1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tập bài giảng Nguyên lý thống kê kinh tế

157 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái ni ệm tổng thể thống kê và đơn vị của tổng thể Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị hay phần tử thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích về mặt lượng của

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU THỐNG KÊ HỌC 1

1.1 Khái niệm, vai trò và đối tượng nghiên cứu của thống kê học 1

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của thống kê học 1

1.1.2 Khái niệm thống kê học 3

1.1.3 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học 4

1.1.4 Vai trò của thống kê học 6

1.2 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê 6

1.2.1 Tổng thể thống kê và đơn vị của tổng thể 6

1.2.1.1 Khái niệm tổng thể thống kê và đơn vị của tổng thể 6

1.2.1.2 Phân loại tổng thể thống kê 7

1.2.2 Tiêu thức thống kê 8

1.2.2.1 Khái niệm tiêu thức thống kê 8

1.2.2.2 Phân loại tiêu thức thống kê 9

1.2.3 Chỉ tiêu thống kê 9

1.2.3.1 Khái niệm chỉ tiêu thống kê 9

1.2.3.2 Phân loại chỉ tiêu thống kê 10

1.2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu thống kê 11

1.2.4 Thang đo trong thống kê 12

1.2.4.1 Thang đo định danh 12

1.2.4.2 Thang đo thứ bậc 12

1.2.4.3 Thang đo khoảng 12

1.2.4.4 Thang đo tỷ lệ 13

1.3 Quá trình nghiên cứu thống kê các hiện tượng kinh tế - xã hội 14

1.3.1 Điều tra thống kê 14

1.3.2 Tổng hợp thống kê 15

1.3.3 Phân tích và dự báo thống kê 15

TÓM TẮT CHƯƠNG 17

CÂU HỎI ÔN TẬP 18

CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA VÀ TỔNG HỢP THỐNG KÊ 19

2.1 Điều tra thống kê 19

2.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và yêu cầu của điều tra thống kê 19

2.1.2 Phân loại điều tra thống kê 20

2.1.3 Các hình thức tổ chức điều tra thống kê 22

2.1.4 Các phương pháp điều tra thống kê 23

2.1.4.1 Phương pháp trực tiếp 23

Trang 2

2.1.4.2 Phương pháp gián tiếp 24

2.1.5 Sai số trong điều tra thống kê 24

2.1.6 Xây dựng phương án điều tra thống kê 25

2.2 Tổng hợp thống kê 28

2.2.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của tổng hợp thống kê 28

2.2.2 Yêu cầu của tổng hợp thống kê 29

2.2.3 Nội dung tổng hợp thống kê 30

2.2.4 Phương pháp tổng hợp thống kê 31

2.2.4.1 Khái niệm, phân loại, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tổ thống kê 31

2.2.4.2 Căn cứ lựa chọn tiêu thức phân tổ thống kê 33

2.2.4.3 Xác định số tổ và khoảng cách tổ 34

2.2.5 Các hình thức tổng hợp thống kê 37

2.2.5.1 Tổng hợp từng cấp và tổng hợp tập trung 37

2.2.5.2 Tổng hợp thủ công và tổng hợp bằng máy 38

2.2.6 Trình bày dữ liệu thống kê 39

2.2.6.1 Bảng thống kê 39

2.2.6.2 Đồ thị thống kê 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 41

CÂU HỎI ÔN TẬP 43

BÀI TẬP 44

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ 46

3.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ và nội dung của phân tích và dự đoán thống kê 46 3.1.1 Khái niệm phân tích và dự đoán thống kê 46

3.1.2 Ý nghĩa của phân tích và dự đoán thống kê 46

3.1.3 Các nguyên tắc của phân tích và dự đoán thống kê 48

3.2 Phân tích thống kê mức độ của hiện tượng 50

3.2.1 Chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối trong thống kê 50

3.2.1.1 Đặc điểm, ý nghĩa của chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối 50

3.2.1.2 Đơn vị tính toán chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối thống kê 51

3.2.1.3 Các chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối trong thống kê 52

3.2.2 Số tương đối trong thống kê 54

3.2.2.1 Khái niệm chung về số tương đối trong thống kê 54

3.2.2.2 Đặc điểm số tương đối trong thống kê 55

3.2.2.3 Các loại số tương đối trong thống kê 56

3.2.2.4 Điều kiện vận dụng chung số tuyệt đối và số tương đối trong thống kê 59

3.2.3 Chỉ tiêu mức độ khối lượng bình quân trong thống kê 60

Trang 3

3.2.3.1 Ý nghĩa, đặc điểm của chỉ tiêu mức độ khối lượng bình quân 60

3.2.3.2 Các loại chỉ tiêu mức độ bình quân trong thống kê và phương pháp xác định 61

3.2.4 Chỉ tiêu mức độ biến thiên của tiêu thức 78

3.2.4.1 Khái niệm, ý nghĩa nghiên cứu mức độ biến thiên của tiêu thức 78

3.2.4.2 Các chỉ tiêu biểu hiện độ biến thiên của tiêu thức 80

TÓM TẮT CHƯƠNG 85

CÂU HỎI ÔN TẬP 86

BÀI TẬP 87

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MỐI LIÊN HỆ GIỮACÁC HIỆN TƯỢNG96 4.1 Mối liên hệ và phương pháp phân tích hồi quy và tương quan 96

4.1.1 Mối liên hệ 96

4.1.1.1 Liên hệ hàm số 96

4.1.1.2 Liên hệ tương quan 96

4.1.2 Phương pháp phân tích hồi quy và tương quan 96

4.1.2.1 Nhiệm vụ của phân tích hồi quy và tương quan 97

4.1.2.2 Ý nghĩa của phân tích hồi quy và tương quan 97

4.2 Phân tích mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa 2 tiêu thức 97

4.2.1 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa hai tiêu thức 97

4.2.2 Hệ số tương quan tuyến tính (ký hiệu: r) 100

4.3 Phân tích mối liên hệ tương quan phi tuyến tính giữa 2 tiêu thức 101

4.3.1 Một vài mô hình hồi quy phi tuyến 101

4.3.2 Tỷ số tương quan (ký hiệu ƞ: êta) 103

4.4 Phân tích mối liên hệ tương quan tuyến tính bội 105

4.4.1 Mô hình hồi quy tuyến tính bội 105

4.4.2 Hệ số tương quan bội và hệ số tương quan riêng phần 107

TÓM TẮT CHƯƠNG 109

CÂU HỎI ÔN TẬP 110

BÀI TẬP 111

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CỦA CÁC HIỆN TƯỢNG THEO THỜI GIAN 113

5.1 Dãy số biến động theo thời gian 113

5.1.1 Khái niệm 113

5.1.2 Cấu tạo 113

5.1.3 Phân loại 113

5.1.4 Các yêu cầu 114

5.1.5 Tác dụng 114

Trang 4

5.2 Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian 114

5.2.1 Mức độ bình quân theo thời gian 114

5.2.1.1 Đối với dãy số thời kỳ 114

5.2.1.2 Đối với dãy số thời điểm 115

5.2.2 Lượng tăng (giảm) tuyệt đối 117

5.2.3 Tốc độ phát triển 118

5.2.4 Tốc độ tăng (giảm) 120

5.2.5 Giá trị tuyệt đối 1% tăng (giảm) 121

5.3 Các phương pháp biểu hiện xu hướng biến động cơ bản của hiện tượng 122

5.3.1 Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian 122

5.3.2 Phương pháp bình quân trượt 123

5.3.3 Phương pháp hồi quy theo thời gian 124

5.3.3.1 Hàm số tuyến tính 124

5.3.3.2 Hàm số bậc 2 (phương trình Parabon bậc 2) 126

5.3.3.3 Phương trình hàm số mũ 127

5.4 Một số phương pháp dự báo thống kê theo dãy số thời gian 127

5.4.1 Dự báo dựa vào lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân 127

5.4.2 Dự báo dựa vào tốc độ phát triển bình quân 128

5.4.3 Dự báo bằng ngoại suy hàm xu thế 128

TÓM TẮT CHƯƠNG 130

CÂU HỎI ÔN TẬP 131

BÀI TẬP 132

CHƯƠNG 6: HỆ THỐNG CHỈ SỐ 134

6.1 Chỉ số 134

6.1.1 Khái niệm 134

6.1.2 Phân loại chỉ số 134

6.1.3 Đặc điểm của phương pháp chỉ số 135

6.1.4 Tác dụng của phương pháp chỉ số 135

6.2 Phương pháp tính chỉ số 136

6.2.1 Chỉ số phát triển 136

6.2.1.1 Chỉ số đơn 136

6.2.1.2 Chỉ số tổng hợp 137

6.2.2 Chỉ số không gian 141

6.2.2.1 Chỉ số đơn 141

6.2.2.2 Chỉ số tổng hợp 142

6.3 Hệ thống chỉ số 143

6.3.1 Khái niệm 143

Trang 5

6.3.2 Tác dụng của hệ thống chỉ số 143

6.3.3 Phương pháp xây dựng 143

6.3.3.1 Hệ thống chỉ số tổng hợp 144

6.3.3.2 Hệ thống chỉ số của chỉ tiêu trung bình 145

TÓM TẮT CHƯƠNG 148

CÂU HỎI ÔN TẬP 149

BÀI TẬP 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU THỐNG KÊ HỌC

1.1 Khái ni ệm, vai trò và đối tượng nghiên cứu của thống kê học

1.1.1 S ự ra đời và phát triển của thống kê học

Thống kê học ra đời, phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và là một trong những môn khoa học xã hội có lịch sử lâu dài nhất Đó là một quá trình phát triển không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, được đúc rút dần thành lý luận khoa học và ngày nay đã trở thành một môn khoa học độc lập

Thống kê có lịch sử phát triển qua nhiều thế kỷ Sự xuất hiện và phát triểncủa nó

là do nhu cầu thực tiễn của xã hội: khi cần để tính toán dân số, số gia súc,đất đai canh tác, số tài sản v.v Những hoạt động này xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc từ thế kỷ

23 trước công nguyên Vào thời La mã cổ đại cũng diễn ra sự ghichép, tính toán những người dân tự do, số nô lệ và của cải Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa trong nước cũng như trên thị trường thế giới ngày càng tăng lên, điều này đòi hỏi phải

có các thông tin về thống kê Phạm vi hoạt động của thống kê ngày càng mở rộng, dẫn đến sự hoàn thiện của các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích thống kê Trong thực tế, cáchoạt động đa dạng của thống kê được thể hiện nhờ vào sự tích hợp nhiều nguyên lý,từ đó khoa học thống kê được hình thành

Nhiều nhận định cho rằng nền tảng của khoa học thống kê được xây dựng bởi nhà kinh tế học người Anh Wiliam Petty (1623 – 1687) Từ các tác phẩm ―Số học chính trị‖, ―Sự khác biệt về tiền tệ‖ và một số tác phẩm khác nữa, K Mark đã gọi Petty là người sáng lập ra môn Thống kê học Petty đã thành lập một hướngnghiên cứu khoa học gắn với ―Số học chính trị‖

Một hướng nghiên cứu cơ bản khác cũng làm khoa học thống kê phát triển đó là hướng nghiên cứu của nhà khoa học người Đức H Conhring (1606 – 1681) Năm

1660, H.Conhring đã giảng về phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào các

số liệu điều tra cụ thể Môn sinh của ông là giáo sư luật và triết học G Achenwall (1719 – 1772) lần đầu tiên ở trường Tổng hợp Marburs (1746) đã dạy môn học mới với tên là ―Statistics‖ Nội dung chính củakhóa học này là mô tả tình hình chính trị và những sự kiện đáng ghi nhớ của Nhà nước Số liệu về Nhà nước được tìm thấy trong các tác phẩm của M.B Lomonosov(1711 – 1765), trong đó các vấn đề đưa ra xem xét

là dân số, tài nguyên thiênnhiên, tài chính, của cải hàng hóa được minh họa bằng các số liệu thống kê Hướng phát triển này của thống kê được gọi là thống kê mô tả Sau đó, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Gettingen A Sliser (1736 – 1809)cải chính lại quan điểm trên Ông cho rằng, thống kê không chỉ mô tả chế độ chính trị Nhà nước,

mà còn là toàn bộ xã hội

Trang 7

Sự phát triển tiếp theo của thống kê được vun đắp bởi nhiều nhà khoa học lýthuyết và các nhà khoa học thực nghiệm Trong đó, đáng quan tâm là nhà thống kê học người Bỉ A Ketle (1796 – 1874), ông đóng góp một công trình đáng giá về lý thuyết ổn định của các chỉ số thống kê

Xu hướng toán học trong thống kê được phát triển trong công trình nghiêncứu của Francis Galton (Anh, 1822 – 1911), K Pearson (Anh, 1857 – 1936), V S.Gosset (Anh, biệt hiệu Student, 1876 – 1937), R A Fisher (Anh, 1890 – 1962), M.Mitrel (1874 – 1948) và một số nhà toán học khác nữa F Galton đi tiên phong ở nước Anh

về Thống kê học, ông đưa ra khái niệm mở đầu về hệ thống tương hỗ cách thăm dò thống kê để xác định hiệu quả của việc cầu kinh Ông đã cùng K.Pearson thành lập tạp chí sinh trắc (Biometrika) Kế tục công trình của Galton, K.Pearson là một trong những người sáng lập ra ngành Toán học Thống kê hiện đại Ông nghiên cứu các mẫu, đưa ra những hệ số mà ngày nay ta gọi là hệ số Pearson.Ông nghiên cứu lý thuyết tiến hóa theo mô hình Thống kê toán học của ông Còn nhà toán học V Gosset dưới biệt hiệu Student đã đưa ra lý thuyết chọn mẫu nhỏ để rút ra kết luận xác đáng nhất từ hiện tượng nghiên cứu R Fisher đã có công phânchia các phương pháp phân tích số lượng, ông đã phát triển các phương pháp thốngkê để so sánh những trung bình của hai mẫu,

từ đó xác định sự khác biệt của chúngcó ý nghĩa hay không M Mitrel đã đóng góp ý tưởng ―Phong vũ biểu kinh tế‖ Như vậy, đại diện cho khuynh hướng này là cơ sở Lý thuyết xác suất thống kê.Đó là mộttrong các ngành toán ứng dụng

Góp phần quan trọng cho sự phát triển của thống kê học là các nhà khoa học thựcnghiệm Ở thế kỷ XVIII, trong công trình khoa học của I.C Kirilov (1689 – 1737)và V N Tatisev (1686 – 1750) thống kê chỉ được luận giải chủ yếu như một ngànhkhoa học mô tả Nhưng sau đó, vào nửa đầu thế kỷ XIX, khoa học thống kê đãchuyển thành ý nghĩa nhận thức V.S Porosin (1809 – 1868) trong tác phẩm―Nghiên cứu nhận xét về nguyên lý thống kê‖ đã nhấn mạnh: ―Khoa học thống kêkhông chỉ giới hạn ở việc mô tả‖ Còn I.I Srezenev (1812 – 1880) trong quyển

―Kinh nghiệm về đối tượng, các đơn vị thống kê và kinh tế chính trị‖ đã nói rằng:

―Thống kê trong rất nhiều trường hợp ngẫu nhiên đã phát hiện ra những tiêu chuẩn hóa‖ Nhà thống kê học danh tiếng D.P Jurav (1810 – 1856) trong nghiêncứu ―Về nguồn gốc và ứng dụng của số liệu thống kê‖ đã cho rằng: ―Thống kê làmôn khoa học về các tiêu chuẩn của việc tính toán‖

Trong nghiên cứu của giáo sư trường Đại học Bách khoa Peterbur A.A.Truprov (1874 – 1926), thống kê được xem như phương pháp nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội số lớn Giáo sư I.U.E Anson (1835 – 1839, trường Đại họcTổng hợp Peterbur) trong quyển ―Lý thuyết thống kê‖ đã gọi thống kê là môn khoahọc xã hội Đi theo quan điểm này có nhà kinh tế học nổi tiếng A.I Trurov (1842 –1908) trong tác

Trang 8

phẩm ―Thống kê học‖ đã nhấn mạnh: ―Cần nghiên cứu thống kêvới quy mô lớn nhờ vào phương pháp điều tra dữ liệu với đầy đủ số lượngvà yếu tố cần thiết để từ đó có thể miêu tả các hiện tượng xã hội, tìm ra quy luật và các nguyên nhân ảnh hưởng‖ Còn nghiên cứu của nhà bác học A.A Caufman (1874 – 1919) đã nêu lênquan điểm về thống kê như là ―Nghệ thuật đo lường các hiện tượng chính trị và xãhội‖

Như vậy, lịch sử phát triển của thống kê cho thấy: Thống kê là một môn khoa học,

ra đời và phát triển nhờ vào sự tích lũy kiến thức của nhân loại, rút ra từ kinh nghiệm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, cho phép con người sử dụng để quản lý xã hội

1.1.2 Khái niệm thống kê học

Thống kê học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý

và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất

và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện nhất định

Thống kê không phải là khoa học nghiên cứu một phương pháp nào đó mà là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp được sử dụng để thu thập, xử lý và phân tích các con số Những phương pháp này có thể giúp chúng ta tìm ra những ý nghĩa thực tiễn ẩn đằng sau những con số đó, làm cơ sở cho việc ra các quyết định Các con số mà thống kê học nghiên cứu không chỉ đơn thuần là các con số số học đơn giản mà là các con số được gắn với những hiện tượng kinh tế - xã hội cụ thể và thông qua việc phân tích các con số để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của các hiện tượng đó

Để có thể tìm hiểu được bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội nếu chúng ta chỉ nghiên cứu một số ít các hiện tượng thì rất khó để chúng ta có thể hiểu ra được bản chất và tính quy luật của hiện tượng Một hiện tượng cá biệt, trong quá trình vận động và phát triển chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó có cả nhân tố tất nhiên và nhân tố ngẫu nhiên nên dưới sự tác động của nhiều yếu tố làm cho các hiện tượng cá biệt rất khác nhau Do đó, nếu chỉ nghiên cứu trên một số ít hiện tượng thì rất khó có thể rút ra bản chất chung của hiện tượng Vì vậy, thống kê học đòi hỏi nghiên cứu những hiện tượng số lớn

Các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn luôn biến động theo thời gian và không gian

Vì vậy cùng một hiện tượng kinh tế - xã hội nhưng được đặt ở những thời gian và không gian khác nhau thì hiện tượng đó cũng có những biểu hiện khác nhau Ví dụ, giá gạo của tháng này so với tháng trước có sự khác nhau; giá gạo tại Hà Nội có thể khác

so với giá gạo ở các tỉnh khác Vì vậy, thống kê học nghiên cứu những hiện tượng kinh

tế - xã hội trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể

thốngkêhọclàsựgiaothoagiữakhoahọctựnhiên vàkhoa họcxãhộivìnóvận dụngphươngpháp toánvàsửdụngphươngpháp lýluậnxãhộiđểphân tíchcác

Trang 9

hiệntượnghaycácquátrìnhkinhtế–xãhội.Nhưngvìkhôngchỉdừnglạiởcáccon

sốmàtaphảiđọc đượcýnghĩacủa nóvàđưara kếtluận vềcáchiện tượng nên ngườitaxếpthốngkêhọcvàokhoahọcxãhội.Thốngkê họclàmột mônkhoahọcxã hộinghiêncứukhôngchỉmột phươngpháp màlàmộthệthốngcácphươngpháp: thuthập–xửlý–phântích,trong phân tích thìcóphân tíchvàdựđoán.Trên cơsởphân tíchconsốthốngkê,ngườitarútra

đượcbảnchấtvàtínhquyluậtcủahiệntượng.Chínhvìvậy,thốngkêcònlàmộtmônkhoahọcđị

nh lượng

1.1.3 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học

Thống kê học là một môn khoa học xã hội Tuy nhiên, khác với các môn khoa học xã hội khác, thống kê học không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng mà

nó chỉ phản ánh bản chất, tính quy luật của hiện tượng thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện tượng Điều đó có nghĩa là thống kê học sử dụng các con số về quy mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến… của hiện tượng để phản ánh, biểu thị bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Như vậy, các con số thống kê không phải chung chung, trừu tượng mà bao giờ cũng chứa đựng nội dung kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, giúp ta nhận thức được bản chất và quy luật của hiện tượng nghiên cứu

Theo quan điểm của triết học, chất và lượng là hai mặt không thể tách rời của mọi sự vật, hiện tượng, giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng với nhau Trong mối quan hệ đó, sự thay đổi về lượng quyết định sự biến đổi về chất Quy luật lượng – chất của triết học đã chỉ rõ: mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định, khi lượng thay đổi và tích lũy đến một chừng mực nhất định thì chất thay đổi theo Vì vậy, nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng sẽ giúp cho việc nhận thức bản chất của hiện tượng Có thể đánh giá thành tích sản xuất của một doanh nghiệp qua các con số thống kê về tổng số sản phẩm làm ra, giá trị sản xuất đạt được, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về sản xuất, giá thành đơn vị sản phẩm, năng suất lao động và thu nhập của người công nhân,…

Tuy nhiên, để có thể phản ánh được bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, các con số thống kê phải được tập hợp, thu thập trên một số lớn các hiện tượng

cá biệt Thống kê học coi tổng thể các hiện tượng cá biệt như một thể hoàn chỉnh và lấy đó làm đối tượng nghiên cứu Mặt lượng của các hiện tượng cá biệt thường chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả những yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên Mức

độ và chiều hướng tác động của từng yếu tố này trên mỗi hiện tượng cá biệt rất khác nhau Nếu chỉ thu thập trên một số ít hiện tượng thì khó có thể rút ra bản chất chung của hiện tượng mà nhiều khi người ta chỉ tìm thấy những yếu tố ngẫu nhiên, không

Trang 10

bản chất Ngược lại, khi nghiên cứu trên một số lớn các hiện tượng cá biệt, các yếu tố ngẫu nhiên sẽ bù trừ, triệt tiêu nhau và khi đó bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng mới được bộc lộ rõ

Quy luật số lớn là một quy luật của lý thuyết xác suất, ý nghĩa của quy luật này là:tổng hợp sự quan sát số lớn tới mức đầy đủ các sự kiện cá biệt ngẫu nhiên thì tínhtất nhiên của hiện tượng sẽ bộc lộ rõ rệt, qua đó sẽ nói lên được bản chất của hiện tượng Đốitượngnghiêncứuchủyếucủathốngkêhọclàcáchiệntượngkinhtế–

xãhộisốlớn,trongđóbaogồmnhiềuđơnvịhoặchiệntượngcábiệttạothành Thông

tasẽrútrađượckếtluậnvềbảnchất,tínhquy luậtcủasựvật,hiệntượng.Kếtluậnnày cóthểsẽ khôngđúngvớitừnghiệntượngcábiệt,nhưngnó phản ánhđúng vớihiệntượngsố lớn.Vídụ:Theokếtquả củaTổng điềutradânsố vànhàở lúc0giờ ngày1/4/2009,trong

tổngthểdânsốnướctahiệnnay,tỷlệnam/nữlà98,1/100 Tỷlệnàycóthểkhông đúngđốivớitừnggiađìnhnhưngđúngvớisốđôngcácgiađìnhởViệtNamhiệnnay Nhưng consố nàolàđủ lớnthìcòntùyvàođặcđiểmcủahiệntượng

Thống kê vận dụng quy luật số lớn để lượng hóa bản chất và quy luật củahiện tượng kinh tế xã hội thông qua tính quy luật thống kê.Tính quy luật thống kê là một trong những hình thức biểu hiện mối liên hệ chung của các hiện tượng trong tự nhiên

và trong xã hội Khi nghiên cứu tài liệuthống kê về một số khá lớn đơn vị cá biệt, tính quy luật thống kê mới biểu hiện rõ.Như trong thống kê dân số, qua nghiên cứu một số khá lớn gia đình ở nhiều địaphương và nhiều nước khác nhau, người ta thấy tỉ lệ sinh con gái không vượt quá49%

Về tính chất, tính quy luật thống kê cũng như các quy luật nói chung phảnảnh những mối liên hệ nhân quả tất nhiên Nhưng các mối liên hệ này thường không có tính chất chung rộng rãi mà phải phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của hiện tượng Tính quy luật thống kê không phải là kết quả tác động của một nguyên nhân,mà

là của toàn bộ các nguyên nhân kết hợp với nhau Đó là biểu hiện tổng hợp củanhiều mối liên hệ nhân quả, là đặc trưng của các hiện tượng số lớn được tổng hợplại qua các tổng thể thống kê Nhìn chung càng mở rộng phạm vi thời gian cùng vớiviệc tăng

số lượng đơn vị của tổng thể thống kê, tính quy luật thống kê càng biểuhiện rõ

Thốngkêchỉnghiêncứucáchiệntượngsốlớn?Câutrảlờilàkhông.Thốngkê

chủyếunghiên cứuhiệntượngsốlớnvàcókếthợpnghiên cứucảđơnvị,hiện

tượngcábiệt,thườnglànhữnghiệntượngcótínhchấtđiểnhìnhtiêntiếnhoặc

điểnhìnhlạchậu.Vídụ:TrongmộtnhàmáyA,tổsảnxuấtBliêntụccónăngsuấtlaođộngcao nhấtnhàmáytrongnhiềunămliền;khiđó,nghiêncứuriêngtổsảnxuấtBđểrút

rakếtluận,tạisaotổnày cónăngsuấtlaođộngcao, dotuổinghề,dobậcthợ,do trìnhđộkhéoléo,tăngca từđórútrabàihọckinhnghiệm trongquảnlýnhằm nângcaonăng

Trang 11

suất lao động toànnhàmáy

Đối tượng nghiên cứu của thống kê học bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Chúngtađềubiết,mặtlượngcủacáchiệntượngkinhtế–

Khiđiềukiệnthờigianvàkhônggian thayđổi,bảnchấtcủasựvật,hiệntượngcóthểcũngthay đổitheo Vìvậy,khi nghiêncứuphảixácđịnh rõ hiệntượngđó xảy ratạithờiđiểmnàovàở đâu Vídụ:Giávàngtạicácthờigian,khônggiankhácnhaulàkhácnhau.Thậmchí tạicùngthờigian nhưngởcácđịaphươngkhácnhau,cáccửahàngkhácnhau,giá vàngcũngkhácnhau

Từ các phân tích trên, có thể rút ra kết luận: Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng số lớn, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

1.1.4 Vai trò của thống kê học

Kể từ khi ra đời, thống kê ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Thông qua việc phát hiện, phản ánh những quy luật về lượng của hiện tượng, các con số thống kê giúp cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch

và định hướng sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai

Ngàynay, thốngkêlen lỏitrongmọihoạtđộng,mọi lĩnhvựccủađờisốngvàthông tinthốngkêtrởthành mộttrongnhữngnguồnlựcvôgiáđểđánhgiábản chấtvàxu hướng pháttriểncủahiệntượng

Thôngtinthốngkêcũnggợimởchongườisửdụng cácbiệnphápnhằmthúcđẩy quátrìnhsản xuấttốthơn haydựkiếnkhả năng đạtđược trongthờigiantới.Chínhvìvậy,Lê-nin đãchorằng:Thốngkêlàmộtcôngcụmạnh mẽnhấtđể nhận thứcxãhội

Tùytheomụcđíchkhácnhaumàthốngkêhọcphụcvụtheonhữngkhíacạnh khácnhau Cácconsốthốngkêcóthểđượcsửdụngnhiều lầnvớinhiềumụctiêukhác nhau Chính vìtínhchấtkhách quan,dễgâyảnhhưởngvàlanrộngcủanómàthốngkêlà

mộttrongnhữngcôngcụquantrọng,cóvaitròcungcấpcácthôngtinphụcvụquản lýở cảtầmvi môvàvĩ mô

Ngàynay,cùng vớisựpháttriểncủaxãhộiloàingười,sựtiếnbộcủakhoa học–kỹ thuật,khoahọcthốngkêcànghoànthiệnhơnvềlýluậnvàphươngpháp, thông tin Thốngkêđadạng,phongphúđượcsửdụngrộngrãivàngàycàngđáp ứngđượcyêu cầucủangườisử dụng

1.2 M ột số khái niệm thường dùng trong thống kê

1.2.1 Tổng thể thống kê và đơn vị của tổng thể

1.2.1.1 Khái ni ệm tổng thể thống kê và đơn vị của tổng thể

Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị (hay phần tử) thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích về mặt lượng của chúng theo một hay một số

Trang 12

tiêu thức nào đó Các đơn vị (hay phần tử) cấu thành tổng thể thống kê gọi là đơn vị tổng thể

Đơn vị tổng thể là xuất phát điểm của việc nghiên cứu, bởi vì mặt lượng của đơn

vị tổng thể là các dữ liệu mà người nghiên cứu cần thu thập Như vậy, muốn xác định được một tổng thể thống kê, ta cần phải xác định được tất cả các đơn vị cấu thành nó Hay thực chất của việc xác định tổng thể thống kê là việc xác định các đơn vị tổng thể Tổng thể thống kê là một khái niệm quan trọng của thống kê học Xác định tổng thể nhằm đưa ra giới hạn về phạm vi nghiên cứu cho người nghiên cứu Qua đó cho biết chúng ta phải thu thập tài liệu từ những đơn vị nào và ở đâu Chẳng hạn khi muốn nghiên cứu tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội thì tổng thể thống kê sẽ là tổng thể các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội, mỗi doanh nghiệp là một đơn vị tổng thể.Việc xác định đúng đắn tổng thể thống kê có

ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu thống kê Nếu xác định không đúng tổng thể thống kê (tức là bao gồm cả những đơn vị thực ra không nằm trong tổng thể đó) các kết luận rút ra sẽ sai lầm, mục đích nghiên cứu không đạt được

1.2.1.2 Phân lo ại tổng thể thống kê

- Căn cứ vào sự nhận biết các đơn vị trong tổng thể, có thể chia thành hai loại: tổng thể bộc lộ và tổng thể tiềm ẩn

Tổng thể bộc lộ là tổng thể gồm các đơn vị mà ta có thể trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được (Ví dụ: tổng thể nhân khẩu, tổng thể các trường đại học Việt Nam ) Tổng thể tiềm ẩn là tổng thể gồm các đơn vị mà ta không trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được Muốn xác định ta phải thông qua một hay một số phươngpháp trung gian nào đó (Ví dụ: tổng thể những người ưa thích nghệ thuật cải lương, tổng thể những người mê tín dị đoan )

Việc phân chia này có liên quan trực tiếp đến việc xác định tổng thể Thông thường, việc xác định các đơn vị của một tổng thể bộc lộ không gặp nhiều khó khăn do chúng được định nghĩa rõ ràng, có ranh giới xác định với các đơn vị khác, Trong khi

đó, việc tìm được đầy đủ, chính xác các đơn vị của một tổng thể tiềm ẩn lại gặp nhiều khó khăn hơn do không có sự phân biệt rạch ròi, chuẩn xác giữa chúng với các đơn vị không thuộc tổng thể Vì vậy, việc nhầm lẫn, bỏ xót các đơn vị trong tổng thể dễ xảy ra

- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, có thể chia làm hai loại tổng thể: tổng thể đồng chất và tổng thể không đồng chất

Tổng thể đồng chất bao gồm những đơn vị có cùng chung những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu Tổng thể không đồng chất bao gồm những đơn vị khác nhau về loại hình, khác nhau về những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu

Trang 13

Sự phân chia này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tính đại diện của các con số thống kê tính được Các con số này chỉ có ý nghĩa, đảm bảo được tính đại diện khi được tính ra từ một tổng thể đồng chất Nếu chúng được tính ra từ một tổng thể không đồng chất thì ý nghĩa, tính đại diện của chúng cho tổng thể giảm đi rất nhiều, thậm chí không sử dụng được Ví dụ, khi nghiên cứu về thu nhập, ta thường sử dụng chỉ tiêu thống kê là thu nhập trung bình Tuy nhiên, thu nhập trung bình chỉ có ý nghĩa và cũng chỉ đảm bảo tính đại diện cao khi được tính ra từ một tổng thể chỉ bao gồm những người có cùng chung những điều kiện làm việc, tính chất công việc

- Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, người ta còn phân biệt tổng thể chung và tổng thể bộ phận Tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu; tổng thể bộ phận chỉ chứa đựng một phần của tổng thể chung

Tổng thể thống kê có thể là hữu hạn, cũng có thể là vô hạn (không thể hoặc khó xác định được số đơn vị như tổng thể trẻ sơ sinh, tổng thể sản phẩm do một loạimáy sản xuất ra ) Cho nên khi xác định tổng thể thống kê không những phải giớihạn về thực thể (tổng thể là tổng thể gì), mà còn phải giới hạn về thời gian và khônggian (tổng thể tồn tại ở thời gian nào, không gian nào)

Trong thực tế nghiên cứu thống kê, nhiều khi ranh giới của tổng thể còn có chỗ mập mờ, khó xác định chính xác, người ta phải quy ước một số loại đơn vị nào đó được đưa vào tổng thể, một số khác không được tính là đơn vị tổng thể

1.2.2 Tiêu thức thống kê

1.2.2.1 Khái ni ệm tiêu thức thống kê

Tiêuth ứcthốngkêlàđặcđiểmcủađơnvịtổng thểđượcchọnrađểnghiêncứutùy theom ụcđích nghiêncứukhácnhau

Nhưvậy,tiêu thứcthốngkêkhôngphảilàtấtcả nhữngđặcđiểm củađơnvịtổngthểmàchỉlà những đặcđiểmđượcchọnrađể nghiêncứu

Vídụ:TrongtổngthểcáccổđôngcủacôngtyA,

mỗicổđônglàmộtđơnvịtổngthể.Cáccổđôngnày,đượcxácđịnhtheocácđặcđiểmkhácnhaunhư:họtên,tuổi,giớitính,nghề nghiệp, sốcổphiếunắmgiữ,tỷlệnắmgiữ Mỗiđặcđiểm nàykhiđượcchọnrađể nghiêncứulà mộttiêuthứcthốngkê

Trong nghiên cứu thống kê, tiêu thức thống kê còn được gọi là các biến Ví dụ, khi nghiên cứu đặc điểm của sinh viên trong một trường, cần phải thu thập thông tin về các biến: năm học, giới tính, ngành học, Biểu hiện của những biến này đối với mỗi sinh viên là khác nhau Một sinh viên có thể là sinh viên năm thứ hai, là nam giới, học ngành Quản trị kinh doanh, trong khi đó, sinh viên khác lại là sinh viên năm thứ nhất,

là nữ giới, học ngành Kế toán Tiêu thức giúp xác định rõ từng đơn vị tổng thể, nhờ đó

ta có thể phân biệt đơn vị này với đơn vị khác

Trang 14

1.2.2.2 Phân lo ại tiêu thức thống kê

Tiêu thức thống kê gồm các loại sau:

- Tiêu thức thực thể: Là loại tiêu thức phản ảnh đặc điểm về nội dung của đơn vị tổng thể Tùy theo cách biểu hiện mà có hai loại:

+ Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức mà các biểu hiện của nó được dùng để phản ánh các thuộc tính của đơn vị tổng thể và không có các biểu hiện trực tiếp bằng con số

Ví dụ: tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, thành phần kinh tế,

Tiêu thức thuộc tính có hai loại: Thứ nhất, tiêu thức thuộc tính có biểu hiện trực tiếp chẳng hạn như giới tính có hai biểu hiện: nam và nữ, các biểu hiện này được dùng

để chỉ rõ người này là nam giới còn người kia là nữ giới Thứ hai, tiêu thức thuộc tính

có biểu hiện gián tiếp, chẳng hạn như tiêu thức mức sống có biểu hiện gián tiếp qua thu nhập, diện tích nhà ở , các biểu hiện gián tiếp của tiêu thức thuộc tính được gọi là tiêu chí thống kê

+ Tiêu thức số lượng là tiêu thức phản ánh các đặc điểm về lượng của đơn vị tổng thể và có các biểu hiện trực tiếp bằng con số, mỗi con số được gọi là một lượng biến Ví dụ: số nhân khẩu trong gia đình, tiền lương tháng của người lao động, năng suất lao động, Các lượng biến là cơ sở để thực hiện các phép tính thống kê Có hai loại lượng biến: lượng biến rời rạc (biểu hiện bằng số nguyên) và lượng biến liên tục (biểu hiện bằng cả số nguyên và số thập phân)

- Tiêu thức thời gian: là loại tiêu thức phản ánh hiện tượng nghiên cứu theo sự xuất hiện của nó ở thời gian nào Ví dụ: có dữ liệu về số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo quý trong năm năm qua thì ―quý‖ là tiêu thức thời gian

- Tiêu thức không gian: là loại tiêu thức phản ánh phạm vi lãnh thổ bao trùm và

sự xuất hiện theo địa điểm của hiện tượng nghiên cứu Ví dụ tiêu thức ―tỉnh/ thành phố‖ trong dữ liệu phản ánh giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam theo tỉnh/ thành

1.2.3 Chỉ tiêu thống kê

1.2.3.1 Khái ni ệm chỉ tiêu thống kê

Nếu như tiêu thức thống kê phản ánh đặc điểm của đơn vị tổng thể thì chỉ tiêu thống kê phản ánh đặc điểm của số lớn đơn vị tổng thể hoặc cả tổng thể Chỉ tiêu thống

kê có được do việc tổng hợp các đặc điểm về lượng của nhiều đơn vị, hiện tượng cá biệt thành những con số của một số lớn hiện tượng trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể để biểu hiện rõ bản chất, quy luật của hiện tượng nghiên cứu

Như vậy, chỉ tiêu thống kê phản ánh mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể

Trang 15

Ví dụ: Theo niên giám thống kê năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2010 (tính sơ bộ) theo giá thực tế là 1.980.914 tỷ đồng; mật độ dân số

cả nước năm 2010 là 263 người/km2

Chỉ tiêu thống kê bao gồm hai mặt: khái niệm và mức độ của chỉ tiêu Mặt khái niệm của chỉ tiêu bao gồm các định nghĩa và giới hạn về thực thể, thời gian và không gian Mức độ của chỉ tiêu là các trị số phản ánh quy mô, quan hệ so sánh hoặc cường

độ của hiện tượng với các đơn vị tính phù hợp Ví dụ, với chỉ tiêu mật độ dân số cả nước năm 2010 là 263 người/km2 thì mặt khái niệm của chỉ tiêu là ―mật độ dân số cả nước năm 2010‖ còn mức độ của chỉ tiêu là 263 với đơn vị tính là người/km2

1.2.3.2 Phân lo ại chỉ tiêu thống kê

Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau để phân loại thì chỉ tiêu thống kê có thể được phân thành các loại sau:

- Theo hình thức biểu hiện, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu hiện vật: là chỉ tiêu có biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên hoặc đơn vị đo lường quy ước Ví dụ: số dân một địa phương (đơn vị người), sản lượng sản phẩm sản xuất (đơn vị mét, tấn),

+ Chỉ tiêu giá trị: là chỉ tiêu có biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ như đồng Việt Nam,

đô la Mỹ, Ví dụ: GDP, giá trị sản xuất công nghiệp (đơn vị đồng Việt Nam), FDI (đơn vị đô la Mỹ),

- Theo tính chất biểu hiện, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu tuyệt đối: là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng Ví dụ: Số học sinh lớp 12 trường trung học phổ thông A là 50 em là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh quy mô của hiện tượng, sản lượng vải sản xuất trong tháng 6 năm 2011 của nhà máy dệt X là 1 triệu mét là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh khối lượng của hiện tượng + Chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ so sánh giữa các mức độ của hiện tượng Ví dụ: tốc độ phát triển doanh thu của doanh nghiệp A năm 2016 so với năm

2015 là 110%

- Theo đặc điểm về thời gian, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu thời kỳ: phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu trong một thời

kỳ nhất định, phụ thuộc vào độ dài của thời kỳ nghiên cứu Khi là chỉ tiêu tuyệt đối thì

có thể cộng với nhau để tính chỉ tiêu trong thời kỳ dài hơn

Ví dụ: Doanh thu của doanh nghiệp A quý I/2015 là 1,2 tỷ đồng, quý II/2015 là 1

tỷ đồng, quý III/2015 là 0,7 tỷ đồng và quý IV/2015 là 1,1 tỷ đồng Vậy có thể tính chỉ tiêu tổng doanh thu của doanh nghiệp A năm 2015 là 4 tỷ đồng

+ Chỉ tiêu thời điểm: Phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm nhất định, không phụ thuộc vào độ dài thời kỳ nghiên cứu Thông thường chỉ tiêu

Trang 16

này phản ánh nguồn lực như lao động, vốn, Không thể cộng với nhau để tính chỉ tiêu trong thời kỳ dài hơn

Ví dụ: Số dân Việt Nam ngày 1/4/2013 là 89.759,5 nghìn người Số dân Việt Nam ngày 1/4/2014 là 90.728,9 nghìn người.Số dân Việt Nam ngày 1/4/2015 là 91.713,3 nghìn người Khi đó, không thể cộng ba chỉ tiêu trên để ra chỉ tiêu số dân Việt Nam thời kỳ 2013- 2015

- Theo nội dung phản ánh, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu khối lượng: phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian và địa điểm cụ thể

Ví dụ: Số dân Việt Nam vào 0 giờ ngày 1/4/2009 là 85.846.997 người

+ Chỉ tiêu chất lượng: biểu hiện trình độ phổ biến và mối quan hệ so sánh trong tổng thể Chỉ tiêu chất lượng có thể là số tương đối, số bình quân chứ không biểu hiện bằng số tuyệt đối

Ví dụ: Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người của Việt Nam năm 2009

Ý nghĩa:Hệ thống chỉ tiêu thống kê cho phép lượng hóa các mặt quan trọng nhất, lượng hóa cơ cấu và các mối liên hệ cơ bản của hiện tượng nghiên cứu để từ đó

có thể nhận thức được bản chất cụ thể và tính quy luật của hiện tượng

Nhưng để hệ thống chỉ tiêu có chất lượng, hiệu quả phản ánh được bản chất của hiện tượng và có tính khả thi thì nó phải tuân theo một số yêu cầu nhất định

Một số yêu cầu cơ bản để xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê:

- Phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu cụ thể và đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu

- Phải phản ánh những đặc điểm, những tính chất chủ yếu nhất, những mối liên

hệ cơ bản nhất của hiện tượng nghiên cứu

- Phải có tính khả thi, tức là có thể thu thập được tài liệu để tính toán

Trong thống kê, mặt lượng bao giờ cũng đi liền với mặt chất của hiện tượng được nghiên cứu.Tuynhiên,không phải sựvật, hiệntượngnàocũngcóthểlượnghoáđược.Do vậy, để lượnghoá,nhấtlàkhixửlýcáctiêuthứcthuộctính,ngườitaphảidùngtớicácthang đo Nhưng có những thang đo nào và chúng dùng để lượng hóa như thế nào?

Trang 17

1.2.4 Thang đo trong thống kê

1.2.4.1 Thang đo định danh

- Định nghĩa:Thang đo định danh là thang đo đánh số các biểu hiện cùng loại của cùng một tiêu thức

Ví dụ:Với tiêu thức giới tính, người ta gán cho nam giá trị bằng 1, nữ giá trị bằng

0

- Điều kiện vận dụng:Với những tiêu thức mà biểu hiện của nó có vai trò như nhau và cùng loại, thường được sử dụng cho các tiêu thức thuộc tính

Ví dụ:Tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, thành phần kinh tế

- Đặc điểm:Các con số trên thang đo không biểu thị quan hệ hơn kém, cao thấp nhưng khi chuyển từ số này sang số khác thì dấu hiệu đo đã có sự thay đổi về chất Không áp dụng các phép tính khi sử dụng loại thang đo này mà chỉ đếm được tần số xuất hiện của từng biểu hiện

Hạn chế của việc áp dụng loại thang đo này là giữa các phạm trù không thể so sánh được với nhau, do đó người ta đã sử dụng thang đo thứ bậc nhằm khắc phục nhược điểm này

1.2.4.2 Thang đo thứ bậc

- Định nghĩa: Thang đo thứ bậc là thang đo định danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu thức có quan hệ hơn kém, cao thấp

Ví dụ: Bậc thợ (7 bậc), chất lượng sản phẩm, xếp hạng huân huy chương

- Điều kiện vận dụng: Với những tiêu thức mà các biểu hiện của nó có quan hệ hơn kém, có thể sử dụng cho các tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng

Loại thang đo này được dùng nhiều trong nghiên cứu xã hội, đo các tiêu thức mà các biểu hiện có quan hệ thứ tự như thái độ, quan điểm của con người đối với các hiện tượng xã hội

- Đặc điểm: Sự chênh lệch giữa các biểu hiện không nhất thiết phải bằng nhau Với thang đo này, có thể tính toán đặc trưng chung cho một tổng thể một cách tương đối qua tính số bình quân, còn đối với một đơn vị tổng thể thì không thực hiện được

Ví dụ: Để đánh giá độ tự tin của bạn khi được giao một công việc mới, người ta đưa ra một thang đo thứ bậc với 3 nấc: 1 Rất tự tin, 2 Tương đối tự tin, 3 Không tự tin Con số 1, 2, 3 ở đây không có nghĩa là bạn tự tin gấp 2, gấp 3 lần mà chỉ biểu thị quan hệ hơn kém Tuy nhiên, ta không thể xác định được mức độ cao thấp giữa các nhóm, khoảng cách giữa các biểu hiện cũng không bằng nhau

Chính vì những hạn chế trên, thang đo khoảng được sử dụng thay thế cho thang

đo thứ bậc

1.2.4.3 Thang đo khoảng

- Định nghĩa:Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc nhưng có khoảng cách đều

Trang 18

nhau và không có điểm gốc không (0) tuyệt đối

- Điều kiện vận dụng:Với những tiêu thức mà số 0 là một biểu hiện của tiêu thức

đó chứ không có nghĩa là không có, thang đo này thường được sử dụng cho các tiêu thức số lượng

Ví dụ: Tiêu thức nhiệt độ không khí, 0oC là một biểu hiện; tiêu thức điểm thi, điểm 0 là một biểu hiện chứ không có nghĩa là không có điểm

- Đặc điểm: Có thể sử dụng các phép tính cộng, trừ và có thể tính được các đặc trưng của dãy số như số bình quân, phương sai nhưng không tính được tỷ lệ giữa các trị số đo

Ví dụ: Nhiệt độ trung bình của thành phố A là 30oC, thành phố B là 10oC, nhưng điều đó không có nghĩa là thành phố A nóng gấp 3 lần thành phố B

Trong thực tế nghiên cứu xã hội, nhiều thang đo thứ bậc được dùng như thang đo khoảng, tức đã có những cải tiến thang đo thứ bậc theo hướng thang đo khoảng nhằm định lượng sự hơn, kém theo một dấu hiệu nào đó

Ví dụ: Với câu hỏi ―bạn có tự tin khi nhận công việc mới này hay không, hãy cho điểm đánh giá theo thang đo sau?‖ thay vì trả lời theo 3 nấc rất tự tin, tương đối tự tin

và không tự tin như ở trên, bạn có thể cho điểm theo thang đo khoảng, nếu rất tự tin thì cho điểm 10 còn hoàn toàn không tự tin thì cho điểm 0

Mặc dù ở đây đã lượng hoá được phần nào mức độ tự tin của người được hỏi nhưng chưa có tiêu chuẩn cụ thể cho mỗi bậc của thang đo Việc cho mấy điểm hoàn toàn do cảm tính của người được hỏi mà chưa có chuẩn chính thức

Hạn chế cơ bản của thang đo khoảng là chưa có giá trị ―không tuyệt đối‖ mà chỉ

có giá trị 0 quy ước Chính vì vậy, để khắc phục được nhược điểm trên, người ta thường hay sử dụng loại thang đo tỷ lệ trong thống kê

1.2.4.4 Thang đo tỷ lệ

- Định nghĩa: Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng có điểm gốc không (0) tuyệt đối

- Điều kiện vận dụng: Thang đo tỷ lệ được sử dụng rất rộng rãi để đo lường các hiện tượng kinh tế – xã hội như: thu nhập, chi tiêu, tuổi,

Các đơn vị đo lường vật lý thông thường (kg, m, lít, ) cũng là các đơn vị của thang đo loại này

- Đặc điểm: Có thể thực hiện tất cả các phép tính với trị số đo và có thể so sánh các tỷ lệ giữa các trị số đo

Tóm lại, thông thường thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang đo trước, đồng thời việc xây dựng thang đo cũng phức tạp hơn Tuy nhiên, không phải cứ

sử dụng thang đo tỷ lệ là tốt nhất mà phải tuỳ thuộc vào đặc điểm của hiện tượng vàtiêu thức nghiên cứu mà chọn thang đo thích hợp

Hai loại thang đo định danh và thứ bậc chưa có tiêu chuẩn đo (đơn vị đo), thuộc

Trang 19

loại thang đo định tính Đó là loại thang đo mà khi thay đổi từ giá trị này sang giá trị khác thì đối tượng đo có sự thay đổi về chất, chúng phù hợp với việc đo lường các tiêu thức thuộc tính

Hai loại thang đo khoảng và tỷ lệ đã có tiêu chuẩn đo, khi chuyển từ một điểm này sang điểm khác trên thang thì có sự thay đổi về lượng nhưng chưa chắc đã có sự thay đổi về chất Đây là loại thang đo định lượng, phù hợp để đo lường các tiêu thức

số lượng Theo tuần tự của 4 loại thang đo thì việc đo mức độ tập trung, phân tán và mối liên hệ của hiện tượng nghiên cứu cũng tăng dần Với thang đo định danh ta chỉ có thể tính được tỷ lệ (%) phân bố của tổng thể cho từng biểu hiện và tính mốt (Mo) Sử dụng thang đo thứ bậc, ta có thể tính thêm được trung vị (Me), hệ số tương quan cặp

và riêng phần Muốn thực hiện được các phép tính cộng, trừ, tính bình quân, phương sai, tỷ lệ, các hệ số và tỷ số tương quan thì phải sử dụng thang đo khoảng Với thang

đo tỷ lệ, ta có thể sử dụng mọi độ đo thống kê

1.3 Quá trình nghiên c ứu thống kê các hiện tượng kinh tế - xã hội

Mục đích cuối cùng của một cuộc nghiên cứu thống kê là thu thập những thông tin định lượng về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể, trên cơ sở đó phát hiện bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng, giải quyết được một vấn đề lý thuyết hoặc một yêu cầu nhất định của thực tiễn Tất cả những công việc đó đều được gọi là hoạt động thống kê

Hoạt động thống kê thường được chia thành hai loại: hoạt động thống kê Nhà nước và hoạt động thống kê của các tổ chức, cá nhân ngoài hệ thống tổ chức Nhà nước Ở Việt Nam, hoạt động thống kê Nhà nước là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do cơ quan Nhà nước tiến hành

Các hoạt động thống kê đều phải trải qua một quá trình gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước công việc kế tiếp nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau Có thể khái quát quá trình này bằng một sơ đồ đơn giản như sau:

Hình 1.1 Quá trình nghiên cứu thống kê

1.3.1 Điều tra thống kê

Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học với một kế hoạch thống nhất việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện cụ thể về thời gian, không gian

Thu thập thông tin

(Điều tra thống kê)

Xử lý thông tin (Tổng hợp thống kê)

Diễn giải, phân tích thông tin (Phân tích và dự báo thống kê)

Trang 20

Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu Người ta thường gọi đây là những thông tin sơ cấp hay nguồn tài liệu ban đầu

Đây là giai đoạn khởi đầu rất quan trọng Có làm tốt giai đoạn này các thông tin,

số liệu mới được thu thập một cách trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời, tạo điều kiện để thực hiện tốt các giai đoạn tiếp theo Để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn này, người ta thường vận dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều phương pháp điều tra khác nhau, tùy thuộc mục đích nghiên cứu, nhu cầu thông tin, điều kiện cụ thể của người nghiên cứu và đặc điểm cơ bản của hiện tượng nghiên cứu

1.3.2 T ổng hợp thống kê

Tổng hợp thống kê được hiểu là quá trình tập trung, chỉnh lý, hệ thống hóa các tài liệu thu được trong điều tra thống kê để làm cho các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị điều tra bước đầu chuyển thành những thông tin chung của toàn bộ hiện tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc phân tích tiếp theo

Do đối tượng nghiên cứu của thống kê là các hiện tượng số lớn, phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị có những đặc điểm khác nhau nên việc tổng hợp thường được thực hiện đến từng tổ, từng nhóm đại diện cho các loại hình khác nhau Vì vậy, phương pháp phân tổ thống kê được coi là quan trọng nhất của tổng hợp thống kê

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã làm cho tổng hợp thống kê càng có vai trò quan trọng phục vụ được nhiều yêu cầu của phân tích thống

kê Việc tổng hợp bằng máy thay thế cho tổng hợp thủ công chẳng những rút ngắn được thời gian tổng hợp, nâng cao độ chính xác của việc xử lý thông tin mà còn đáp ứng được các yêu cầu khác nhau về thông tin Tuy nhiên, muốn thực hiện được việc tổng hợp bằng máy, cần phải xây dựng được chương trình phần mềm nhập số liệu và xác định rõ phần mềm phân tích sẽ sử dụng

1.3.3 Phân tích và d ự báo thống kê

Phân tích và dự báo thống kêđược hiểu là việc nêu lênmột cách tổng hợp bản chất và tính quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội số lớn trong điều kiện lịch sử cụ thể qua các biểu hiện về lượng và tính toán các mức độ trong tương lai nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý

Như vậy, phân tích và dự báo thống kê là biểu hiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Phân tích và dự báo thống kê giúp ta thấy rõ bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng trong quá khứ, hiện tại, giúp tiên đoán được các mức độ của hiện tại trong tương lai Đồng thời, nó còn giúp chỉ rõ mối liên hệ nội tại giữa các bộ phận của tổng thể, mối liên hệ, tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan Trên cơ sở đó, giúp ta có nhận thức đúng đắn về

Trang 21

hiện tượng, tìm các biện pháp thích hợp thúc đẩy hiện tượng phát triển theo hướng tốt nhất, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện tại

Tuy nhiên, để phân tích và dự báo thống kê thực hiện được nhiệm vụ của mình, mang lại những kết quả nghiên cứu chính xác thì cần phải chú ý đến một số yêu cầu cơ bản sau:

- Thứ nhất: Phân tích và dự báo thống kê phải được tiến hành trên cơ sở phân tích

lý luận kinh tế - xã hội

- Thứ hai: Phân tích và dự báo thống kê phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện thực tế

và phải luôn đặt chúng trong mối liên hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau Không được bỏ qua hay xem nhẹ bất kỳ một sự kiện nào, dù là nhỏ nhất

- Thứ ba: Đối với các hiện tượng có tính chất và hình thức khác nhau, phải áp dụng phương pháp phân tích và dự báo khác nhau, phù hợp với bản thân chúng, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể Không có phương pháp phân tích và dự báo vạn năng, áp dụng cho mọi trường hợp

Trang 22

TÓM TẮT CHƯƠNG

Thống kê học ra đời, phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và là một trong những môn khoa học xã hội có lịch sử lâu dài nhất Đó là một quá trình phát triển không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, được đúc rút dần thành lý luận khoa học và nay đã thành một môn khoa học độc lập

Ngày nay, thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng Đồng thời, thống kê còn đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, xây dựng, cung cấp các phương pháp phân tích, đánh giá về mặt lượng các hoạt động kinh tế, xã hội của các tổ chức, đơn vị Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng

số lớn, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu thống kê, ta thường sử dụng các khái niệm:

- Tổng thể thống kê là một tập hợp những đơn vị, hoặc phần tử cấu thành hiện

tượng, cần được quan sát, phân tích Tổng thể thống kê được chia thành nhiều loại, như: tổng thể bộc lộ, tổng thể tiềm ẩn, tổng thể đồng chất, tổng thể không đồng chất,

- Tiêu thức thống kê là một khái niệm chỉ đặc điểm của các đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu Tùy theo hình thức biểu hiện, tiêu thức thống kê được chia thành hai loại: tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng

- Chỉ tiêu thống kê phản ánh mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất

của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể

Tùy theo tính chất của dữ liệu thống kê thu được, ta có thể sử dụng các loại thang

đo khác nhau để đo lường mức độ của hiện tượng Có bốn loại thang đo chủ yếu là:

thang đo định danh, thang đó thứ bậc, thang đo khoảng và thang đo tỷ lệ

Mục đích cuối cùng của một cuộc nghiên cứu thống kê là thu thập những thông tin định lượng về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể, trên cơ sở đó phát hiện bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng, giải quyết được một vấn đề lý thuyết hoặc một yêu cầu nhất định của thực tiễn Tất cả các công việc đó được gọi là

hoạt động thống kê Các hoạt động thống kê đều phải trải qua một quá trình gồm nhiều

giai đoạn kế tiếp nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, từ điều tra thống kê đến tổng hợp thống kê và phân tích, dự báo thống kê

Trang 23

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Anh (chị) hãy phân tích vai trò của thống kê học và lấy ví dụ minh họa

2 Anh (chị) hãy phân tích đối tượng nghiên cứu của thống kê học

3 Anh (chị) hãy trình bày các khái niệm thường dùng trong thống kê Nêu ý nghĩa của các khái niệm này và cho ví dụ cụ thể

4 Anh (chị) hãy phân biệt hai khái niệm: tiêu thức và chỉ tiêu thống kê

5 Anh (chị) hãy trình bày các loại thang đo trong thống kê Cho ví dụ cụ thể về việc sử dụng các loại thang đo này trong thực tế

6 Anh (chị) hãy phân tích các nhiệm vụ chủ yếu, vai trò và những yêu cầu của từng giai đoạn trong quá trình nghiên cứu thống kê

7 Hãy giải thích ngắn gọn tại sao nói: ―Thống kê học là một môn khoa học xã hội,nó nghiên cứu mặt lượng trong sựliên hệchặt chẽvới mặt chất của các hiện tượngkinh tế- xã hội sốlớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụthể‖

Trang 24

CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA VÀ TỔNG HỢP THỐNG KÊ

2.1 Điều tra thống kê

2.1.1 Khái ni ệm, ý nghĩa và yêu cầu của điều tra thống kê

Thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội đáp ứng mục đích, yêu cầu nghiên cứu là công việc đầu tiên của quá trình nghiên cứu thống kê Tài liệu thu thập được là những căn cứ số liệu và tình hình phục vụ cho phân tích thống kê hiện tượng kinh tế -

xã hội Phương pháp cơ bản thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội là phương pháp điều tra thống kê – phương pháp quan sát số lớn

Điều tra thống kê là tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạch thống nhất việc thu thập ghi chép các tài liệu thống kê theo mục đích yêu cầu nghiên cứu đối với hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể

Ví dụ, muốn nghiên cứu tình hình dân số của đất nước phục vụ cho việc quy hoạch ―dài hơi‖ phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục… cần thiết phải tổ chức điều tra ghi chép các thông tin cần thiết như tổng dân số, độ tuổi, giới tính, dân tộc, thành phần giai cấp, nghề nghiệp, trình độ văn hóa… Điều tra thống kê không đơn thuần là việc ghi chép giản đơn mà là một công tác tổ chức, một công tác khoa học thực hiện theo

kế hoạch thống nhất và phương án cụ thể của từng cuộc điều tra Ví dụ, điều tra dân số phải xây dựng kế hoạch và phương án điều tra cụ thể theo từng bước công việc như tổ chức tuyên truyền để người dân thông suốt mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra để khai báo trung thực, đúng đắn; phải tổ chức nhiều tổ điều tra và tập huấn cho nhân viên điều tra cách phỏng vấn, ghi chép; chuẩn bị phương tiện di chuyển, văn phòng phẩm, kinh phí cần thiết cho cuộc điều tra – xác định thời điểm và thời gian điều tra… Việc xây dựng kế hoạch và phương án điều tra phải có căn cứ khoa học và đòi hỏi trình độ

tổ chức cao

Yêu cầu đối với tài liệu điều tra: Tài liệu điều tra thu được phải đạt 3 yêu cầu:

- Chính xác: Tài liệu điều tra thu được phải chính xác, phản ánh đúng tình hình tồn tại thực tế, khách quan không thêm bớt khác thực tế Yêu cầu này đòi hỏi tính trung thực, tính thực tế khách quan của người tổ chức điều tra

- Kịp thời: Tài liệu điều tra phải được cung cấp kịp thời, đảm bảo thời gian tính tồn tại của hiện tượng nghiên cứu, phục vụ kịp thời nhu cầu quản lý, phân tích và nghiên cứu sự phát triển biến động của hiện tượng

- Đầy đủ: Tài liệu điều tra phải đầy đủ thông tin, đầy đủ dữ liệu cần thiết theo yêu cầu nghiên cứu, đảm bảo thực hiện đạt mục đích phân tích đối với hiện tượng cần nghiên cứu

Ba yêu cầu cần đảm bảo thực hiện đồng bộ vì có quan hệ chặt chẽ mật thiết Có vậy mới có thể đảm bảo kết quả phân tích nghiên cứu đạt chất lượng cao

Trang 25

2.1.2 Phân loại điều tra thống kê

Căn cứ vào tiêu thức khác nhau có thể phân loại điều tra thống kê thành các loại khác nhau:

- Căn cứ vào tính chất liên tục hay không liên tục của việc thu thập, ghi chép tài liệu thống kê đối với hiện tượng kinh tế - xã hội, có thể phân biệt 2 loại điều tra thống kê: điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên

+ Điều tra thường xuyên: Là tiến hành thu thập ghi chép tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội nghiên cứu một cách thường xuyên, liên tục gắn với quá trình phát sinh, phát triển, biến động của hiện tượng nghiên cứu đó Ví dụ: Chấm công hàng ngày

số công nhân đi làm, ghi chép số nguyên liệu xuất kho hàng ngày dùng sản xuất sản phẩm, ghi chép kết quả lao động hàng ngày làm việc của mỗi công nhân, số sản phẩm sản xuất nhập kho và xuất kho tiêu thụ hàng ngày…

Những tài liệu thu thập được qua điều tra thường xuyên phản ánh một cách tỉ mỉ, sát với thực tế, có hệ thống liên tục gắn với tình hình phát triển biến động của hiện tượng nghiên cứu qua từng thời kỳ Do vậy, tài liệu điều tra thường xuyên có ý nghĩa tác dụng to lớn trong công tác xây dựng và quản lý các kế hoạch nền kinh tế quốc dân, lĩnh vực sản xuất, dịch vụ thương mại… đồng thời còn làm cơ sở số liệu để lập báo cáo thống kê định kì

Điều tra thường xuyên tốn kém nhiều chi phí và mất nhiều thời gian do vậy thường được áp dụng đối với những hiện tượng kinh tế - xã hội yêu cầu phải có số liệu thường xuyên đáp ứng yêu cầu nghiên cứu

+ Điều tra không thường xuyên: là tổ chức điều tra thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội nghiên cứu một cách không thường xuyên, không liên tục, không gắn với quá trình thời gian phát sinh, phát triển của hiện tượng nghiên cứu đó.Ví dụ: Điều tra dân số, điều tra năng suất lúa và cây trồng, điều tra đàn gia súc, điều tra năng lực thiết bị, tổng điều tra tài sản cố định, điều tra mức sống dân cư, điều tra nhu cầu nhà ở của dân cư, điều tra giá cả thị trường và điều tra dư luận xã hội…

Những tài liệu thu thập được qua điều tra không thường xuyên chỉ phản ánh trạng thái tình hình của hiện tượng nghiên cứu ở vào thời điểm điều tra Trước và sau thời điểm điều tra, trạng thái tình hình của hiện tượng nghiên cứu có thể thay đổi khác Điểu tra không thường xuyên cho kết quả nhanh, ít tốn kém Điều tra không thường xuyên thường được sử dụng thu thập tài liệu cần thiết đối với hiện tượng kinh

tế - xã hội ít biến động, phát triển chậm hoặc không cần thiết phải theo dõi thường xuyên, liên tục quá trình phát triển biến động của chúng Ví dụ điều tra dân số, điều tra năng suất lúa và cây trồng, điều tra năng lực thiết bị…

- Căn cứ vào phạm vi đối tượng điều tra thực hiện ghi chép tài liệu thống kê có thể phân loại điều tra thống kê thành 2 loại: điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ

Trang 26

+ Điều tra toàn bộ: Là tổ chức điều tra thu thập tài liệu cần thiết trên tất cả các đơn vị trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu thuộc đối tượng điều tra, không bỏ sót một đơn vị tổng thể nào Ví dụ điều tra dân số, điều tra đàn gia súc, chấm công đi làm hàng ngày của người lao động, ghi chép kết quả lao động hàng ngày của người lao động, điều tra hàng hóa, vật tư tồn kho, điều tra năng lực thiết bị…

Điều tra toàn bộ cung cấp tài liệu thống kê một cách đầy đủ, toàn diện trên tất cả các đơn vị thuộc tổng thể hiện tượng điều tra… Do vậy tài liệu điều tra toàn bộ giúp ta

có thể quan sát, phân tích rút ra nhận định toàn diện đầy đủ sự phát triển của tổng thể Đồng thời cũng giúp chúng ta quan sát, phân tích sâu từng đơn vị, từng bộ phận cấu thành tổng thể, từ đó rút ra nhận định cần thiết về sự phát triển của từng đơn vị, từng

bộ phận trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu Xuất phát từ đây, tài liệu điều tra toàn

bộ là căn cứ đầy đủ nhất cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra thực hiện kế hoạch;

là căn cứ đầy đủ, quan trọng để hoạch định chiến lược; quy hoạch tổng thể và đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội; kiểm tra thực hiện đường lối chính sách kinh tế -

xã hội trên phạm vi vĩ mô nền kinh tế quốc dân cũng như trên phạm vi vi mô từng doanh nghiệp, từng đơn vị kinh tế…

Tổ chức điều tra toàn bộ tốn kém thời gian, công sức và chi phí điều tra lớn Vì vậy chỉ tổ chức điều tra toàn bộ khi cần thiết cung cấp thông tin đầy đủ cho yêu cầu xây dựng quy hoạch lâu năm, xây dựng kế hoạch dài hạn, hoạch định chiến lược, đề ra đường lối, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phát triển lâu dài của ngành kinh tế, doanh nghiệp,

+ Điều tra không toàn bộ: Là tổ chức điều tra thu thập tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu chỉ thực hiện trên 1 số đơn vị được chọn ra từ tổng thể nghiên cứu Điều tra không toàn bộ do đó được gọi là điều tra bộ phận điều tra có tính chất đại biểu Điều tra không toàn bộ tổ chức gọn, nhẹ, ít tốn kém chi phí điều tra, có khả năng thu thập tài liệu nhanh chóng, đầy đủ, sâu rộng, toàn diện nhiều chi tiết, nhiều mặt của hiện tượng nghiên cứu, kịp thời đáp ứng yêu cầu của lãnh đạo quản lý phát triển nền kinh tế - xã hội…

Điều tra không toàn bộ đóng vai trò quan trọng, thường được sử dụng điều tra thu thập tài liệu cần thiết thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, điều tra dư luận xã hội

và được sử dụng điểu tra thu thập tài liệu đối với những hiện tượng nghiên cứu không thể thực hiện điều tra toàn bộ như điều tra chất lượng của sản phẩm đồ hộp… Hoặc được sử dụng thay thế điểu tra toàn bộ đối với những trường hợp hiện tượng nghiên cứu không cần thiết sử dụng điều tra toàn bộ vì quá tốn kém… Trường hợp này, tài liệu thu thập qua điều tra không toàn bộ có thể suy rộng ra tình hình, đặc điểm, đặc trưng chung của tổng thể hiện tượng nghiên cứu Ví dụ, điều tra năng suất lúa, điều tra

Trang 27

giá cả thị trường, điều tra chất lượng sản phẩm đồ hộp, điều tra mức sống của công nhân viên chức, điều tra đời sống dân cư…

Điều tra không toàn bộ bao gồm 3 loại: điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm, điều tra chuyên đề

Điều tra chọn mẫu: Là chỉ tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu trên một số đơn vị mẫu được chọn ra từ tổng thể nghiên cứu dựa trên nguyên tắc chọn mẫu trong lý thuyết xác suất Các đơn vị mẫu điều tra được chọn ra theo phương pháp xác suất có tính chất đại biểu cho tổng thể chung Do đó kết quả phân tích từ tài liệu thu thập qua điều tra chọn mẫu được làm cơ sở căn cứ để suy rộng thành kết quả đặc điểm, đặc trưng chung của cả tổng thể hiện tượng nghiên cứu Như điều tra năng suất lúa, điều tra chất lượng sản phẩm đồ hộp, điều tra mức sống công nhân viên chức, điều tra đời sống dân cư…

Điều tra trọng điểm: Là tổ chức điều tra thu thập tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu chỉ tiến hành trên một hay một số bộ phận chủ yếu, tập trung nhất trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu Ví dụ điều tra sản lượng cây trà chỉ cần điều tra thu thập tài liệu về cây trà ở vùng phát triển tập trung về trà như Thái Nguyên, Bảo Lộc Điều tra năng suất lúa có thể thu thập tài liệu về cây lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long hoặc đồng bằng sông Hồng là nơi phát triển tập trung về lúa

Kết quả phân tích tài liệu điều tra trọng điểm chỉ cho ta nhận định tình hình cơ bản của hiện tượng nghiên cứu, không thể sử dụng suy rộng ra tình hình, đặc điểm, đặc trưng chung của tổng thể hiện tượng nghiên cứu

Điều tra chuyên đề: Là tổ chức điều tra thu thập tài liệu theo từng chuyên đề nghiên cứu, chỉ tiến hành trên một số rất ít, thậm chí chỉ trên một đơn vị của tổng thể nghiên cứu nhưng ghi chép tài liệu trên nhiều khía cạnh khác nhau phục vụ cho việc

nghiên cứu sâu, chi tiết nhiều góc độ khác nhau của một đơn vị tổng thể hoặc nghiên cứu nhiều khía cạnh về một chủ đề nào đó của hiện tượng nghiên cứu Kết quả phân tích tài liệu điều tra chuyên đề cho những nhận định, đánh giá về nhân tố mới, tiên tiến, những nhân tố yếu kém, lạc hậu, thiếu sót, tồn tại; tìm ra những nguyên nhân,…theo từng chuyên đề hoạt động kinh tế của từng đơn vị tổng thể Ví dụ điều tra thu thập tài liệu chuyên đề năng suất lao động; giá thành sản phẩm; thực hiện tiết kiệm định mức lao động, nguyên vật liệu; chất lượng sản phẩm…

2.1.3 Các hình th ức tổ chức điều tra thống kê

Điều tra thu thập tài liệu thống kê về hiện tượng kinh tế -xã hội thực hiện theo hai hình thức chủ yếu: báo cáo thống kê định kì và điều tra chuyên môn

- Báo cáo thống kê định kỳ: Là hình thức tổ chức điều tra thống kê thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội một cách thường xuyên có định kỳ theo nội dung, phương pháp và biểu mẫu báo cáo thống kê do cơ quan có thẩm quyền quy định thống

Trang 28

nhất trong chế độ báo cáo thống kê – định kỳ, do Nhà nước ban hành Đây là pháp lệnh của Nhà nước để quản lý hoạt động của các đơn vị kinh tế Nhà nước Chế độ báo cáo thống kê định kì được áp dụng có mức độ giới hạn đối với đơn vị kinh tế tập thể,

tư nhân, cá thể, liên doanh nước ngoài

Báo cáo thống kê là những biểu mẫu báo cáo phù hợp cho từng chỉ tiêu yêu cầu báo cáo, có nội dung bao gồm:

Phần tên gọi của báo cáo, cơ quan ban hành, đơn vị báo cáo, thời gian định kỳ lập và gởi báo cáo, cơ quan chủ quản nhận báo cáo, chữ ký của người lập báo cáo, của trưởng đơn vị báo cáo…

Phần trình bày chỉ tiêu, tiêu thức và số liệu tổng hợp, tính toán theo yêu cầu báo cáo Ví dụ báo cáo chỉ tiêu tổng mức bán lẻ, kim ngạch xuất nhập khẩu, sản lượng sản phẩm, doanh thu…

- Điều tra chuyên môn: Là hình thức tổ chức điều tra thu thập tài liệu thống kê về hiện tượng kinh tế - xã hội một cách không thường xuyên, không liên tục theo một kế hoạch, một phương án và phương pháp điều tra quy định phù hợp với mỗi cuộc điều tra cụ thể

Đối tượng tổ chức điều tra chuyên môn là những hiện tượng nghiên cứu không có yêu cầu theo dõi thường xuyên, liên tục hoặc không có khả năng hoặc quá tốn kém khi thực hiện thu thập tài liệu thường xuyên liên tục Những hiện tượng kinh tế - xã hội thực hiện điều tra chuyên môn thu thập tài liệu nghiên cứu thường không thể thực hiện báo cáo thống kê định kì Ví dụ điều tra dân số, điều tra nhu cầu nhà ở, điều tra năng lực máy móc – thiết bị sản xuất, điều tra giá trị thị trường, điều tra hàng hóa – vật tư tồn kho, tổng điều tra tài sản cố định, điều tra dư luận xã hội về một chủ đề nào đó…

Trong một số trường hợp điều tra chuyên môn được áp dụng để thu thập tài liệu nhằm kiểm chứng tính chính xác của báo cáo thống kê định kỳ Tài liệu điều tra chuyên môn thu thập được rất phong phú và phản ánh thực trạng của hiện tượng nghiên cứu tại thời điểm điều tra

2.1.4 Các phương pháp điều tra thống kê

Điều tra thu thập tài liệu thống kê thực hiện theo 2 phương pháp chủ yếu: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

2.1.4.1 Phương pháp trực tiếp

Là phương pháp điều tra thu thập tài liệu điều tra trong đó điều tra viên phải trực tiếp quan sát, tiếp xúc với đối tượng điều tra hoặc trực tiếp giám sát, theo dõi kiểm tra, đôn đốc những người được huy động tham gia thực hiện tốt các công việc trong cuộc điều tra Ví dụ các cuộc điều tra thực hiện theo phương pháp trực tiếp như điều tra dân

số, điều tra năng suất lúa, điều tra chăn nuôi, điều tra tồn kho hàng hóa, điều tra giá cả thị trường, điều tra đời sống dân cư… Điều tra viên phải trực tiếp tính toán xác định

Trang 29

đối tượng điều tra, mẫu điều tra, trực tiếp thực hiện hoặc giám sát việc cân đong, đo, đếm… và ghi kết quả điều tra

Phương pháp trực tiếp thực hiện theo các hình thức chủ yếu: đăng kí trực tiếp, phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điện thoại

Nhìn chung tài liệu điều tra theo phương pháp trực tiếp nếu tuân thủ đúng quy định sẽ nâng cao tính chính xác, kịp thời phát hiện sai sót, sửa chữa bổ sung Tuy nhiên, điều tra theo phương pháp trực tiếp mất nhiều thời gian, công sức, tốn kém nhiều chi phí

2.1.4.2 Phương pháp gián tiếp

Là phương pháp điều tra thu thập tài liệu điều tra trong đó người điều tra không trực tiếp điều tra không trực tiếp tiếp xúc với đối tượng điều tra, không trực tiếp làm các công tác điều tra

Phương pháp gián tiếp thực hiện thu thập tài liệu điều tra theo các hình thức chủ yếu: tự đăng kí, kê khai, ghi báo cáo theo yêu cầu ghi trong phiếu điều tra hoặc biểu mẫu thống kê gửi theo bưu điện về đơn vị điều tra Hoặc thu thập ghi chép tài liệu qua

hệ thống chứng từ, sổ sách và biểu mẫu báo cáo thống kê… phục vụ cho việc thẩm tra tình hình sai phạm trong quản lý kinh tế, sản xuất – kinh doanh của đơn vị kinh tế… Thực hiện phương pháp gián tiếp có nhược điểm, hạn chế: kết quả thu thập chậm, không đầy đủ, tính chính xác không cao, khó phát hiện sai sót, khó sửa chữa, bổ sung sai sót…

2.1.5 Sai số trong điều tra thống kê

Một trong ba yêu cầu quan trọng của tài liệu điều tra thống kê là chính xác, trung thực Do vậy, bất kỳ một cuộc điều tra dù được tổ chức theo hình thức nào, thu thập bằng phương pháp nào đều phải phấn đấu đảm bảo yêu cầu chính xác với mức độ cao

lý tưởng Tuy nhiên, trong thực tế điều tra, sai sót, còn gọi là sai số về kết quả điều tra không thể tránh khỏi Vấn đề quan trọng ở chỗ tìm nguyên nhân gây ra sai số, tìm biện pháp phấn đấu sao cho sai số ít nhất, nhỏ nhất

Sai số trong điều tra thống kê là sự chênh lệch giữa các trị số của tiêu thức điều tra mà ta ghi chép thu thập được trong quá trình thực hiện điều tra với các trị số thực hiện tồn tại của hiện tượng nghiên cứu

Sai số trong điều tra làm giảm tính chính xác, đúng đắn, trung thực của kết quả điều tra, giảm chất lượng của tài liệu điều tra thu thập được Từ đó ảnh hưởng đến chất lượng, tính đúng đắn, chínhxác trung thực của kết quả tổng hợp, phân tích thống kê trong giai đoạn kế tiếp

Sai số trong điều tra thống kê do hai nguyên nhân tạo ra: do ghi chép sai sót và do tính chất đại biểu của các mẫu điều tra không cao, không tiêu biểu cho tổng thể chung Nguyên nhân của các nguyên nhân trên đây là xuất phát từ con người Ví dụ, với

Trang 30

nguyên nhân do ghi chép sai sót có thể xuất phát từ trình độ nhận thức và trách nhiệm thực hiện yêu cầu điều tra của nhân viên điều tra chưa cao, chưa đầy đủ do đó không tập trung tư tưởng nên ghi sai hoặc cũng có trường hợp cố tình ghi sai Đối với người được điều tra không hiểu rõ mục đích yêu cầu điều tra nên khai báo không đúng sự thật Với nguyên nhân do tính chất đại biểu của mẫu điều tra không cao có thể xuất phát từ việc điều tra thực địa, phương pháp lựa chọn xác định đơn vị mẫu điều tra không đại diện, tiêu biểu tình hình chung của tổng thể đối tượng nghiên cứu Do đó, tài liệu thống kê điều tra được không đủ tin cậy để rút ra nhận định, kết luận tình hình, đặc điểm, đặc trưng chung của tổng thể hiện tượng nghiên cứu

Phương pháp khắc phục sai số đạt đến mức độ có thể chấp nhận là xuất phát từ khắc phục các nguyên nhân gây ra sai số Cụ thể tiến hành mỗi cuộc điều tra cần có

sự chuẩn bị tốt mọi điều kiện thực hiện, kế hoạch và phương án điều tra, làm tốt các công tác giáo dục tư tưởng, nhận thức đứng đắn ý nghĩa mục đích cuộc điều tra, tập huấn nghiệp vụ điều tra, lựa chọn đối tượng điều tra, phương pháp xác định mẫu điều tra phải dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc về mặt lý luận và về mặt thực tế tồn tại như vậy mới có thể xác định được mẫu điều tra đảm bảo tính chất đại biểu, đại diện cho tổng thể chung

2.1.6 Xây d ựng phương án điều tra thống kê

Tính chất phức tạp của đối tượng điều tra thống kê đã quyết định tính chất phức tạp của công tác điều tra thống kê Muốn tổ chức điều tra thu thập tài liệu thống kê đảm bảo yêu cầu chính xác, đúng thực tế, sai số ít, đảm bảo tính trung thực khách quan, đòi hỏi phải xây dựng phương án điều tra một cách khoa học, thiết thực phù hợp với một cuộc điều tra

Phương án điều tra là một văn bản đề cập đến những vấn đề cần được thực hiện trước, trong và sau quá trình tổ chức điều tra thu thập tài liệu về một chủ đề nào đó của hiện tượng nghiên cứu Nội dung và quy mô của phương án điều tra thay đổi theo tính chất của đối tượng điều tra, mục đích yêu cầu của cuộc điều tra, nhiệm vụ cụ thể nghiên cứu về đối tượng điều tra Nhưng nhìn chung phương án điều tra thống kê có nội dung cơ bản bao gồm một số vấn đề chủ yếu dưới đây :

- Mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra

Là quy định rõ nhiệm vụ cuối cùng cần đạt được của một cuộc điều tra Mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra được xác định dựa theo yêu cầu quản lý và chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ Mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra được xác định rõ ràng, chính xác thì việc tổ chức điều tra thu thập tài liệu càng thuận lợi hơn

- Đối tượng điều tra và đơn vị điều tra

Đối tượng điều tra: là hiện tượng nghiên cứu có các tiêu thức và dữ liệu cần thu thập ghi chép phục vụ mục đích, yêu cầu nghiên cứu đề ra cho cuộc điều tra.Xác định

Trang 31

rõ ràng, chính xác đối tượng điều tra là quy định rõ phạm vi điều tra thu thập tài liệu đối với đối tượng cần nghiên cứu Ví dụ: trong điều tra dân số vào 0 giờ ngày 1 tháng

4 năm 1999 ở nước ta quy định đối tượng điều tra là nhân khẩu thường trú tại từng địa phương trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trong cuộc điều tra năng lực máy móc thiết bị sản xuất của doanh nghiệp Y, đối tượng điều tra là toàn bộ máy móc thiết bị sản xuất hiện có tại doanh nghiệp Y trong thời điểm điều tra

Đơn vị điều tra: là đơn vị cấu thành tổng thể đối tượng điều tra, bản thân có các tiêu thức, dữ liệu đáp ứng mục đích, yêu cầu nghiên cứu cần được thu thập, ghi chép Nói cách khác, là nơi phát sinh các thông tin thuộc tài liệu thống kê phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu cần được thu thập ghi chép Ví dụ: đơn vị điều tra trong điều tra dân số

là mỗi người dân có hộ khẩu thường trú tại địa phương; đơn vị điều tra trong điều tra năng lực máy móc thiết bị sản xuất là từng máy móc thiết bị sản xuất

Xác định đúng đơn vị điều tra cũng là rất quan trọng như xác định đúng đối tượng điều tra, giúp chúng ta thu thập tài liệu chính xác, đảm bảo phục vụ yêu cầu phân tích với chất lượng cao Muốn xác định đúng đắn, chính xác đơn vị điều tra phải căn cứ vào đối tượng điều tra và mục đích điều tra

- Nội dung điều tra

Là danh mục các tiêu thức đáp ứng yêu cầu nghiên cứu cần tiến hành thu thập ghi chép trên các đơn vị điều tra thuộc tổng thể nghiên cứu Nội dung điều tra được xác định dựa vào mục đích yêu cầu nghiên cứu và khả năng thực tế tổ chức cuộc điều tra thu thập tài liệu

Nội dung điều tra theo hình thức báo cáo thống kê định kỳ thông thường là hệ thống chỉ tiêu về hoạt động kinh tế, sản xuất – kinh doanh được tổng hợp tính toán trực tiếp từ các tài liệu chứng từ gốc ở đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện

- Thời điểm, thời kỳ điều tra và thời hạn điều tra

Thời điểm điều tra: là mốc thời gian quy định thống nhất điểm xuất phát ghi chép thu thập tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu trên các đơn vị thuộc phạm vi đối tượng điều tra Thời điểm điều tra có thể được quy định cụ thể: giờ, ngày, tháng, năm thống nhất việc đăng ký ghi chép tài liệu Ví dụ: cuộc điều tra dân số vào 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009; điều tra hàng hóa vật tư tồn kho vào 0 giờ ngày cuối của tháng hoặc 0 giờ ngày 31 tháng 12 của năm; điều tra tài sản cố định của đơn vị doanh nghiệp vào 0 giờ ngày 31 tháng 12 của năm; điều tra chăn nuôi vào ngày 1 tháng 4 và ngày 1 tháng 10 trong năm.Thời điểm điều tra được xác định căn cứ vào tính chất, đặc điểm, đặc trưng phát triển của hiện tượng nghiên cứu

Thời kỳ điều tra: là chỉ về độ dài thời gian tồn tại phát triển của đối tượng điều tra cần được quy định thống nhất để thu thập tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu cả thời

Trang 32

kỳ.Thời kỳ điều tra có thể là 1 ngày, 1 tuần lễ, nửa tháng, một tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng,

1 năm, 2 năm, 5 năm…Thời kỳ điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu Thời hạn điều tra: là độ dài thời gian quy định thực hiện một cuộc điều tra: ngày bắt đầu, ngày kết thúc – hoàn thành cuộc điều tra Tùy theo tính chất, nhiệm vụ, yêu cầu, nội dung nghiên cứu đối với đối tượng điều tra thời hạn của một cuộc điều tra hoàn tất mọi việc thu thập tài liệu có thể dài hoặc ngắn…

- Thiết kế mẫu phiếu điều tra và bảng giải thích hướng dẫn cách ghi chép

Biểu mẫu, phiếu điều tra có thể coi là phương tiện, một loại công cụ, chứng từ gốc dùng để ghi chép và lưu giữ kết quả thu thập được trong cuộc điều tra

Biểu mẫu, phiếu điều tra được in sẵn nội dung tiêu thức cần được ghi chép trong các cuộc điều tra chuyên môn Đối với hình thức báo cáo thống kê định kỳ, biểu mẫu điều tra là hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê với nội dung là các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đáp ứng mục đích, yêu cầu nghiên cứu tình hình phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội; phục vụ công tác chỉ đạo, lãnh đạo quản lý phát triển sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chủ quản

Nguyên tắc thiết kế mẫu điều tra (phiếu điều tra) là phải đảm bảo chứa đựng đầy

đủ nội dung điều tra phục vụ đáp ứng yêu cầu nghiên cứu đối với hiện tượng điều tra

và dành phần ghi kết quả điều tra Biểu mẫu điều tra phải được thiết kế trình bày rõ ràng, thuận lợi cho việc ghi chép, cũng như kiểm tra tài liệu và tổng hợp tài liệu

Hiện nay để việc tổng hợp tài liệu điều tra bằng công cụ máy tính hiện đại, nội dung biểu mẫu điều tra đã được mã hóa thành những chữ số nhất định được quy định thống nhất Ví dụ trong điều tra dân số, nam được mã hóa thành chữ số ―0‖, nữ được

- Xây dựng kế hoạch điều tra

Là cụ thể hóa về quy định các bước công việc trình tự tiến hành thực hiện cuộc điều tra Cụ thể là bố trí thời gian thực hiện từng bước công việc tổ chức điều tra: lựa chọn chính xác điểm làm thí điểm chuẩn bị lực lượng điều tra và phân công nhiệm vụ cụ thể, phương pháp điều tra; chuẩn bị phương tiện, vật tư, kinh phí cho cuộc điều tra; tổ

Trang 33

chức tuyên truyền mục đích yêu cầu làm tốt công tác tư tưởng đối với điều tra viên và đối tượng người được điều tra; tập huấn điều tra viên nắm vững nghiệp vụ điều tra… Phương án điều tra được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ sẽ là sự đảm bảo quan trọng có tính quyết định kết quả điều tra đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu

2.2 T ổng hợp thống kê

2.2.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của tổng hợp thống kê

Sau khi tiến hành điều tra thống kê, ta sẽ thu được số liệu về hiện tượng nghiên cứu Tuy nhiên, những tài liệu này mới chỉ phản ánh được những đặc trưng riêng rẽ về từng đơn vị tổng thể, có tính rời rạc Do vậy ta chưa thể sử dụng các tài liệu này vào phân tích để nêu rõ bản chất, quy luật phát triển của toàn bộ hiện tượng Muốn làm được điều này, ta phải tiến hành tập trung, chỉnh lý, hệ thống hóa các tài liệu đã thu được trong điều tra để làm cho các tài liệu riêng rẽ về từng đơn vị tổng thể trở thành những con số phản ánh đặc trưng chung của toàn bộ hiện tượng, trên cơ sở đó giúp ta

có nhận định chung về toàn bộ hiện tượng nghiên cứu Đây chính là giai đoạn tiếp theo của quá trình nghiên cứu thống kê và được gọi là tổng hợp thống kê

Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý, hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu được trong điều tra thống kê, nhằm làm cho các đặc trưng riêng biệt về từng đơn vị của hiện tượng nghiên cứu bước đầu chuyển thành những đặc trưng chung của toàn bộ hiện tượng

Ví dụ như sau khi tiến hành Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, ta đã thu được một khối lượng lớn các tài liệu ban đầu phản ánh các đặc trưng riêng biệt của từng nhân khẩu như: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú Nếu các tài liệu này không được tổng hợp lại, ta sẽ không thể rút ra kết luận về những đặc trưng chung của tình trạng dân số của cả nước ta Chỉ dựa trên cơ sở tập trung, chỉnh lý và hệ thống hóa các số liệu riêng biệt của từng nhân khẩu đã thu được trong giai đoạn điều tra, ta mới có thể biết được những đặc điểm chung về tình hình dân số nước ta có tại thời điểm điều tra, như: tổng số dân của cả nước là 85.846.997 người, trong đó nam có 42.413.143 người, chiếm tỷ trọng 49,41% và nữ có 42.433.854 người chiếm tỷ trọng 50,59%

Nhiệm vụ cơ bản của tổng hợp thống kê là làm cho những đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể bước đầu chuyển thành các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể, làm cho các biểu hiện riêng của tiêu thức điều tra bước đầu chuyển thành các biểu hiện chung về đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu Trong ví dụ trên, nhờ có tổng hợp thống kê mà các đặc trưng riêng của từng nhân khẩu, các biểu hiện riêng của tiêu thức điều tra về giới tính, nơi cư trú, độ tuổi đã chuyển thành các đặc trưng chung của toàn

Trang 34

bộ dân số nước ta về tổng số dân, số nam, nữ, số dân thành thị, nông thôn, số dân ở các nhóm tuổi

Tổng hợp thống kê là giai đoạn thứ hai của quá trình nghiên cứu thống kê Việc tổ chức tổng hợp đúng đắn và khoa học có ý nghĩa rất lớn với kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Nhờ có các số liệu thống kê đã được tổng hợp một cách khoa học,

ta mới có thể rút ra kết luận chính xác về bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu Trong ví dụ trên, nếu chỉ căn cứ vào những số liệu thống kê riêng rẽ của từng nhân khẩu đã điều tra được, ta không rút ra được kết luận gì về đặc trưng cơ bản của dân số nước ta Ngược lại, với một vài con số thống kê đã được tổng hợp, ta có thể thấy sự mất cân bằng giữa nam và nữ của dân số nước ta năm 2009 là không lớn

2.2.2 Yêu c ầu của tổng hợp thống kê

Tổng hợp thống kê không phải đơn giản chỉ là những thao tác kỹ thuật nhằm sắp xếp lại cho có thứ tự các tài liệu ban đầu Nó cũng không phải chỉ là việc dùng máy tính để có một vài con số cộng và tổng cộng Để cho các số liệu được tổng hợp nói rõ bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng, đòi hỏi tổng hợp thống kê phải có kỹ thuật, đảm bảo yêu cầu nhất định Những yêu cầu chủ yếu của tổng hợp thống kê là:

- Xây dựng kế hoạch tổng hợp một cách khoa học

Như trên đã chỉ rõ: Tổng hợp thống kê không chỉ đơn thuần là việc đưa ra các con số cộng và tổng cộng, không chỉ là việc ghép một cách cơ học các con số, các mức

độ lại với nhau mà nó là một công việc lớn, rất phức tạp, bao gồm nhiều bước công việc kế tiếp nhau một cách có hệ thống từ việc kiểm tra, đánh giá tài liệu điều tra được, nhập số liệu, kiểm tra số liệu đã được nhập, xác định các chỉ tiêu tổng hợp để nói rõ đặc trưng của từng bộ phận cũng như của tổng thể, xây dựng hệ thống biểu mẫu tổng hợp, chạy chương trình để điền các số liệu đã tổng hợp được vào hệ thống biểu mẫu, phân chia tổng thể thành các tổ có tính chất khác nhau, Số đơn vị điều tra càng nhiều, nội dung điều tra càng phong phú thì công tác tổng hợp càng phức tạp, khó khăn Do đó, nếu không xây dựng được một kế hoạch tổng hợp khoa học thì sẽ khó tiến hành công việc một cách suôn sẻ, thậm chí các bước có thể chồng chéo lên nhau hoặc quên không triển khai một số bước công việc nào đó Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng tài liệu được tổng hợp

- Dựa trên cơ sở phân tích lý luận để lựa chọn các chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa Các hiện tượng mà thống kê nghiên cứu, nhất là các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn tồn tại trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Hầu hết các mối quan hệ này

đã được đúc rút, tổng kết thành những lý luận khoa học nhất định Tuy nhiên, trong mỗi điều kiện lịch sử cụ thể, biểu hiện về lượng của các mối liên hệ này không hoàn toàn giống nhau, trong khi vẫn tuân theo các quy luật đã được đúc kết Chẳng hạn như mối liên hệ nghịch đảo giữa sản lượng sản phẩm được sản xuất ra và giá thành đơn vị

Trang 35

sản phẩm đã được tổng kết thành quy luật lý thuyết Nhưng trong từng điều kiện lịch

sử cụ thể, tác động ngược của sản lượng sản phẩm được sản xuất ra đến giá thành đơn

vị sản phẩm lại không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, để lượng hóa tác động ngược này trong mỗi trường hợp nghiên cứu cụ thể, trước hết ta phải tiến hành phân tích lý luận để xác định mối liên hệ của các chỉ tiêu trên, từ đó tiến hành tổng hợp tài liệu một cách chính xác

Tiến hành phân tích lý luận để tìm ra chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa chẳng những giúp ta tìm được những chỉ tiêu tổng hợp phù hợp với mục đích nghiên cứu, tránh được tình trạng thừa hoặc thiếu chỉ tiêu cho việc phân tích sau này, đảm bảo tính khoa học của các chỉ tiêu tổng hợp, lại vừa tiết kiệm được thời gian, công sức trong quá trình tổng hợp và phân tích

- Căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể

Việc phân tích lý luận giúp ta xác định được chính xác hệ thống chỉ tiêu cần tổng hợp một cách đầy đủ và chính xác về mặt lý luận Tuy nhiên, không phải lúc nào lý luận cũng phù hợp một cách tuyệt đối với thực tiễn sinh động Phân tích các nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường, nhận thức lý luận có thể giúp ta tìm ra hàng loạt nguyên nhân khác nhau như: áp lực dân số, ý thức bảo vệ môi trường của người dân, hạ tầng cơ sở yếu kém, hệ thống tiêu nước không đảm bảo, nhà nước thiếu đầu tư, Tuy nhiên, tùy điều kiện lịch sử cụ thể, có thể lúc này yếu tố này nổi trội nhưng khi khác nó lại là thứ yếu, thậm chí chỉ còn ảnh hưởng rất nhỏ đến tình trạng ô nhiễm môi trường

2.2.3 Nội dung tổng hợp thống kê

Nội dung tổng hợp thống kê được xác định để đáp ứng mục đích nghiên cứu Nội dung tổng hợp là danh mục các biểu hiện của những tiêu thức mà chúng được xác định trong nội dung điều tra Tuy nhiên, không phải tất cả các biểu hiện của tiêu thức điều tra đều được đưa vào nội dung tổng hợp, mà phải chọn lọc để nội dung tổng hợp vừa

đủ đáp ứng mục đích nghiên cứu Nói một cách cụ thể, nội dung tổng hợp là danh mục các biểu hiện của tiêu thức điều tra được chọn lọc và theo mỗi biểu hiện chúng được phân chia thành các nhóm khác nhau để đáp ứng yêu cầu phản ánh các cơ cấu khác nhau phù hợp với mục đích nghiên cứu Nội dung tổng hợp cũng là danh mục của một

Trang 36

- Khi tài liệu đã được tập trung đầy đủ, phải đóng các câu hỏi mở đối với những nội dung điều tra mở Trong một số cuộc điều tra, ngoài những nội dung điều tra đã cố định các khả năng trả lời còn có nội dung không cố định các khả năng trả lời, người được hỏi có thể trả lời tự do Điều đó dẫn đến nội dung cũng như số lượng câu trả lời

là không tương tự nhau Khi tổng hợp phải xác định sử dụng những nội dung trả lời nào vào tổng hợp, đó là đóng câu hỏi mở Thường thì các nội dung này chưa được mã hóa trên phiếu điều tra, nên sau khi đóng câu hỏi mở, phải mã hóa chúng để thuận lợi cho tổng hợp

- Lượng hóa các biểu hiện của tiêu thức thuộc tính Nội dung điều tra không chỉ

có các tiêu thức số lượng mà còn có các tiêu thức thuộc tính mà biểu hiện của nó là các đặc điểm, tính chất hoặc tên gọi, Khi tổng hợp và phân tích thống kê cần nêu rõ mức

độ khác nhau của các biểu hiện này và tính toán được đặc trưng chung của tổng thể theo tiêu thức nghiên cứu như tần số, cho nên phải lượng hóa các biểu hiện của nó Muốn vậy, người ta dùng các thang đo khác nhau phù hợp với những tiêu thức khác nhau như đã trình bày trong phần thang đo

- Kiểm tra tài liệu dùng vào tổng hợp: đây là một việc làm không thể thiếu vì chất lượng, kết quả tổng hợp phụ thuộc vào chất lượng tài liệu dùng vào tổng hợp Kiểm tra tài liệu đã được thực hiện trong khâu điều tra Việc kiểm tra này được tiến hành trên nhiều mặt và kiểm tra toàn bộ, do những người trực tiếp tham gia điều tra làm Tuy vậy, khi tổng hợp vẫn phải kiểm tra tài liệu một lần nữa để đảm bảo tính chính xác của tài liệu, loại bỏ hoàn toàn hay một phần nội dung của những phiếu điều tra không đúng, nếu không có điều kiện điều tra lại Đối với các cuộc điều tra lớn, khối lượng phiếu điều tra nhiều, không thể kiểm tra toàn bộ được, người ta chọn mẫu một số phiếu điều tra để kiểm tra

2.2.4 Phương pháp tổng hợp thống kê

Yêu cầu quan trọng nhất của tổng hợp thống kê là phải nêu được cơ cấu theo các mặt của tổng thể nghiên cứu Để đáp ứng yêu cầu này, người ta sử dụng phương pháp phân tổ thống kê

2.2.4.1 Khái ni ệm, phân loại, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tổ thống kê

a Khái niệm phân tổ thống kê

Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hoặc 1 số tiêu thức nào đó tiến hành phân chia các đơn vị trong tổng thể thành các tổ, nhóm tổ, tiểu tổ có tính chất khác nhau nhằm đáp ứng mục đích, yêu cầu nghiên cứu

Ví dụ phân tổ dân số theo giới tính, tuổi lao động, tuổi học, phân tổ sản phẩm của ngành công nghiệp theo nhóm sản phẩm: nhóm A gồm sản phẩm thuộc tư liệu sản xuất, nhóm B gồm sản phẩm thuộc tư liệu tiêu dùng…

b Phân loại phân tổ thống kê

Trang 37

Phân tổ thống kê gồm các loại sau:

- Căn cứ vào số lượng tiêu thức sử dụng tiến hành phân tổ thống kê chia thành phân tổ giản đơn và phân tổ phức tạp

Phân tổ giản đơn là phân tổ theo một tiêu thức Ví dụ: phân chia dân số theo tiêu thưc giới tính; phân tổ các cửa hàng bán lẻ của ngành thương mại theo tiêu thức doanh

số bán hàng; phân tổ doanh nghiệp công nghiệp theo số công nhân

Phân tổ phức tạp là phân tổ theo nhiều tiêu thức Ví dụ: phân tổ dân số theo các tiêu thức giới tính, độ tuổi lao động, độ tuổi học, thành phần giai cấp, dân tộc Phân tổ sản lượng sản phẩm của một ngành công nghiệp theo các tiêu thức nhóm A, B, thành phần kinh tế, cấp quản lý, sản phẩm chủ yếu Phân tổ tổng mức bán lẻ và dịch vụ theo các tiêu thức khu vực kinh tế, cấp quản lý ngành

- Căn cứ theo tính chất biểu hiện của tiêu thức phân tổ thống kế chia thành phân

tổ theo tiêu thức thuộc tính, phân tổ theo tiêu thức số lượng và phân tổ kết hợp cả 2 loại tiêu thức

Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính là căn cứ vào những tiêu thức không thể trực tiếp không thể biểu hiện bằng con số cụ thể để thực hiện phân tổ Ví dụ phân tổ doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu thức nhóm A, B; theo tiêu thức thành phần kinh tế; theo tiêu thức khu vực quản lý; theo ngành kinh tế; theo lãnh thổ

Phân tổ theo tiêu thức số lượng là căn cứ vào những tiêu thức có thể trực tiếp

biểu hiện được bằng những con số cụ thể để tiến hành phân tổ Ví dụ phân tổ của hàng bán lẻ của ngành thương mại theo các tiêu thức: tiêu thức số lượng nhân viên bán hàng, theo doanh số bán hàng, theo doanh thu bán hàng

Phân tổ kết hợp cả 2 loại tiêu thức thuộc tính và tiêu thức lượng biến Ví dụ phân

tổ doanh nghiệp của một ngành kinh tế theo các tiêu thức: thành phần kinh tế, cấp quản lý, nhóm A, B; số lượng công nhân; giá trị sản phẩm, doanh thu

- Căn cứ vào khoảng cách các tổ có thể phân chia thành phân tổ có khoảng cách

tổ và phân tổ không có khoảng cách tổ

Phân tổ không có khoảng cách tổ là phân tổ trong đó mỗi tổ chỉ có một giới hạn lượng biến không liên tục

Phân tổ có khoảng cách tổ là phân tổ trong đó mỗi tổ có 2 giới hạn lượng biến, gọi là giới hạn dưới và giới hạn trên của tổ

Trong phân tổ có khoảng cách tổ chia ra:

- Phân tổ có khoảng cách bằng nhau: Loại phân tổ này thường ứng dụng phân tổ đối với hiện tượng nghiên cứu phát triển tương đối đồng đều, nhịp nhàng, không có biến động lớn về mặt lượng giữa các đơn vị trong tổng thể, tương đối đồng nhất về loại hình kinh tế

Trang 38

- Phân tổ có khoảng cách tổ không bằng nhau: Loại phân tổ này thường ứng dụng phân tổ đối với hiện tượng nghiên cứu có đơn vị phát triển không đồng đều, phát triển

có sự cách biệt về mặt lượng giữa các đơn vị và có sự khác biệt về chất

- Phân tổ có giới hạn tổ trên trùng với tổ dưới Ví dụ: phân tổ công nhân theo mức năng suất lao động Thường ứng dụng phân tổ đối với lượng biến liên tục

- Phân tổ có giới hạn tổ trên không trùng với tổ dưới Ví dụ: phân tổ dân số theo

độ tuổi lao động: từ 0 đến 15 tuổi là độ tuổi chưa đến tuổi lao động Từ 16 đền 60 tuổi (55 tuổi đối với nữ) độ tuổi trong độ tuổi lao động Từ 61 tuổi trở lên thuộc độ tuổi hết

độ tuổi lao động Thường ứng dụng phân tổ hiện tượng nghiên cứu trong trường hợp các đơn vị có lượng biến không liên tục

c Ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tổ thống kê

Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản duy nhất sử dụng tổng hợp tài liệu điều tra thống kê

Tài liệu về kết quả phân tổ thống kê là cơ sở tính toán các chỉ tiêu phân tích thống kê – thực hiện giai đoạn phân tích thống kê

Bản thân phương pháp phân tổ thống kê còn là phương pháp phân tích thống kê quan trọng Biểu hiện ở chỗ: qua kết quả phân tổ thống kê, thu được số liệu tổng hợp theo tiểu tổ, tổ, nhóm tổ và chung của tổng thể, có thể cho chúng ta có nhận xét sơ bộ

có tính phân tích so sánh sự hơn kém giữa các tiểu tổ, nhóm tổ; cho thấy vị trí, tầm quan trọng của từng tiểu tổ, tổ, nhóm tổ trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu

Nhiệm vụ của phân tổ thống kê là thực hiện nhiệm vụ của tổng hợp thống kê: chỉnh lý, sắp xếp, phân loại và hệ thống các tài liệu thống kê điều tra thu thập được để

có được những số liệu cộng, tổng cộng phục vụ yêu cầu phân tích về kết cấu, về mối quan hệ giữa các đơn vị trong tổng thể, về mối quan hệ giữa các đơn vị trong tổng thể, giữa các tiêu thức nghiên cứu của hiện tượng

2.2.4.2 Căn cứ lựa chọn tiêu thức phân tổ thống kê

Tiêu thức phân tổ thống kê đã trình bày trong chương 1

Tiêu thức phân tổ thống kê là chỉ về một đặc tính, một đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu được chọn làm căn cứ để tiến hành phân tổ hiện tượng nghiên cứu, đáp ứng mục đích, yêu cầu phân tích đề ra Tiêu thức phân tổ thống kê bao gồm các loại:

- Tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng

- Tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả

- Tiêu thức thời gian và tiêu thức không gian

Khi nghiên cứu về một chủ đề nào đó trong một hiện tượng kinh tế - xã hội, bản thân hiện tượng kinh tế - xã hội đó có một số đặc trưng, đặc tính có thể coi là tiêu thức

để phân tổ thống kê Ví dụ khi nghiên cứu chủ đề phân loại doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có thể biểu hiện trên một số tiêu thức cụ thể như giá trị sản lượng sản

Trang 39

phẩm, số lượng từng loại sản phẩm chủ yếu, số công nhân sản xuất, vốn đầu tư, giá trị máy móc, thiết bị sản xuất…Mỗi tiêu thức có ý nghĩa, đóng vai trò quan trọng khác nhau trong phân tổ thống kê ở điều kiện cụ thể nhất định: có tiêu thức nêu rõ được bản chất của hiện tượng nghiên cứu, cũng có tiêu thức không nêu rõ được bản chất, thậm chí còn phản ánh sai lệch bản chất của hiện tượng nghiên cứu Lênin đã chỉ rõ: ―Cùng những tài liệu như nhau mà cách sắp xếp khác nhau (ý nói phân tổ theo tiêu thức khác nhau) lại đưa đến những kết luận trái ngược hẳn với nhau‖ Do vậy, việc lựa chọn tiêu thức bản chất nhất để thực hiện phân tổ thống kê là vấn đề quan trọng cần được phải giải quyết chính xác, đúng đắn

Căn cứ lựa chọn tiêu thức phân tổ thống kê đúng đắn, chính xác:

- Dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc, đúng đắn bản chất của hiện tượng nghiên cứu theo mục đích yêu cầu nghiên cứu Ví dụ bản chất phương pháp kinh doanh của doanh nghiệp là kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, do đó nghiên cứu phân tổ quy mô doanh nghiệp theo tiêu thức giá trị máy móc thiết bị, chi phí hiện đại kỹ thuật sản xuất Ngược lại bản chất phương pháp sản xuất của doanh nghiệp chủ yếu thủ công, dựa vào sức lao động của con người, thì nghiên cứu quy mô của doanh nghiệp dựa theo tiêu thức số lượng của công nhân

- Căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của giai đoạn phát triển của hiện tượng nghiên cứu, phân tích sâu sắc chọn tiêu thức bản chất phù hợp, đáp ứng yêu cầu phân tích ở từng giai đoạn cụ thể Ví dụ phân tổ phân tích đời sống của người nông dân miền Bắc Việt Nam thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945, thời kỳ hòa bình lập lại năm 1954…cần phân tích sâu sắc tiêu thức số ruộng đất chiếm hữu, mức thu nhập theo công điểm của xã viên hợp tác xã nông nghiệp…, để lựa chọn tiêu thức phân tổ căn bản phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu

2.2.4 3 Xác định số tổ và khoảng cách tổ

a Xác định số tổ

Phân tổ hiện tượng kinh tế - xã hội nghiên cứu thành bao nhiêu tổ là vấn đề quan trọng, cần thiết phải nghiên cứu giải quyết tiếp theo sau vấn đề xác định lựa chọn tiêu thức phân tổ

Số tổ được chia không nên quá nhiều vì sẽ làm cho hiện tượng nghiên cứu bị xé

lẻ, phân tán, quy mô tổ quá nhỏ, làm cho giữa các tổ không khác nhau về tính chất cơ bản của tiêu thức phân tổ Do đó không đạt được mục đích, yêu cầu nghiên cứu đã đề

ra cho việc phân tổ thống kê Nếu số tổ chia quá ít thì các đơn vị trong một tổ sẽ khác nhau về tính chất, đặc trưng cơ bản của tiêu thức phân tổ… như vậy cũng không đáp ứng được mục đích, yêu cầu nghiên cứu đề ra cho việc phân tổ thống kê

Phương pháp xác định số tổ cần thiết có liên quan đến tiêu thức phân tổ thuộc tính và tiêu thức phân tổ lượng biến

Trang 40

- Xác định số tổ cần thiết theo tiêu thức thuộc tính

Căn cứ vào biểu hiện cụ thể của tiêu thức thuộc tính để xác định số tổ cần thiết tương ứng với biểu hiện của tiêu thức thuộc tính, không phải căn cứ vào biểu hiện khác nhau về lượng biến của tiêu thức phân tổ

Tiêu thức thuộc tính có 3 biểu hiện cụ thể:

- Trường hợp có 2 biểu hiện (tiêu thức thay phiên), phân chia hiện tượng nghiên cứu thành 2 tổ Ví dụ phân tổ doanh nghiệp công nghiệp, phân tổ sản phẩm công nghiệp theo tiêu thức nhóm A và nhóm B hoặc theo tiêu thức khu vực quốc doanh và khu vực ngoài quốc doanh Phân tổ dân số theo tiêu thức giới tính dân số nam và dân số nữ…

- Trường hợp có một số biểu hiện cố định, mỗi biểu hiện hình thành 1 tổ, có bao nhiêu biểu hiện sẽ phân chia hiện tượng nghiên cứu thành bấy nhiêu tổ Ví dụ phân tổ dân số theo tiêu thức thành phần giai cấp hay theo tiêu thức dân tộc; phân tổ nền kinh

tế quốc dân theo tiêu thức ngành kinh tế hay theo tiêu thức thành phần kinh tế, hay theo tiêu thức khu vực kinh tế hay theo tiêu thức cấp quản lý…

- Trường hợp có nhiều biểu hiện như tiêu thức tên sản phẩm, rất nhiều tên sản phẩm, không thể dựa trên mỗi biểu hiện hình thành một tổ Như vậy số tổ quá nhiều và các đơn vị trong các tổ sẽ không khác nhau về tính chất, đặc trưng cơ bản, không có ý nghĩa nghiên cứu Trường hợp này phải thực hiện nguyên tắc ghép tổ: các đơn vị, các

tổ nhỏ được ghép thành một tổ phải đảm bảo giống nhau hoặc gần giống nhau về tính chất hay đặc trưng cơ bản nào đó theo tiêu thức phân tổ, phù hợp với mục đích, yêu cầu nghiên cứu Do đó số tổ được hình thành không quá nhiều

- Xác định số tổ cần thiết theo tiêu thức lượng biến

Căn cứ vào sự biểu hiện cụ thể khác nhau về lượng của tiêu thức phân tổ và chú

ý đến số lượng đơn vị tổng thể nhiều hay ít để xác định số tổ cần thiết phải chia

Tiêu thức lượng biến có 3 trường hợp sau đây:

+ Trường hợp tiêu thức thay phiên - lượng biến của tiêu thức phân tổ chỉ có 2 mức biểu hiện: mức trên hoặc mức dưới một trị số lượng biến nào đó Ví dụ phân tổ của các Doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ để nghiên cứu quy mô Doanh nghiệp theo 2 biểu hiện của tiêu thức số công nhân: dưới từ 200 công nhân và trên 200 công nhân

Do đó hình thành 2 tổ: tổ dưới từ 200 công nhân và tổ trên 200 công nhân

+ Trường hợp có một số hữu hạn tương đối cố định lượng biến rời rạc không liên tục thì mỗi lượng biến hình thành một tổ Số tổ bằng số hạn lượng biến

+ Trường hợp tiêu thức lượng biến liên tục hoặc không liên tục (rời rạc) có rất nhiều biểu hiện về mặt lượng Ví dụ với tiêu thức tuổi đời của dân số, trong trường hợp này không thể căn cứ vào mỗi biểu hiện của mặt lượng để hình thành 1 tổ Vì như vậy số tổ được phân sẽ rất nhiều mà vấn đề quan trọng ở chỗ giữa các tổ không khác biệt nhau về chất, đặc trưng cỏ bản của hiện tượng, do đó không đáp ứng được mục

Ngày đăng: 25/01/2022, 22:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w