Lý do chọn đề tài Trong cuốn sách nổi tiếng về “Tương tác của Màu sắc” năm 1963 [13] của mình, nghệ sĩ người Đức có ảnh hưởng Josef Albers đã nhận thấy rằng: Trong khi trí nhớ thính giác
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN MÔN NGUYÊN LÝ THỊ GIÁC
NÂNG CAO
ỨNG DỤNG NGUYÊN LÝ THỊ GIÁC
GV: GS.TS NGUYỄN XUÂN TIÊN
Chuyên ngành: Mỹ thuật ứng dụng
Mã ngành: 8210410
Họ và tên học viên: VÕ THỊ THU HẰNG
Lớp: 20181501
Mã số: 201815004
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 03 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ MÀU SẮC TRONG THIẾT KẾ ĐỒ HOẠ 6
2.1.1 Các thuật ngữ về màu sắc 6 2.1.2 Tính đọc hiểu, tương phản và hài hoà của màu sắc 7 2.1.3 Ý nghĩa, nghĩa hàm chỉ và nghĩa sở chỉ của màu sắc 7 2.2 Ứng dụng nguyên lý thị giác về màu sắc trong thiết kế đồ hoạ 10
2.2.1 Hiệu ứng tâm lý trực tiếp trong màu sắc 10
2.2.3 Tâm lý học về màu sắc trong nghệ thuật thị giác 11
Trang 3Tóm tắt
Nguyên lý thị giác (NLTG) là những nền móng cơ bản nhất đối với bất cứ cá nhân nào khi tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu, thực hành Mỹ thuật ứng dụng (MTUD) Bài nghiên cứu này tập trung vào yếu tố thị giác “Màu sắc” và những nguyên lý thị giác có liên quan đến yếu tố này trong lĩnh vực Thiết kế đồ hoạ (ở giai đoạn phác thảo) nói riêng và nghệ thuật thị giác nói chung Qua đó, giải thích và chứng minh hai luận điểm: Một là, màu sắc có khả năng truyền tải thông tin (Colour As Information), hai là, màu sắc có tính tương tác với người xem (Interaction of Colour)
Từ khoá: nguyên lý thị giác, mỹ thuật ứng dụng, màu sắc, truyền tải thông tin, tương tác màu sắc, tâm lý học màu sắc.
Trang 4CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong cuốn sách nổi tiếng về “Tương tác của Màu sắc” năm 1963 [13] của mình, nghệ sĩ người Đức có ảnh hưởng Josef Albers đã nhận thấy rằng: Trong khi trí nhớ thính giác của con người là tuyệt vời - họ có thể lặp lại một giai điệu, sau khi chỉ nghe một hoặc hai lần; thì đối với trí nhớ thị giác đặc biệt, trí nhớ về màu sắc, lại không hề chính xác Trớ trêu thay, những người có kỹ năng và kinh nghiệm rõ ràng nhất về màu sắc, bao gồm các nghệ sĩ và nhà thiết kế thuộc mọi lĩnh vực, thường thấy mình bị kiềm hãm sáng tại bởi điểm yếu khó chịu này trong năng lực trí não Thực tế là, đặc biệt là đối với những người có con mắt sáng tạo, màu sắc được xếp tầng với ý nghĩa cảm xúc, tâm lý, cá nhân và văn hóa có thể che khuất thực tế khách quan [11] Vì vậy, việc tìm hiểu và ứng dụng các nguyên lý thị giác về màu sắc có thể giúp những nhà thực hành nghệ thuật thị giác vượt qua giới hạn này để sử dụng màu sắc một cách hiệu quả hơn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phần 1 của nghiên cứu dùng để giải thích được các thuật ngữ về màu sắc (Colour Terminology), tính đọc hiểu, tương phản và hài hoà của màu sắc (Colour Legibility, Contrast and Harmony), cũng như ý nghĩa, nghĩa hàm chỉ và nghĩa sở chỉ của màu sắc (Colour Associations, Connotations, Denotations) Việc tìm hiểu các nguyên tắc
cơ bản của màu sắc sẽ làm sáng tỏ khả năng truyền tải thông tin của màu sắc
Phần 2 của nghiên cứu dùng để chứng minh các lý thuyết của nguyên lý thị giác về màu sắc trong thiết kế đồ hoạ thông qua các dẫn chứng về hiệu ứng tâm lý trực tiếp trong màu sắc, cảm giác trong màu sắc và tâm lý học về màu sắc trong nghệ thuật thị giác nói chung Qua đó, nghiên cứu góp phần làm rõ nhận định màu sắc có tính
Trang 5tương tác với người xem, thông qua việc ứng dụng nguyên lý thị giác về màu sắc
trong thiết kế đồ hoạ
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về yếu tố thị giác “Màu sắc” trong giai đoạn phác thảo của lĩnh vực Thiết kế đồ hoạ Màu sắc có ngôn ngữ độc đáo, phức tạp và khả năng thay đổi ý nghĩa khi phối hợp với màu khác Khi chọn màu sắc để kết hợp vào thiết kế, ta cần phải xem xét các vấn đề về độ tương phản và sự hài hòa, và điều này
có thể ảnh hưởng đến khả năng truyền tải thông tin của sản phẩm thiết kế Bên cạnh
đó, diễn tả tâm trạng của một thiết kế bằng cách sử dụng tâm lý học của màu sắc, nhưng ta phải chắc chắn rằng màu sắc được chọn lọc có thể truyền tải thông điệp chính xác ở mức độ vô thức và chúng phù hợp với đối tượng mà dự án dự định tiếp cận Nhằm mục đích hướng đến việc thiết kế ra sản phẩm đồ hoạ tốt, bất kể chúng
sẽ được sử dụng trong môi trường in ấn, kỹ thuật số hay trong không gian Việc sử dụng màu sắc một cách hợp lý sẽ tận dụng được một trong những công cụ quan trọng nhất của việc thiết kế đồ hoạ ứng dụng
1.4 Giới hạn đề tài
•
Đề tài tập trung nghiên cứu yếu tố thị giác “Màu sắc” và các NLTG có liên quan đến yếu tố này Hai định hướng nghiên cứu chính là Nguyên tắc cơ bản về màu sắc
và Ứng dụng nguyên lý thị giác về màu sắc trong thiết kế đồ hoạ Các hình ảnh minh hoạ là sản phẩm phác thảo trong quá trình học tập và làm việc thực tiễn
chuyên ngành thiết kế (đồ hoạ và thời trang) của tác giả
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Trang 6CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ MÀU SẮC TRONG
THIẾT KẾ ĐÒ HOẠ 2.1 Nguyên tắc cơ bản về màu sắc
2.1.1 Các thuật ngữ về màu sắc
Để hiểu cách chọn hoặc phối màu cho một mục đích cụ thể, trước hết, người thiết
kế phải trau dồi kiến thức về cách màu sắc hoạt động, cách thức mà chúng được phân loại, và các thuật ngữ dùng để miêu tả màu sắc Màu sắc được phân biệt qua
ba cách chính: Hue (màu), Tone (giá trị màu), Saturation (độ bão hoà màu) Hue cho ta biết tên gọi chung của màu - ví dụ: đỏ, vàng, hay xanh dương Một màu có thể biến đổi theo hai hướng, sáng hơn khi cộng thêm màu trắng, để tạo thành Tint (nhá sáng); tối hơn khi cộng thêm màu đen, để tạo thành Shade (nhấn tối) Sự biến đổi này gọi là Tone của màu, hoặc cách gọi khác là Value of Colour (Giá trị màu) Một màu cũng có thể biến đổi khi độ bão hoà (saturation) của nó thay đổi, từ trong trẻo hoặc rực rỡ cho đến mờ đục và xám hẳn đi Một cách gọi khác của Saturation
là Chroma Màu sắc còn được miêu tả bởi nhiệt độ màu và chuyển động Ví dụ các màu thuộc phổ màu đỏ có vẻ ấm và gần với người xem hơn những màu thuộc phổ màu xanh, trông lạnh và ở xa người xem hơn
Một số thuật ngữ quan trọng khác bao gồm:
- Colour Wheel: Vòng tuần sắc Các màu bậc I, bậc II và bậc III được hiển thị trên vòng tròn dạng bánh xe Các màu bậc I là đỏ, vàng và xanh dương Màu bậc II được tạo ra bằng cách trộn hai màu bậc I lại với nhau, cho ra màu cam, xanh lá và tím Một màu bậc III được tạo ra bằng cách trộn một màu bậc I với một màu bậc
II gần nó nhất trên bánh xe màu Các màu bậc III có thể tạo ra trên vòng tuần sắc này là đỏ ánh cam, đỏ ánh vàng, vàng ánh cam, vàng ánh xanh lá, xanh dương ánh lục, xanh ánh tím, đỏ ánh tím
Trang 7- Colour Modes: Hệ màu Các hệ thống màu sắc được đánh số cho các giá trị màu xác định giúp người hoạ sĩ thiết kế có thể phối trộn màu một cách hiệu quả Các
hệ màu thông dụng là RGB, CMYK Đối với đồ hoạ cho truyền thông số, hệ màu
sử dụng là màu trên màn hình (on-screen colour): các bóng đèn chiếu ra ánh sáng màu Đỏ (R), Xanh lá (G) và Xanh dương (B) với cường độ khác nhau sẽ tạo ra vô
số màu sắc hiển thị trên máy tính, máy truyền hình vô tuyến và các thiết bị ngoại tuyến khác Khi kết hợp R-G-B, ta có ánh sáng trắng Đối với đồ hoạ in ấn, hệ màu CMYK của máy in là sự kết hợp giữa Xanh da trời (C - Cyan), Hồng tím (M
- Magenta), Vàng (Y - Yellow) và Đen, có tác dụng thêm vào sắc độ sáng tối cho bản in (K - Key) Khi kết hợp C-M-Y-K, ta có màu đen
2.1.2 Tính đọc hiểu, tương phản và hài hoà của màu sắc
Các màu bổ sung, đỏ và xanh lá, giống như đối diện nhau trên bánh xe màu, trong khi các màu tương tự, xanh lá và xanh dương, nằm liền kề nhau Đỏ và xanh lá được gắn kết với sự tương phản Xanh lá và xanh dương được liên hệ với tính hài hoà Ví dụ trên là một phần lý giải mối tương quan giữa các màu trong vòng tuần sắc, qua đó giúp ta nhận thức được rằng màu sắc có khả năng miêu tả một số thông tin nhất định Từ đó, việc tìm hiểu tính đọc hiểu của màu (Colour legibility) được xác định thông qua kiến thức về bối cảnh mà sản phẩm đồ hoạ sẽ được sử dụng hay ứng dụng Vì đây là nền tảng của việc dùng màu trong thiết kế đồ hoạ
Cách các màu sắc được đọc hiểu sẽ biến đổi rất nhiều dựa vào định dạng (format) chứa đựng sản phẩm đồ hoạ đó Xem trên màn hình thiết bị hay in ấn ra mặt phẳng, màu sắc sẽ tạo ra hiệu ứng kịch tính cho thiết kế, nên ta cần xem xét chúng một cách cẩn thận Việc quyết định tỷ lệ hiện diện của tương phản và hài hoà cũng góp phần tăng cường thêm hiệu ứng ấy
Các yếu tố có thể ảnh hưởng tính đọc hiểu của màu sắc bao gồm:
- Ánh sáng và môi trường thưởng lãm sẽ có tác động rõ rệt lên bất cứ định dạng nào, cả in ấn lẫn kỹ thuật số
Trang 8- Sự chọn lựa các màu sắc.
- Màu sắc nền và chất liệu của bề mặt được in lên
- Kích cỡ và hình dạng của chữ hoặc hình ảnh sử dụng
Tính đọc hiểu của màu sắc sử dụng được xem là cao khi quan hệ giữa màu hình và màu nền có sự tương phản phù hợp với thị giác của người nhìn
Bên cạnh đó, màu sắc nên đóng góp và hỗ trợ việc hiển thị nội dung của thiết kế, nó nên tôn vinh và đại diện tinh thần của ý tưởng Chính vì vậy, việc kiểm soát sự tương phản và hài hoà trong việc sử dụng màu sắc sẽ giúp người thiết kế tăng cường tính đọc hiểu không chỉ của màu, mà còn là cả nội dung mình muốn truyền tải đến người xem
[Hình 1] Thiết kế khăn lụa vuông phong cách Baroque
2.1.3 Ý nghĩa, nghĩa hàm chỉ và nghĩa sở chỉ của màu sắc
Trí thông minh, ký ức, kinh nghiệm, lịch sử và văn hoá, tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu ý nghĩa của một màu Ba cách xác định thông tin của màu sắc thường gặp nhất là:
- Ý nghĩa của màu sắc (Colour Associations): suy luận từ sự liên kết giữa màu sắc với cảm xúc, văn hoá, kinh nghiệm và ký ức
- Nghĩa hàm chỉ của màu sắc (Colour Connotations): suy luận từ sự liên kết xa và rộng hơn Ví dụ: màu xanh lá đại diện cho ghen tuông, ngây thơ, bệnh tật, môi trường, thiên nhiên
- Nghĩa sở chỉ của màu sắc (Colour Denotations): suy luận từ sự liên kết trực tiếp giữa sự vật, hiện tượng và màu sắc thể hiện của nó Ví dụ: xanh da trời, trăng vàng, hồng cánh sen
[Hình 2] Phác thảo hoạ tiết giây dán tường cho người mệnh Hoả
Trang 9Mặc dù mỗi cá nhân có thể nhận thức màu sắc với một sự khác biệt nhẹ
về sắc độ,
nhận thức về ý nghĩa của màu chịu ảnh hưởng lớn từ tâm lý học và gốc văn hoá
của mỗi người Màu sắc từ lâu đã có sự gắn kết với các biểu tượng trong các xã
hội, nền văn minh, tuỳ thộc vào bối cảnh mà cho ra ý nghĩa riêng biệt Ví dụ:
- Màu đen là màu để tưởng niệm người đã khuất và cái chết ở phương Tây theo văn minh công nghiệp, trong khi ở nền văn minh gốc nông nghiệp như Ản Độ và Trung Quốc, đó là màu trắng
- Màu đỏ đối với người Trung Quốc không có ấn tượng đầu tiên là màu cảnh báo nguy hiểm và “dừng lại” Vì tại đây, đỏ đại diện cho sự may mắn
- Màu xanh lá gắn liền với chất độc vào thế kỷ 19 ở Châu Âu vì nó giống màu của một loại phẩm nhuộm màu xanh ngọc lục bảo được điều chế từ thạch tín Loại màu nhuộm này gây nhiễm độc da và chết người Trong khi ngày nay, xanh lá tượng trưng cho mùa xuân và nhận thức về bảo vệ môi trường
- Màu xanh dương là màu biểu trưng cho ngành Bưu chính ở Mỹ, nơi những hộp thư được sơn màu xanh dương Còn tại Anh và các nước Châu Âu khác, các hòm thư được sơn màu đỏ
- Màu vàng đại diện cho lòng dũng cảm tại Nhật Bản, trong khi tại Việt Nam, một phần đông ý kiến cho rằng đây là màu của sự phản bội
Những ý nghĩa này có thể thay đổi theo thời gian và qua lại giữa các nền văn hoá, khi thế giới phát triển tới một sự toàn cầu hoá nhanh chóng hơn Vì vậy, người thiết
kế cần chú ý đến đối tượng công chúng để có sự lựa chọn màu sắc phù hợp Một số màu sắc có ảnh hưởng rõ rệt đến nhau khi kết hợp Nó có thể làm hỗn loạn hay nổi bật sự pha trộn ấy, có thể xuất hiện rực rỡ khi kết hợp với một màu này và câm lặng khi được đặt với một màu khác Càng thử nghiệm nhiều với màu sắc, ta càng hiểu nhiều hơn về việc chọn lựa và nhóm các màu sắc lại gần nhau một cách có ý nghĩa
[Hình 3] Phác thảo hoạ tiết in trên giày chủ đề mùa thu
Trang 102.2 Ứng dụng nguyên lý thị giác về màu sắc trong thiết kế
đồ hoạ (giai đoạn phác thảo)
2.2.1 Hiệu ứng tâm lý trực tiếp trong màu sắc
Hiệu ứng tâm lý trực tiếp hay còn gọi là cảm xúc (Emotion) là những phản ứng của
cơ thể được kích hoạt thông qua các chất dẫn truyền thần kinh và hormone do não tiết ra Theo một nghiên cứu của Giáo sư Quang học Y khoa William G Allyn chỉ ra: “Hơn 50% vỏ não, bề mặt của não, được dành để xử lý thông tin thị giác.” Trong
đó thông tin mà màu sắc mang lại chiếm một lượng đáng kể tới mức độ nhận thức màu sắc của con người
Như đã thảo luận ở phần trước, ý nghĩa của màu sắc có thể được hiểu rất khác nhau giữa những cộng đồng khác biệt nhau về vị trí địa lý Mặc dù vậy, một số màu vẫn mang đến hiệu ứng cảm xúc mang tính toàn cầu Những màu đỏ, cam, vàng kích thích các giác quan và dẫn tới sự ấm áp, gợi liên tưởng đến ngọn lửa, mặt trời, bóng đèn Ngược lại, ở phía bên kia của vòng tuần sắc, những màu xanh dương và xanh
lá cây được cảm thấy mát mẻ, gợi cảm xúc về những yếu tố tự nhiên như cây cỏ, rừng rậm, nước và biển cả
[Hình 4] Phác thảo giường ngủ trẻ em chủ đề thiên nhiên
2.2.2 Cảm giác trong màu sắc
Nếu những cảm xúc đến tức thời và không tồn tại lâu thì cảm giác là trải nghiệm có
ý thức về các phản ứng của cảm xúc Từ những liên tưởng về sự vật toả nhiệt và ánh sáng khi nhìn thấy nhóm màu nóng (đỏ, vàng, cam), là khởi đầu cho những cảm giác (feeling) tích cực như vui vẻ, sức khoẻ tốt, năng động hoặc bạo động Ngoài ra, cảm xúc dịu mát khi nhìn thấy nhóm màu lạnh (xanh dương, xanh lá) sẽ mang lại trải nghiệm cảm giác tĩnh lặng, thanh bình, an toàn hoặc trầm cảm
Trang 11Việc thay đổi các thông số của màu sắc như giá trị màu và độ bão hoà của màu sắc cũng dẫn tới những cảm giác nhất định Ví dụ: độ bão hoà thấp mang tới cảm giác
mù mịt, vô định, không chắc chắn, những màu có giá trị màu cao (High key) thường mang cảm giác tươi sáng, rực rỡ, năng động và nhiều năng lượng; ngược lại, màu Low key gợi tả màn đêm, nỗi sợ hãi hoặc điều bí ẩn Tóm lại, nhận thức về màu sắc với khả năng tạo ra cảm xúc, gợi cảm giác đã được công nhận vị trí của mình trong lĩnh vực tâm lý học
[Hình 5]
2.2.3 Tâm lý học về màu sắc trong nghệ thuật thị giác
“Các nghiên cứu cho thấy rằng 85% các khách hàng mua sản phẩm là do những động lực thúc đẩy nhất thời.” Điều này cho thấy vai trò của trực giác và cảm tính quyết định rất nhiều trong việc ra quyết định mua hàng của khán giả Tâm lý học về màu sắc trong nghệ thuật thị giác nói chung và thiết kế đồ hoạ nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt trong giai đoạn công việc thiết kế hướng đến từng người dùng cụ thể (user-centric) với quan điểm lấy người dùng làm trung tâm
(Human-centered-design), tâm lý học tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng Đó cũng là mục đích quan trọng nhất của thiết kế đồ hoạ và truyền thông thị giác: chuyển đổi từ nhận thức sang hành động
Chuyên gia tư vấn về màu sắc trong lĩnh vực truyền thông quảng cáo người Pháp Alain Chrisment cho rằng: “Màu sắc chính là thông điệp đầu tiên của sản phẩm hướng đến người tiêu dùng và người tiêu dùng cũng sẽ cảm nhận được điều này ngay lập tức” Nhiều nhà tâm lý học cũng đã chứng minh màu sắc của sự vật được mắt người “nhìn thấy” đầu tiên, trước cả hình dáng và chi tiết của nó
Chính vì vậy, vai trò của màu sắc có ý nghĩa trong cuộc sống là rất lớn Hiểu và tuân thủ các NLTG về màu sắc sẽ giúp người thiết kế sử dụng được màu sắc như một công cụ quan trọng, tăng cường khả năng đọc hiểu tác phẩm thiết kế cho người dùng, giúp tác giả và khán giả cùng thấu cảm qua sản phẩm đó