VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢCTRONG DẠY HỌC CHƯƠNG NHÓM HALOGEN HÓA HỌC 10NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Hiện nay, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đây là cuộc cách mạng dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… với nền tảng là các đột phá của công nghệsố. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ở giai đoạn đầu, giai đoạn bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến theo kịp với xu hướng thế giới. Đây là thời cơ cũng là thách thức đối với Việt Nam. Để tận dụng tốt thời cơ và vượt qua những nguy cơ, thách thức từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề khai thác nguồn lực con người, nhất là xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề đang và đã được đặt ra đối với Việt Nam. Đáp ứng nhu cầu của thời đại, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn. Trong đó quan niệm về “học tập suốt đời” và “giáo dục toàn diện” được coi như một trong những chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ XXI ; ý tưởng “đặt học tập suốt đời vào trung tâm của xã hội” được coi như một bước nhảy về chất trong sự phát triển của giáo dục. Cốt lõi để học tập suốt đời có hiệu quả là mỗi con người phải học cách học, học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đang tiến hành đổi mới nền giáo dục trên tất cả các lĩnh vực, trong đó đổi mới phương pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, năng lực tự chủ và tự học là một trong những năng lực chung cần phát triển cho học sinh (HS) ở các cấp học. Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược là một trong những mô hình dạy học hiện đại và đápứng được những yêu cầu nêu trên. Thay vì dạy kiến thức mới như lớp học truyền thống,giáo viên (GV) hướng dẫn HS tự học kiến thức mới ở nhà, trên lớp GV tập trung vào việc giải đáp thắc mắc của HS, làm bài tập vận dụng kiến thức hay thảo luận sâu hơn về kiến thức, ngược lại người học thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ GV, các em sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thôngtin liên quan về bài học. Mô hình này giúp HS phát huy và rèn luyện tính tự học, tính chủ động làm chủ quá trình học tập của chính bản thân mà không còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức Thực trạng dạy học hóa học ở một số trường phổ thông hiện nay cho thấy việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược ở các trường phổ thông còn chưa phổ biến. Những hướng dẫn tự học của GV cho HS chủ yếu ở hoạt động ra bài tập về nhà để vận dụng, ôn luyện kiến thức kĩ năng mà chưa chú trọng phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu của HS Nghiên cứu vận dụng mô hình dạy học lớp học đảo ngược trong dạy học chương nhóm Halogen Hóa học 10 nhằm phát triển năng lực tự học của HS ở trường THPT Nếu vận dụng mô hình lớp học đảo ngược thiết kế các hoạt động dạy học trong dạy học chương nhóm Halogen Hóa học 10 một cách hợp lí sẽ phát triển năng lực tựhọc của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT Góp phần làm rõ cơ sở lí luận về vấn đề hình thành và phát triển năng lực và năng lực tự học cho HS THPT, làm rõ khái niệm, vai trò đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG skkn, sáng kiến kinh nghiệm, luận văn, mô hình lớp học đảo ngược, lớp học đảo ngược, lớp học đảo ngược oxi, lớp học đảo ngược halozen
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN BÁ LONG
VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG NHÓM HALOGEN HÓA HỌC 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN BÁ LONG
VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG NHÓM HALOGEN HÓA HỌC 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Mã số: 814.0111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Quỳnh Mai
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Trong toàn
bộ nội dung của luận văn, những điều đã trình bày là của cá nhân tôi hoặc là được tôi tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo có xuất xứ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn của tôi – TS Đỗ Thị Quỳnh Mai, người đã luôn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo, cán bộ của bộ môn Phương pháp dạy học, khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đơ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy giáo, cô giáo và các em học sinh tại trường THPT Kim Anh và trường THPT Quang Minh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm
Tôi xin chân trọng cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Bá Long
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân phối nội dung chương Nhóm Halogen – Hóa học 10 37
Bảng 2.2 Cấu trúc NLTH của HS trường THPT 41
Bảng 2.3 Mức độ biểu hiện của NLTH của HS THPT 42
Bảng 2.4: Phiếu đánh giá theo tiêu chí đánh giá năng lực tự học của giáo viên với học sinh 44
Bảng 2.5 Phiếu hướng dẫn ghi vở tự học 45
Bảng 2.6 Phiếu hướng dẫn tự học 46
Bảng 2.7 Phiếu tự đánh giá của học sinh về mức độ đạt được của NLTH 47
Bảng 2.8 Giới thiệu khóa học “Nhóm Halogen – Hóa học 10” 49
Bảng 3.1 Danh sách lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 79
Bảng 3.2 Phân phối tần số học sinh đạt điểm Xi 80
Bảng 3.3 Phần trăm số HS đạt điểm Xi 80
Bảng 3.4 Phân phối tần suất % số HS đạt điểm Xi trở xuống 80
Bảng 3.5 Phân loại kết quả học tập của HS 82
Bảng 3.6 Tổng hợp các tham số đặc trưng 83
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả đánh giá NLTH của HS lớp thực nghiệm do GV đánh giá 83
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả HS tự đánh giá về năng lực tự học 84
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Mức độ sử dụng các PP/KTDH trong DH hóa học 25
Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng các công cụ đánh giá trong DH Hóa học 26
Biểu đồ 1.3 Đánh giá của GV đối với biểu hiện NLTH của HS THPT 27
Biểu đồ 1.4 Kết quả GV đánh giá NLTH của HS THPT 28
Biểu đồ 1.5 GV sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Hóa học 28
Biểu đồ 1.6 Mức độ thường xuyên DH trực tuyến môn Hóa học 29
Biểu đồ 1.7 Cách thức DH trực tuyến môn Hóa học 29
Biểu đồ 1.8 Kỹ năng CNTT của GV môn Hóa học 30
Biểu đồ 1.9 Kết quả lựa chọn tổ hợp môn thi tốt nghiệp THPT 30
Biểu đồ 1.10 Kết quả về nhận thức của HS về vai trò của tự học 31
Biểu đồ 1.11 Kết quả khảo sát thời gian tự học ở nhà trong một ngày/tuần 31
Biểu đồ 1.12 Kết quả khả sát phương pháp tự học của HS 32
Biểu đồ 1.13 Khó khăn của HS trong quá trình TH môn Hóa học 33
Biểu đồ 1.14 Mục đích và mức độ thường xuyên của HS sử dụng Internet 33
Biểu đồ 3.1 Đường lũy tích kết quả bài thi giữa kỳ II của HS trường Kim Anh 81
Biểu đồ 3.2 Đường lũy tích kết quả bài thi giữa kỳ II của HS trường Quang Minh 81
Biểu đồ 3.3 Phân loại kết quả học tập của HS trường Kim Anh 82
Biểu đồ 3.4 Phân loại kết quả học tập của HS trường Quang Minh 82
Biểu đồ 3.5 Đánh giá của GV về NLTH của HS 84
Biểu đồ 3.6 HS tự đánh giá NLTH lần 1 85
Biểu đồ 3.7 HS tự đánh giá NLTH lần 2 85
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc đa thành tố của năng lực 10
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc chung của năng lực hành động 10
Hình 1.3 So sánh lớp học truyền thống và mô hình LHĐN 17
Hình 1.4 So sánh cấp độ tư duy của HS theo thang đo của Bloom 17
Hình 1.5 Quy trình tổ chức dạy học theo mô hình Lớp học đảo ngược 20
Hình 1.6 Quy trình sử dụng E-learning theo mô hình lớp học đảo ngược 23
Hình 2.1 Bài giảng trong khóa học 50
Hình 2.2 Tạo lớp học và chủ đề lớp học 57
Hình 2.3 Lớp học được tạo bởi Google Classroom 57
Hình 2.4 Mã của lớp học sau khi được tạo 58
Hình 2.5 Cách HS tham gia lớp học 58
Hình 2.6 Cách nhập mã lớp để tham gia lớp học online 59
Hình 2.7 HS sau khi nhập vào mã lớp học 59
Hình 2.8 Cách Upload tài liệu lên lớp học 59
Hình 2.9 Cách đặt thời gian hoàn thành bài tập 60
Hình 2.10 Cách sử dụng tài nguyên trên lớp học trực tuyến Google Classroom 60
Hình 2.11 Hướng dẫn HS nộp bài tập trên lớp học Google Classroom 62
Hình 2.12 HS làm bài kiểm tra và nộp bài 62
Hình 2.13 Chấm điểm, nhận xét và trả bài kiểm tra cho HS 63
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỤC LỤC vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của luận văn 4
9 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về năng lực tự học 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về lớp học đảo ngược 7
1.2 Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông 8
1.2.1 Khái niệm năng lực 8
1.2.2 Cấu trúc năng lực 9
1.2.3 Một số năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh trung học phổ thông 11
1.3 Năng lực tự học 12
1.3.1 Khái niệm năng lực tự học 12
Trang 101.3.2 Biểu hiện của năng lực tự học 13
1.4 Phát triển năng lực tự học thông qua E-learning 14
1.4.1 Khái niệm E-learning 14
1.4.2 Vai trò E-learning trong việc phát triển năng lực tự học 14
1.5 Mô hình lớp học đảo ngược 15
1.5.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược 15
1.5.2 Ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược 16
1.5.3 Hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược 18
1.5.4 Phương tiện học tập trong mô hình lớp học đảo ngược 18
1.5.5 Quy trình học tập trong mô hình lớp học đảo ngược 19
1.5.6 Quy trình sử dụng E-learning hỗ trợ dạy – tự học 21
1.5.7 Các biểu hiện của năng lực tự học thông qua áp dụng mô hình lớp học đảo ngược 23
1.6 Thực trạng về việc phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông 24
1.6.1 Mục đích điều tra 24
1.6.2 Đối tượng điều tra 24
1.6.3 Nội dung và phương pháp điều tra 24
1.6.4 Kết quả khảo sát 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG NHÓM HALOGEN – HÓA HỌC 10 37
2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc và đặc điểm chương Nhóm Halogen – Hóa học 10 37
2.1.1 Mục tiêu của chương Nhóm Halogen 38
2.1.2 Phân tích đặc điểm chung về phương pháp dạy học chương nhóm Halogen – Hóa học 10 39
2.2 Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực tự học cho học sinh trường trung học phổ thông thông qua mô hình lớp học đảo ngược 40
2.2.1 Cấu trúc năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông 40
Trang 112.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông 41 2.2.3 Các mức độ biểu hiện năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông
42
2.2.4 Xây dựng công cụ đánh giá năng lực tự học của học sinh 43
2.2.5 Thiết kế phiếu hỏi dùng cho học sinh đánh giá sự phát triển năng lực tự học (dành cho học sinh) 47
2.3 Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương Nhóm Halogen – hóa học 10 48
2.3.1 Quy trình vận dụng mô hình lớp học đảo ngược để phát triển năng lực tự học cho học sinh qua chương Nhóm Halogen 48
2.3.2 Thiết kế một số bài giảng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược 52
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 78
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 78
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 78
3.2 Nội dung và kế hoạch tiến hành thực nghiệm 78
3.2.1 Chọn đối tượng và địa điểm thực nghiệm 78
3.2.2 Kế hoạch thực nghiệm 79
3.2.3 Tiến trình thực nghiệm 79
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 79
3.3.1 Phương pháp xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm 79
3.3.2 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 86
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC PL-1
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đây là cuộc cách mạng dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… với nền tảng là các đột phá của công nghệ
số Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ở giai đoạn đầu, giai đoạn bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến theo kịp với xu hướng thế giới Đây là thời cơ cũng là
thách thức đối với Việt Nam Để tận dụng tốt thời cơ và vượt qua những nguy cơ,
thách thức từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề khai thác nguồn lực con người, nhất là xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề đang và đã được
đặt ra đối với Việt Nam
Đáp ứng nhu cầu của thời đại, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn Trong đó quan niệm về “học tập suốt đời” và “giáo dục toàn diện” được coi như một trong những chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ XXI ; ý tưởng “đặt học tập suốt đời vào trung tâm của xã hội” được coi như một bước nhảy về chất trong
sự phát triển của giáo dục Cốt lõi để học tập suốt đời có hiệu quả là mỗi con người phải học cách học, học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo Trước tình hình
đó, Đảng và nhà nước ta đang tiến hành đổi mới nền giáo dục trên tất cả các lĩnh vực,
trong đó đổi mới phương pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ:
“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực; Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội ngoại khóa, nghiên cứu khoa học; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [35] Cùng
với đó, trong năm học 2020-2021, Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo đã ra chỉ thị Số: BGDĐT về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2020 - 2021 của ngành Giáo dục Một
Trang 13666/CT-trong các nhiệm vụ trọng tâm là “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 666/CT-trong dạy,
học và quản lý giáo dục, thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo”
Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, năng lực tự chủ và tự học là một trong những năng lực chung cần phát triển cho học sinh (HS) ở các cấp học Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược là một trong những mô hình dạy học hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu nêu trên Thay vì dạy kiến thức mới như lớp học truyền thống, giáo viên (GV) hướng dẫn HS tự học kiến thức mới ở nhà, trên lớp GV tập trung vào việc giải đáp thắc mắc của HS, làm bài tập vận dụng kiến thức hay thảo luận sâu hơn về kiến thức, ngược lại người học thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ GV, các em
sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học Mô hình này giúp HS phát huy và rèn luyện tính tự học, tính chủ động làm chủ quá trình học tập của chính bản thân mà không còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức
Thực trạng dạy học hóa học ở một số trường phổ thông hiện nay cho thấy việc
áp dụng mô hình lớp học đảo ngược ở các trường phổ thông còn chưa phổ biến Những hướng dẫn tự học của GV cho HS chủ yếu ở hoạt động ra bài tập về nhà để vận dụng, ôn luyện kiến thức kĩ năng mà chưa chú trọng phát triển khả năng tự học,
tự nghiên cứu của HS
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương nhóm Halogen Hóa học
10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh.”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng mô hình dạy học lớp học đảo ngược trong dạy học
chương nhóm Halogen Hóa học 10 nhằm phát triển năng lực tự học của HS ở trường
THPT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể: Quá trình dạy học ở trường phổ thông
Đối tượng nghiên cứu: Mô hình lớp học đảo ngược, năng lực tự học
4 Giả thuyết khoa học
Trang 14Nếu vận dụng mô hình lớp học đảo ngược thiết kế các hoạt động dạy học trong
dạy học chương nhóm Halogen Hóa học 10 một cách hợp lí sẽ phát triển năng lực tự học của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: Năng lực, năng lực tự học, mô hình dạy học hỗn hợp, mô hình lớp học đảo ngược, đánh giá năng lực tự học
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về learning, vai trò bồi dưỡng NLTH của learning
E Điều tra thực trạng việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học hóa học và việc phát triển năng lực tự học cho HS ở một số trường THPT
- Đề xuất nguyên tắc, quy trình vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong
dạy học chương nhóm Halogen - Hóa học 10
- Thiết kế kế hoạch bài dạy vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy
học chương nhóm Halogen - Hóa học 10
- Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực tự học cho học sinh
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất trong
đề tài
6 Phạm vi nghiên cứu
Dạy học nội dung Chương “Nhóm halogen”, Hóa học 10 THPT
Thực nghiệm sư phạm tiến hành nghiên cứu tại trường THPT Kim Anh – Sóc Sơn – Hà Nội, Trường THPT Quang Minh – Mê Linh – Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu đặc trưng của nghiên cứu khoa học giáo dục
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa…trong nghiên cứu tài liệu lí luận
có liên quan
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phân tích mục tiêu, nội dung, cấu trúc chương “Nhóm halogen”, Hóa học 10
THPT
Trang 15+ Phương pháp điều tra: Khảo sát thực tiễn về NL tự học và vấn đề về phát triển NLTH cho HS ở một số trường THPT
+ Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi, xin ý kiến chuyên gia
+ Phương pháp TNSP: Tiến hành TNSP ở trường THPT
7.3 Phương pháp toán thống kê
Phân tích kết quả TNSP nhằm xác định các tham số thống kê có liên quan từ đó phân tích, khẳng định tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đề xuất
8 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ cơ sở lí luận về vấn đề hình thành và phát triển năng lực (NL) và năng lực tự học (NLTH) cho HS THPT, làm rõ khái niệm, vai trò đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược
- Xác định được các tiêu chí và bộ công cụ đánh giá sự phát triển NL tự học cho HS THPT
- Điều tra, đánh giá được thực trạng việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển NLTH cho học sinh THPT
- Thiết kế được kế hoạch bài dạy và đưa ra quy trình tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược cho học sinh nhằm phát triển NL tự học
- Đánh giá được NLTH của HS thông qua các tiêu chí và bộ công cụ đã xác định ở trên
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng mô hình dạy học lớp
học đảo ngược trong dạy học ở trường THPT
Chương 2: Vận dụng mô hình Lớp học đảo ngược trong dạy học chương
Nhóm Halogen – Hóa học 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về năng lực tự học
Trong lịch sử giáo dục, việc bồi dưỡng và phát triển NLTH cho HS vẫn luôn được quan tâm và chú trọng nhất trong quá trình dạy và học Trải qua nhiều thời kì nhưng vai trò cá nhân trong quá trình tự học tự nghiên cứu luôn được đề cao đòi hỏi người học cần phải chủ động tích cực, trong quá trình học, tự tìm ra kiến thức cho bản thân và người dạy có trách nhiệm của là phải khơi gợi những năng lực tiềm ẩn bên trong người học
Ở Liên Xô (cũ), N.A Rubakin (Nguyễn Đình Côi dịch) [13] trong cuốn sách
“Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm của mình trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học Theo tác giả, việc tự tìm lấy kiến thức, tri thức có nghĩa là tự học
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm và nghiên cứu đến tự TH và bồi dưỡng NLTH Nhà giáo dục người Nhật T.Makiguchi (GS Cao Xuân Hạo dịch) [24] trong cuốn sách “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã chỉ ra giáo dục là quá trình hướng dẫn TH mà động lực là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng
Đến đầu thể kỷ XXI, TH và bồi dưỡng NLTH đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm và đưa ra các biện pháp giúp HS hình thành và phát triển năng lực tự học Trong cuốn sách “Học tập một cách thông minh” của Michael Shayer và Philip Adey, các tác giả đã chỉ ra cần phải chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ
đó đưa ra các những biện pháp phù hợp giúp đỡ các em trong quá trình TH [59] Jame León, Elena Medina-Garrido và Miriam Ortega đã chứng minh việc quản lý học tập
và tương tác của GV với HS sẽ ảnh hưởng đến động lực và sự tích cực của HS [56]
Các công trình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning hỗ trợ bồi dưỡng NLTH: Janet (2012) [55], Marcey và Brint (2012) [57], Brunsell và Horejsi (2013) [46], các tác giả đều cho biết: cho biết: HS có thái độ học tập tích cực hơn,
Trang 17chủ động xem các video trước ở nhà và hoàn thành nhiệm vụ được giao Ngoài ra Guy và Marquis (2016) [52], Frydenberg (2013) [51] còn cho biết SV khi sử dụng bài giảng E-learning trong dạy học thì các kỹ năng, thao tác trên máy tính, CNTT của
SV được cải thiện đáng kể
Như vậy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu đều đi đến khẳng định vai trò của TH trong hoạt động học tập của người học, chỉ ra một số kỹ năng TH
cơ bản và lưu ý vai trò của người dạy trong việc tổ chức quá trình dạy học để phát huy được tính độc lập, tự giác, sáng tạo của người học, Qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục học và tâm lý học trên thế giới về TH và NLTH, chúng tôi nhận thấy: TH là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại Việc phát triển NLTH là vô cùng cần thiết, ảnh hưởng to lớn
và trực tiếp tới việc học của người học trong khi đang học ở trường phổ thông cũng như trong suốt cả cuộc đời sau này
- Ở Việt Nam
Từ những năm cuối thế kỉ XIX trở lại đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng DH theo hướng phát triển năng lực cho HS và đặc biệt là TH tự sáng tạo
Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề phát triển NLTH của
HS như: Bùi Thị Bưởi [5] Dương Huy Cần [9] Nguyễn Thị An Chung [12] Vũ Mạnh Dũng [16] Phạm Văn Duy [18] Nguyễn Thị Hà [23] Trần Thị Thu Huệ [26]
Vũ Thị Lan [29] Nguyễn Thị Phương [34] Nguyễn Thị Thanh [39] Phạm Thị Thủy [40].… Các nghiêm cứu đều làm rõ tính cấp thiết, các cơ sở khoa học của TH và tính khả thi của dạy cách TH Và mới đây, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [6] cũng xác định NLTH (trong NL tự lực và TH) là một trong những năng lực chung quan trọng nhất cần phát triển cho HS
Các phương pháp dạy học bồi dưỡng và phát triển NLTH ở các cấp học cũng
đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trong môn Hóa học, Nguyễn Ngọc Duy [19], Cao
Cự Giác [20], Đỗ Thị Thu Huyền [27], Vương Cẩm Hương [28], luận án của Nguyễn Thị Ngà [33], Nguyễn Thị Thanh [39], Lưu Thị Lương Yến, Nguyễn Thị Ngọc Bích
Trang 18[44], các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng TH và đề xuất một số biện pháp
để bồi dưỡng và phát triển NLTH cho HS
Các công trình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning hỗ trợ bồi dưỡng NLTH: Phạm Xuân Quế (2004) [37], Nguyễn Thị Thùy Linh (2008) [31], Nguyễn Thế Dũng, Lê Huy Tùng (2016) [15] Gần đây nhất, tác giả Vũ Thị Lan (2018) [29] đã đưa ra quy trình sử vận dụng mô hình dạy học hỗn hợp Blended Learning trong dạy học chương Hidrocacbon không no - Hóa học 11, Trương Thị Phương Chi (2017) [10] đã đưa ra quy trình xây dựng và sử dụng E-learning theo mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học các kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12:
HS phải tự học, tự nghiên cứu video bài giảng của GV và chuẩn bị phần thực hành trên lớp
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về lớp học đảo ngược
- Trên thế giới
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng
mô hình lớp học đảo ngược để bồi dưỡng NLTH cho học sinh (HS) như của Janet [55], Marcey và Brint [57], Brunsell và Horejsi [46] cho biết: HS có thái độ học tập tích cực hơn, chủ động xem các video trước ở nhà và hoàn thành nhiệm vụ được giao
Khi nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược để phát triền NLTH cho HS Marcey và Brint [57], Guy và Marquis [52] đều kết luận việc ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược có tác động đến thành tích học tập của SV Qua bài kiểm tra đánh giá thì điểm số các SV ở lớp học truyền thống thập hơn nhiều so với SV trong lớp học đảo ngược đạt Bên cạnh đó SV học theo mô hình lớp học đảo ngược cũng chủ động, tích cực hơn trong quá trình học tập
- Ở Việt Nam
Mô hình lớp học đảo ngược mới được biết đến trong vài năm gần đây, hầu hết
là các bài viết giới thiệu trên các bài báo, tạp chí, trang tin của các trường hoặc các
cơ sở đào tạo Qua một số ít báo cáo, nghiên cứu khoa học đã công bố ở Việt Nam như: Nguyễn Thế Dũng, Lê Huy Tùng [15] Nguyễn Văn Đại, Đào Thị Việt Anh [20] Nguyễn Chính [11], mô hình này được đánh giá là đã hỗ trợ hiệu quả giúp nâng cao NLTH cho HS, phát triển theo hướng dạy học lấy người học làm trung tâm, cải thiện
Trang 19sự thụ động của học sinh trong học tập, năng lực sử dụng công nghệ thông tin (CNTT)
và năng lực giải quyết vấn đề trong cuộc sống cho HS tiến bộ hơn; qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương lai đáp ứng yêu cầu xã hội
Tác giả Phạm Thị Ngọc Anh (2020) [1] đã xây dựng ba quy trình dạy học theo
mô hình lớp học đảo ngược: Xác định mục tiêu, đối tượng; công cụ xây dựng bài dạy; thiết lập cấu trúc cho mô hình lớp học đảo ngược, Hoàng Giang Quỳnh Anh [2] trình bày 3 bước để đảo ngược lớp học bao gồm: tạo 1 video, chia sẻ với SV và sử dụng thời gian học tập khác nhau Tác giả Phạm Anh Đới [21] chỉ ra 4 giai đoạn khi áp dụng mô hình lớp học đảo ngược, đó là: trải nghiệm cuốn hút, khám phá khái niệm, tạo ra ý nghĩa, trình diễn và áp dụng Công việc trên lớp của GV chủ yếu là hỗ trợ
SV, đảm bảo các khó khăn của SV đều được giải quyết và theo tác giả, lớp học đảo ngược mở ra cơ hội học tập cho mọi đối tượng SV SV tự học nhiều hơn sẽ tăng tính
tự chủ và có kỹ năng học tập tốt hơn Tác giả Nguyễn Thế Dũng [15] đã đưa ra quy trình tổ chức dạy học lập trình theo tiếp cận quy trình phát triển phần mềm với mô hình lớp học đảo ngược trong B-learning cùng các tình huống học tập minh họa Theo tác giả, nên tận dụng các buổi học đồng bộ trên lớp hay qua video conference để tổ chức giao tiếp giữa các bạn trong nhóm cùng thực hiện dự án thay vì cung cấp nội dung Kết quả bước đầu minh chứng rằng lớp học đảo ngược được triển khai trên B-learning sẽ nâng cao tính tương tác, phát triển năng lực sáng tạo và bồi dưỡng NLTH của người học
Như vậy, vấn đề TH, phát triển NLTH cho HS và việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược đã được đề cập đến ở một số sách, công trình nghiên cứu, luận văn và luận án Các nghiên cứu đều cho thấy vai trò ý nghĩa quan trọng của việc TH nói chung và việc phát triển NLTH cho HS nói riêng trong việc nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo cho người học Đó là nguồn tài liệu quí giá để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và triển khai mô hình lớp học đảo ngược để phát triển NLTH cho HS
1.2 Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông
1.2.1 Khái niệm năng lực
F.E.Weinert (2001) [62] cho rằng: “Năng lực là những kỹ năng kĩ xảo học
Trang 20được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong các tình huống linh hoạt”
Theo Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm,
sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [14]
Theo một số nghiên cứu NL là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của một cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các NL hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của
cá nhân đóng vai trò quan trọng, NL của con người phần lớn do cộng tác, luyện tập
mà nên chứ không tự nhiên mà có
Như vậy có thể coi năng lực là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất của một cá nhân hoặc tổ chức nhằm thực hiện một nhiệm vụ có kết quả tốt
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa năng lực được xác định
trong chương trình GDPT tổng thể [6]: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình
thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”
về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó; (2) kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó (3) những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kỹ năng đó trong một cơ cấu thống nhất vè theo một định hướng rõ ràng Theo T.Lobanova, Yu.Shunin [61], năng lực mỗi cá thể được hợp thành từ 7 thành tố trong hình 1.1; các thành tố này đặt trong bối cảnh cụ thể hoặc tình huống thực tiễn
Trang 21Hình 1.1 Cấu trúc đa thành tố của năng lực
- Tiếp cận theo năng lực bộ phận: Theo Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường [14] cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của bốn NL thành phần như mô tả hình 1.2
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc chung của năng lực hành động
Như vậy, cấu trúc của NL là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa không chỉ là kiến thức, kĩ năng và thái độ mà là cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong điều kiện thực tiễn
Hai cách tiếp cận cấu trúc NL nói trên đã có sự bổ sung cho nhau, hình dung được đầy đủ các NL bộ phận và hành vi biểu hiện của chúng thì mới xác định được các yếu tố nguồn lực hợp thành và phân bổ chúng theo các trình độ phù hợp với yêu cầu
Trang 22phát triển NL ở mỗi lớp, cấp học Việc dạy học phát triển NL của HS do đó không chỉ dừng ở trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng thái độ sống đúng đắn mà còn phải làm cho những kiến thức sách vở trở thành hiểu biết thực sự của mỗi HS; làm cho những kĩ năng được rèn luyện trên lớp được thực hành, ứng dụng trong đời sống; làm cho thái độ sống được giáo dục qua mỗi bài học có điều kiện, môi trường để bộc
lộ, hình thành, phát triển qua các hành vi ứng xử, trở thành phẩm chất bền vững của mỗi HS
1.2.3 Một số năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh trung học phổ thông
Xu thế của giáo dục hiện nay là dạy học theo hướng phát triển NL của người
HS Xu hướng chung của giáo dục hiện đại là chuyển từ dạy học tập trung vào kiến thức sang tập trung vào dạy học phát triển năng lực Đối với HS THPT cần
có các NL chủ yếu sau [34]:
- Năng lực cốt lõi
+ Nhóm NL làm chủ và phát triển bản thân : năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực tự quản lí
+ Nhóm NL về quan hệ xã hội : năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp,
+ Nhóm NL công cụ : NL sử dụng ngôn ngữ, NL sử dụng công nghệ thông tin, NL tính toán
- Các năng lực đặc thù môn Hóa học [7]:
“+ NL nhận thức hóa học: Nhận thức được các kiến thức cơ sở về cấu tạo
chất; các quá trình hoá học; các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất
+ NL tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học: Quan sát, thu thập thông tin; phân tích, xử lí số liệu; giải thích; dự đoán được kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống
+ NL vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học: Vận dụng được kiến thức, kĩ năng
đã học để giải quyết một số vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học và một số tình huống cụ thể trong thực tiễn”
Trang 231.3 Năng lực tự học
1.3.1 Khái niệm năng lực tự học
Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là TH, nghĩa là chủ thể tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS
tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Học tập chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm về TH đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau:
- Theo từ điển Giáo dục học [25], TH là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của
GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo
- Theo Nguyễn Hiến Lê: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng” [30]
- Theo Lê Khánh Bằng: “TH là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định” [3]
- Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [41]
- Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 [6], NLTH được xác định là một trong 3 năng lực chung cốt lõi cần được hình thành và phát triển cho HS trong mọi môn học và ở các cấp học Khái niệm về NLTH được các tác giả đưa ra như sau:
NLTH là một năng lực thể hiện ở tính tự lực, sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề của một chủ thể hoạt động
Trang 24Về bản chất, các quan điểm TH ở trên đều có các điểm chung: TH là hoạt động độc lập của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, KN, kỹ xảo, những kinh nghiệm lịch
sử xã hội để hoàn thiện nhân cách của bản thân; TH do bản thân ý thức được nhiệm
vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch học tập và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học; TH có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp Tùy thuộc vào đối tượng người học mà TH có các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Từ các nhận định trên, theo chúng tôi: TH là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân, là quá trình mà người học tự ý thức nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch
và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học, tác động một cách tích cực, chủ động vào đối tượng học nhằm chuyển hóa chúng thành tri thức riêng của mình, vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập; rèn luyện và phát triển
KN, làm cho người học thay đổi và ngày càng phát triển
Với cách hiểu như trên về quá trình TH, trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực tự học với nội hàm như sau: NLTH là khả năng huy động tri thức,
kĩ năng sẵn có, kinh nghiệm bản thân, động cơ, hứng thú để tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kĩ năng mới và hoàn thiện phẩm chất của mỗi cá nhân
1.3.2 Biểu hiện của năng lực tự học
Theo chương trình GDPT tổng thể 2018 [6], NLTH của HS THPT có các biểu hiện sau: xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế; đánh giá và điều chỉnh được
kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học; biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân
Những biểu hiện của NLTH của HS THPT là cơ sở để chúng tôi xây dựng những tiêu chí đánh giá NLTH của HS THPT
Trang 251.4 Phát triển năng lực tự học thông qua E-learning
1.4.1 Khái niệm E-learning
Trong hai thập kỉ qua, với sự phát triển không ngừng của ICT, việc dạy - học với sự hỗ trợ của máy tính đã và đang trở nên quen thuộc, đặc biệt là E-Learning Thuật ngữ E-Learning được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như:
- E-learning (học tập trực tuyến) là phương thức học tập có sử dụng kết nối mạng Internet để phục vụ học tập, lấy tài liệu học tập, trao đổi giao tiếp giữa người học với nhau và với giảng viên [64]
- E-learning là việc truyền tải các hoạt động, quá trình và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, Intranet, Extranet, CD-ROM, băng video, DVD, TV, các thiết bị cá nhân, [63]
- E-learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử, qua nhiều kỹ thuật khác nhau như Internet, TV, băng video, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính [62]
Hiện nay, E-learning được nhìn dưới góc độ tổng quát hơn, theo nghĩa là việc
sử dụng ICT có chủ đích để nâng cao hoặc hỗ trợ việc dạy học [45], [54] Trong luận văn này chúng tôi hiểu E-learning là việc người học sử dụng CNTT tự lực chiếm lĩnh kiến thức và phát triển NLTH bản thân
1.4.2 Vai trò E-learning trong việc phát triển năng lực tự học
1.4.2.1 Chức năng của E-learning trong việc thực hiện các biện pháp dạy – tự học
Để thực hiện các biện pháp bồi dưỡng NLTH, chúng tôi đã phân tích, chọn lọc các phương tiện dạy học hiện có và xác định E-learning có các tính năng hỗ trợ dạy - tự học hiệu quả như:
- Dễ sử dụng qua giao diện màn hình, kích chuột và gõ trên bàn phím;
- Các nội dung học tập bằng nhiều định dạng của E-learning hấp dẫn, trực quan,
dễ truy cập trên Internet tạo điều kiện cho HS có thể học tập mọi lúc, mọi nơi phù hợp với điều kiện và sở thích cá nhân, góp phần duy trì động cơ học tập
- HS tự học có sự hỗ trợ của GV theo cách thoải mái nhất (cá nhân hóa việc học của mình), đảm bảo cho HS dù là tự chủ, tự định hướng nhưng luôn học KT và
KN tự học theo cách đúng nhất, đã được GV thiết kế và dự trù trước
Trang 26Các tính năng của E-learning đã làm tăng cường độ hoạt động học tập của HS, hình thành cho HS thói quen phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy khoa học, có như vậy mới tạo cho HS động cơ hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng, thói quen ý chí tự
học, rèn luyện và bồi dưỡng NLTH
1.4.2.2 Các tiêu chuẩn của E-learning hỗ trợ dạy – tự học hóa học
- Tiêu chuẩn về học liệu: Giáo dục (giáo dục ý thức tự học, động cơ tự học,
duy trì hứng thú tự học); phát triển năng lực (hướng dẫn HS rèn luyện các kĩ năng: tìm và xử lý thông tin, vận dụng giải quyết vấn đề đặt ra); giáo dục kỹ thuật tổng hợp (rèn luyện cho HS các kĩ năng sử dụng máy vi tính và CNTT)
- Tiêu chuẩn về PPDH: Dạy học GQVĐ là chiến lược dạy học; học đến
đâu kiểm tra đến đó; học đến đâu hệ thống hóa đến đó; học tập tương tác và phân hóa theo từng cá nhân HS
- Tiêu chuẩn về phương tiện DH: Video thí nghiệm (ưu tiên 1); video mô phỏng
thí nghiệm (ưu tiên 2); cập nhật các hình ảnh, sự kiện, tư liệu thời sự nóng bỏng, đang được quan tâm; video phải có chất lượng tốt, âm thanh và hình ảnh hợp lý…
- Tiêu chuẩn về kĩ thuật: Dễ sử dụng, thân thiện với người dùng; truy cập và
hiển thị nhanh, dễ dàng lưu trữ và truy xuất khi cần
1.5 Mô hình lớp học đảo ngược
1.5.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược
Lớp học đảo ngược là một mô hình dạy học được áp dụng rộng rãi trong nhiều trường học, từ các lớp tiểu học, trung học đến đại học, đã làm đảo ngược cách tổ chức dạy học theo truyền thống
Lớp học đảo ngược là tất cả các hoạt động dạy – học được thực hiện “đảo ngược” so với thông thường Sự “đảo ngược” ở đây được hiểu là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lược sư phạm ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu DH và các hoạt động DH khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học [15]
Ở lớp học đảo ngược sẽ ngược lại với mô hình lớp học truyền thống, HS được xem trước tại nhà những bài giảng, những video, học liệu về lý thuyết, bài tập cơ bản
GV thực hiện và được chia sẻ qua Internet, trong khi thời gian ở lớp lại dành cho việc giải đáp thắc mắc của HS, làm bài tập khó hay thảo luận sâu hơn về kiến thức
Trang 27Một số kiểu mô hình lớp học đảo ngược tiêu biểu [44]:
LHĐN căn bản: HS được yêu cầu xem video bài giảng và tài liệu học tập ở nhà
như là điều kiện bắt buộc chuẩn bị cho giờ học lên lớp Trong giờ học trên lớp, HS vận dụng kiến thức đã học ở nhà nhằm mở rộng kiến thức
LHĐN micro: Các video bài giảng ngắn cùng với các bài tập ngắn được giao
cho HS Phần còn lại của bài giảng và bài tập được tiến hành trong giờ học
LHĐN hướng dẫn - thảo luận: Bài tập về nhà được giao ở dạng bài giảng video
và nguồn video khác Các cuộc thảo luận diễn ra trong lớp học để HS khám phá thêm các chủ đề, bổ sung thêm các hiểu biết sau khi nghiên cứu những điều cơ bản
LHĐN chú trọng làm mẫu: Dành cho môn học yêu cầu HS ghi nhớ và lặp lại
hành động một cách chính xác Các công cụ ghi hình được sử dụng để tạo các video hướng dẫn được sử dụng như bài tập về nhà để HS học tập theo nhịp độ và khả năng
LHĐN của Faux: Đây là một mô hình cho những HS nhỏ tuổi Bài tập về nhà
được thay thế bằng các bài giảng video có hướng dẫn và các học liệu khác Trên lớp, lần lượt HS được GV hướng dẫn và hỗ trợ để hiểu nội dung học tập
LHĐN theo nhóm: Sau khi HS nghiên cứu các tài liệu được cung cấp, nhóm
HS làm bài tập trong lớp học HS giải thích kết quả bài tập với nhau, qua đó tăng khả năng hiểu và ghi nhớ kiến thức
LHĐN ảo: HS được tiếp cận bài giảng, nguồn học liệu trên mạng và làm bài
tập nộp cho GV HS gặp GV trên lớp học theo nhu cầu của từng cá nhân
LHĐN vai trò GV: HS tự quay video để thể hiện sự hiểu biết kiến thức, kĩ năng
NL của mình, về vai trò của mình trong nhóm GV đánh giá sự tiến bộ học tập thông qua các video của HS
1.5.2 Ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình lớp học đảo ngược có những ưu điểm sau [46], [47], [48]:
- GV đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của HS nên có nhiều thời gian để theo dõi quan sát hoạt động của HS, có điều kiện tập trung cho nhiều đối tượng HS khác nhau, nhất là các đối tượng cần nhiều sự hỗ trợ hơn so với các bạn
- HS có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình, chủ động, tự chủ học tập
- Tăng cường khả năng tương tác, tương tác ngang hàng giữa các HS với nhau
Trang 28- HS có nhiều cơ hội học hỏi với bạn, với thầy
- HS tự quyết định tốc độ học phù hợp, có thể tua nhanh hoặc xem lại nhiều lần khi chưa hiểu, qua đó làm chủ việc học của mình
- Hỗ trợ các HS vắng mặt nhờ các bài học luôn trực tuyến và được lưu trữ lại
- HS tiếp thu tốt hơn có thể được chuyển tiếp đến các chương trình học cao hơn mà không ảnh hưởng gì đến các bạn còn lại
- Phụ huynh có nhiều cơ hội hỗ trợ cho HS chuẩn bị bài tốt hơn trong thời gian
tự học ở nhà
Hình 1.3 So sánh lớp học truyền thống và mô hình LHĐN
Theo Marks [58], học tập theo mô hình LHĐN sẽ góp phần rèn luyện và phát triển các cấp độ tư duy bậc cao theo thang đo nhận thức của Bloom cho HS Điều này
được mô tả trong hình 1.4
Hình 1.4 So sánh cấp độ tư duy của HS theo thang đo của Bloom
Trang 291.5.3 Hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình lớp học đảo ngược cũng tồn tại những hạn chế sau:
- Không phải mọi HS đều có đủ điều kiện về máy vi tính và kết nối Internet để
tự học trực tuyến
➢ - Việc tiếp cận với nguồn học liệu có thể khó khăn với một số em chưa có
kĩ năng về CNTT và mạng Internet Tốc độ mạng không phải lúc nào cũng ổn
định để thuận lợi khi học tập
➢ - Rất khó để thiết kế Video bài học đúng với ý tưởng sư phạm, thực hiện được đúng PPDH, có tính toán hỗ trợ người học phù hợp để HS tự học và học cách tự học Thông thường GV sẽ sử dụng các video được thiết kế sẵn, được chia sẻ nhưng sẽ không hoàn toàn phù hợp với GV đó, hoặc nếu tự làm thì rất nhiều thời gian hoặc chất lượng video không đạt đủ yêu cầu hỗ trợ tự học
- HS không thể nêu các thắc mắc, đặt câu hỏi những vấn đề chưa hiểu
- Động lực của HS là yếu tố then chốt khi tự học
- Để kích thích và tạo động lực cho HS thì GV phải có kiến thức về CNTT ở một mức độ nhất định, phải đầu tư thời gian và công nghệ lớn
Những phân tích trên cho thấy vai trò của GV trong việc thiết kế, điều hướng,
hỗ trợ HS trong các hoạt động nhóm trên lớp cũng rất quan trọng, quyết định sự thành công của mô hình
1.5.4 Phương tiện học tập trong mô hình lớp học đảo ngược
Trong lớp học đảo ngược, HS là chủ thể, là trung tâm của quá trình dạy học;
HS được tạo cơ hội để trình bày ý tưởng, đặt câu hỏi, và làm rõ những thắc mắc, quan niệm sai lầm (Bergmann & Sams, 2012) Năm 1984, Benjamin Bloom đã công bố rằng trong môi trường lớp học đảo ngược, các hướng dẫn cá nhân có hiệu quả hơn so với môi trường lớp học thông thường
Luận văn nghiên cứu sử dụng E-learning hỗ trợ dạy - tự học trong mô hình lớp học đảo ngược nên E-learning (cụ thể là các học liệu số hóa, các video bài giảng…) chính là phương tiện học tập của mô hình lớp học đảo ngược Các học liệu, bài giảng
có thể dưới nhiều định dạng khác nhau như slide, file âm thanh, podcast (video ngắn-
sử dụng trên hệ điều hành IOS), bài thuyết trình PowerPoint, video (có thể nhúng các hình ảnh động), hình chụp màn hình hay các tài liệu đa phương tiện khác phù hợp với sự đa dạng về trình độ học tập và khả năng tiếp thu của HS [60] Theo Jami Carlacio, những điều kiện cần thiết để sử dụng lớp học đảo ngược hiệu quả gồm mọi
Trang 30HS đều có thể truy cập Internet để xem bài giảng; video phải bắt đầu với âm lượng nhỏ và tăng dần lên; mỗi video được bắt đầu bằng 1 tình huống, 1 câu hỏi gây chú ý; nội dung video phải chuẩn xác, chất lượng tốt, âm thanh và hình ảnh hợp lý sẽ giúp
HS học tập tốt hơn [37]
Nhưng nếu không tự làm được các bài giảng video thiết kế công phu thì có tổ chức lớp học đảo ngược được không? Các nhà nghiên cứu cũng đã giả thuyết tình huống này và câu trả lời là “có thể được” Học liệu cung cấp cho HS sử dụng ở nhà không luôn bắt buộc phải là video (mặc dù các hiệu ứng hình ảnh đa phương tiện gây hứng thú và tạo động lực hơn) Tài liệu học tập có thể là một tập tin âm thanh hoặc một video Các tập tin âm thanh và video cho HS xem ở nhà không được dài hơn 15 phút và có thể kèm theo một số câu hỏi HS phải chuẩn bị để thảo luận trên lớp
Hiện nay, trên Youtube đã có rất nhiều video dạy học hấp dẫn với nội dung bài học được trình bày thành các đoạn video ngắn giúp HS dễ tiếp thu hơn HS yếu hơn
có thể thoải mái xem lại video nhiều lần cho đến lúc thực sự hiểu bài mà không phải ngại ngùng với các bạn cùng lớp hay GV của mình Ngược lại, HS giỏi hơn có thể tiếp tục học với các nội dung cao hơn, tránh sự chán nản
Khi có được các phương tiện thích hợp, GV sẽ phát huy hết sự sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho bài giảng hấp dẫn hơn, để HS có những tình cảm tốt đẹp với môn học và làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng
Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của HS tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe - thấy - làm được, nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, GV có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của HS và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng, kỹ xảo của HS
1.5.5 Quy trình học tập trong mô hình lớp học đảo ngược
Nhờ sự hỗ trợ của E-learning, HS tự học cá nhân ở nhà với tài liệu điện tử (tự giác, tích cực, đúng kế hoạch, tự đặt câu hỏi…) HS ngoài hoàn thành các câu hỏi kiểm tra cuối mỗi đơn vị kiến thức còn phải hoàn thành phiếu hướng dẫn tự học HS đến lớp với phiếu tự học đã hoàn thành và những câu hỏi thắc mắc về bài học; Bài học trên lớp sẽ tăng cường hoạt động vận dụng kiến thức lý thuyết bằng hợp tác giữa
HS - HS (hoạt động nhóm), giữa HS - GV (nêu câu hỏi, giải đáp thắc mắc), nâng mức lĩnh hội kiến thức mới lên bậc hiểu, vận dụng; qua đó vừa bồi dưỡng các NLTH vừa đào sâu mở rộng kiến thức
Trang 31Như vậy, qua các hoạt động học tập trong mô hình lớp học đảo ngược, HS sẽ được rèn luyện tính tự giác, tích cực, đúng kế hoạch, tự đặt câu hỏi khi TH ở nhà với E-learning…Khi học với bạn, HS được rèn luyện các KN trao đổi làm việc nhóm; Khi học thầy, HS hỏi thầy, lắng nghe, ghi chép, học hỏi phong thái giao tiếp của thầy
HS còn được học và rèn luyện các KN viết, nói, thuyết trình
Hạn chế khi học tập với E-learning là không có nhiều điều kiện rèn luyện các
KN sáng tạo, giải quyết vấn đề và tư duy phê bình, các kĩ năng giao tiếp…Mô hình lớp học đảo ngược đã tạo điều kiện khắc phục hạn chế này của E-learning Trên lớp
HS được tham gia hoạt động nhóm, rèn luyện các KN hợp tác, giao tiếp, trình bày, GQVĐ Muốn vậy, HS phải có những kiến thức nền tảng nhất định Chính TH ở nhà với E-learning là chìa khóa giúp HS thực hiện tốt hoạt động trên lớp của mình Nghiên cứu của Cordova và Lepper [49] cho thấy rằng HS tham gia các hoạt động học tập và thực hành trong các nhóm đồng đẳng có thể hiểu sâu hơn chủ đề được học so với khi học tập độc lập, đồng thời các kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng TH cũng được nâng cao hơn
Hình 1.5 Quy trình tổ chức dạy học theo mô hình Lớp học đảo ngược
Trang 321.5.6 Quy trình sử dụng E-learning hỗ trợ dạy – tự học
Theo Sugata Mitra [65], có 6 bước để thực hiện tổ chức môi trường học tự học:
GV gợi mở, tạo hứng thú học tập, khuyến khích HS đặt câu hỏi; (2) HS chuẩn bị phương tiện thiết bị thực hiện; (3) HS lập kế hoạch thực hiện trả lời các câu hỏi; (4)
GV giải thích những yêu cầu khi thực hiện, thắc mắc (nếu có), phân chia nhóm (nếu có) và giao nhiệm vụ cụ thể cho cá nhân, nhóm → HS thực hiện nhiệm vụ → yêu cầu các cá nhân, nhóm lớp trở lại cùng với cả lớp, trình bày phát hiện của họ và nói về cách thực hiện → HS với vai trò là người điều hành, lắng nghe và khuyến khích các nhóm khác quan sát, không thêm giá trị cho bài thuyết trình → HS tóm tắt những gì nhóm đã nói và bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện nội dung → GV yêu cầu HS phát biểu cảm nghĩ về kinh nghiệm khi thực hiện, những gì đã thực hiện tốt, những gì cần phải khắc phục và lưu ý các cá nhân khác khi thực hiện nhiệm vụ này, cảm nhận về các góp ý của các GV và HS khác, nhận xét góp ý về các thành viên khác trong nhóm khi thực hiện nhiệm vụ; (5) HS khắc phục, điều chỉnh những tồn tại; (6) GV và HS định hướng hoạt động tự học tiếp theo
Dựa trên quan điểm của Sugata Mitra và các nghiên cứu [19], [41] có thể thấy rằng dạy và tự học có mối quan hệ biến chứng, tác động lẫn nhau, cùng hướng đến sự phát triển bản thân người học (về năng lực, thái độ, kĩ năng, nhận thức) Kết quả của quá trình dạy - tự học là người học không những được nâng cao về kiến thức, kĩ năng
bộ môn mà còn có khả năng tự đảm nhiệm, tự tổ chức và thực hiện quá trình học tập hiệu quả Với thời gian 45 phút, tiết học trên lớp là cơ hội để GV và HS được giáp mặt với nhau, trao đổi trực tiếp các thông tin, là đặc thù mà hình thức học tập trực tuyến không thể thay thế Do đó các hoạt động chính khi học tập trên lớp có sự hỗ trợ của E-learning bao gồm:
- Kiểm tra đánh giá kết quả tự học ở nhà với E-learning của HS
- Giải đáp các thắc mắc và Hợp thức hóa kiến thức mới
- HS giải bài tập vận dụng, hoạt động nhóm học tập
- Giao phiếu hướng dẫn tự học cho bài hôm sau
Kiểm tra đánh giá kết quả tự học ở nhà với E-learning của HS
Sản phẩm tự học ở nhà là phiếu tự học mà GV giao, HS cần hoàn thành ở nhà Trong hoạt động này, HS được rèn luyện kĩ năng tự học không có hướng dẫn trực tiếp
Trang 33của GV vì thế HS sẽ được rèn luyện tính tự lực, các phẩm chất trí tuệ như tính linh hoạt, độc lập, sáng tạo…
Phần cuối của phiếu hướng dẫn TH yêu cầu HS nêu câu hỏi của mình về bài học Dựa trên các câu hỏi chất vấn, GV sẽ đánh giá mức độ nắm kiến thức của HS
Khi học tập trực tiếp trên lớp, GV tổ chức cho HS trình bày sản phẩm tự học
ở nhà của mình Qua hoạt động này HS còn được rèn luyện kĩ năng trình bày bằng ngôn ngữ Hóa học, đồng thời GV tổ chức cho HS đánh giá đồng đẳng với nhau nhằm kiểm tra đánh giá kết quả tự học ở nhà của HS
Giải đáp các thắc mắc và hợp thức hóa kiến thức mới
Trong quá trình học tập trên lớp, HS được nêu câu hỏi, thắc mắc của mình Lúc đó, bằng việc chia sẻ và so sánh kết quả tiếp nhận kiến thức của mình với GV và các bạn cùng lớp, HS được rèn luyện các kĩ năng trình bày, lập luận bằng ngôn ngữ Hóa học
Khi HS trình bày các sản phẩm tự học, GV tiến hành nhận xét, hợp thức hóa kiến thức/kĩ năng bám sát mục tiêu bài học GV sử dụng BĐTD hoặc bảng biểu để hệ thống hóa bài học Dựa trên kết quả trình bày của HS, GV nắm bắt tư tưởng, cách suy luận của HS để kịp thời uốn nắn về cách tư duy, trình bày của HS
HS giải bài tập vận dụng, hoạt động nhóm học tập
Hoạt động này giúp HS nắm vững và vận dụng thành thạo kiến thức được học Tham gia hoạt động nhóm, HS sẽ được trải nghiệm và được rèn luyện kĩ năng trao đổi thông tin, thu nhập dữ kiện để giải đáp các nhiệm vụ của nhóm Quá trình này rèn luyện cho HS các kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng tập trung được suy nghĩ của người khác, kĩ năng hòa hợp để tạo quan điểm chung Ngoài ra HS còn được tạo mội trường để xây dựng và củng cố các mối quan hệ tốt với bạn bè xung quanh
Nâng cao kiến thức và hướng dẫn tự học tiếp theo
Thông qua hoạt động hướng dẫn tự học kiến thức tiếp theo, GV cung cấp và hướng dẫn cho HS cách khai thác nguồn học liệu qua đó HS được học và rèn luyện các kĩ năng lựa chọn và khai thác tài liệu, kĩ năng về CNTT Tiến trình sử dụng E-learning theo mô hình lớp học đảo ngược được làm rõ trong hình 1.6
Trang 34Hình 1.6 Quy trình sử dụng E-learning theo mô hình lớp học đảo ngược 1.5.7 Các biểu hiện của năng lực tự học thông qua áp dụng mô hình lớp học đảo ngược
- Hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp: hoạt động
TH ở nhà trên lớp học đảo ngược sẽ giúp HS hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp
- Hình thành thói quen đặt câu hỏi: trên lớp học đảo ngược HS có thể xem lại khi cần hoặc sử dụng tài liệu có sẵn để tìm ra câu trả lời đúng Với những vấn đề chưa hiểu, HS có thể chủ động hỏi thầy cô ngay trên lớp học và được GV trả lời online ngay lúc đó HS đã biết cách đặt câu hỏi là khi HS biết mình cần hỏi gì, hỏi đúng trọng tâm
- Thể hiện nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy cô: thông qua thảo luận nhóm trên lớp học đảo ngược, HS biết cách tự thể hiện ý kiến của mình, bộc lộ suy nghĩ của bản thân giúp HS tự tin đưa ra kiến
- Hình thành và phát triển ngôn ngữ: trong mô hình lớp học đảo ngược, giờ học ở lớp sẽ được GV tận dụng tối đa tổ chức cho HS vận dụng, thực hành kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề mở Trong các hoạt động này, HS được rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhiều người (nhóm
Trang 35học tập, lớp, các GV), thực hành theo nhóm, biết sử dụng các ngôn ngữ và giao tiếp với tư cách cá nhân hay tư cách là người đại diện cho nhóm
- Hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức để tự chủ động giải quyết vấn đề
- Hình thành các kĩ năng khai thác, sử dụng các phương tiện CNTT và truyền thông hiện đại hiệu quả
1.6 Thực trạng về việc phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông
1.6.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc phát triển NLTH thông qua mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học hóa học và điều tra về tình hình TH của HS ở các trường THPT hiện nay
1.6.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 34 GV hóa học và 257 HS lớp 10 tại hai trường THPT ở Hà Nội trong năm học 2020-2021
1.6.3 Nội dung và phương pháp điều tra
1.6.3.1 Nội dung điều tra
Trang 36- Dự giờ các tiết dạy Hóa học
1.6.3.4 Đối tượng khảo sát
Biểu đồ 1.1 Mức độ sử dụng các PP/KTDH trong DH hóa học
Biểu đồ cho thấy PP/KTDH được phần lớp GV sử dụng thường xuyên nhất trong dạy học môn Hóa học là sử dụng bài tập hướng dẫn HS tự học và phương pháp thảo luận nhóm Nhiều GV thỉnh thoảng hoặc thường xuyên sử dụng tài liệu hướng dẫn tự học, KTDH KWL, KTDH SĐTD PPDH theo hợp đồng khiếm khi sử dụng Phương pháp thiết kế website hướng dẫn HS tự học còn rất it và nhiều GV còn chưa bao giờ thực hiện Như vậy, GV phần lớn đã sử dụng các PP/KTDH tích cực trong
DH Hóa học Các GV cho phương pháp thiết kế website hướng dẫn HS TH còn ít được sử dụng vì cần đầu tư thời gian để tìm hiểu và GV còn có ít kinh nghiệm để học tập và trao đổi
Trang 37Câu hỏi 2:
Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng các công cụ đánh giá trong DH Hóa học
Biểu đồ cho thấy đa phần GV thường xuyên sử dụng các dạng câu hỏi trắc nghiệm/tự luận, trắc nghiệm có nhiều lựa chọn và vấn đáp để đánh giá HS; thỉnh thoảng đánh giá qua phiếu đánh giá của GV và tổ chức HS tự đánh giá Việc đánh giá qua vở tự học của HS còn ít sử dụng Nguyên nhân có thể là do chương trình hóa học hiện hành vẫn còn là chương trình theo hướng tiếp cận nội dung nên việc đánh giá còn nặng về kiến thức, kỹ năng hơn là đánh giá quá trình phát triển, sự sáng tạo tìm tòi kiến thức qua vở tự học của HS
Câu hỏi 3:
đồng ý
1 Xác định nội dung cần TH: HS xác định nội dung về
KT, KN và mức độ cần đạt được của từng nội dung
2
Xác định phương pháp và phương tiện TH: HS xác
định các biện pháp cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ TH
trong đó đề xuất phương tiện và cách thức khai thác để
lĩnh hội những nội dung TH đã xác định
3
Xác định thời gian TH và dự kiến kết quả: HS xác định
được quỹ thời gian cho mỗi hoạt động TH và đưa ra dự
kiến sản phẩm đạt được sau khi TH
4 Thu thập/Tìm kiếm nguồn thông tin TH: HS nghe, đọc,
ghi chép, quan sát để lấy thông tin và chọn lọc nguồn
Trang 38thông tin qua sách giáo khoa, sách tham khảo, website,
khảo sát thực tiễn, thực nghiệm, giáo trình điện tử,
5
Phân tích và xử lí thông tin đã tìm kiếm: HS so sánh,
đối chiếu, phân tích, giải thích, chứng minh các thông tin
thu thập được và rút ra kết luận
6
Vận dụng KT, KN để giải quyết tình huống/ nhiệm vụ
học tập: HS đề xuất và lựa chọn các KT, KN để giải quyết
các yêu cầu của tình huống/nhiệm vụ học tập
7
Đánh giá kết quả TH theo thang đánh giá NLTH và
chuẩn KT, KN: HS phân tích, so sánh, đối chiếu kết quả
TH với thang đánh giá NLTH và chuẩn KT, KN để đưa ra
nhận xét, kết luận về mức độ NLTH và điểm số đạt được
8
Điều chỉnh và rút ra bài học kinh nghiệm cho nhiệm
vụ TH tiếp theo: HS nhận ra và điều chỉnh được những
sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình TH, rút kinh
nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống/nhiệm vụ
học tập khác
Biểu đồ 1.3 Đánh giá của GV đối với biểu hiện NLTH của HS THPT
Từ biểu đồ, chỉ có một GV lựa chọn không đồng ý với biểu hiệu số (5), và hai
GV không đồng ý với biểu hiện số (8), còn lại các GV đều đồng ý với các biểu hiện
Trang 39NLTH mà chúng tôi đã đưa ra Qua đó, có thể thấy vấn đề phát triển NLTH cho HS rất được GV quan tâm
Câu hỏi 4:
Biểu đồ 1.4 Kết quả GV đánh giá NLTH của HS THPT
Kết quả cho thấy GV đánh giá NLTH của HS THPT ở mức độ khá (44,1%) và mức độ trung bình (38,2%) Điều này, một lần nữa khẳng định việc nghiên cứu tìm ra biện pháp phát triển NLTH của HS THPT là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học giai đoạn hiện nay
Câu hỏi 5:
Biểu đồ 1.5 GV sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Hóa học
Qua kết quả khảo sát, bộ phận GV chưa biết (26,5%), biết nhưng chưa áp dụng (23,5%) chiếm tỉ lệ 50% số lượng GV tham gia khảo sát Qua trao đổi, các thầy cô cho biết có những khó khăn nhất định khi áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học, như: điều kiện cơ sở vật chất của HS hoặc nhà trường chưa thể đáp ứng, mô hình lớp học đảo ngược còn chưa được tập huấn, giới thiệu đến với GV THPT
Trang 40Câu hỏi 6:
Biểu đồ 1.6 Mức độ thường xuyên DH trực tuyến môn Hóa học
Câu hỏi 7:
Biểu đồ 1.7 Cách thức DH trực tuyến môn Hóa học
Biểu đồ 1.7 cho thấy mức độ thường xuyên DH trực tuyến của GV đạt tỉ lệ rất cao (61,8%), điều này có thể giải thích do ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đã làm cho 2 trường học khảo sát đều phải dạy học trực tuyến trong thời gian giãn cách Tuy nhiên, cách thức dạy học trực tuyến được nhiều GV tổ chức là qua phần mềm ứng dụng (Zoom, Google meet, Teams…) (97,1%) hoặc tạo nhóm/lớp học (qua zalo, facebook…) (50%) Việc thiết kế website, bài giảng E-learning chưa được nhiều GV thực hiện Qua trao đổi, các thầy/cô giáo đều cho rằng việc dạy học trực tuyến đại trà cho HS đến khá bất ngờ do ảnh hưởng của dịch Covid – 19, nên chưa có nhiều thời gian để quan tâm nhiều và đầu tư bài bản, chưa có sự kết hợp chặt chẽ với việc học trên lớp, do đó cũng chưa mang lại hiệu quả tốt nhất
Câu hỏi 8: