1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bo cau hoi Mon Mac - Le

108 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 795,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa VC của Lê-nin cũng khẳng định tư duy của con người có thể nhậnthức được vật chất, đã khắc phục được những hạn chế của những quan niệm siêu hình,máy móc về vật chất của các nh

Trang 1

Câu 1 Vấn đề cơ bản của triết học là gì? Giải thích?

Trả lời:

Triết học ra đời vào thế kỷ thứ VIII – VI trước công nguyên, có nghĩa là “tìnhyêu, sự thông thái” Theo nghĩa đen, triết học là tình yêu đối với sự thông thái Triếthọc phản ánh thế giới một cách chỉnh thể, nghiên cứu những vấn đề chung nhất, nhữngquy luật chung nhất của thế giới tự nhiên, xã hội, con người cũng như mối quan hệ củacon người với thế giới xung quanh và thể hiện chúng một cách có hệ thống dưới dạng

lý luận

Theo P Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiệnđại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại (hay ý thức và vật chất)” Vì vậy, theo

quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học là hệ thống các quan điểm lý

luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới

* Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt (hai mặt của một vấn đề):

Mặt thứ nhất là để trả lời cho câu hỏi giữa tồn tại (vật chất) và tư duy (ý thức) cáinào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất là cái có trước và quyết định ý thức

Chủ nghĩa duy tâm khẳng định ý thức là cái có trước và ý thức quyết định vậtchất Chủ nghĩa duy tâm phân chia thành hai trường phái:

Duy tâm khách quan cho rằng ý thức của các lực lượng siêu nhiên như ý niệmtuyệt đối, tinh thần thế giới là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng

Duy tâm chủ quan cho rằng ý thức chủ quan trong đầu óc con người là nguồn gốccủa mọi sự vật hiện tượng

Ví dụ: mình sợ ma là do mình nghĩ là có ma, do bản thân mình nghĩ (chủ nghĩaduy tâm chủ quan - CNDTCQ)

Đến chùa là phải có Phật, mà họ nghĩ Phật là người phổ độ chúng sinh Cán bộCông an dù tin hay không tin hoặc dù muốn hay không muốn vẫn phải làm tốt nhiệmvụ bảo vệ an ninh trật tự để buổi lễ Phật Đản được diễn ra tốt đẹp và thành công theo

kế hoạch (chủ nghĩa duy tâm khách quan - CNDTKQ)

Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi tư duy (ý thức) của con người có thể phản ánh

được tồn tại (vật chất) không? Đã xuất hiện nhiều trường phái:

- Trường phái khả tri (có thể biết) cho rằng, con người có thể nhận thức được thếgiới Họ cho rằng việc nhận thức được thế giới không phải chính bản thân họ nhậnthức được mà do một lực lượng siêu tự nhiên mang lại, tuy nhiên trường phái nàykhông giải thích được và rơi vào chủ nghĩa duy tâm

- Trường phái bất khả tri (không thể biết) cho rằng, con người không có khả năngnhận thức được thế giới, thế giới thì rộng lớn, con người thì nhỏ bé Phủ định khảnăng nhận thức thế giới của con người

- Thuyết hoài nghi cho rằng, họ luôn nghi ngờ khả năng nhận thức của con người.Con người có thể nhận biết được thế giới hay không?

Trang 2

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng, cho rằng con người không những có khả năngnhận thức được thế giới mà còn cải tạo được thế giới trên tất cả các phương diện như

tự nhiên, xã hội và tư duy

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để

chỉ một thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảmgiác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảmgiác"

Đặc trưng cơ bản của vật chất

Thứ nhất: vật chất phải được hiểu theo nghĩa triết học, nghĩa là nó mang tính khái quát cao, phản ánh tất cả những dạng tồn tại cụ thể của vật chất Ví dụ:

các vật thể như: cái cây, ngôi nhà, … nó thuộc một dạng vật chất nhưng vật chất khôngchỉ là cái cây, ngôi nhà Vật chất bao quát hơn, rộng lớn hơn vật thể Cái bàn đem đốt

đi tuy nó không còn là cái bàn mà chỉ còn tro thì nếu xét ở góc độ vật thể thì là cái bàn

đã biến mất, còn xét ở góc độ vật chất thì nó vẫn còn, nhưng ở dạng khác là tro

Thứ 2: Thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất của vật chất là “thực tại khách quan” - tức là tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và loài người Thuộc tính này là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt cái gì thuộc VC và cái gì không thuộc VC

Thứ 3: Tư duy con người có thể nhận thức được vật chất bằng cách phản

ánh vật chất thông qua giác quan Ví dụ: Cái bàn là do con người đóng (dạng của

vật chất) và con người cũng có thể làm mất nó Nhưng cái bàn này trước đó đã đượcchụp, chép lại trong trí nhớ của chúng ta Dù chúng ta có đốt nó thành tro thì cái bàn

đó vẫn tồn tại trong trí nhớ của chúng ta và đây chính là vật chất trong triết học

Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:

+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ýthức, bất kể sự tồn tại ấy con người nhận thức được hay chưa nhận thức được

+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hay trực tiếp tác độnglên giác quan của con người

+ Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất

Trang 3

Định nghĩa VC của Lê-nin cũng khẳng định tư duy của con người có thể nhậnthức được vật chất, đã khắc phục được những hạn chế của những quan niệm siêu hình,máy móc về vật chất của các nhà duy vật trước đó, bác bỏ được thuyết không thể biếtcũng như mọi biểu hiện của quan niệm duy tâm về vật chất.

- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

Quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Chủ nghĩa duy vật mácxít khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; vật chấtquyết định ý thức, ý thức có sự tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễncủa con người

+ Vai trò tác động trở lại của ý thức đối với VC

YT phản ánh các sự vật, hiện tượng trong thế giới và bộ óc người, giúp con ngườihiểu, nắm rõ các quy luật để cải tạo thế giới

Nhờ có ý thức con người lựa chọn được những khả năng đúng, phù hợp để tácđộng thúc đẩy sự phát triển

Sự tác động trở lại của YT đối với VC theo hai khuynh hướng:

Thứ nhất: YT phản ánh đúng thì thúc đẩy hoạt động cải tạo VC của con ngườiThứ hai, nếu YT phản ánh sai thì sẽ kìm hãm hoạt động cải tạo VC của conngười

- Ý nghĩa: Từ quan hệ biện chứng giữa VC và YT đòi hỏi trong nhận thức cũng

như hoạt động thực tiễn phải vận dụng quan điểm khách quan, đảm bảo theo các yêucầu sau:

+ Thứ nhất, khi nhận thức một sự vật, hiện tượng nào đó phải nhận thức vốn

như nó có; đồng thời phải xem xét gắn với điều kiện, hoàn cảnh thực tế ảnh hưởng, tácđộng đến sự tồn tại, vận động, phát triển của nó

+ Thứ hai, trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật

khách quan Mọi chủ trương, mục tiêu, biện pháp hoạt động phải căn cứ vào hoàncảnh thực tế, phù hợp với các điều kiện vật chất khách quan Ví dụ: Nghị quyết 6 củaĐảng (Đại hội VI) là bài học kinh nghiệm là phải nắm vững hiện thực khách quan

+ Thứ ba, Chống bệnh chủ quan, duy ý chí (đề ra mục tiêu, biện pháp hoạt

động không căn cứ vào điều kiện thực tế mà xuất phát từ ý chí chủ quan); chống chủnghĩa khách quan (quá đề cao điều kiện VC, ỷ lại thiếu sự năng động sáng tạo) Ví dụ:đất bị xâm nhập mặn mà không tìm cách cải tạo, cải thiện hay tìm vật nuôi, cây trồngphù hợp với đất nhiễm mặn

+ Thứ tư, phát huy vai trò của ý thức-vai trò nhân tố con người (nâng cao ý

thức tình cảm, ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức thực tiễn)

Câu 3: Hãy trình bày 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật và rút ra ý nghĩa pp luận của nó Liên hệ thực tiễn

* Định nghĩa phép BCDV: Theo P.Ăngghen: Phép biện chứng chẳng qua chỉ là

môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tựnhiên, của xã hội loài người và của tư duy

Trang 4

* Kết cấu bao gồm: Hai nguyên lý; sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản.

- Hai nguyên lý cơ bản:

a Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến:

Nội dung:

- Chủ nghĩa DVBC khẳng định các sự vật, hiện tượng và các mặt, các yếu tố,các thuộc tính của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn tồn tại trong mối quan hệvới nhau

+ Mối quan hệ là khách quan, vì nó là cái vốn có của bản thân mọi sự vật hiện

tượng Nguyên nhân chính là từ tính thống nhất VC của thế giới

+ Mối quan hệ là phổ biến, nghĩa là nó tồn tại trong mọi lĩnh vực của thế giới,

cả tự nhiên, xã hội và tư duy

Ví dụ: con người, động vật, thực vật có sự liên hệ lẫn nhau và liên hệ với môitrường Trong đời sống XH các lĩnh vực KT,CT,VH,XH,TT có sự liên hệ lẫn nhau.Trong 1 nuớc các giai tầng, dân tộc có sự liên hệ lẫn nhau - Các nước và cả thế giới có

sự liên hệ lẫn nhau Mối liên hệ diễn ra rất đa dạng, trong thực tế tùy theo góc độ xemxét mà có các mối liên hệ khác nhau, nghĩa là có mối liên hệ bên trong-bên ngoài; bảnchất- không bản chất; tất nhiên-ngẫu nhiên; trực tiếp-gián tiếp

* Ý nghĩa phương pháp luận:

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần vận dụng quan điểm toàn diện vàquan điểm lịch sử - cụ thể:

* Quan điểm toàn diện:

Một là, khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải xem xét tất cả các mặt, các mốiliên hệ, kể cả các khâu trung gian trong những điều kiện không gian, thời gian nhất

định Ví dụ: Khi chúng ta muốn đánh giá sự tiến bộ xã hội của nước ta thì phải xem

xét sự tiến bộ trong chỉnh thể của nó Tức là xem xét tất của các lĩnh vực: kinh tế, xãhội, chính trị, con người,… trong một xã hội thống nhất

Hai là, xem xét một cách có trọng tâm, trọng điểm để nắm bắt được bản chấtcủa sự vật, hiện tượng Ví dụ: Để thực hiện mục tiêu : “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất nướcta; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hoámọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hoá kinh tế đưa lại

Trang 5

Ba là, sau khi nắm bắt được bản chất của sự vật, hiện tượng, cần phải đốichiếu với các mối liên hệ còn lại để tránh mắc sai lầm trong nhận thức

Bốn là, tránh quan điểm phiếm diện, siêu hình, (chỉ thấy một mặt mà khôngthấy nhiều mặt, chỉ thấy một mối liên hệ mà không thấy các mối liên hệ khác)

Năm là, chống lại cách xem xét cào bằng, dàn trải (coi mọi mối liên hệ nhưnhau) và chống lại thuật nguỵ biện (để ý tới những mặt khác nhau của sự vật, nhưnglại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất) Vídụ: biện hộ cho việc ăn cướp là vì nghèo Theo luật Hình sự thì đây chỉ là tình tiếtgiảm nhẹ mà thôi -> vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

* Quan điểm lịch sử - cụ thể:

Một là, khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải đặt chúng trong từng hoàncảnh lịch sử - cụ thể; trong điều kiện, môi trường cụ thể; trong từng điều kiện khônggian, thời gian nhất định; trong từng mối liên hệ, quan hệ nhất định; trong từng trườnghợp cụ thể nhất định; …Ví dụ: Thông thường, trong các định luật của hoá học bao giờcũng có hai điều kiện: nhiệt độ và áp suất xác định Nếu vượt khỏi những điều kiện đóđịnh luật sẽ không còn đúng nữa

Hai là, xét đến tính đặc thù của đối tượng nhận thức và các tình huống khácnhau phải giải quyết trong thực tiễn Ví dụ, trên thị trường chứng khoán, câu hỏi kiểu

“hôm nay nên mua hay bán?” là một câu hỏi trừu tượng của người không hiểu gì vềTTCK, vì nó không có nội dung cụ thể Bởi vì, cùng trong ngày hôm nay, có những

CP nên mua, và có những CP nên bán Chưa hết, với cùng một CP, thì với người nàythì nên mua, với người khác lại nên bán Như thế cần đặt vấn đề một cách cụ thể nhưsau: “Tôi đang nắm giữ những cổ phiếu A, B, C này, tôi đã mua chúng theo giá trungbình như thế này, vào các thời điểm này, vậy thì lúc này nên mua thêm hay bán bớtchúng đi, vân vân”

Ba là, cần xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển ở từng giai

đoạn cụ thể nhất định Ví dụ: Trong xã hội ngày xưa thì việc lên rừng đốn củi kiếm

sống là việc làm không vi phạp pháp luật nhưng khi đặt trong xã hội ngày nay thì việclàm đó là vi phạm pháp luật và những người thực hiện hành vi này được xem là lâmtặc

Liên hệ thực tiễn: Tổ chức một phong trào thi đua ở đơn vị, cần xem điều kiện thực hiện, không gian, thời gian có thích hợp không, phối hợp các bộ phận trong đơn vị, thậm chí là với các đơn vị khác, khi triển khai cần có điểm nhấn trong phong trào

b Nguyên lý về sự phát triển

Khái niệm: phát triển là quá trình vận động theo hướng đi lên từ thấp đến cao,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

VD: Một đứa trẻ được sinh ra lớn lên thì phải học từ mẫu giáo, tiểu học, trunghọc, đại học, cao học,… và đi từ sơ sinh đến dần trưởng thành và hoàn thiện về tư duy.Hay quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức tổ chức xã hội loài người: từ hìnhthức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên các hình thức tổchức xã hội cao hơn

Trang 6

Nội dung: Quan điểm biện chứng cho rằng thế giới các sự vật, hiện tượng vận

động không ngừng, chiều hướng chung của sự vận động là phát triển Phát triển khôngchỉ là sự thay đổi về lượng mà còn là sự nhảy vọt về chất

Sự phát triển là khách quan vì nguồn gốc sự phát triển chính là sự thống nhất vàđấu tranh của các mặt đối lập bên trong mọi sự vật quy định

Sự phát triển là phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực của thế giới, từ tự nhiên đến xãhội và tư duy

VD: sự phát triển của hạt lúa thành cây lúa có nhiều hạt, dưới sự chăm sóc củacon người

Sự phát triển rất đa dạng và phức tạp: Mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình pháttriển không giống nhau Bởi vì, tồn tại ở không gian, thời gian, điều kiện khác nhau sựvật phát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, mỗi sự vậtcòn chịu sự tác động của nhiều sự vật, hiện tượng khác

Ý nghĩa phương pháp luận:

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần vận dụng quan điểm phát triểnThứ nhất, trong nhận thức phải nhận thức sự vật như nó có trong hiện tại và cảkhuynh hướng vận động, phát triển của nó trong tương lai để dự báo những tình huống

có thể xảy ra nhằm chủ động giải quyết Ví dụ: Con người chúng ta mặt dù nhận thức

được vấn đề môi trường nhưng trong hành động vẫn còn gây cho môi trường bị pháhoại nghiêm trọng cho nên ngay trong hiện tại và cả tương lai chúng ta đang chịunhững hậu quả nặng nề do thiên tai Cho nên khi xem xét tình hình cần nhìn nhận dựbáo trước tình hình để có phương án giải quyết có những biện pháp kiệp thời cải tạomôi trường

Thứ hai, trong hoạt động thực tiễn cần chống sự bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới.Mặt khác, phát triển có nhiều khuynh hướng khác nhau, bao gồm cả sự thụt lùi tạmthời, nên khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời không nên nản chí mà phải tin tưởng vàotương lai và tìm phương pháp tác động phù hợp để thúc đẩy sự phát triển

VD: Trong thời gian tới, việc thực hiện trao đổi các văn bản đều được hiện đại

hóa theo phương pháp số hóa nên từ lúc này phải trang bị các thiết bị cho các cơ quan,tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ

Thứ ba, quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, cứkhăng khăng giữ cái cũ, không chịu tạo ra cái mới khi đã hội đủ điều kiện chín muồi

Bốn là, quan điểm phát triển chống lại quan điểm chủ quan, nóng vội, duy ýchí, vội vàng xoá bỏ cái cũ, tạo ra cái mới khi chưa hội đủ điều kiện chín muồi

Liên hệ thực tiễn: Trong giảng dạy, giáo viên cần đặt học sinh trong sự vận

động, phát triển, nắm rõ sự tiến bộ hay thụt lùi của học sinh để có những thay đổi phùhợp trong cách giảng dạy của mình, có những biện pháp giáo dục thích hợp nhưngkhông được vội vàng, nóng vội thay đổi phương pháp giảng dạy hay giáo dục khichưa có điều kiện chín muồi Bản thân người giáo viên cũng phải tự học tự rèn, hamhọc hỏi, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để có thể có những bàigiảng hay, phương pháp tốthơn nhằm truyền cảm hứng, giúp cho học sinh học tập tiến

bộ hơn

Trang 7

Câu 4/ Đ/c hiểu như thế nào cặp phạm trù cái chung cái riêng?Liên hệ thực tiễn?

1 Cặp phạm trù cái chung-cái riêng:

Phạm trù của phép biện chứng duy vật (Triết học) là những khái niệm chungnhất, rộng nhất phản ánh những mặt, những mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiệntượng trong thế giới khách quan

* Khái niệm

- Cái riêng: Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng,một quá trình hay một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể tồn tại độc lậptương đối với những sự vật, hiện tượng, quá trình khác

VD: Chiếc xe đạp; ngôi chùa; sấm sét,…

- Cái chung: Là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tínhgiống nhau được lặp lại ở nhiều cái riêng

VD: Xe đạp; Xe ô tô; Xe lửa; Xe ngựa Mỗi loại xe đều khác nhau nhưng có cáichung là “Xe”

- Cai đơn nhất: là phạm trù triết học dùng để chỉ những đặt điểm, những thuộctính vốn có chỉ ở một sự vật, hiện tượng, quá trình, không được lặp lại ở sự vật, hiệntượng, quá trình khác

VD: Tính cách của mỗi người;…

* Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng:

- Cái chung và cái riêng không thể tách rời nhau, không có cái chung tồn tại độclập ngoài cái riêng, mà cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng

VD: Cá heo, cá rô, cá sấu Cái chung là cá, riêng là loại cá Chung là sống dướinước Riêng là cá nước mặn, cá nước ngọt

+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ đưa đến cái chung, vì bất cứ cái riêngnào cũng tồn tại trong mối liên hệ với những cái riêng khác Giữa những cái riêng ấybao giờ cũng có những cái giống nhau

VD: Mỗi con người là cái riêng, không thể tồn tại riêng rẽ mà phải sống trong

xã hội loài người, gắn với thế giới tự nhiên

+ Cái chung là những mặt, những thuộc tính giống nhau của những cái riêng,hoặc là một đặc điểm, thuộc tính của các cái riêng chỉ bao quát, bản chất của cái riêngnên cái chung thì sâu sắc, cái riêng thì phong phú

VD: GCCN thế giới là chung, GVCN VN là riêng Do đó có những đặc điểmgiống nhau: là những người không có tư liệu sản xuất, bị bóc lột, Đặc điểm riêngcủa GCCN VN là xuất thân từ GC nông dân, ra đời gắn liền với việc khai thác thuộcđịa của thực dân Pháp,

+ Trong những điều kiện nhất định, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyểnhóa cho nhau

Trang 8

VD: Sáng kiến của 1 người là cái riêng nhưng được phổ biến, đem ra học tập,dần trở thành cái chung

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Muốn nắm được cái chung thì phải phân tích cái riêng; tìm cái chung trongcác cái riêng

VD: Muốn biết được lớp K93 có hiểu bài không thì phải tìm hiểu từ từng họcviên

- Không được tuyệt đối hóa cái chung hoặc cái riêng

VD: Không thể đánh giá lớp K93 đã hiểu bài hay không hiểu bài qua một số íthọc viên mà phải đánh giá trên phần đông học viên của lớp

- Áp dụng nguyên lý chung vào cái riêng phải cá biệt hóa

VD: Khi đánh giá việc tiếp thu bài của học viên thì chỉ áp dụng trong phạm vilớp K93, không áp dụng đối tượng ngoài phạm vi lớp

Câu 5/ Đ/c hiểu như thế nào cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả liên hệ thực tiễn

* Khái niệm:

- Nguyên nhân: Là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa cácmặt, các bộ phận, các thuộc tính, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật vớinhau gây ra sự biến đổi nhất định

VD: Nghèo là do lười lao động Vậy, “lười lao động” là nguyên nhân dẫn đếnnghèo

- Kết quả: Là phạm trù chỉ những biến đổi dao sự tác động lẫn nhau giữa các sựvật hay giữa các yếu tố tạo thành sự vật

VD: “Nghèo” là kết quả của sự lười lao động

- Nguyên cớ: Là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyênnhân nhưng chỉ có quan hệ bên ngoài ngẫu nhiên với kết quả chứ không sinh ra kếtquả

VD: Nguyên nhân “Lười lao động” nguyên có là do bất mãn cuộc sống

* Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả:

- Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn có trước kết quả Tuynhiên, không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệnhân quả

VD: ngày không phải là nguyên nhân của đêm

- Trong thực tế mối liên hệ nhân quả biểu hiện rất phức tạp

+ Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả VD: Trời mưa thì đường bịngập, ùn tắc giao thông, đi học trễ giờ

+ Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân Vì, chúng phụ thuộc vào điều kiện,hoàn cảnh

Trang 9

VD: Đi học trễ có thể do ngủ dậy trễ, xe nổ lốp, bận công việc đột xuất,

- Nguyên nhân chia thành nhiều loại:

+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài:

++ Nguyên nhân bên trong là sự tác động qua lại của các yếu tố, bộ phận cấuthành sự vật- quyết định sự biến đổi của sự vật

VD: Nguyên nhân nghiện ma túy là do: muốn thử, bị dụ dỗ, đua đòi, thiếu ýthức,

++ Nguyên nhân bên ngoài, là sự tác động qua lại giữa các sự vật Nó chỉ pháthuy tác dụng thông qua nguyên nhân bên trong

VD: Nguyên nhân ảnh hưởng đến nghiện ma túy do gia đình thiếu quan tâmđến đời sống sinh hoạt của con cháu

+ Nguyên nhân chủ yếu và thứ yếu:

++ Nguyên nhân chủ yếu, là nguyên nhân quyết định sự ra đời của kết quảVD: Nguyên nhân dẫn đến đồng chí A không hoàn thành nhiệm vụ là do đồngchí không tập trung toàn tâm trong thực hiện nhiệm vụ được giao

++ Nguyên nhân thứ yếu, là nguyên nhân chỉ ảnh hưởng đến kết quả hoặc quyếtđịnh những mặt, những bộ phận không cơ bản của kết quả

VD: Đồng chí A không hoàn thành nhiệm vụ, nguyên nhân thứ yếu là do đồngchí còn hạn chế về trình độ chuyên môn

+ Nguyên nhân khách quan và chủ quan:

++ Nguyên nhân khách quan, là những tác động độc lập với chủ thể

VD: Đồng chí A không hoàn thành nhiệm vụ, nguyên nhân khách quan là dosức khỏe đồng chí trong thời gian thực hiện nhiệm vụ không được tốt

++ Nguyên nhân chủ quan, là sự chủ quan tác động do sự điều khiển của chủthể

VD: Do đồng chí A không tích cực nghiên cứu tài liệu chuyên môn, hay thamkhảo ý kiến của tập thể trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Thứ nhất, vì mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân ra đời và biến đổi,cho nên muốn nhận thức hay cải tạo sự vật phải tìm hiểu rõ nguyên nhân mới có thểđưa ra phương pháp tác động phù hợp

- Thứ hai, tìm hiểu nguyên nhân của sự vật, hiện tượng, phải phân loại xác định

rõ đâu là nguyên nhân cơ bản, chủ yếu, thứ yếu quyết định sự biến đổi của nó

VD: nguyên nhân đồng chí A không hoàn thành nhiệm vụ nguyên nhân chủ yếu

là do đồng chí không hoàn thành nhiệm vụ là do đồng chí không tập trung toàn tâmtrong thực hiện nhiệm vụ được giao, bên cạnh đó nguyên nhân thứ yếu là do nguyênnhân thứ yếu là do đồng chí còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nguyên nhân kháchquan là đồng chí sức khỏe không tốt, nguyên nhân chủ quan là do đồng chí không tích

Trang 10

cực nghiên cứu tài liệu chuyên môn, hay tham khảo ý kiến của tập thể Từ những cósở đó đề ra phương hướng khắc phục hợp lý từng nguyên nhân dẫn đến việc khônghoàn thành nhiệm vụ của đồng chí A.

Từ cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả (vẫn nêu đầy đủ các ý như trên nhưng đến liên hệ thực tiễn thì ghi cái này, đây chỉ là gợi ý, các bạn tham khảo), giải

quyết các vấn đề:

* Vấn nạn ma túy hiện nay:

Tệ nạn ma túy có tác hại rất lớn đến kinh tế, chính trị, xã hội, hạnh phúc, giốngnòi, làm suy thoái về đạo đức, lối sống, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nhưtrộm cắp, cướp của giết người, lừa đảo, cưỡng đoạt tài sản, gây rối trật tự côngcộng…, đồng thời cũng là nguyên nhân chính dẫn đến đại dịch HIV của thế giới

Kết quả rà soát đến tháng 9/2015 toàn quốc có hơn 204 nghìn người nghiện matúy có hồ sơ quản lý của lực lượng Công an, tăng gần 23 nghìn người (tăng 12%) sovới cuối năm 2013 Theo báo cáo của Bộ LĐTB&XH, mỗi người nghiện ma túy sửdụng khoảng 230.000 đồng/ngày, do đó số tiền thiệt hại là rất lớn Bên cạnh đó, nhữngnăm gần đây người nghiện ma túy của Việt Nam luôn luôn gia tăng

+ Các thành viên trong gia đình thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau

+ Phong tục tập quán (vùng cao đồng bào cho rằng hút thuốc phiện là thú vui)

Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả làm giảm tệ nạn ma túy, cần làm tốt một số giải pháp sau:

1 Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục cho người dân hiểu tác hại của matúy, pháp luật phòng chống ma túy, đặc biệt tăng cường tuyên truyền giáo dục phòngchống ma túy trong học đường

Trang 11

2 Lực lượng Công an phải chủ động xây dựng kế hoạch tham mưu cho cấp ủy chínhquyền xây dựng xã, phường, huyện không có ma túy.

3 Theo phân công của Chính phủ thì lực lượng phòng chống ma túy của Bộ Công an;

Bộ LĐTB&XH; Bộ Y tế căn cứ vào chức năng nhiệm vụ chủ động tham mưu cho cáccấp ủy, chính quyền địa phương thường xuyên có kế hoạch tổ chức rà soát thống kê,quản lý người nghiện, tổ chức cai nghiện cho tất cả các đối tượng nghiện ma túy dướimọi hình thức

4 Đối với các lực lượng điều tra tội phạm ma túy (Công an, Quân đội, Hải Quan) phảithực hiện tốt Quy chế 113 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh phòng chống matúy

5 Tăng cường chính sách xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội cho các vùng dân tộc,vùng sâu vùng xa, nhất là vùng biên giới Việt - Lào (Sơn La, Điện Biên, Thanh Hóa,Nghệ An…) để nhân dân tự vươn lên, không bị đối tượng phạm tội ma túy mua chuộclôi kéo

6 Đề nghị Chính phủ, Quốc hội xem xét sửa lại một số điều Luật Xử lý vi phạm hànhchính và Nghị định 211 về hồ sơ thủ tục đưa người nghiện vào trung tâm cai nghiệnbắt buộc

* Vấn nạn tham nhũng:

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta có được rất nhiều thuậnlợi: sự đồng tình, ủng hộ và tin tưởng của quần chúng nhân dân; sự chăm lo và địnhhướng phát triển đúng đắn của Đảng và Nhà nước; sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế,nhưng đồng thời chúng ta cũng gặp không ít những thách thức, khó khăn Một trongnhững vấn đề gây khó khăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến công cuộc xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam là tệ tham nhũng - quốc nạn của nước ta

Thực trạng báo động ở nước ta hiện nay là tệ tham nhũng ngày càng trầm trọng,trở nên phổ biến trong tất cả các lĩnh vực từ công an đến hải quan, từ tài nguyên môitrường đến xây dựng, thuế, ngân hàng, y tế, giáo dục cho đến cả thanh tra, kiểm sát,tòa án,… Từ lĩnh vực kinh tế cho đến cả chính trị với quy mô các vụ án ngày cànglớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi.Theo thống kê của Tổ chức Minh bạch Thế giới về chỉ số tham nhũng của các nướctrên thế giới qua các năm, Việt Nam xếp hạng thứ 112/182 trong năm 2011

Để cung cấp thêm thông tin làm cơ sở vững chắc về mặt lý luận trong việcphòng và chống tham nhũng, vận dụng cặp phạm trù nhân - quả trong phép biệnchứng duy vật để phân tích về mặt triết học nguyên nhân của nó, chúng tôi xác địnhmột số nguyên nhân chủ quan và khách quan sau:

Về nguyên nhân chủ quan:

Thứ nhất, nguyên nhân và động cơ chủ yếu của tham nhũng là lòng tham của con

người Lẽ cố nhiên đam mê lợi ích không phải lúc nào cũng xấu, nhưng để lòng tham

Trang 12

dẫn dắt, che mờ lý trí, điều khiển, kiểm soát hành động và vì lợi ích của bản thân, củanhóm lợi ích mà chà đạp lên lợi ích của tập thể, cộng đồng và quần chúng nhân dânthì rõ ràng là không thể chấp nhận được

Thứ hai là do lối sống “ăn bám”, ỷ lại, lười lao động thích hưởng thụ của một bộ phận,

tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là giới trẻ ngày nay

Thứ ba là do cuộc sống, áp lực công việc, do môi trường xung quanh; do giáo dục, do

cơ chế và do chính bản thân mà đạo đức con người ngày càng bị suy thoái, tha hóa.Điều này làm cho tệ tham nhũng càng có điều kiện thuận lợi để phát sinh và lan rộngtrong toàn xã hội

Thứ tư là do tâm lý, “truyền thống văn hóa” và trình độ nhận thức của một bộ phận người dân còn yếu kém Với quan niệm “dầu bôi trơn bánh xe”, “đầu xuôi đuôi lọt”,

“đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” và nghĩ rằng giải pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất để giải quyết công việc là “thủ tục đầu tiên” cũng là nguyên nhân thúc đẩy tham nhũng Hơn thế, người ta còn dùng hối lộ, quà cáp như một hình thức “kết thân”, “đầu

tư chiều sâu”, “đầu tư vào tương lai” để tạo thuận lợi cho con đường công danh sự

nghiệp sau này cho cả bản thân lẫn người thân Chính hành vi tâm lý và trình độ nhậnthức này đã vô tình làm cho không ít cán bộ, nhân viên bị tham nhũng thụ động Tìnhtrạng này kéo dài làm xuất hiện tư tưởng gây khó dễ ở cán bộ, công chức để nhận

“phong bì” từ dân mới giải quyết công việc, cho rằng nhận hối lộ là một thủ tục tấtyếu trong quá trình xử lý công việc Bởi vậy, một số cán bộ, đảng viên khi có quyền

lực đã đem địa vị, quyền hành ra để “mặc cả” và cho rằng “muốn ăn chân giò phải thò chai rượu” Vô hình trung điều này tạo nên một cách suy nghĩ, một thói quen xấu

trong cả cán bộ công chức và cả những người muốn dùng tiền để giải quyết công việc,

dần dần hình thành nên “văn hóa phong bì”.

Thứ năm và cũng là nguyên nhân quan trọng, dễ dẫn đến tham nhũng nhất đó chính là

sự sơ hở, bất cập, thiếu công khai, thiếu minh bạch, cơ chế “xin - cho” còn tồn tại.Đây là nguyên nhân thường xuyên được đề cập và lặp đi lặp lại nhiều lần trong cácphiên họp của Quốc hội Nguyên nhân này thể hiện ở chỗ: cơ chế kiểm tra, kiểm soátviệc sử dụng, quản lý, luân chuyển tài sản có nhiều sơ hở, giao tài sản cho nhân viênnhưng không có biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ, gian lận trong công tác đểchiếm đoạt tài sản,

Thứ sáu, một nguyên nhân cần được nghiên cứu thêm đó là tư duy chính trị của một

bộ phận cán bộ, đảng viên còn phảng phất tư duy “truyền thống”, phong kiến, manhmún, chắp vá, thiếu tính hệ thống dẫn đến thiếu mạnh dạn và quyết tâm trong việcthực hiện đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới tư duy chính trị Giữa đổi mới tư duychính trị và đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta chưa có sự đồng bộ, thống nhất cần

thiết nên thường xuyên diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”

làm tầm thường hóa hệ thống pháp luật

Ngoài ra còn có nguyên nhân nữa mang tính chất khái quát là chúng ta chưa thực hiệntốt quy chế dân chủ Tuy nhiên dân chủ phải gắn liền với dân trí Nhìn chung trình độdân trí, kể cả quan trí của chúng ta chưa cao nên nhân dân chưa có nhiều khả năngtham gia làm chủ, quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhànước và của cán bộ, công chức, viên chức Mặc dù chúng ta đã có bước tiến đáng kể

Trang 13

về việc ban hành quy chế dân chủ, song nhìn chung việc thực hiện đưa quy chế vàocuộc sống còn nhiều hạn chế, khó khăn.

Về nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất là việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa triệt để, không

theo kịp được trình độ phát triển của hoạt động thực tiễn Chính sách thưởng phạtchưa đủ sức răn đe người phạm tội và khuyến khích người lập công, tố giác tội phạm

Thứ hai là do hệ thống pháp luật, chính sách ở nước ta thiếu đồng bộ, chưa thỏa đáng

và nhất quán; trong xử lý, chế tài chưa nghiêm minh, pháp luật còn nhiều kẽ hở, cơchế quản lý còn nhiều yếu kém Các thủ tục hành chính hay giấy tờ, đất đai đều chưaminh bạch, rườm rà, cơ chế quản lý bất động sản chưa hiệu quả và chặt chẽ tạo kẽ hởcho các cán bộ, viên chức tham nhũng

Thứ ba là do những bất cập trong triết lý về giáo dục, chưa hình thành được một triết

lý giáo dục đủ tầm cỡ, làm trụ cột lâu dài, xuyên suốt và bền vững trong quá trình pháttriển, kể cả giáo dục nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng; giáo dục đạo đức cán

bộ, đảng viên trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường chưa được chú trọng đúngmức Hơn nữa, việc đưa những người thiếu năng lực và thiếu phẩm chất đạo đức vàolàm cho các cơ quan nhà nước do “quan hệ”, nể nang, “đi đêm”, làm suy thoái hệthống chính trị và làm cho tình trạng tham nhũng ngày càng phát triển nhanh chóng

Thứ tư là do sự quản lý, thanh tra, kiểm tra lỏng lẻo, yếu kém của Nhà nước; xử lý qua loa, chỉ mang tính “hình thức” như cảnh cáo, phê bình hoặc chủ trương “đại sự hóa tiểu sự, tiểu sự hóa vô sự” vì người vi phạm thường là cán bộ có quyền lực và địa vị,

nên chưa mang tính răn đe

Thứ năm là do việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng của nước ta chưa

hiệu quả, đồng bộ, chưa đáp ứng được thực trạng tham nhũng hiện nay, thiếu mộtchương trình phòng, chống lâu dài, tổng thể mà chỉ chủ yếu tập trung vào việc giảiquyết những vụ “tham nhũng vặt”, nhỏ lẻ Mặt khác, các chính sách của nước ta chưakhuyến khích toàn dân và cả hệ thống chính trị cùng phòng, chống tham nhũng.Chúng ta chưa có cơ chế hữu hiệu để bảo vệ những người phát hiện và dám tố cáotham nhũng Việc tuyên dương người đứng lên tố cáo tham nhũng hiện nay cũng chưaphải là giải pháp hiệu quả để động viên toàn dân tham gia Hơn nữa, người “đưa hốilộ” đi tố cáo tham nhũng cũng bị khép tội “đưa hối lộ” nên cũng làm hạn chế việc tốcáo tham nhũng của nhân dân

Thứ sáu là do mặt trái (bản chất) của nền kinh tế thị trường và sự phân cực giữa các

giai tầng trong xã hội ngày càng sâu sắc làm cho các giá trị đạo đức bị đảo lộn Đồngtiền đang lên ngôi trong nền kinh tế thị trường hiện nay Khi đồng tiền được xem là

“thước đo của vạn vật” thì các giá trị đạo đức, nhân phẩm sẽ đứng trước bên bờ vực

Qua những phân tích trên đây chúng ta thấy rằng nguyên nhân của tham nhũng là sựtổng hợp, hội tụ nhiều nguyên nhân, điều kiện cả chủ quan lẫn khách quan, cả conngười lẫn cơ chế của Nhà nước ta Tham nhũng là một trong những nguy cơ làm cảntrở công cuộc đổi mới Cùng với lãng phí, tham nhũng đang diễn ra trầm trọng, kéodài, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, xâm hại đến công lý và công bằng xãhội, gây thiệt hại lớn về tài sản Nhà nước và của nhân dân

Trang 14

Để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả có nhiều biện pháp như:

Thứ nhất, cần điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung pháp luật nước ta, cần quy định chặt chẽ

hơn, xử lý nghiêm minh hơn, giảm bớt sự rườm rà không cần thiết các thủ tục hànhchính, phải có biện pháp chế tài đủ mạnh để những công chức thấy rằng việc thamnhũng đem lại cho họ “mất” nhiều hơn “được”

Thứ hai, cần cải cách hệ thống chính sách giáo dục ở nước ta, xóa bỏ tình trạng đặt

nặng lý thuyết, chú trọng đào tạo chuyên môn và phẩm chất đạo đức của thế hệ tươnglai Đồng thời các cán bộ cấp cao phải đi đầu trong việc thực hiện gương mẫu, nângcao phẩm chất đạo đức, chuyên môn Đồng thời tăng cường, củng cố tư tưởng chínhtrị, rèn luyện cho các đảng viên, các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước để tăngcường sự vững mạnh của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước ta

Thứ ba là phải kiềm chế mặt trái của nền kinh tế thị trường, tăng cường định hướng xã

hội chủ nghĩa, tăng cường cổ phần hóa, phát triển kinh tế xã hội đồng bộ, giảm sựphân hóa giàu nghèo, hạn chế sự độc quyền Đồng thời tăng lương, tăng phúc lợi, tạo

sự công bằng, xứng đáng cho các công chức, viên chức Khi đồng lương đủ giúp họtrang trải cuộc sống thì họ cũng ít suy nghĩ đến tham nhũng hơn Giải pháp này cầnhoạch định lâu dài và có kế hoạch cụ thể

Thứ tư, cần đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm soát trong tất cả các lĩnh vực từ chính trị,

kinh tế đến xã hội, xử lý mạnh tay đối với các hành vi tham nhũng, làm gương chongười khác, tách riêng bộ phận Thanh tra ra khỏi Chính phủ Thực hiện thanh tra toàndiện, từ trung ương đến địa phương, trên mọi lĩnh vực Tăng cường quản lý tài sản,ngân sách, nguồn viện trợ cũng như việc sử dụng tài sản của Nhà nước cũng như sửdụng chúng một cách hợp lý Phải dựa vào nhân dân và báo chí để tăng cường côngtác phòng, chống tham nhũng, đưa nhân dân vào các bộ phận thanh tra, kiểm soáttham nhũng để hoạt động hiệu quả hơn, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân

Thứ năm, cần tuyển chọn, chọn lọc kỹ càng khi phân công, bổ nhiệm các cán bộ, công

chức, bảo đảm phẩm chất đạo đức của các nhân viên nhà nước từ cấp thấp đến cấpcao

Thứ sáu, cần đẩy mạnh tuyên truyền trong nhân dân về ý thức phòng, chống thamnhũng, yêu cầu cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân cùng chung tay trongcông cuộc phòng, chống tham nhũng, mạnh dạn tố cáo, đóng góp ý kiến, thay đổi tâm

lý không tốt đã ăn sâu vào không ít tầng lớp trong xã hội./

* Vấn đề bạo lực học đường:

Bạo lực học đường là vấn đề ngày càng phổ biến và là mối bận tâm không chỉcủa phụ huynh, của nhà trường mà là vấn nạn chung của ngành giáo dục hiện nay Bạolực xảy ra ở trong khuôn viên nhà trường lẫn ngoài xã hội, giữa học sinh với học sinh,giữa học sinh với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh…

Nguyên nhân bạo lực học đường: Bạo lực học đường xuất phát từ bốn 4

nguyên nhân: từ chính học sinh, từ giáo dục gia đình, từ giáo dục nhà trường và từ xã hội

Trang 15

- Nguyên nhân từ tâm lý học sinh: Học sinh THPT là lứa tuổi đang trong thời

kỳ phát triển nhạy cảm, cơ thể của các em đã là của người trưởng thành, sức khỏe thể lực đã như người trưởng thành khỏe mạnh nên việc sử dụng bạo lực càng dễ gây hậu quả nghiêm trọng hơn học sinh ở các cấp học dưới Học sinh THPT đã bước qua lứa tuổi dậy thì, bắt đầu giai đoạn muốn khẳng định bản thân Học sinh đang trong giai đoạn hình thành, phát triển tâm lý và thể chất cho nên luôn hiếu động và tìm mọi cách thể hiện cái tôi bản thân Và khi phải chịu nhiều áp lực căng thẳng gây nên những rắc rối trong đời sống tâm lý, nếu không nhận được sự khuyên bảo, chỉnh đốn kịp thời, các em dễ rơi vào những hành động quá khích, khó bề kiểm soát Nguyên nhân tâm lý

bị người khác xem thường đó lại là nguyên nhân chính

- Nguyên nhân từ giáo dục của gia đình:

Gia đình như một xã hội thu nhỏ, những tác động của gia đình đến học sinh, đặc biệt là học sinh THPT là giai đoạn đang phát triển tâm lý nhạy cảm dễ làm các em

có những suy nghĩ tiêu cực dẫn đến việc giải tỏa bức xúc lên người khác

Trong một gia đình “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” các em không thể vui

vẻ, hồn nhiên được khi mà cha mẹ ở nhà bạo hành, đánh nhau Có mối quan hệ mật thiết giữa bạo lực học đường với bạo lực gia đình Khi có bạo hành trong gia đình thì học sinh nam đến lớp thường hay lầm lì, ít nói nhưng các em nữ lại có thể rơi vào trầm cảm, tự kỷ

Học sinh không thể phát triển tâm lý và học hành bình thường được nếu ngày nào cũng chứng kiến cha bạo hành mẹ trong gia đình, hoặc các em bị chính cha mẹ bạo hành Khi bị tác động bởi những hoàn cảnh xấu, các em không được chia sẻ, dẫn dắt cách xử lý những băn khoăn, ức chế của mình, lâu ngày dễ hình thành nên tính dễ kích động và hành động bạo lực

Hoặc ly hôn giữa cha mẹ cũng là một trong những nguyên nhân tác động mạnh

và ảnh hưởng sâu sắc đến tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT khi các em đã bắt đầu bước vào ngưỡng cửa yêu đương Những hệ lụy từ việc ly hôn của cha mẹ không hề nhỏ đối với học sinh

- Nguyên nhân từ giáo dục của nhà trường:

Có thể thấy ngày nay việc học sinh ở trường, tiếp xúc với thầy cô, nhà trường nhiều hơn ở gia đình và xã hội Ngoài học chính khóa trên trường các em còn học thêm, phụ đạo, luyện thi, đặc biệt là các trường bán trú, nội trú thì việc học tập, ăn uống, ngủ nghỉ, sinh hoạt của học sinh hoàn toàn phụ thuộc vào nhà trường Một số trường còn xem nhẹ việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, thiếu quyết liệt trong đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội có nguy cơ xâm nhập học đường

- Nguyên nhân từ xã hội: Có thể nói, tác động từ xã hội là những tác động

tiêu cực nhất và ảnh hưởng nhiều nhất đến học sinh như phim ảnh, truyện bạo lực ảnh hưởng tiêu cực của phim ảnh bạo lực trong thời đại thông tin bùng nổ hiện nay, diễn

ra từng ngày từng giờ với học sinh

Trang 16

Ảnh hưởng của các trò chơi điện tử: Việc tiếp xúc với các trò chơi bạo lực này

đã trở nên nguy hại cho các em và gia đình Khi một em mải mê từ thái độ tâm lý muốn tìm hiểu cái gì mình chưa biết, một lý giải như là một phương tiện giúp cho mình thông minh hơn, nhanh nhẹn hơn trong việc ứng xử, các em dần dà trở thành một con nghiện của các trò chơi như thế Rượu bia và chất gây nghiện việc tiêu thụ các loại độc tố có chất gây say như rượu bia, ma túy tổng hợp, có khả năng dẫn đến các hành vi bạo lực học đường ở giới trẻ Một người không thể làm chủ hành vi của mình được, ngay sau khi đưa các loại chất gây say vào trong cơ thể như là một sự muavui Phần lớn người tiêu thụ chất gây say sẽ không thể kiểm soát hành vi và lời nói, nên dễ gây hấn, đánh đập, giết người

Từ các nguyên nhân cho thấy, từ nhà ra đường học sinh tiếp xúc với rất nhiều tình huống dễ nảy sinh bạo lực Do vậy, để hạn chế bạo lực học đường, giải pháp tốt nhất chúng ta cần phải thay đổi nhận thức của học sinh, từ nhận thức đúng đắn sẽ nảy sinh những hành động đúng đắn, tránh được những gây hấn bạo lực, hạn chế những hậu quả do bạo lực học đường gây ra

Các giải pháp chính ngăn chặn bạo lực học đường:

- Về phía cá nhân học sinh: Tổ chức tư vấn, tham vấn tâm lý học đường trong trường học để hỗ trợ học sinh vượt qua các khó khăn tâm lý, định hướng các ứng xử lành mạnh, thân thiện

- Về phía gia đình: Cần hướng tới cải thiện các mối quan hệ gia đình lành mạnh, tíchcực Đối với các học sinh có nghịch cảnh gia đình … cần được tư vấn để vượt qua khókhăn và ổn định tâm lý Theo dõi sát sao những chuyển biến tâm lý của học sinh để kịp thời tư vấn, hỗ trợ

- Về phía nhà trường: Đưa vào nhà trường những chương trình giáo dục mang tính nhân văn xã hội, các hoạt động thân thiện, xây dựng văn hoá học đường, gia tăng yếu

tố dạy người trong giáo dục, phát triển nhân cách, chú trọng đến tình cảm đạo đức xã hội của học sinh Tích cực ngăn ngừa bạo lực qua các dấu hiệu tiền bạo lực Xử lý bạolực học đường cần xem xét đến nguyên nhân và tâm lý của học sinh, đối xử công bằng

và minh bạch

- Về phía xã hội: Có thể thấy những tác động của phim ảnh, sách báo, truyền thông, game, internet, chất gây nghiện… ảnh hưởng rất nhiều đến tâm sinh lý giới trẻ Lứa tuổi đang thích khám phá và muốn khẳng định mình nên việc cần làm là hạn chế mức ảnh hưởng của những vấn nạn trên đối với học sinh Xã hội cần có biện pháp ngăn ngừa bạo lực băng nhóm của thanh thiếu niên phát sinh khi bị ảnh hưởng của phim ảnh, trò chơi Nên hạn chế những tác động tiêu cực từ truyền thông đến môi trường học đường, đặc biệt vấn đề bạo lực Ngăn chặn và phòng ngừa bạo lực học đường là trách nhiệm của mỗi người và của toàn xã hội, và các thành viên trong nhà trường Trong đó, vấn đề là phải tạo ra môi trường giáo dục thân thiện Một khi không tạo ra được môi trường giáo dục, sinh sống lành mạnh thì bạo lực học đường vẫn còn chỗ sinh sôi diễn ra không với hình thức này thì hình thức khác, không lúc này thì lúc khác Do vậy cần có sự quan tâm đúng mức của các ngành, các giới với các cấp độ khác nhau, nhưng những người gần gũi với học sinh là những nhân tố quan trọng nhất

Trang 17

Câu 6/ Đ/c hiểu như thế nào cặp phạm trù tất nhiên - ngẫu nhiên? Liên hệ thực tiễn

* Khái niệm:

- Tất nhiên là phạm trù chỉ những cái do nguyên nhân chủ yếu, bên trong quyếtđịnh và trong những điều kiện nhất định nó nhất thiết phải xảy ra như thế chứ khôngthể khác

VD: Lúa trồng 90 ngày sẽ thu hoạch

- Ngẫu nhiên, là phạm trù chỉ những cái xảy ra do nguyên nhân bền ngoài quyđịnh Vì vậy, nó co thể xảy ra hoặc không xảy ra, có thể xảy ra dưới hình thức nàyhoặc hình thức khác

VD: Lúa trồng 90 ngày nhưng không thu hoạch được do mưa bão, hoặc do sâubệnh là hư hại

* Mối quan quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên:

- Tất nhiên bao giờ cũng được thể hiện qua các ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là

sự biểu hiện của tất nhiên trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

VD: Sự xuất hiện của những thiên tài trong lịch sử là tất nhiên nhưng nhữngthiên tài đó là ai thì là ngẫu nhiên, chưa biết

- Trong những mối quan hệ xác định, cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên có thể đổichỗ cho nhau Tức là xét trong mối quan hệ này là tất nhiên, nhưng xét trong mối quan

hệ khác lại là ngẫu nhiên Vì vậy, tránh thái độ cứng nhắc khi xem xét

VD: Trong xã hội nguyên thủy, con người tạo ra được những sản phẩm gì họđem trao đổi với nhau lúc đầu là ngẫu nhiên, về sau nó thành hình thức chủ yếu trong

xã hội thì nó trở thành cái tất nhiên

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Thứ nhất, trong hoạt động thực tiễn, khi định ra chủ trương, đường lối, mụctiêu hoạt động phải dựa trên cái tất nhiên Tránh tư tưởng chủ quan, tùy tiện

- Thứ hai, cái tất nhiên được thể hiện qua cái ngẫu nhiên, nên phải dự báo đượcnhững cái ngẫu nhiên để chủ động trong mọi tình huống; đồng thời chuẩn bị cácphương án, phương tiện đối phó với cái ngẫu nhiên, có kế hoạch dự phòng để hạn chếtác hại của cái ngẫu nhiên

VD: Để đảm bảo thực hiện kỳ thi hết môn đạt kết quả cao thì mỗi cá nhânchuẩn bị tốt mọi điều kiện như bài, tài liệu, tuy nhiên đến ngày thi có thể có tìnhhuống ngẫu nhiên như: trên đường đi xe hư, vào thi viết hết mực Vậy cần phải cóphương án dự phòng như: chủ động thời gian đến phòng thi, đi chung cùng bạn để khi

xe hỏng có thể đi nhờ, chuẩn bị nhiều viết, đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất hoàn thành

kỳ thi

Trang 18

Câu 7/ Đ/c hiểu như thế nào cặp phạm trù nội dung và hình thức?Liên hệ thực tiễn

- Hình thức, là phương thức biểu hiện của nội dung, là cách thức sắp xếp củanội dung

VD: Cuộc họp chi bộ bình thường, không có nghi thức chào cờ, quy định trangphục, các nội dung trên diễn ra theo trình tự

* Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức:

- Nội dung luôn quyết định hình thức Nó quyết định:

- Hình thức tác động trở lại nội dung:

+ Nếu hình thức phù hợp với nội dung sẽ làm phong phú, sâu sắc nội dung vàphát triển nội dung

VD: Nếu chương trình văn nghệ chào mừng Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10những nghệ sĩ mặc trang phục áo dài, áo bà ba hát những bài ca ngợi về mẹ, về ngườiphụ nữ Việt Nam thì sẽ làm tăng lên hình ảnh cao đẹp của người phụ nữ VN, anhhùng, BK, TH, ĐĐ

+ Nếu hình thức không phù hợp với nội dung sẽ kìm hãm, làm sai lệch hoặc phá

vỡ nội dung

VD: Nếu chương trình văn nghệ chào mừng Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10những nghệ sĩ mặc áo dây, quần ngắn hát những bài ca ngợi về mẹ, về người phụ nữViệt Nam thì sẽ gây phản cảm cho người xem

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Nội dung và hình thức là cái vốn có của sự vật, không được tuyệt đối hóa hoặcxem nhẹ yếu tố nào

VD: Trong công tác, khi tiếp xúc với người dân thì phải xem xét chu đáo Nếuđối tượng là nông dân thì trang phục phải đơn giản, nội dung bài nói phải cụ thể, dễhiểu và sử dụng ngôn từ gần gũi với đời sống người dân Nếu đối tượng là đồng bàotôn giáo thì hình thức và nội dung phải thật phù hợp

Trang 19

Câu 8: Đ/c hiểu như thế nào cặp phạm trù bản chất và hiện tượng? Liên hệ thực tiễn?

- Hiện tượng, là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất

VD: Bản chất bóc lột như: tăng ca, cải tiến máy móc tăng năng suất để bóc lộtgiá trị thặng dư trong sản xuất

* Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng:

+ Biến đổi thường xuyên

+ Bao giờ cũng phản ánh một mặt, một khía cạnh nào đó của bản chất

VD:

Chú ý: Hiện tượng phản ánh bản chất rất phức tạp:

- Điều kiện, hoàn cảnh, môi trường khác nhau dẫn đến hiện tượng khác nhau:VD: Các tên cướp, thì cướp ở miền núi, vùng sâu thì biểu hiện bên ngoài vàhành động đánh cướp hoàn toàn khác với cướp ở những vùng đô thị

- Có hiện tượng phản ánh bản chất khá trực tiếp, rõ ràng

VD: Người nóng tính khi bất đồng quan điểm sẽ không kìm chế được và bộcphát lập tức

- Có hiện tượng phản ánh bản chất một cách quanh co, phức tạp

VD: Tham nhũng, bòn rút của công bằng cách thông qua các hình thức đầu tư,sử dụng ngân sách Nhà nước, báo thua lỗ để trục lợi cho bản thân

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Nhận thức phải nắm được bản chất của sự vật Để nắm được bản chất của sựvật phải phân tích các hiện tượng một cách có hệ thống Phân tích các hiện tượng phảikhoa học và khách quan

VD: Muốn nắm được bản chất của vụ khiếu kiện đông người, vượt tuyến củangười dân xã A về đền bù giải phóng mặt bằng tuyến quốc lộ đi ngang địa bàn thì phải

Trang 20

phân tích, tìm hiểu các nguyên nhân cụ thể như: điều kiện canh tác của người dân,chính sách đền bù có thỏa đáng chưa, việc thực hiện đền bù như thế nào, việc khiếukiện là tự phát hay do xúi giục, ai xúi, ai chủ mưu,

- Muốn thay đổi bản chất phải có sự tác động đồng bộ, kiên trì:

VD: Đã xác định được bản chất của khiếu kiện đông người là do việc thực hiệnchính sách đền bù chưa phù hợp và một phần là do có đối tượng xấu cơ hội chống pháthì phải sử dụng nhiều biện pháp đấu tranh như: tuyên truyền, vận động thông quaMặt trận, các đoàn thể, chấn chỉnh việc thực thi chính sách, xử lý nghiêm sai phạm,lực lượng công an nắm chặt tình hình để có biện pháp đối phó với các phần tử cơhội,

Câu 9/ Đ/c hiểu như thế nào cặp phạm trù khả năng và hiện thực, liên hệ thực tiễn

- Hiện thực là phạm trù chỉ cái tồn tại, hiện có trong thế giới khách quan

VD: Kết thúc nhiệm kỳ 2010-2015, thu nhập bình quân đầu người huyện A đạt2.000 USD/năm là hiện thực

* Mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực:

- Mọi khả năng đều nằm trong hiện thực, có cơ sở là hiện thực, có thể trở thànhhiện thực khi có điều kiện

VD: Tốt nghiệp đại học loại giỏi sẽ tìm được việc làm thì có thu nhập cao, cócuộc sống ổn định thì lập gia đình thì sinh con,

- Hiện thực nào cũng chứa đựng các khả năng

VD: Có kiến thức thì sẽ có khả năng làm giàu

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Cần phải phát hiện khả năng, căn cứ vào khả năng để đề ra mục tiêu hànhđộng

VD: Huyện A có nhiều di tích lịch sử, chùa, vườn trái cây Vậy, có thể trongthời gian tới sẽ đầu tư phát triển du lịch sinh thái kết hợp du lịch tâm linh tại địaphương

- Phải phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong việc chuyển khả năng thànhhiện thực

VD: Để phát triển du lịch sinh thái, tâm linh trên địa bàn thì các cấp ủy đảng,chính quyền cần quan tâm đầu tư, tôn tạo, bảo tồn các di tích, phát triển các dịch vụ hỗ

Trang 21

trợ, tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức mọi người dân, đổi mới tư duy trong làm

du lịch, sáng tạo, thu hút du khách

Câu 10: Đ/c hãy phân tích quy luật chuyển hóa thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất( gọi tắt là QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT) ? Từ đó rút ra ý nghĩa pp luận Liên hệ thực tiễn?

Quy luật lượng-chất:

Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất yếu, phổ biến, lặp lại giữa các sự vật, hiệntượng, giữa các thuộc tính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một

sự vật

VD: Con người sinh ra, lớn lên và chết

* Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi

về chất và ngược lại:

- Khái niệm:

+ Chất: Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sựvật, hiện tượng; sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà khôngphải là sự vật khác

VD: Đồng, ở dạng rắn, dẫn điện, ký hiệu hóa học là Cu

- Mỗi sự vật có nhiều chất Tùy góc độ mà xem xét mà xác định chất của

sự vật

VD: Muối, muối ớt, muối tôm,

- Lượng: là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị đại lượng con số các thuộctính, các yếu tố cấu thành sự vật

VD: Hiện tượng chim di trú tập trung đến vài ngàn con, vậy vài ngàn con làlượng của hiện tượng chim di trú tập trung

=> Chú ý:

+ Lượng của sự vật, hiện tượng là khách quan+ Lượng của chất nhất định (lượng nào chất ấy)+ Lượng được biểu hiện bằng các con số hoặc các đại lượng; cũng có thểđược biểu thị dưới dạng trừu tượng, khái quát

Trang 22

VD: Việc tập hợp sức mạnh toàn dân tộc tiến hành thành công Cách mạngTháng Tám, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là sự chuyển biến về lượngdẫn đến thay đổi về chất.

* Nội dung quy luật:

- Mỗi sự vật đều có sự thống nhất giữa chất và lượng Lượng của sự vật luônthay đổi, nhưng không phải mọi sự thay đổi về lượng đều dẫn đến thay đổi về chất.Khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm cho chất của sự vật thay đổi gọi làđộ

+ Độ, là phạm trù triết học chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng; là khoảng giớihạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của

sự vật diễn ra

VD: Nước ở nhiệt độ bình thường là thể lỏng, nhưng nếu hạ nhiệt độ xuống 00Cnước sẽ chuyển từ thể lỏng sang thể rắn vậy khoảng từ 1 độC đến nhiệt độ bìnhthường gọi là độ

- Sự thay đổi về lượng của sự vật (tăng hoặc giảm) đến giới hạn nhất định sẽlàm cho chất của sự vật thay đổi Điểm giới hạn đó gọi là điểm nút

Bước nhảy dần dầnBước nhảy đột biến

- Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng (về quy mô, nhịpđiệu, tốc độ, ), lượng thay đổi đến giới hạn thì chất lại thay đổi, cứ như vậy làmcho sự vật không ngừng vận động, phát triển

VD:

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Muốn thay đổi chất của sự vật phải có sự thay đổi lượng Khi sự tích lũy vềlượng đã đủ thì cần thực hiện bước nhảy để thay đổi chất Vì vậy, trong hoạt độngthực tiễn cần chống hai khuynh hướng sau:

+ Một là tả khuynh, nghĩa là chủ quan, nóng vội, duy ý chí, chưa có sự tích lũyđầy đủ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy

Trang 23

VD: Trong chương trình xây dựng Nông thôn mới, địa phương chưa thật sự đạtđược toàn vẹn các tiêu chí theo bộ tiêu chí quốc gia mà muốn đạt được chuẩn Nôngthôn mới.

+ Hai là, hữu khuynh, là tư tưởng bảo thủ, trì trệ ngại khó, sự tích lũy vềlượng đã đủ nhưng không thực hiện bước nhảy để sự vật thay đổi về chất

VD: Cán bộ đã được đào tạo về thực hiện thủ tục hồ sơ trực tuyến nhưng không

áp dụng tại đơn vị vì sợ sai sót

+ Trong thực tế, muốn giữa cho sự vật còn là nó thì nắm giữ giới hạn độ, giữcho sự thay đổi về lượng không vượt quá giới hạn độ

VD: Trong công tác đối với từng vị trí có chức năng vai trò và thẩm quyền đãđược quy định đây là “độ” trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải nắm chặt không đểvượt qua giới hạn, nếu vượt qua sẽ yếu kém và xảy ra sai phạm

Câu 11/ Đ/c hãy trình bày QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP (QUY LUẠT MÂU THUẪN), PP luận , liên hệ thực tiễn

+ Thống nhất của các mặt đối lập: được hiểu theo ba nghĩa:

++ Các mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặtnày thì không có mặt kia và ngược lại Ví dụ: Một người nào đó, chỉ được gọi là ôngchủ khi có người làm thuê cho ông ta; còn người được gọi là Người làm thuê, khi cómột ông chù nào đó thuê anh ta

++ Các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau Ví dụ: Trongthời kì quá độ từ CNTB lên CNXH, thì CNXH chưa thắng thế hoàn toàn, CNTB cũngchưa thất bại hoàn toàn

++ Giữa hai mặt đối lập có điểm chung nhau, tương đồng nhau Ví dụ:giữa người bán hàng với người mua hàng, mặc dù đối lập nhau nhưng họ đều có điểmchung là thỏa mãn nhu cầu của mình (đối với Người bán: đó là bán được hàng, đối vớiNgười mua: đó là mua được hàng)

+ Đấu tranh của các mặt đối lập, là sự phủ định, bài trừ nhau hay sự triển khaicủa các mặt đối lập

- Phân loại mâu thuẫn:

+ Mâu thuẫn bên trong và bên ngoài

Trang 24

Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật.

Mâu thuẫn này giữ vai trò quyết định, là nguồn gốc cho mọi sự vận động và phát triển.

Ví dụ: Đồng hóa và dị hóa bên trong một cơ thể sống.

Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau, giữ

vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật, hiện tượng.

Ví dụ: giữa nước này với nước khác, sự vật này với sự vật khác.

+ Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quyết định sự

hình thành và phát triển của sự vật.

Ví dụ: Ở nước ta, giai đoạn 1954 nổi lên 2 mâu thuẫn là mâu thuẫn giữa dân tộc

Việt Nam với đế quốc và mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân  đây là mâu thuẫn cơbản trong giai đoạn này

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó

của sự vật, quy đinh sự vận động và phát triển một mặt nào đó của sự vật.

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa tư sản với vô sản, giữa nông dân với nông dân, trí thức

với tư sản

+ Mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển

nhất định của sự vật, có tác dụng quyết định đối với những mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn đó.

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp là mâu thuẫn chủ yếu

trong giai đoạn Pháp thuộc

Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không giữ vai trò quyết định sự vận động,

phát triển của sự vật trong giai đoạn đó, bị quyết định bởi mâu thuẫn chủ yếu.

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân là mâu thuẫn thứ yếu không phải là

cấp bách cần giải quyết lúc ấy

+ Mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người, xu

hướng xã hội có đối lâp về lợi ích cơ bản.

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ, giữa tư sản và vô sản

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, xu hướng xã

hội có đối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời.

Ví dụ: Giữa lao động trí óc và lao động chân tay; giữa nông thôn và thành thị

* Nội dung quy luật:

- Mỗi sự vật, hiện tượng đều gồm những mặt có thuộc tính, những khuynhhướng biến đổi trái ngược nhau Hai mặt đối lập hiên hệ với nhau hợp thành một mẫuthuẫn Hai mặt của mâu thuẫn vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau

- Khi hai mặt đối lập thống nhất với nhau thì mâu thuẫn chưa gay gắt Nhưng

xu hướng của hai mặt đối lập là đấu tranh với nhau Vì vậy, đến một thời điểm nhấtđịnh cả hai mặt đều biến đổi Khi mâu thuẩn được giải quyết, sự vật không còn là nó

mà biến đổi, phát triển thành sự vật mới, mâu thuẫn mới lại xuất hiện, lại được giảiquyết Cứ như vậy, sự vật vận động, phát triển

* Ý nghĩa phương pháp luận:

Trang 25

- Mâu thuẫn tồn tại khách quan, là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của

mọi sự vật, hiện tượng Vì vậy, không nên né tránh mâu thuẫn Ví dụ: Trong xã hội

loài người không ngừng phát triển là do con người không ngừng giải quyết các mâuthuẫn nảy sinh trong từng giai đoạn lịch sử

- Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến, đa dạng Do đó, phải phân loại mâu thuẫnmột cách cụ thể, xác định đâu là mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu để lựa chọn phương pháp,phương tiện và lực lượng phù hợp giải quyết mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển

Ví dụ: Cuộc đấu tranh chống tiêu cực hiện nay thực chất là cuộc đấu tranh để

giải quyết những mâu thuẫn giữa các mặt, yếu tố tích cực, cách mạng và khoa học vớinhững mặt, những yếu tố, những nhân tố tiêu cực, phản cách mạng, không khoa họcnhằm đem lại thắng lợi cho cái tích cực Qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội ViệtNam theo mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

* Liên hệ thực tiễn:

- Sự vận dụng quy luật này trong hoạt động thực tiễn ở địa phương rất phổ biến,cụ thể nhất đó là trong công tác tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên cần ápdụng tốt quy luật này để tìm ra các sai, cái hạn chế, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục vàtiến tới sự phát triển mới

- Đối với hoạt động của Mặt trận và các hội đoàn thể cần nghiên cứu vận dụngtốt quy luật này, nhất là trong công tác vận động, hòa giải

VD: Mâu thuẫn xảy ra trong gia đình khiến vợ chồng xin ly hôn, trước hết tổ

hòa giải cần xác định đâu là mâu thuẫn cơ bản, nếu xuất phát từ người chồng, hoặc từngười vợ thì chọn lực lượng làm công tác hòa giải phù hợp, phương pháp, phương tiệnthích hợp để giải quyết mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển theo hướng tích cực hơn

Câu 12/ Đ/c hãy trình bày QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH, từ

đó rút ra ý nghĩa PP luận của QL, liên hệ thực tiễn.

- Khái niệm:

+ Phủ định, là khái niệm chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quátrình vận động và phát triển

VD: Hạt lúa nảy mầm thành cây lúa

+ Phủ định siêu hình: là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đềcho sự phát triển tiếp theo, không tạo cho cái mới ra đời Nguyên nhân là sự tác động

từ bên ngoài

VD: Hạt lúa bị tách vỏ thành hạt gạo

+ Phủ định biện chứng, là phạm trù chỉ sự phủ định tạo tiền đề cho sự phát triểntiếp theo của sự vật, cho cái mới ra đời thay thế cho cái cũ Nguyên nhân là do sự tácđộng giữa các mặt đối lập bên trong bản thân sự vật

VD: Hạt lúa nảy mầm thành cây lúa, phát triển cho ra bông lúa

++ Đặc điểm của phủ định biện chứng:

Trang 26

Thứ nhất, mang tính khách quan, tức là sự vật tự phủ định Đó là kết quả giảiquyết mâu thuẫn bên trong của sự vật.

Thứ hai, mang tính phổ biến, tức là tồn tại trong cả trong tự nhiên, xã hội, tưduy

Thứ ba, mang tính kế thừa, tức là có sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới, khôngphủ định sạch trơn, hoàn toàn cái cũ, mà lọc bỏ những cái cũ không còn phù hợp, kếthừa những yếu tố còn phù hợp và chuyển và sự vật mới

* Nội dung quy luật:

Phủ định của phủ định nói lên rằng ít nhất qua hai lần phủ định biện chứng, sựvật dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn

Phủ định của phủ định có đầy đủ các tính chất của phủ định biện chứng nhưng

có thêm tính chu kỳ

- Tính chu kỳ của phủ định: nghĩa là từ một điểm xuất phát ban đầu, qua một sốlần phủ định sự vật dường như quay lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sở caohơn Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình Saunhững lần phủ định tiếp theo, đến một lúc nào đó sẽ ra đời sự vật mới mang nhiều đặctrưng giống với sự vật ban đầu (xuất phát) Như vậy, về hình thức là trở lại cái banđầu song không phải giống nguyên như cũ, dường như lặp lại cái cũ nhưng cao hơn.Điểm xuất phát → Khâu trung gian → Kết thúc chu kỳ

VD: Từ hạt lúa ngâm nước thì hạt lúa nẩy mầm, chồi, thân, bông và cuối cùng khôi phục khâu trung gian, khâu xuất phát khẳng định được khôi phục lại nhưng cao hơn là thành bông lúa.

Phủ định của phủ định đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ vận động, phát triển của

sự vật, hiện tượng đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ vận động, phát triểnmới tiếp theo

Do đó: Không có cái gì cũ hoàn toàn

Không có cái gì mới vĩnh viễn

Tuy nhiên, ta không nên hiểu một cách máy móc, giản đơn rằng bất kỳ sự vật,hiện tượng nào cũng phải trải qua hai lần phủ định thì hoàn thành một chu kỳ pháttriển Trong thực tế, có sự vật, hiện tượng phải trải qua ba, bốn và hơn nữa số lần phủđịnh biện chứng mới kết thúc một chu kỳ Ví dụ: muỗi - trứng muỗi - bọ gậy - cungquăng - muỗi Nhờ tính chu kỳ này mà sự vật có khuynh hướng phát triển theo đườngxoáy ốc đi lên

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Quy luật phủ định của phủ định cho ta cơ sở để hiểu được sự ra đời của cái mới Do vậy, trong hoạt động thực tiễn phải biết ủng hộ cái mới, hợp quy luật Trên

cơ sở kế thừa một cách sàn lọc cái cũ, chống thái độ hư vô chủ nghĩa bảo thủ khư khư

ôm lấy những gì đã lạc hậu, lỗi thời, không chịu đổi mới để phù hợp với thực tiễn mới.

- Phải hiểu phát triển không phải là theo con đường thẳng mà theo đường xoáy

ốc đi lên Nghĩa là có nhiều tình huống khó khăn, phức tạp trong quá trình vận động,

Trang 27

phát triển Trong những tình huống đó phải biết lạc quan, tin tưởng vào xu thế phát triển của cái mới, hợp quy luật.

Ví dụ: trong thời kỳ đổi mới hiện nay ở Việt Nam :

Tại Đại hội IX Đảng cộng sản VN khẳng định (trang 84 Văn kiện Đại hội) : Conđường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tưbản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiếntrúc thượng tầng Tư bản chủ nghĩa Nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhânloại đã đạt được dưới chế độ Tư bản chủ nghĩa Đặc biệt là về khoa học và công nghệ

để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

- Thực chất công cuộc đổi mới theo Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá trìnhthực hiện sự phủ định xã hội cũ Một mặt phải phủ định điểm xuất phát là một nướctiểu nông, mặt khác phải thực hiện việc bỏ qua con đường phát triển Tư bản chủnghĩa

- Ý nghĩa nội dung của bỏ qua Tư bản chủ nghĩa thể hiện chúng ta bỏ qua việcxác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Tư bản chủnghĩa, chứ không vứt bỏ tất cả kinh tế thị trường hoặc những đặc điểm tích cực của Tưbản chủ nghĩa Chúng ta bỏ qua chế độ kinh tế chính trị xã hội của một chế độ áp bứcbất công đối với con người Sự bỏ qua ấy được thực hiện bằng các bước đi nhằm rútngắn so với sự phát triển tuần tự, bình thường và cũng là so với con đường đau khổ

mà xã hội loài người từng trải qua trong giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa

Câu 13: Đ/c hãy phân tích câu nói của Lê-Nin từ trực quan đến tư duy trừu tượng

và từ trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân

lý ? Dựa vào 2 giai đoạn nhận thức để làm rõ câu nói trên?

Trong tác phẩm Bút ký triết học, V.I.Lênin đã khái quát con đường biện chứngcủa sự nhận thức chân lý như sau: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ

tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân

lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan

Theo câu nói khái quát này, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý làmột quá trình, đó là quá trình bắt đầu từ trực quan sinh động tiến đến tư duy trừutượng Nhưng những sự trừu tượng đó không phải là điểm cuối cùng của một chu kỳnhận thức mà nhận thức phải tiếp tục tiến tới thực tiễn Chính trong thực tiễn mà nhậnthức có thể kiểm tra và chứng minh tính đúng đắn của nó và tiếp tục vòng khâu tiếptheo của quá trình nhận thức Đây cũng chính là qui luật chung của quá trình conngười nhận thức về hiện thực khách quan

* Giai đoạn từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng: Trực quan sinh động

là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn nhận thức mà con ngườitrong hoạt động thực tiễn sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh các sự vậtkhách quan, mang tính chất cụ thể, cảm tính với những biểu hiện phong phú của nótrong mối quan hệ với sự quan sát của con người Do vậy, ở giai đoạn này, con ngườimới chỉ phản ánh được cái hiện tượng, cái biểu hiện bên ngoài của sự vật cụ thể, cảmtính trong hiện thực khách quan mà chưa phản ánh được cái bản chất, qui luật, nguyênnhân của những hiện tượng quan sát được, do đó, đây chính là giai đoạn thấp của quátrình nhận thức Trong giai đoạn này nhận thức được thực hiện qua ba hình thức cơbản là: cảm giác, tri giác, biểu tượng

Trang 28

- Cảm giác là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực khách quan Sự vậthiện tượng tác động vào các giác quan, gây nên sự kích thích của các tế bào thần kinhlàm xuất hiện các cảm giác Cảm giác là sự phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của sựvật, hiện tượng như màu sắc, mùi vị,

Ví dụ: Chúng ta cảm nhận được nước đá thì lạnh, lửa thì nóng

- Tri giác là hình thức kế tiếp sau cảm giác Tri giác là sự phản ánh nhiều thuộctính của sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ giữa chúng với nhau Tri giác được hìnhthành từ nhiều cảm giác kết hợp lại Tri giác cũng là sự phản ánh trực tiếp các sự vật,hiện tượng thông qua các giác quan của con người

Ví dụ: thấy cảnh nghèo khổ, thiên tai biết xót thương

- Biểu tượng là hình thức cao nhất của trực quan sinh động Biểu tượng xuấthiện trên cơ sở những hiểu biết về sự vật do tri giác đem lại Biểu tượng là hình ảnhđược lưu giữ trong chủ thể, khi không còn sự vật hiện tượng hiện diện trực tiếp trướcchủ thể Ở đây biểu tượng đã ít nhiều mang tính gián tiếp cho nên nó là khâu trunggian giữa trực quan sinh động và tư duy trừu tượng

* Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhậnthức, bao gồm các hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán và suy lý

+ Khái niệm là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng Nó phản ánh, kháiquát những đặc tính cơ bản và phổ biến của một lớp sự vật, hiện tượng nhất định

+ Phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm theo một qui tắc xác định màchúng ta có thể xác định được trị số logic của nó

Ví dụ: Nhôm là kim loại.

Nhôm là chủ từ,Kim loại là vị từ,

lý tính thì nhận thức lý tính, nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được bảnchất, qui luật vận động và phát triển sinh động của sự vật, giúp cho nhận thức cảmtính có được sự định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn

Tuy nhiên, nếu dừng lại ở nhận thức lý tính thì con người chỉ mới có đượcnhững tri thức về đối tượng, còn bản thân những tri thức đó có thật sự chính xác haykhông thì con người vẫn chưa thể biết được Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải xácđịnh xem những tri thức đó có chân thực hay không Để thực hiện điều này thì nhậnthức nhất thiết phải trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn, làm thước đotính chân thực của những tri thức đã đạt được trong quá trình nhận thức Mặt khác,

Trang 29

mọi nhận thức, suy cho đến cùng đều là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và trở lại phụcvụ thực tiễn.

Như vậy, có thể thấy qui luật chung của quá trình vận động, phát triển của nhậnthức chính là: từ thực tiễn đến nhận thức – tái thực tiễn – tái nhận thức - … Quá trìnhnày không có điểm dừng cuối cùng, nhờ đó mà quá trình nhận thức đạt dần tới nhữngtri thức ngày càng đúng đắn hơn, đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về thực tại khách quan.Đây cũng chính là quan điểm về tính tương đối của nhận thức của con người trong quátrình phản ánh thực tại khách quan Qui luật chung của sự nhận thức cũng là một sựbiểu hiện cụ thể, sinh động của những qui luật chung trong phép biện chứng duy vật

Sự vận động của qui luật chung trong quá trình vận động, phát triển nhận thức chính

là quá trình con người, loài người ngày càng tiến dần đến chân lý

Câu 14/ Đ/c hãy phân tích biện chứng của LL SX và quan hệ SX? Liên hệ sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay?

1 KN phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức mà con người tạo ra của cải vật chất cho

xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Theo cách đó, con người có nhữngquan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau trong sản xuất Hay nói cách khác,phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa hai mặt đó là lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất

- Lực lượng sản xuất: là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu SX

(tự nhiên) và được tổng hợp giữa tư liệu lao động và đối tượng lđ, (trong đó TLLĐđược tổng hợp từ công cụ LĐ với đối tượng LĐ)

+ Đối tượng LĐ: là tất cả những gì mà khi có con người tác động đến cácphương tiện vật chất khác sẽ tạo thành của cải vật chất

+ Phương tiện vật chất: là tất cả những phương tiện phục vụ cho quá trình SXvật chất

+ CCLĐ: là cánh tay nối dài của người LĐ đến ĐTLĐ, là nơi mà con ngườichuyển thao tác của mình vào ĐTLĐ

+ Người LĐ đóng vai trò quyết định chủ thể sử dụng CCLĐ tác động đến đốitượng LĐ nhằm tạo ra của cải vật chất

+ Trình độ LLSX: thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người từ thấpđến cao

+ Tính chất của LLSX thể hiện ở tính cá nhân (thể hiện trình độ LĐ thấp nhấtcủa con người), tính XH( nhiều người tg vào sx tạo ra 1 sp)và tính Quốc tế

- Quan hệ SX: là quan hệ giữa người với người trong sở hữu TLSX, trong tổ

chức quản lý SX, phân phối sp làm ra

+ Quan hệ sở hữu TLSX là cơ sở phân chia XH loài người thành những nhómngười và quyết định mục đích sx

+ Quan hệ tổ chức quản lý có vai trò thúc đẩy nền sx xh hoặc kiềm hãm tất cảnền sx xh

Trang 30

+ Quan hệ phân phối là mối quan hệ giữa người với người trong phân phối sp,nâng cao hoặc kiềm hãm, triệt tiêu tắnh sang tạo của con người.

Nội dung quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX:

- Biện chứng giữa LLSX với QHSX là mối quan hệ khách quan, vốn có của mọiquá trình sản xuất vật chất Hay nói cách khác, để tiến hành sản xuất vật chất conngười phải thực hiện mối quan hệ ỘđôiỢ, quan hệ ỘképỢ, quan hệ song trùng này.Thiếu một trong hai quan hệ đó, quá trình sản xuất vật chất không được thực hiện

- Trong mối quan hệ giữa LLSX và QHSX thì LLSX giữ vai trò quyết định.Khuynh hướng chung của sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều tiền bộ

Sự biến đổi đó, xét đến cùng, bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của lựclượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động Do đó, trong một phương thức sản xuất,LLSX bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Hay nói cách khác, QHSX phải phù hợpvới trình độ phát triển của LLSX

- Sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là một trạng thái màtrong đó QHSX là Ộ hình thức phát triểnỢ tất yếu của LLSX Nghĩa là trạng thái mà ở

đó QHSX, các yếu tố cầu thành của nó Ộ tạo địa bàn đầy đủỢ cho LLSX phát triển.Nhý vậy, trong tạng thái phù hợp, cả ba mặt của QHSX đạt tới thắch ứng với trình độphát triển của LLSX, tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao độngsản xuất với tư liệu sản xuất Sự phù hợp đó biểu hiện rõ rệt ra kết quả LLSX pháttriển, kinh tế phát triển, phát huy được mọi năng lực sản xuất và năng suất lao độngcao

- Sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là sự phù hợp biệnchứng, sự phù hợp bao hàm mâu thuẫn Đây là sự phù hợp giữa một yếu tố động(LLSX luôn luôn biến đổi) với một yếu tố mang tắnh tương đối hơn (QHSX ổn địnhhơn, ắt biến đổi hơn)

- Sự không phù hợp xuất phát từ chỗ QHSX thắch ứng với sự phát triển củaLLSX, nhưng do LLSX luôn luôn biến đổi, phát triển, lại trở thành xiềng xắch, kìmhãm sự phát triển của LLSX

- Sự phù hợp - không phù hợp - phù hợp là biểu hiện khách quan của quá trìnhtương tác giữa LLSX và QHSX của mọi phương thức sản xuất trong lịch sử

- Giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX cũng không phải chỉ bằng cáchduy nhất là xóa bỏ QHSX cũ , thiết lập QHSX mới Giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX

và QHSX là một quá trình, mà biện pháp thường xuyên là đổi mới, cải cách điềuchỉnh QHSX trước mỗi sự phát triển của trình độ LLSX Dĩ nhiên cải cách, điều chỉnhQHSX bao giời cũng có giới hạn của nó Khi mâu thuẫn giữa QHSX và LLSX đã trởnên gay gắt không thể giải quyết thông qua biện pháp cải cách, điều chỉnh được nữa,thì tất yếu phải xóa bỏ QHSX cũ, thiết lập QHSX mới cho phù hợp với sự phát triểncủa LLSX

* Sự tác động trở lại của QHSX đối với sự phát triển LLSX:

- QHSX được xây dựng trên cơ sở trình độ phát triển của LLSX, do LLSXquyết định Nhưng sau khi được xác lập nó có sự tác động trở lại sự phát triển củaLLSX

- QHSX quy định mục đắch của sản xuất, quy định tổ chức, quản lý sản xuất và tácđộng trực tiếp vào lợi ắch của các bên tham gia SX, lợi ắch của người lao động, của

Trang 31

chủ đầu tư, của XH, từ đó hình thành hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển của LLSX

- Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nó sẽ tạo địa bàn cho

sự phát triển LLSX, trở thành một trong những động lực thúc đẩyLLSX phát triển.ngược lại không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại cả LLSX

- Tác động theo chiều hướng tích cực của QHSX đối với sự phát triển LLSX chỉ

có ý nghĩa tương đối QHSX không phù hợp với LLSX sớm muộn gì cuối cùng cũngđược chỉnh sửa, điều chỉnh hoặc thay thế bằng một QHSX phù hợp đó lá xu thế tấtyếu của sự phát triển SX, sự phát triển kinh tế, mà không một gia cấp nào, một chủ thểnào có thể cưỡng lại được

Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển LLSX ở VN:

Chủ trương xây dựng sớm một nền kinh tế XHCN thuần nhất với hai hình thứcsở hữu tập thể và nhà nước trong khi trình độ LLSX còn thấp kém và phát triển khôngđồng đều là mộ chủ trương nóng vội, chủ quan duy ý chí Đó không phải là sự vậndụng một cách sáng tạo quy luật - như có thời kỳ chúng ta vẫn lầm tưởng - mà là viphạm quy luật, làm trái quy luật

Từ những lệch lạc trong nhận thức đã dẫn tới những sai lầm trong thực tiễn, cụ thể:

- Một là, xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về TLSX một cách ồ ạt, trong khi chế độ

đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển LLSX;

- Hai là, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách tràn lan, trongkhi trình độ LLSX còn thấp kém và phát triển không đồng đều

Trong xây dựng quan hệ sản xuất mới, QHSX XHCN, về thực chất chúng ta mới xáclập được chế độ sở hữu, còn tính chất quản lý và phân phối như thế nào cho phù hợpvới chế độ sở hữu đó còn rất nhiều hạn chế Sự tồn tại trong một thời gian khá dàiQHXS thiếu đồng bộ đó cũng là một hạn chế, một lệch lạc cần phải khắc phục

Những lệch lạc, sai lầm chủ quan đó đã đẩy nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng trìtrệ, khủng hoảng Ý thức được điều đó, trong đổi mới đảng ta đã chủ trương chuyển từmột nền kinh tế thuần nhất XHCN sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướngXHCN

Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là sự vận dụngmột cách đúng đắn và sáng tạo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển LLSX.Chủ trương trước hết là bắt nguồn từ thực trạng trình độ phát triển LLSX còn thấpkém và phát triển không đồng đều Trình độ LLSX ở các vùng khác nhau, nhữngngành khác nhau là khác nhau Để khai thác phát huy được mọi năng lực LLSX đóphải tạo lập nhiều loại hình QHSX thì mới phù hợp

Hiện nay nền kinh tế nước ta- như đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ ra

có 5 thành phần: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân( cá thể, tiểu chủ, tưbản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thànhphần kinh tế hoạt động theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranhlành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng đểnhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo nên môi trường và điều kiện thúcđẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển

Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độ pháttriển của LLSX trong thời kỳ đổi mới đã làm cho nền kinh tế nước ta có những bước

Trang 32

phát triển vượt bậc Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo đà cho sự pháttriển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.

Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật cơ bảncủa mọi nền kinh tế Việc nhận thức đúng và vận dụng một cách sáng tạo quy luật này

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN

Trong đường lối đổi mới, Đảng ta đã quan niệm một cách đúng đắn về sự pháttriển “bỏ qua” Đó lá “ bỏ qua” chế độ chính trị TBCN, “ bỏ qua”QHSX TBCN với tưcách là quan hệ sản xuất thống trị nền kinh tế trên cơ sở tư duy mới đó của Đảng,công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.Thứ hai là phát huy vai trò nhân tố chủ quan, khai thác triệt để những điều kiện kháchquan, để đưa đất nước đi lên CNXH “ bỏ qua” chế độ TBCN

Chính quyền đã nằm trong tay nhân dân lao động và ĐCS đã khẳng định được vị thếlãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước là tiền đề chính trị hết sức quan trọng để đưađất nước đi lên CNXH “bỏ qua” chế độ TBCN Để phát huy điều kiện này trong đổimới Đảng ta đang tiến hành tự đổi mới: nâng cao tầm trí tuệ của Đảng, xây dựng vàchỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đồng thới vớinhiệm vụi then chốt đó, chúng ta đang đổi mới một cách căn bản tổ chức và phươngthức hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhànước XHCN

Những khẳng định khách quan cho sự phát triển “ bỏ qua” chế độ TBCN của nước ta:

- Một là, LLSX của thời đại đã mang tính chất quốc tế hóa ngày càng cao, toàncầu hóa đang là xu thế tất yếu khách quan Do đó, bằng những chủ trương, chính sáchđúng đắn, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta tranh thủ đượcnhững LLSX hiện đại làm cơ sở vật chất cho CNXH

- Hai là, chúng ta có khả năng khai thác, sử dụng thành phần kinh tế tư bản nhưmột khâu trung gian để chuyển nền sản xuất nhỏ lên CNXH

Trong đường lối đổi mới Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển theo xu hướng phát triển củaLLSX ngày càng hiện đại và với nổ lực chủ quan của Đảng, Nhà nước và nhân dân,chúng ta sẽ khẳng định được trong thực tế vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhànước

Hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế nhiếu thành phần là điều kiệnkinh tế cơ bản, tạo ra rất nhiều thời cơ để đưa đất nước đi lên CNXH “ bỏ qua”chế độTBCN Nhưng cùng với những thời cơ, cũng xuất hiện nhiều nguy cơ chệch hướngXHCN Chính vì vậy việc phát huy vai trò của nhân tố chủ quan, của Đảng, Nhà nước

và nhân dân để chớp thời cơ và vượt qua nguy cơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình

độ phát triển của LLSX trong thời kỳ đổi mới đã làm cho nền kinh tế nước ta cónhững bước phát triển vượt bậc nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo đàcho sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

Câu 15/ Dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử hãy làm rõ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng liên hệ sự vận dụng của Đảng ta? (trang 69 SGK)

1 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

a) Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Trang 33

Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế

của một xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng hình thành một cách khách quan trong quátrình sản xuất vật chất của xã hội

Kết cấu cơ sở hạ tầng của một xã hội thông thường được cấu thành bởi quan hệsản xuất tàn dư của xã hội cũ, quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội ấy và quan hệsản xuất mầm mống của xã hội tương lai Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệsản xuất đó, trong đó quan hệ sản xuất thống trị là quan hệ sản xuất chi phối các quan

hệ sản xuất khác Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất khác cũng có vai trò nhất định

Như vậy: Cần phân biệt thuật ngữ cơ sở hạ tầng (hay cơ sở kinh tế) này với tư

cách là phạm trù triết học với thuật ngữ cơ sở hạng tầng thường sử dụng, đó là cơ sởvật chất, kết cấu hạ tầng trong đời sống như điện, đường, trường, trạm chúng chủyếu sử dụng là nền tảng cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và nó thuầntúy là vật chất hữu hình

VD: cơ sở hạ tầng của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiệnnay là một kết cấu kinh tế nhiều thành phần (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế

tư nhân tư bản, ) trong đó thành phần ,kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kết cấu

đó được xác lập trên cơ sở hệ thống ba loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất, sở hữutoàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, sở hữu tập thể của những người lao động, sởhữu tư nhân với nhiều hình thức cụ thể khác nhau; trên cơ sở đó, hình thành nên nhiềuhình thức tổ chức kinh doanh đan xen hỗn hợp với nhiều loại hình phân phối đa dạng

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết

học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật với những thể chế tương ứng (nhà nước, đảng phái,giáo hội, các đoàn thể, ) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định

Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận độngphát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hìnhthành trên cơ sở hạ tầng Mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạtầng Có những yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng,còn những yếu tố như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó.Theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì trong xã hội có giai cấp, nhà nước - cơ quan quyền lựccủa một giai cấp – có vai trò đặc biệt quan trọng trong kiến trúc thượng tầng, tiêu biểucho chế độ chính trị hiện tồn Chính nhờ có nhà nước mà gián tiếp giai cấp thống trị

“gán” được cho xã hội hệ tư tưởng của mình Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội

có đối kháng giai cấp, ngoài bộ phận chủ yếu đóng vai trò là công cụ của giai cấpthống trị, còn có những yếu tố đối lập với bộ phận đó Đó là những điểm, tư tưởng,những tổ chức chính trị của các giai cấp bị trị

b) Mối quan quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trongmột hình thái kinh tế - xã hội

- Trong sự tác động biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.

C Mác viết: “Toàn bộ những quan hệ xã hội ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xãhội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và

Trang 34

chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thựcđó”.

+ Phân tích vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng ta thấy:

 Tương ứng với một cơ sở hạ tầng nhất định tất yếu sẽ sản sinh một kiếntrúc thượng tầng phù hợp với nó, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó

Ví dụ, tương ứng với cơ sở hạ tầng căn bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư

bản chủ nghĩa thì đương nhiên sẽ tồn tại quyền lực thống trị của giai cấp tư sản đối vớinhà nước trong kiến trúc thượng tầng

 Sự biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sựbiến đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng Quá trình đó không chỉ diễn ra trong giaiđoạn chuyển tiếp có tính chất cách mạng của các chế độ xã hội, mà còn được thựchiện ngay trong bản thân một hình thái kinh tế - xã hội

Ví dụ, Ở các nước Tư bản chủ nghĩa ở thế kỷ XIX sở hữu tư liệu sản xuất là sở

hữu nhà nước tư bản (độc quyền nhà nước) sang thế kỷ XX là sở hữu tư bản tư nhân

đã dần làm thay đổi kiến trúc thượng tầng từ chủ nghĩa đế quốc (độc quyền) sang tưbản kinh tế thị trường như hiện nay

 Cơ sở hạ tầng quy định tính chất của kiến trúc thượng tầng Nói cáchkhác, tính chất xã hội, giai cấp của kiến trúc thượng tầng phản ánh tính chất xã hội,giai cấp của cơ sở hạ tầng Do đó mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được phản ánh thànhmâu thuẫn trong hệ thống kiến trúc thượng tầng

Ví dụ: sự đấu tranh trong lĩnh vực ý thức hệ xã hội và những xung đột lợi ích

chính trị - xã hội có nguyên nhân sâu xa từ mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi íchtrong cơ sở kinh tế của xã hội Từ đó ta thấy giai cấp nắm giữ quyền sở hữu tư liệu sảnxuất của xã hội đồng thời cũng là giai cấp nắm được quyền lực nhà nước trong kiếntrúc thượng tầng còn các giai cấp và tầng lớp xã hội khác ở vào địa vị phụ thuộc đốivới quyền lực nhà nước Các chính sách và pháp luật của nhà nước, suy đến cùng chỉ

là phản ánh nhu cầu thống trị về kinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những tưliệu sản xuât chủ yếu của xã hội

+ Từ các phân tích trên cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là do:

 Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng cónguyên nhân từ tính tất yếu kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội,dù đó là lĩnh vực thực tiễn chính trị, pháp luật, hay lĩnh vực sinh hoạt tinh thần của

xã hội Tính tất yếu kinh tế lại phụ thuộc vào tính tất yếu của nhu cầu duy trì và pháttriển các lực lượng sản xuất khách quan của xã hội

 Mặt khác, bản chất của cơ sở hạ tầng là các lĩnh vực như quan hệ kinh tế

- tức quan hệ vật chất của xã hội; còn bản chất của kiến trúc thượng tầng thuộc lĩnhvực ý thức xã hội (các thiết chế chính trị - xã hội được thiết lập trực tiếp từ nhữngquan điểm chính trị - xã hội)

- Kiến trúc thượng tầng cũng có tính độc lập tương đối, có quy luật vận động riêng của nó trong sự phát triển Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở

hạ tầng không giản đơn và thụ động Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận

Trang 35

của kiến trúc thượng tầng cũng có ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động và phát triểncủa kiến trúc thượng tầng.

Ví dụ: như các mâu thuẫn trong các đời sống văn hóa (nghệ thuật, giải trí may

mặc…) trước và sau khi hội nhập kinh tế thế giới đã có sự khác biệt khá rõ nét nếuchúng ta không tỉnh táo để có những biện pháp tích cực thì sẽ dễ dẫn đến mâu thuẫntrong các lĩnh vực của cơ sở hạ tầng nhất các ngành sản xuất

- Hơn nữa, kiến trúc thượng tầng còn có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều có sự tác động trở lại đối với cơ sở

hạ tầng Những bộ phận đó tác động đến cơ sở hạ tầng ở những mức độ khác nhaubằng nhiều hình thức khác nhau, theo những cơ chế khác nhau Trong đó, nhà nướcgiữ vai trò đặc biệt quan trọng Tuy là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhưngnhà nước là một lực lượng vật chất có sức mạnh kinh tế Nói về điều đó Ph.Ăngghenviết: “Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước) – cũng là một sức mạnh kinh tế”

Ví dụ, tác động của thiết chế pháp luật thường là trực tiếp và mạnh mẽ nhất như

khi ban hành một Luật mới thậm chí sửa đổi Luật hiện hành cũng là ảnh hưởng trựctiếp đến đời sống kinh tế xã hội, còn các thiết chế tôn giáo thường biểu hiện gián tiếp

và mờ nhạt hơn như công nhận một tôn giáo mới cũng chỉ ảnh hưởng đến một bộ phậndân cư chứ không toàn thể xã hội được

- Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng theo hai hướng:

Một là, sự tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩykinh tế, cơ sở hạ tầng phát triển

Hai là, ngược lại sự tác động không phù hợp với các quy luật kinh tế kháchquan sẽ kiềm hãm sự phát triển kinh tế, thậm chí đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạngkhủng hoảng

Như vậy, sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở kinh tế rất

to lớn, nhưng nếu tuyệt đối hóa vai trò của kiến trúc thượng tầng một cách chủ quan,duy ý chí sẽ dẫn đến những sai lầm gây hậu quả đối với sự phát triển kinh tế, sự tiến

bộ xã hội

Ví dụ, nếu thiết chế pháp luật phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế thì nó sẽ

có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển; ngược lại, sẽ kìm hãm sự phát triểnkinh tế

c) Từ các phân tích trên ta thấy sự hình thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa như sau:

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa không thể hình thành

và phát triển một cách tự phát, mà được xây dựng một cách tự giác nhờ tác động mộtcách tích cực của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa

Cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở từng bước thiết lậpquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Nó không ra đời trong chế độ tư bản, mà sau khigiành được chính quyền, giai cấp công nhân sử dụng nhà nước của mình chủ động, tựgiác xây dựng nên, tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội mới

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phảiđược tiến hành từng bước với những hình thức, bước đi thích hợp Khi xây dựng cơ sở

Trang 36

hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phải tuân theo quy luật, không lấy ýmuốn chủ quan áp đặt, thay thế các quy luật khách quan Đồng thời phải phát huy tínhtích cực, năng động, sáng tạo của kiến trúc thượng tầng trong việc vận dụng quy luậtkhách quan

d) Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào công cuộc đổi mới ở nước ta

- Với sự hình thành của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩaở trên thì kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có sự tác động đặc biệt tolớn đối với cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộiở nước ta, việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng phải được tiến hànhtừng bước với những hình thức, bước đi thích hợp như:

+ Quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thực chất là quan hệ giữakinh tế và chính trị Phép biện chứng giữa kinh tế và chính trị khẳng định kinh tếquyết định chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Vì vậy, khi vận dụngquan điểm biện chứng này Đảng ta đã xác định phải xuất phát từ kinh tế, từ những quyluật kinh tế khách quan, đồng thời phải coi trọng vai trò của chính trị, tính năng độngsáng tạo của chính trị trong việc vận dụng các quy luật kinh tế khách quan Tuyệt đốihóa một mặt nào đó đều dẫn đến sai lầm

+ Ta thấy cơ sở hạ tầng của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộihiện nay là một kết cấu kinh tế nhiều thành phần (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,kinh tế tư nhân tư bản, ) trong đó thành phần ,kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Mà theo quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì kiến trúcthượng tầng là do cơ sở hạ tầng sinh ra Vì vậy, phải xây dựng và hoàn thiện một hệthống pháp luật, cơ chế, chính sách, đầu tư chiến lược phù hợp với cơ sở hạ tầng, tức

là phù hợp với quan hệ sản xuất hiện tại và cơ cấu thành phần kinh tế nhằm kích thíchsản xuất, nâng cao năng suất lao động

+ Từ đó Đảng ta đã từng bước thay đổi toàn diện cả kinh tế và chính trị đi lên

Chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới có bước đi, lộ trình, kế hoạch trên tinh thần Đảng lãnh đạo, NHÀ NƯỚC quản lý, nhân dân lao động làm chủ Muốn vậy Đảng ta đã xác định:

 Trước hết, Đổi mới kinh tế, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nềnkinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội Trong đó Cơ sở hạ tầng Việt Namhiện nay là cơ sở hạ tầng quá độ bao gồm nhiều loại hình quan hệ sản xuất Kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo kinh tế hợp tác làm nền tảng, đó là nguyên tắc Tăngtrưởng kinh tế gắn với công bằng tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

Ví dụ: công nghiệp hóa gắn với mất ruộng thì giải quyết đời sống cho người lao

động nhằm cân bằng, phù hợp giữa Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

 Thứ 2 là: đổi mới chính trị:Đổi mới chính trị không phải thay đổi chế độ chínhtrị mà đổi mới tư duy chính trị về Chủ nghĩa xã hội Đó là đổi mới hoạt động của hệthống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng cụ thể là nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo củađảng với các thành phần trong hệ thống chính trị, xã hội và giải quyết tốt các mốiquan hệ mới phát sinh

Trang 37

Ví dụ: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ ra: “Xây dựng cơ chế

vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”

tức là phải xây dựng kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sơ hạ tầng của nước ta Và

từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đến nay và nhất là Đại hội Đảng lần thứ XIIcho đến nay Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp Hội nghị rất nhiều lần

và trong lần Hội nghị lần thứ tư đã thảo luận và thông qua Nghị quyết số 04-NQ/TWngày 30-10-2016 về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sựsuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tựchuyển hóa” trong nội bộ” và ba Nghị quyết chuyên đề của Hội nghị lần thứ bảy vừamới được triển khai cho các đảng viên nghiên cứu học tập Theo tôi đây là các vấn đềquan trọng nhằm từng bước xây dựng được kiến trúc thượng tầng phù hợp nhằm thúcđẩy kinh tế phát triển

Câu 16/ Giai cấp và đấu tranh giai cấp? tại sau nói đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của XH có giai cấp, liên hệ đấu tranh giai cấp ở VN?

a Khái niệm giai cấp:

* Quan điểm của các học giả tư sản:

- Thừa nhận XH có giai cấp và phân chia giai cấp

- Quan niệm về giai cấp họ cho rằng sự khác nhau về giai cấp chẳng qua đó là

sự khác nhâu về chủng tộc, về tài năng khác nhau, về tri thức, về nghề nghiệp, về địa

vị và uy tín trong XH

- Cũng có một bộ phận xem xét về kinh tế thấy được sự bất bình đẳng trong thunhập vượt bậc nhưng họ bế tắc không định nghĩa được giai cấp là gì

* Quan điểm của Mác-Ăngghen:

- Sự ra đời tồn tại và phát triển của giai cấp gắn liền với một giai đoạn lịch sửnhất định

- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản

- Chuyên chính vô sản dẫn đến tiếp tục đấu tranh giai cấp tiến đến thủ tiêu giaicấp và XH không còn có giai cấp

* Lênin dựa vào tư tưởng của Mác-Ăngghen đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng về giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác

nhau về địa vị của họ trong một hệ thống SXXH nhất định trong lịch sử, khác nhau vềquan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định vàthừa nhận) đối với những TLSX, về vai trò của họ trong tổ chức lao động XH, và nhưvậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải XH ít hoặc nhiều mà họđược hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạtlao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế

độ kinh tế XH nhất định”

Sự ra đời, tồn tại của giai cấp gắn với những hệ thống SXXH nhất định Sựkhác nhau về địa vị của giai cấp trong hệ thống SX là do:

Trang 38

- Thứ nhất, khác nhau về quan hệ giữa họ với việc sở hữu những TLSX củaXH;

- Thứ hai, khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức quản lý SX, tổ chức quản

ấy sẽ chi phối toàn bộ quá trình SX dưới hình thức này hay dưới hình thức khác Cácgiai cấp không có hoặc không đủ TLSX để bảo đảm nhu cầu thiết yếu buộc phải lệthuộc vào giai cấp nắm TLSX và chi phối quá trình SX

Triết học Mác nói về sự phân chia giai cấp cũng là nói về quan hệ hiện thựcgiữa người với người mà trong đó, do bất bình đẳng trong chiếm hữu TLSX mà tậpđoàn người này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn người khác mà xem điều đókhông phải là do đạo đức xấu tốt mà là sản phẩm tất yếu của vận động sản xuất Bóclột là hệ quả của phát triển kinh tế và cũng sẽ do phát triển kinh tế mà mất đi Thựcchất quan hệ giai cấp là quan hệ bóc lột là tập đoàn này chiếm đoạt lao động của tậpđoàn khác do chổ khác nhau về địa vị trong hệ thống SX nhất định

Ngày nay đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của CM KH-CN, GCVS và GCTS, các giai cấp, tầng lớp khác đang có những biến đổi to lớn Xu hướng XH hóa về sở hữu, quản lý và phân phối đang là xu hướng hiện thực ở các nước tư bản phát triển,

nó phát triển như một tất yếu từ lôgic khách quan của chính bản thân nền SX TBCN hiện đại Nhưng, đặc trưng cơ bản của XHTB vẫn là tình trạng bóc lột ngày càng mở rộng, nạ thất nghiệp vẫn là vấn đề nan giải, ngày một tăng, tâm trạng bi quan, mất lòng tin trong các tầng lớp nhân dân ngày càng trầm trọng Mặt dù cơ cấu giai cấp công nhân có thay đổi, công nhân có cổ phần (tuy rất nhỏ), tham gia quản lý, có mức sống cao hơn trước… nhưng thực quyền quyết định mọi vấn đề trong SX, phân phối, lưu thông của cải vật chất trong XH tư bản vẫn thuộc về các nhà tư bản Thân phận người công nhân - về thực chất - vẫn là người làm thuê bán sức lao động cho nhà tư bản Họ bị bóc lột nhiều hơn trước, nhưng dưới hình thức tinh vi hơn mà thôi.

b Nguồn gốc hình thành giai cấp:

C.Mác chỉ ra rằng: Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn pháttriển lịch sử nhất định của SX Sự phân chia XH thành giai cấp trước hết là do nguyênnhân kinh tế

Căn cứ vào tài liệu khoa học, nhất là khoa học lịch sử và khảo cổ học, chủ nghĩaMác đã đi đến kết luận XH không phải bao giờ cũng có giai cấp Đã có hàng triệu nămloài người sống trong XH cộng sản nguyên thủy giai cấp không thể xuất hiện Khi lựclượng SX phát triển, năng xuất lao động tăng lên, ở con người xuất hiện khả năng lao

Trang 39

động mới, sản phẩm làm ra có dư thừa chế độ của riêng dần nảy sinh, sự chênh lệch

về sức lực và kinh nghiệm đã đẻ ra kẻ giàu người nghèo Rồi của cải trở thành sự hấpdẩn Làm giàu trở thành mục tiêu, mọi biện pháp làm giàu được sử dụng Một sốngười có chức có quyền trong XH đã lợi dụng quyền hành để chiếm hữu các tài sảnchung của công xã làm của riêng Những người nghèo đói ngày càng bị khinh rẻ vàcuối cùng bị nợ nầng chồng chất không trả được cũng rơi vào số phận như các tù binh

XH CSNT tan rả dần và cuối cùng đã xuất hiện các XH có giai cấp đối kháng

Như vậy, nguồn gốc sâu xa của sự ra đời của các giai cấp trong XH là sự pháttriển của lực lượng SX, còn nguồn gốc trực tiếp của nó là chế độ tư hữu Sự xuất hiệncủa chế độ tư hữu cũng là một yếu tố khách quan, do mâu thuẫn giữa nhu cầu vật chấtmỗi khi đã có của dư tương đối và khả năng của nền SX cuối thời đại CXNT không

đủ đáp ứng được nhu cầu ấy cho mọi thành viên của XH

Vì vậy, chế độ tư hữu đã có vai trò nhất định trong lịch sử, đã tạo ra bước ngoặcmới, đưa nền SXXH lên một giai đoạn cao hơn Chế độ XH có giai cấp đối kháng đầutiên là chế độ chiếm hữu nô lệ Chế chiếm hữu nô lệ đã phát triển và trở thành một chế

độ người bóc lột người dã man nhất trong lịch sử Tuy nhiên, không phải ở nước nàocũng trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ, có nơi chế độ có giai cấp đầu tiên là chế độphong kiến Điều đó là do hoàn cảnh lịch sử cụ thể tạo nên Như vậy, sự xuất hiện chế

độ tư hữu là nguyên nhân quyết định trực tiếp sự ra đời giai cấp Sự tồn tại các giaicấp đối kháng gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và chế độ phongkiến và chế độ TBCN CNTB phát triển cao lại tạo tiền đề khiến cho sự thủ tiêu chế

độ tư hữu, cái cơ sở kinh tế của sự đối kháng giai cấp trở thành xu thế khách quantrong lịch sử phát triển XH Đó là lôgic khách quan của tiến trình phát triển lịch sử

2 Đấu tranh giai cấp:

a Khái niệm đấu tranh giai cấp:

- Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống lại một

bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tướt hết quyền, bị áp bức và lao động,chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh củanhững người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sảnhay giai cấp tư sản

- Cuộc đấu tranh giai cấp thực chất là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích

cơ bản đối lập nhau

Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển mang tính XH hóa ngày càng sâu rộng của LLSX với quan hệ chiếm hữu tư nhân về TLSX Mâu thuẫn này về phương diện XH: một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, địa diện cho phương thức SX mới với một bên là giai cấp thống trị, bóc lột địa biểu cho những lợi ích gắn với QHSX lỗi thời, lạc hậu.

Trong quá trình của cuộc ĐT giai cấp, mỗi giai cấp đều tập hợp những lực lượng, những giai cấp và những tầng lớp khác nhau trong XH về phía mình, sự liên kết của các giai cấp khác nhau để phấn đấu cho mục tiêu chung là liên minh giai cấp Các giai cấp có lợi ích cơ bản không đối kháng thường liên minh với nhau, đó là là sự liên minh căn bản, lâu dài, có ý nghĩa chiến lược Các giai cấp bóc lột khi đã lỗi thời thường liên minh với các lực lượng phản động để chống lại các lực lượng tiến bộ của

XH giai cấp công nhân, nông dân và trí thức thường liên minh trong cuộc CM của giai cấp vô sản và nó trở thành nguyên tắc của cuộc CM này, bảo đảm cho cuộc CM

Trang 40

có thể giành được thắng lợi toàn diện và triệt để Vì vậy liên minh giai cấp là một yếu

tố quan trọng mà các giai cấp thường xuyên phải tính đến trong việc giải quyết các nhiệm vụ lịch sử.

b Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp:

Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến CMXH, thay thế PTSX

cũ bằng một PTSX mới tiến bộ hơn PTSX mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự pháttriển của SX-XH SX phát triển là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đờisống XH

Vì vậy, đấu tranh giai cấp trở thành động lực lớn của sự phát triển XH Tấtnhiên, đấu tranh giai cấp không phải là động lực duy nhất mà nhu cầu ngày càng tăngcủa con người, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, cả những tưởng, đạo đức… đều

là những động lực phát triển xã hội Đấu tranh giai cấp là động lực cơ bản của sự pháttriển XH đặc trưng cho các XH có giai cấp đối kháng Vì vậy, Mác và Ăngghen đãxem cuộc ĐTGC giữa giai cấp VS và giai cấp TS “là đòn bẩy vĩ đại của cuộc CMXHhiện đại”

Đấu tranh giai cấp chẳng những có tác dụng cải tạo XH, xóa bỏ các LLXH phảnđộng, kìm hãm XH phát triển mà còn có tác dụng cải tạo bản thân các giai cấp CM

Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của mọi XH có giai cấp, nhưng quy luật ấy

có những biễu hiện đặc thù trong từng XH cụ thể Điều đó do kết cấu giai cấp của mỗi

XH và do địa vị lịch sử của mỗi giai cấp cách mạng trong từng PTSX quyết định.ĐTGC giữa giai cấp VS và giai cấp TS là cuộc đấu tranh sau cùng trong LSXH có giaicấp Nó là cuộc đấu tranh khác về chất so với các cuộc đấu tranh trước đó trong lịchsử Bởi vì mục tiêu của nó là thay đổi về căn bản sở hữu tư nhân bằng sở hữu xã hội

Trước khi giành chính quyền, nội dung của cuộc ĐTGC giữa giai cấp VS vàgiai cấp TS là đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị Sau khi giànhchính quyền thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản, mục tiêu và hình thức đấutranh giai cấp cũng thay đổi Mục tiêu của cuộc ĐT này là giữ vững thành quả CM,

XD và củng cố chính quyền của nhân dân, tổ chức quản lý SX, quản lý xã hội, bảođảm tạo ra một năng suất lao động XH cao hơn, trên cơ sở đó thủ tiêu chế độ ngườibóc lột người, XD một XH mới, công bằng, dân chủ và văn minh

* Ở Việt Nam, đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là tất yếu:

Thực chất ĐTGC ở VN hiện nay là đấu tranh chống khuynh hướng tự phátTBCN và các thế lực thù địch với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Nội dung chủ yếu cuộc ĐTGC ở VN hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệpCNH, HĐH theo định hướng XHCN, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém pháttriển, thực hiện công bằng XH, chống áp bức bất công, đấu tranh ngăn chặn, khắcphục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âmmưu và hành động chống phá các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựngnước ta thành một nước XHCN phồn vinh, nhân dân hạnh phúc

Đồng thời Đảng ta cũng khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước

là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức

do Đảng lảnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích các nhân, tập thể và XH, phát huy mọitiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn XH”

Ngày đăng: 26/01/2022, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w