Trong vài thập kỷ qua, thái độ đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã thay đổi đáng kể, vì hầu hết các quốc gia đã tự do hóa các chính sách của họ để thu hút các công ty đaquốc gia M
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CSII TẠI
TP HỒ CHÍ MINH - oOo -
TIỂU LUẬN MÔN: ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
TP Hồ Chí Minh Tháng 10 Năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
PHÂN TÍCH 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
1.1 Ưu đãi đầu tư 6
1.1.1 Định nghĩa ưu đãi đầu tư 6
1.1.2 Các loại ưu đãi đầu tư 6
1.2 Cuộc đua xuống đáy 7
1.2.1 Định nghĩa 7
1.2.2 Hậu quả mà cuộc đua xuống đáy mang lại 7
CHƯƠNG 2: VỀ NHẬN ĐỊNH “ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ DẪN ĐẾN CUỘC ĐUA XUỐNG ĐÁY” 8
2.1 Các nguyên nhân 8
2.1.1 Dựa trên lý thuyết trò chơi “Tiến thoái lưỡng nan” 8
2.1.2 Cạnh tranh về ưu đãi thuế của các quốc gia 9
2.1.3 Cạnh tranh về các chính sách pháp luật giữa các quốc gia 9
2.2 Sự khác biệt giữa các quốc gia sử dụng ưu đãi đầu tư 10
2.2.1 Trường hợp tận dụng tốt ưu đãi đầu tư: Singapore 10
2.2.2 Trường hợp chưa tận dụng hợp lý ưu đãi đầu tư: Các quốc gia Tây Phi 12
2.3 Thực tiễn ưu đãi đầu tư ở Việt Nam trong thời kỳ dịch Covid-19 17
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 - Minh họa lý thuyết trò chơi trong cạnh tranh ưu đãi đầu tư các quốc gia 8
Bảng 2 - Dòng vốn FDI tại Singapore năm 1970 – 2013 (Abdul Rahim Ridzuan, 2017) 10
Bảng 3 - Thất thoát doanh thu từ ưu đãi thuế doanh nghiệp của Ghana (Tax Justice, 2015) 12Bảng 4 - Tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam năm 2021 17
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn tổng quan về góc độ phát triển kinh tế, các nhà phân tích đã nhấn mạnh tầmquan trọng của đầu tư/vốn hình thành trong quá trình phát triển Về lâu dài, đầu tư đượckhẳng định là rất quan trọng để cải thiện năng suất và tăng khả năng cạnh tranh của một nềnkinh tế Một trong các thành phần đầu tư chủ yếu là Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Farrell (2008) do đó đã mô tả FDI như một gói vốn, công nghệ, quản lý và tinh thần kinh doanh, cho phép một công ty hoạt động và cung cấp hàng hóa và dịch vụ ở thị trường nước ngoài ” Trong vài thập kỷ qua, thái độ đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã thay đổi
đáng kể, vì hầu hết các quốc gia đã tự do hóa các chính sách của họ để thu hút các công ty đaquốc gia (MNCs) Các chính phủ trên khắp thế giới đã hạ thấp các rào cản gia nhập khácnhau và mở ra các lĩnh vực mới cho đầu tư nước ngoài với hy vọng rằng các MNCs nướcngoài sẽ tăng việc làm, xuất khẩu hoặc doanh thu thuế, hoặc một số chuyên môn do các công
ty nước ngoài mang lại có thể thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp của nước sở tại
Ngày càng nhiều chính phủ nước sở tại cung cấp nhiều loại ưu đãi đầu tư khác nhau
để tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài đầu tư trong phạm vi quyền hạn của họ Tự dohóa thương mại trong bối cảnh EU, NAFTA, AFTA và các hiệp định khu vực khác thôngqua GATT và WTO, hoặc trong khu vực, đã dẫn đến gia tăng hội nhập thị trường và giảmgiá trị của quy mô thị trường như một yếu tố quyết định địa điểm đầu tư Sự khác biệt giữacác chính sách khuyến khích đầu tư và các chính sách khác đã bị xóa nhòa bởi định hướngcạnh tranh ngày càng tăng của các quốc gia khi mối quan tâm đến việc thu hút hoặc duy trìvốn trở thành chủ yếu trong việc xây dựng các chính sách và quy định khác nhau Nhữngngười chỉ trích ưu đãi đầu tư thiếu định hướng cho rằng sự cạnh tranh nảy sinh từ những ưu
đãi đầu tư sẽ dẫn đến một cuộc "chạy đua xuống đáy" về quy định về môi trường, quy định về
mức thuế thấp thường được coi là yếu tố then chốt đối với việc thu hút vốn
Bài tiểu luận này được thực hiện với sự kết luận đồng ý với nhận định “Ưu đãi đầu
tư có thể sẽ dẫn đến cuộc đua xuống đáy” bởi một số phân tích trên cả lập luận cơ sở lý thuyết và lập luận thực tế.
Trang 6PHÂN TÍCH
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Ưu đãi đầu tư
1.1.1 Định nghĩa ưu đãi đầu tư
Theo UNCTAD, ưu đãi đầu tư là những lợi thế kinh tế có thể đo lường được dành cho những doanh nghiệp nhất định hoặc những ngành hàng cụ thể bởi Chính Phủ hoặc theo chỉ đạo của Chính Phủ (của một quốc gia, một khu vực hoặc địa phương) nhằm khuyến khích họhành xử theo một cách nhất định (UNCTAD, 2004a: 50)
1.1.2 Các loại ưu đãi đầu tư
Theo UNCTAD, ưu đãi đầu tư có thể được chia thành 04 loại (UNCTAD, 1996a,
1996b và WTO 1998):
Ưu đãi Tài Khóa:
- Dựa trên lợi nhuận: giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tiêu chuẩn/ thuế suất thuế lợi tức/ miễn thuế;
- Dựa trên vốn đầu tư: Điều chỉnh quy định về khấu hao/trợ cấp đầu tư và tái đầu tư;
Ưu đãi Tài Chính:
- Trợ cấp đầu tư: trợ cấp trực tiếp để trang trải (một phần) vốn, chi phí sản xuất hoặc tiếp thị liên quan đến một dự án đầu tư;
- Các khoản tín dụng có trợ cấp và bảo lãnh tín dụng: các khoản vay được trợ cấp / bảo lãnh cho vay / các khoản tín dụng xuất khẩu được đảm bảo;
Trang 7trợ cấp, bao gồm hỗ trợ trong việc xác định các nguồn tài chính, thực hiện và quản lý các dự
án, thực hiện các nghiên cứu trước đầu tư,
- Đặc quyền thị trường: Hợp đồng ưu đãi từ chính phủ; bảo hộ khỏi cạnh tranh nhập khẩu
- Đặc quyền ngoại hối
1.2 Cuộc đua xuống đáy
1.2.1 Định nghĩa
Theo Investopedia, “Cuộc đua xuống đáy” là một tình huống cạnh tranh mà trong đómột doanh nghiệp, tiểu bang hoặc quốc gia cố gắng cung cấp sản phẩm/dịch vụ ở một mứcgiá rẻ hơn so với đối thủ cạnh tranh bằng cách hy sinh các tiêu chuẩn về chất lượng hoặc vềbảo vệ người lao động (bất chấp các quy định hiện hành)
1.2.2 Hậu quả mà cuộc đua xuống đáy mang lại
Trong tương lai, ảnh hưởng này sẽ tiếp tục lan rộng và tác động tiêu cực đến môitrường, nhân viên, cộng đồng và các cổ đông tương ứng của công ty
Ngoài ra, người tiêu dùng đối mặt với hàng hóa hoặc dịch vụ kém chất lượng do phảicắt giảm chi phí trong cuộc đua xuống đáy, nguồn cung cho hàng hóa hoặc dịch vụ đó có thểdần cạn kiệt
Trang 8Bảng 1 - Minh họa lý thuyết trò chơi trong cạnh tranh ưu đãi đầu tư các quốc gia
Giả sử hai quốc gia A và B có hai lựa chọn: hoặc tuân thủ chính sách chung, hoặc “xérào” để đón đầu hưởng mức ưu đãi, mục đích nhằm thu hút đầu tư và có thể chiếm đượcphần đầu tư vốn lẽ chạy vào nước khác
Bảng trên minh họa lợi ích của hai nước tương ứng với 4 khả năng phối hợp hành độngcủa hai bên Nếu hai nước hợp tác và cùng tuân thủ khung ưu đãi sẽ đem lại lợi ích khả dĩ chotừng nước, giúp tối đa hóa lợi ích chung của hai bên (3 + 3 = 6), và rộng ra là cả nền kinh tế.(Báo Nhân dân 2006, “Ưu đãi đầu tư: Cuộc đua xuống đáy”) Nếu cả hai cùng “xé rào” vượtkhung thì lợi ích hai bên bằng nhau (chỉ bằng 1) Tuy nhiên, một bên sẽ nghĩ “xé rào” là tốt nhấtcho nước họ, cho dù bên còn lại có tuân thủ hay không (cả A và B cùng xé thì được 1; B không
“xé rào” thì A vẫn nên xé để thu hút thêm đầu tư vì 5>3) và ngược lại Mỗi nước chỉ quan tâmđến lợi ích cục bộ của mình thì chiến lược tối ưu của nước đó sẽ là “xé rào” và kết quả là mộtcuộc “chạy đua xuống đáy” trong đó mỗi nước cũng như toàn xã hội đều thiệt hại
Trang 92.1.2 Cạnh tranh về ưu đãi thuế của các quốc gia
Đặc điểm chung của chính sách “thiên đường thuế” một số nước tự thành lập ra nhằmthu hút các tập đoàn toàn cầu và giới siêu giàu gồm: thuế suất thấp; đưa ra các lỗ hổng vềthuế và các ưu đãi đặc biệt; cung cấp bí mật tài chính để tạo điều kiện trốn thuế; cản trở sựgiám sát nghiêm ngặt; hoặc cố tình lỏng lẻo cưỡng chế thuế và cắt giảm các hóa đơn thuếdoanh nghiệp (Oxfam, 2016, p17)
Tuy nhiên, điều này thường không diễn ra một cách công khai hoặc có giám sát, làmxuất hiện tham nhũng Một loạt các loại ưu đãi thuế phức tạp tạo ra để làm hài lòng các nhàđầu tư nước ngoài đã gây thiệt hại cho cơ sở thuế của các quốc gia (Oxfam, 2016, p18)Ngoài ra, việc áp dụng các ưu đãi lớn khác như ân hạn thuế cũng rất phổ biến và nếulạm dụng quá mức sẽ đe dọa tới thu ngân sách quốc gia dưới hình thức chi qua thuế (BáoCông an nhân dân, 2020)
2.1.3 Cạnh tranh về các chính sách pháp luật giữa các quốc gia
Về ưu đãi đất đai
Những ưu đãi lớn về đất đai như miễn, giảm tiền thuê đất, gia hạn thời gian thuê mộtcách thiếu minh bạch được đưa ra có thể làm tăng nguy cơ tham nhũng Những ưu đãi khôngcần thiết gây ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn thu nội địa của các quốc gia, từ đóảnh hưởng đến chi tiêu cho các dịch vụ công thiết yếu khác (Báo VnEconomy, 2020)
Về bảo vệ môi trường
Việc không quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm vấn đề môi trường, chỉ áp dụng dụng bộtiêu chuẩn lạc hậu để thanh tra khiến các doanh nghiệp FDI dễ dàng tuồn đi công nghệ cũ
kỹ, quy trình sản xuất thâm dụng tài nguyên và năng lượng nhằm tối đa hóa lợi nhuận, khiếnnước nhận đầu tư thành bãi rác công nghệ (Nature.org, 2017)
Về tiêu chuẩn lao động
Chính phủ thường bỏ qua sai sót và vi phạm của các doanh nghiệp nước ngoài trongkhi đưa ra tiêu chuẩn lao động lỏng lẻo: tăng quá giờ làm, không ngày nghỉ lễ, mức lươngtối thiểu thấp, thậm chí không trả lương nhằm giảm chi phí công nhân, tăng tính cạnh tranh,đặc biệt trong các ngành nghề cần nhiều lao động phổ thông (Báo Vietnambiz, 2019)
Trang 10Điều này dẫn đến những vụ bóc lột lao động, chất lượng sản phẩm và an toàn cho người lao động không còn được đảm bảo.
2.2 Sự khác biệt giữa các quốc gia sử dụng ưu đãi đầu tư
2.2.1 Trường hợp tận dụng tốt ưu đãi đầu tư: Singapore
2.2.1.1 Tổng quan về thành tựu ưu đãi thuế của Singapore
Bảng 2 - Dòng vốn FDI tại Singapore năm 1970 – 2013 (Abdul Rahim Ridzuan, 2017)
Nhờ ứng dụng tốt ưu đãi đầu tư, dòng vốn FDI tại Singapore tăng vượt trội trong giai đoạn
từ 2002 – 2013
2.2.1.2 Định hướng và nội dung thực hiện
Singapore đã áp dụng chiến lược công nghiệp hướng ra bên ngoài vào năm 1961, bắtđầu bằng việc thành lập Ban Phát triển Kinh tế năm 1961 (the Economic DevelopmentBoard - EDB), có nhiệm vụ công nghiệp hóa Singapore Trong giai đoạn đầu, tổ chức này đãcho thấy sự hữu ích trong việc thu hút FDI Khi các hoạt động dần trở nên phức tạp hơn,EDB tập trung xúc tiến FDI, chuyển giao các hoạt động khác cho các đơn vị khác
Singapore đã thử nghiệm miễn thuế, ban hành Sắc lệnh Công nghiệp Tiên phong năm
Trang 11nghiệp 40% trong một khoảng thời gian cố định Nhờ đó, Singapore đã nâng cao được mứcdoanh số vốn tối thiểu và tập trung vào việc nâng cấp lực lượng lao động Một biện phápnâng cấp kỹ năng khác là Quỹ Phát triển Kỹ năng được thành lập vào năm 1979 bởi Ủy banNăng suất và Tiêu chuẩn (the Productivity and Standards Board) và áp dụng mức thuế 4%trên bảng lương cho mỗi công nhân có thu nhập ít hơn số tiền định trước EDB tập trung vàocác ngành thâm dụng kiến thức và khuyến khích các doanh nghiệp xử lý tình trạng thiếu kỹnăng thông qua việc tuyển dụng lao động nước ngoài EDB cũng đã giới thiệu Chương trìnhNâng cấp Công nghiệp Địa phương (Local Industry Upgrading Program) vào năm 1986,theo đó các công ty đa quốc gia được thúc đẩy để ký kết các hợp đồng cung ứng dài hạn vớicác công ty địa phương Singapore đã xây dựng và duy trì được nguồn sức mạnh nội lựcquốc gia mang tính cạnh tranh cao với thế giới và trở thành nền tảng cho các định hướngphát triển kinh tế và đầu tư sau này.
Trong những năm gần đây, EDB đã thực hiện theo cách tiếp cận cụm, tập trung theo địa lýcủa các công ty được kết nối với nhau, các nhà cung cấp chuyên biệt, các nhà cung cấp dịch vụ,các công ty trong các ngành liên quan, tập trung các công ty trong các ngành công nghiệp điện
tử, bán dẫn, hóa dầu và kỹ thuật phát triển và phát huy thế mạnh quốc gia
2.2.1.3 Tổng kết và bài học rút ra
Singapore đã đạt được những thành công thông qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng tậptrung vào đa quốc gia, mức thuế rất thấp và đầu tư đáng kể vào đào tạo và giáo dục phổthông Mặc dù có những biện pháp mà Singapore thực hiện có thể ngoài tầm với của cácnước đang phát triển ở mức trung bình, nhưng vẫn có một số yếu tố có thể được học hỏi vànhân rộng như: một tổ chức đầu tư lí tưởng chủ động, một lập trường ủng hộ FDI nhất quán,
sự thừa nhận tầm quan trọng của các mối liên kết, một môi trường kinh tế vĩ mô hỗ trợ vàcuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là sự linh hoạt trong việc đối phó với tìnhtrạng thiếu hụt kỹ năng ban đầu và đánh giá liên tục các chương trình
Trang 122.2.2 Trường hợp chưa tận dụng hợp lý ưu đãi đầu tư: Các quốc gia Tây Phi
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến “cuộc đua xuống đáy” là việc giảm thuếsuất Trong một báo cáo do ActionAid và Tax Justice Network Africa thực hiện vào năm
2015 về việc lạm dụng Ưu đãi thuế doanh nghiệp xảy ra ở bốn quốc gia Tây Phi (Ghana, Nigeria, Senegal và Côte d’Ivoire), kết luận có một cuộc “chạy đua xuống đáy” do chính phủ quy định mức thuế thấp để tăng cường thu hút vốn
Sau sự bùng nổ FDI vào những năm 1980, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nướcTây Phi - lẽ ra đã có thể đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của khu vực này - chỉ tăng ởmột mức độ khá khiêm tốn Nguyên nhân dẫn đến việc này là do bức tranh về châu Phi trongmắt nhiều nhà đầu tư nước ngoài dường như vẫn gắn liền với bất ổn chính trị, bất ổn kinh tế,dịch bệnh và thiên tai
Nghiên cứu của TJN-A/Actionaid cho thấy chỉ riêng ba quốc gia - Ghana, Nigeria vàSenegal - đang mất tới 5,8 tỷ USD mỗi năm (2011-2014) Nếu phần còn lại của ECOWASmất doanh thu với tỷ lệ tương tự trên GDP của họ, thì tổng thiệt hại về doanh thu trong số 15quốc gia của ECOWAS sẽ lên tới 9,6 tỷ đô la một năm (2011-2014)
Bảng 3 - Thất thoát doanh thu từ ưu đãi thuế doanh nghiệp của Ghana (Tax Justice, 2015)
Các chính phủ trong khu vực đã thúc đẩy quốc gia của họ trở thành điểm đến đầu tư vàđưa ra một loạt các ưu đãi thuế doanh nghiệp cho hầu hết các tập đoàn quốc tế Ví dụ, sự bất
ổn chính trị ở Côte d'Ivoire vào năm 2014 đã dẫn đến việc đóng cửa nhiều công ty và nhữngđợt di cư lớn khỏi đất nước, lúc này phản ứng của chính phủ là tăng ưu đãi cho các công tycòn lại Tuy nhiên dù đã đưa ra chính sách miễn thuế 50% cho bất kỳ công ty nào sẵn sàngđầu tư vào các khu vực bên ngoài Abidjan, tỷ lệ thất nghiệp trên toàn quốc vẫn duy trì ở mứccao
Đặc biệt, sự cạnh tranh trong việc đưa ra các ưu đãi về thuế doanh nghiệp lan rộng ở các
Trang 13ưu đãi phi tiền tệ cho các nhà đầu tư và có khả năng dẫn đến việc thất thoát các khoản doanhthu thuế tiềm năng.
2.2.2.2 Vấn đề cốt lõi khi thực hiện không hiệu quả ưu đãi thuế
Thiếu mục tiêu rõ ràng khi cấp ưu đãi
Chính phủ các nước Tây Phi cho rằng ưu đãi thuế doanh nghiệp giúp tạo ra nhiều việclàm hơn Tuy nhiên, họ không nhắm mục tiêu ưu đãi thuế vào các lĩnh vực cụ thể, có nghĩa
là những lĩnh vực nhận được nhiều ưu đãi nhất không phải là những lĩnh vực tạo ra nhiềuviệc làm nhất hay mang lại nhiều giá trị nhất cho nền kinh tế Khu vực sản xuất có tiềm nănglớn đối với việc tạo ra việc làm tay nghề cao và lao động phổ thông chỉ nhận được một phầnvốn đầu tư rất hạn chế từ nguồn trong và ngoài nước Một lý do chính khiến tăng trưởng việclàm rất hạn chế là việc đầu tư sai lệch để có lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên và tránh xalĩnh vực sản xuất
Ví dụ, tỉ lệ việc làm trong các khu thương mại tự do ở Senegal đã không tăng, mặc dùnước này tiếp tục tăng các ưu đãi về thuế doanh nghiệp cho các công ty hoạt động ở đó TạiNigeria, việc làm trong các công ty nhận được ưu đãi (các công ty tiên phong) vào khoảng7.000 nhân viên vào năm 2013 - một con số khá nhỏ ở một quốc gia có 30 triệu thanh niênđang tìm kiếm việc làm Ngoài ra, trong khi hơn 80% đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoNigeria là vào dầu mỏ, lĩnh vực này chỉ sử dụng dưới 2% lực lượng lao động (ActionAidInternational, 2015)
Giải pháp: Chính phủ các quốc gia Tây Phi cần cân nhắc các lĩnh vực thu hút FDI để
từ đó quy định mức độ và phân bổ ưu đãi thuế phù hợp.
Cơ chế cấp và giám sát ưu đãi thuế doanh nghiệp
Các nước Tây Phi bên cạnh cung cấp các ưu đãi thuế doanh nghiệp chính thức còn cungcấp những ưu đãi ngoài ngân sách hoặc các ưu đãi tùy ý trong các giao dịch đặc biệt với cáccông ty Những ưu đãi này vô cùng có hại vì chúng là những ưu đãi tùy ý và không minh bạchnhất Do đó, hệ thống pháp luật về ưu đãi thuế doanh nghiệp sẽ thường không đủ mạnh để đảmbảo các ưu đãi này đạt được những mục tiêu cụ thể Nhiều doanh nghiệp không có cấu