất của hiện tượng nghiên cứu mục đích nghiên cứu thống
kê có thể dự đoán với thời hạn khác nhau:
- Dài hạn : từ 10 năm trở lên
- Trung hạn : Từ 5 năm đến 10 năm
- Ngắn hạn : < 5 năm
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
1) Từ đối tượng nghiên cứu của thống kê học, hãy giải thích tại sao quá trìnhnghiên cứu thống kê gồm ba giai đoạn: Điều tra thống kê, tổng hợp thống kê vàphân tích thống kê
2) Nêu các phương pháp cơ bản được sử dụng trong quá trình nghiên cứu thốngkê
3) Trình bày phân loại điều tra thống kê
4) Khi điều tra thống kê, phải đảm bảo những yêu cầu gì? Tại sao?
5) Hãy đề xuất những biện pháp khắc phục sai số trong điều tra thống kê
6) Cho ví dụ về các mẫu bảng thống kê đơn giản, phân tổ và kết hợp Tương ứngvới số liệu của mỗi bảng vẽ các đồ thị để nêu bật đặc trưng của hiện tượng đóvới độ thẩm mỹ theo bạn là cao nhất
7) Trình bày các nguyên tắc cơ bản của phân tích thống kê
Trang 32CHƯƠNG 3: PHÂN TỔ THỐNG KÊ
Mã chương: NLTK03 Giới thiệu:
Trang bị cho người học những kiến thức về tiêu thức phân tổ và các cáchphân tổ thống kê
Mục tiêu:
- Mô tả được khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tổ thống kê;
- Trình bày được nội dung tiêu thức phân tổ;
- Xác định được số tổ cần thiết trong phân tổ thống kê;
- Tính toán được số tổ cần thiết trong phân tổ thống kê;
- Tổng hợp được số liệu đã thu thập được phục vụ công tác phân tích và
dự đoán các hiện tượng kinh tế xã hội;
về tính chất
Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình học tập của lớp căn cứ vào học lực khá
có thể chia lớp thành các tổ: Giỏi, khá, trung bình, yếu
Trang 331.3 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của phân tổ thống kê là thực hiện nhiệm vụ của tổng hợp thốngkê: chỉnh lý, sắp xếp, phân loại và hệ thống các tài liệu thống kê điều tra thuthập được để có được những số liệu cộng, tổng cộng phục vụ yêu cầu phân tích
về kết cấu, mối quan hệ giữa các đơn vị trong tổng thể, giữa các tiêu thức nghiêncứu của hiện tượng
Với mục tiêu nghiên cứu khác nhau, việc lựa chọn tiêu thức phân tổ cũngkhác nhau
Ví dụ: Nghiên cứu tình hình học tập của 1 lớp kế toán, trường CĐ CơGiới Ninh Bình nếu chọn tiêu thức phân tổ là thời gian tự học ta có kết quả nhưsau:
Bảng 1: Phân tổ sinh viên lớp kế toán theo số giờ tự học
Số giờ tựhọc/ngày/giờ
Nếu chọn tiêu thức phân tổ là điểm trung bình chung các môn qua học kỳ
1 ta có kết quả như sau
Trang 34Bảng 2: Phân tổ sinh viên lớp kế toán theo điểm trung bình chung
Điểm trung bình chung Số sinh viên
Kết quả ở bảng trên cho ta biết số sinh viên có điểm trung bình chung học
kỳ I từ điểm 5 trở lên đạt 96,3% Điểm khá giỏi đạt 44,4% Chứng tỏ kết quảhọc tập của lớp kế toán rất tốt
- Nguyên tắc để xác định đúng tiêu thức phân tổ:
+ Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận kinh tế xã hội một cách sâu sắc đểchọn ra tiêu thức phản ánh đúng bản chất phù hợp với mục đích nghiên cứu
Ví dụ: Điểm chung bình chung là tiêu thức phản ánh bản chất của kết quảhọc tập của sinh viên, chứ tiêu thức thời gian tự học, chỉ phản ánh một phầnnguyên nhân của kết quả học tập
+ Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu
Ví dụ: Khi sinh viên đang học, thì tiêu thức phản ánh bản chất của kết quảhọc tập của sinh viên là điểm chung bình chung, nhưng khi sinh viên đi làm thìtiêu thức điểm chung bình chung không phản ánh đúng bản chất của kết quả làmviệc
+ Tuỳ theo tính chất phức tạp của hiện tượng và mục đích yêu cầu nghiêncứu có thể lựa chọn 1 hay nhiều tiêu thức phân tổ
3 Xác định số tổ cần thiết
Phân tổ hiện tượng kinh tế xã hội nghiên cứu thành bao nhiêu tổ là vấn đềquan trọng cần thiết phải nghiên cứu giải quyết tiếp theo sau vấn đề xác định lựachọn tiêu thức phân tổ
Số tổ được chia không nên quá nhiều vì sẽ làm cho hiện tượng nghiên cứu
bị xé lẻ phân tán, quy mô quá nhỏ, làm cho giữa các tổ không khác nhau về tínhchất căn bản của tiêu thức phân tổ Do đó không thể đạt được mục đích, yêu cầunghiên cứu đã đề ra cho việc phân tổ thống kê
Trang 353.1 Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính
Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức không biểu hiện cụ thể bằng con số như:Dân tộc, giới tính, ngành kinh tế, thành phần kinh tế, thành phần gia đình
Khi phân tổ được hình thành theo 2 xu hướng sau:
- Trường hợp giản đơn: Là trường hợp mà số tổ đã hình thành sẵn trongthực tế (số loại hình tương đối ít) ta có thể coi mỗi loại hình là một tổ
Ví dụ: Phân tổ nhân khẩu theo giới tính có hai tổ hình thành sẵn là Nam
và Nữ Trong trường hợp này ta coi mỗi loại hình là một tổ, số tổ bằng số loạihình
- Trường hợp phức tạp: Số loại hình quá nhiều, tỉ mỉ, phức tạp, khó quản
lý, tiến hành ghép một số loại hình có tính chất giống nhau hoặc gần giống nhauvào một tổ
3.2 Phân tổ theo tiêu thức số lượng
Theo tiêu thức này phải căn cứ vào sự khác nhau giữa các lượng biến củatiêu thức mà xác định các tổ khác nhau về tính chất Tuỳ theo lượng biến củatiêu thức khác nhau nhiều hay ít mà phân tổ được giải quyết khác nhau:
3.2.1 Trường hợp mà tiêu thức chỉ có ít lượng biến và lượng biến không liên tục
Trường hợp này mỗi lượng biến được xác định là một tổ, tức là có baonhiêu lượng biến thì có bấy nhiêu tổ
Ví dụ: Phân tổ các gia đình của một nhóm dân cư nào đó theo nhân khẩu
Bảng 3: Phân bổ số phụ nữ sinh con đia phương A
Số con của 1 mẹ(Con)
Số mẹ (người) Cơ cấu (%)
Trang 36Trong trường hợp này ta ghép nhiều lượng biến vào một tổ cách phân tổnhư vậy gọi là phân tổ có khoảng cách tổ Trong phân tổ có khoảng cách, mỗi tổ
có một phạm vi lượng biến nhất định và có 2 giới hạn rõ rệt là giới hạn dưới vàgiới hạn trên ứng với lượng biến nhỏ nhất và lượng biến lớn nhất của tổ
Trị số chênh lệch giữa giới hạn trên và dưới của mỗi tổ gọi là khoảng cáchtổ
d = X max – X min
Trong đó: d là khoảng cách tổ
X max giới hạn trên của tổ (lượng biến lớn nhất của tổ)
X min giới hạn dưới của tổ (lượng biến nhỏ nhất của tổ)
Ví dụ: Phân tổ các HTX nông nghiệp theo NS lúa BQ 1 ha
NS lúa bình quân 1 ha (Tạ) Số HTX nông nghiệp
Khi tổng thể nghiên cứu tương đối đồng nhất về loại hình kinh tế xã hội
và lượng biến tương đối đều đặn thì ta áp dụng phân tổ có khoảng cách đều
Trang 37- Trường hợp lượng biến liên tục: Trường hợp này ta thành lập các tổ theoqui định sau:
+ Giới hạn trên của tổ trước trùng với giới hạn dưới của tổ sau
+ Trị số khoảng cách tổ đều được xác định theo công thức:
h=
Xmax−Xminn
Ví dụ: Có tài liệu về mức tiêu thụ hàng hàng hoá của 24 cửa hàng thuộccông ty kinh doanh tổng hợp tại Tam Điệp trong tháng 3/2017 như sau:
Cửa hàng
Mức tiêuthụ hànghoá (trđ)
Cửa hàng
Mức tiêuthụ hànghoá (trđ)
Cửa hàng
Mức tiêuthụ hànghoá (trđ)