1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tiếng dân tộc kinh ở quảng tây trung quốc

19 482 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tiếng dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc
Tác giả Lê Xảo Bình
Người hướng dẫn GS.TS. Trần Trí Dõi
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2012
Thành phố Quảng Tây
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 671,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do thiên về mô tả liệt kê nên hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về ngữ âm tiếng Kinh để qua đó chúng ta nhận thấy có sự khác biệt giữa tiếng Kinh và tiếng V

Trang 1

Nghiên cứu tiếng dân tộc Kinh ở Quảng Tây

Trung Quốc

Lê Xảo Bình

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận án TS ngành: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Mã số: 62 22 01 25 Người hướng dẫn: GS.TS Trần Trí Dõi

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Khái quát về ―Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc‖ Trình bày một

vài nội dung liên quan đến ―lý thuyết‖ phục vụ cho nhiệm vụ của đề tài miêu tả những ―đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Kinh‖ Sau đó luận án sẽ miêu tả âm vị học

―bức tranh ngữ âm hiện nay của tiếng Kinh‖ thể hiện qua việc mô tả hệ thống thanh điệu, hệ thống ngữ âm đoạn tính tiếng Kinh Giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Kinh, mà cụ thể là tiếng Kinh ở làng Vạn Vỹ mô tả thêm một số ―đặc điểm cấu trúc ngữ pháp tiếng Kinh‖ mà chúng tôi nhận thấy chưa có ở công trình ―Nghiên cứu tiếng Kinh‖ của tác giả Vi Thụ Quan Làm sáng rõ những khác biệt giữa tiếng Kinh

so với tiếng Việt hiện đại‖ về ngữ âm như thế nào Sau đó qua sự khác biệt ấy, bước đầu góp phần vào việc lý giải đặc điểm phát triển của tiếng Kinh trong một môi

trường mới ở Trung Quốc

Keywords Dân tộc thiểu số Việt Nam; Ngôn ngữ học; Tiếng Kinh; Dân tộc Kinh;

Quảng Tây

Content

MỞ ĐẦU

0.1.Lý do chọn đề tài

Tiếng Kinh là tiếng nói của dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc Theo những nghiên cứu đã có, tổ tiên của người Kinh là người Đồ Sơn Hải Phòng Việt Nam di cư đến từ thế kỷ

XV Vì thế, có thể cho rằng gốc của tiếng Kinh là tiếng của người miền Bắc Việt Nam Sau nhiều năm xa cách chủ thể và chịu ảnh hưởng của tiếng dân tộc khác, tiếng nói của họ đã không còn là tiếng Việt thuần túy nữa Nó đã có sự thay đổi về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp so với tiếng Việt hiện đại

Ở Trung Quốc và Việt Nam, đã có một vài công trình nghiên cứu về tiềng Kinh Trong

số đó, có công trình tương đối đơn giản (như ―Kinh ngữ giản chí‖ ), có công trình thì chi tiết hơn (như ―Kinh ngữ nghiên cứu‖ ) Nhìn chung, phần nhiều trong các công trình ấy,

chẳng hạn như khi mô tả ngữ âm, thường thiên về mô tả liệt kê nên có những kiến giải cần

phải được kiểm tra lại Vì vậy, việc nghiên cứu tiếng Kinh - được giả định tách ra từ tiếng Việt trung cổ - như ngôn ngữ một dân tộc thiểu số ở Trung Quốc là điều hết sức cần thiết Điều đó sẽ không chỉ có giá trị to lớn trong việc hiểu biết đầy đủ về tiếng Kinh, hiểu biết lịch sử biến đổi của ngôn ngữ sau khi tách khỏi tiếng Việt mà nó còn có giá trị trong việc nghiên cứu vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ ở khu vực

Trang 2

0.2.Khái quát về tình trạng nghiên cứu tiếng Kinh

Ở Trung Quốc, mãi cho đến những năm 50 thế kỷ XX trở lại đây, tiếng Kinh mới dần

được nghiên cứu Trong số đó, công trình đáng ghi nhận là cuốn “Nghiên cứu tiếng Kinh”

của Vi Thụ Quan; còn lại là những bài báo và công trình vừa liên quan đến kinh tế, văn hóa

xã hội vừa đề cập đến tiếng Kinh Do thiên về mô tả liệt kê nên hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về ngữ âm tiếng Kinh để qua đó chúng ta nhận thấy có

sự khác biệt giữa tiếng Kinh và tiếng Việt một cách thuyết phục Đây chính là những vấn

đề mà luận án chúng tôi sẽ bổ sung để góp phần có được một bức tranh mô tả hoàn chỉnh hơn nữa về tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc

0.3 Nhiệm vụ và phạm vi tư liệu nghiên cứu của luận án

Luận án của chúng tôi đặt nhiệm vụ chính là: thứ nhất, mô tả theo cách mô tả ngữ âm -

âm vị học hệ thống ngữ âm tiếng Kinh; thứ hai, trên cơ sở mô tả ngữ âm ấy, luận án sẽ

bước đầu có những lý giải về sự khác biệt giữa tiếng Kinh với tiếng Việt để nhìn nhận tính

kế thừa về mặt lịch sử giữa hai ngôn ngữ Thứ ba, mô tả về từ vựng và ngữ pháp của ngôn

ngữ này Trong luận án, ở nhiệm vụ thứ ba chúng tôi chỉ mô tả bổ sung thêm cho những mô

tả đã có, nhằm góp phần làm cho bức tranh về tiếng Kinh được nhận diện đầy đủ hơn mà

thôi

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, luận án sẽ lấy tiếng Kinh làng Vạn Vỹ (xã Giang Bình, thị xã Cảng Phòng Thành, Quảng Tây Trung Quốc) làm đối tượng miêu tả chính Trong một vài trường hợp, để có lợi cho việc lý giải về sự khác biệt giữa tiếng Kinh và tiếng Việt, có thể dẫn thêm tư liệu tiếng Kinh làng Sơn Tâm và Vu Đầu Như vậy, tư liệu chính của chúng tôi là tiếng Kinh làng Vạn Vỹ

0.4.Phương pháp nghiên cứu

Luận án, như vậy, chủ yếu là tiến hành nghiên cứu đồng đại tiếng Kinh Cụ thể là, cùng với những tài liệu đã có, chúng tôi sẽ tiến hành điều tra điền dã để có thêm tài liệu trực tiếp

về tiếng Kinh Vạn Vỹ Trên cơ sở đó, luận án dành ưu tiên cho việc miêu tả âm vị học ngữ

âm của tiếng Kinh và qua đó bước đầu giải thích một vài biến đổi ngữ âm của ngôn ngữ này Sau đó, trong chừng mực cho phép chúng tôi sẽ miêu tả bổ sung một vài nội dung về

từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh

Thực hiện cách làm việc ấy, ngoài phương pháp thu thập tư liệu là phương pháp nghiên cứu điền dã, phương pháp làm việc chính của luận án là phương pháp miêu tả của ngôn

ngữ học Ngoài ra, để phục vụ những nhiệm vụ nghiên cứu chính, trong luận án chúng tôi

cũng áp dụng những thủ pháp nghiên cứu khác như thủ pháp thống kê, thủ pháp so sánh

nhằm so sánh tiếng Kinh với tiếng Việt hiện nay để chỉ ra sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ Ngoài ra, do tiếng Kinh hiện nay lại có một vài hiện tượng giống nhau với tiếng Hán

nói chung và Việt phương ngữ nói riêng, cho nên khi cần chúng tôi cũng áp dụng thủ pháp đối chiếu để qua đó bước đầu thử nêu lên những nhận xét về tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng

Kinh với những ngôn ngữ nói trên Như vậy, tuy luận án lấy nghiên cứu đồng đại là chính nhưng đôi khi chúng tôi cũng có lý giải thêm về lịch đại để hiểu đồng đại một cách sâu hơn

0.5 Đóng góp và ý nghĩa của luận án

Luận án có thể có hai đống góp Thứ nhất, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu đầy đủ

và có hệ thống về ngữ âm tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc Thứ hai, qua việc miêu tả

ấy, đến lượt mình, sẽ làm sáng tỏ một vấn đề là tiếng Kinh đã kế thừa ngữ âm tiếng Việt trước đây như thế nào trong một môi trường mới

Theo chúng tôi, cùng với hai đống góp đó luận án cũng sẽ có những đóng góp về miêu

tả ngữ pháp và từ vựng của tiếng Kinh Qua đó góp phần trình bày những chứng cớ thể hiện tiếng Kinh đã kế thừa tiếng Việt trước đây như thế nào Đồng thời, nó góp thêm tư liệu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tiếng Hán với tiếng Kinh Đó chính là ý nghĩa của luận án đối với

lý luận ngôn ngữ khi nghiên cứu lịch sử hay tiếp xúc ngôn ngữ ở khu vực

Trang 3

Ở Trung Quốc, các nhà ngôn ngữ học đã coi tiếng Kinh là thứ ngôn ngữ có nguy cơ bị biến mất, vì vậy, mô tả chi tiết ngữ âm của luận án có một số ý nghĩa về thực tiễn như: a, Luận án sẽ cung cấp một bức tranh toàn diện về tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc Từ

đó nó sẽ cũng cấp được những số liệu cụ thể về sự biến đổi của tiếng Kinh, góp sức vào việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số, một vấn đề được Trung Quốc coi trọng Bởi vì Trung Quốc đã xếp ngôn ngữ có nguy cơ bị biến mất là loại di sản văn hóa phi vật thể; b, Luận án cung cấp tư liệu chứng minh quy luật chung của tiếp xúc ngôn ngữ, quy luật đó là tiếp xúc – vay mượn- biến đổi nhờ sự giao lưu văn hóa giữa dân tộc Kinh và dân tộc Hán;

c, Qua luận án, có thể biết được tình hình của tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc và xu thế phát triển sau này của ngôn ngữ, điều đó có giá trị cho việc nghiên cứu sự diễn biến ngôn ngữ của dân tộc Việt khi họ sinh sống ở nước ngoài, một nội dung mà Việt Nam rất quan tâm

0.6.Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 4 chương với các nội dung chính

như sau:

Chương 1: Cảnh huống ngôn ngữ của tiếng Kinh và một vài vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Mô tả đặc điểm cấu trúc ngữ âm của tiếng Kinh

Chương 3: Một số đặc điểm cấu trúc từ vựng và ngữ pháp của tiếng Kinh

Chương 4: Tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc trong mối tương quan với tiếng Việt hiện đại và tiếng Hán

CHƯƠNG MỘT CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ CỦA TIẾNG KINH VÀ MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ

THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc

1.1.1.Tình hình chung của dân tộc Kinh

Dân tộc Kinh là một trong 55 dân tộc ít người của Trung Quốc Họ sinh sống tập trung tại ba làng Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu thuộc xã Giang Bình thị xã Cảng Phòng Thành, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc Làng Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu được người Trung Quốc gọi là ―Kinh tộc ba đảo‖ Ở đây họ sống đan xen chủ yếu với người Hán, Choang và Dao Dân số dân tộc Kinh là 22,517 người (năm 2000), đứng thứ 41 trong số 55 dân tộc ít người Trung Quốc

Dân tộc Kinh có ngôn ngữ riêng là tiếng Kinh Nó là công cụ giao tiếp chủ yếu của người Kinh trong cộng đồng Dân tộc Kinh không có chữ viết latinh, từ xưa đến nay đều sử dụng chữ Hán để ghi tiếng Kinh gọi là ―chữ Nôm‖ Tổ tiên của người Kinh đã tự tạo ra loại chữ viết gọi là chữ Nôm này

1.1.2 Môi trường sinh thái tự nhiên và kinh tế xã hội của dân tộc Kinh

Kinh tộc ba đảo Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu nằm ở cực tây nam đường biển Trung Quốc, cách nước CHXHCN Việt Nam không xa, trong đó gần Việt Nam nhất là đảo Vạn

Vỹ Tổng diện tích của Kinh tộc ba đảo là 20,8 ki lô mét vuông

1.1.3 Khái quát về văn hóa truyền thống và tập tục của dân tộc Kinh

Trong quá trình phát triển lâu dài, dân tộc Kinh đã sáng tạo và phát triển văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần phong phú rực rỡ bằng bàn tay và trí tuệ của mình Từ hiện trạng sản xuất, đời sống kinh tế, ăn ở đi lại và tập tục, văn hóa nghệ thuật mang đậm sắc thái dân tộc vẫn còn được giữ lại Chúng ta đều có thể lĩnh hội được văn hóa truyền thống của dân tộc Kinh

1.1.4 Môi trường của tiếng Kinh

Ngôn ngữ có quan hệ mật thiết với sự biến đổi của xã hội, hầu như sự biến đổi của mọi mặt xã hội đều có khả năng dẫn đến sự biến đổi của ngôn ngữ Cảnh huống ngôn ngữ của

Trang 4

tiếng Kinh chủ yếu được thể hiện ở vị trí địa lý, giáo dục nhà trường, quan hệ dân tộc, hôn nhân gia đình và hoàn cảnh xã hội Những yếu tố đó đều gắn liền với môi trường cộng cư với người Hán (Việt phương ngữ) và phần nào với người Choang và Dao

1.2 Về hiện trạng nghiên cứu tiếng Kinh và cách tiếp cận của luận án

Dân tộc Kinh là dân tộc vừa ven biển, vừa giáp biên duy nhất Trung Quốc và cũng là một dân tộc thiểu số giàu có nhất Trung Quốc Có rất nhiều nhà xã hội học, nhà dân tộc học, nhà kinh tế học và nhà du lịch học v v đã đến nghiên cứu người Kinh cũng như

nghiên cứu văn hóa, kinh tế xã hội của dân tộc Kinh và họ chỉ xem tiếng Kinh như một yếu

tố văn hóa của dân tộc Kinh

1.2.1 Bình luận tình hình nghiên cứu tiếng Kinh ở Trung Quốc

Từ những năm 50 của thế kỷ XX cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc đã có được một số kết quả nghiên cứu về tiếng Kinh như đã trình bày ở phần mở đầu Tình hình nghiên cứu như thế là tương đối tốt, tương đối phong phú Tuy nhiên, để hiểu toàn diện về tiếng Kinh, những kết quả ấy vẫn còn chưa đầy đủ

1.2.2 Vấn đề mô tả một ngôn ngữ: trường hợp tiếng Kinh

Như đã nói, luận án của chúng tôi lấy nhiệm vụ mô tả ngữ âm tiếng Kinh là một trong những nhiệm vụ chính Cách mô tả ngữ âm tiếng Kinh của chúng tôi dựa trên cảm nhận thính giác Kết quả của việc mô tả này, sẽ được diễn đạt bằng các ký hiệu phiên âm quốc tế

(IPA) để tiện lợi cho những học giả khác khi muốn sử dụng kết quả nghiên cứu Về từ vựng

và ngữ pháp, chúng tôi chỉ giới hạn nhiệm vụ là miêu tả bổ sung một vài vấn đề có bản nhất

thuộc về cấu trúc từ vựng và ngữ pháp của ngôn ngữ mà “Nghiên cứu tiếng Kinh” của Vi

Thụ Quan chưa mô tả Có thể nói việc mô tả mà chúng tôi thực hiện, về cơ bản, là theo cách làm truyền thống

1.3 Một vài vấn đề khác liên quan đến đề tài

1.3.1 Cảnh huống ngôn ngữ của tiếng Kinh

Cảnh huống ngôn ngữ nơi tiếng Kinh hành chức là cảnh huống đa ngữ Trong đó tiếng Kinh chủ yếu dùng trong cộng đồng (quan hệ thân tộc, hôn nhân gia đình v.v.); còn trong giao lưu kinh tế và xã hội (như giáo dục v.v) nó chủ yếu liên quan đến tiếng Hán (Việt phương ngữ) và tiếng Việt hiện đại

1.3.2 Tiếp xúc và vay mượn ngôn ngữ ở tiếng Kinh

Tiếp xúc ngôn ngữ là chỉ những người nói ngôn ngữ khác nhau ảnh hưởng lẫn nhau vì giao lưu với nhau Tiếp xúc ngôn ngữ thường có quan hệ mật thiết với nguyên nhân địa lý, hay nguyên nhân buôn bán, chiến tranh, chính trị, văn hóa, tôn giáo và dân tộc v.v

Trong cảnh huống ngôn ngữ của mình, tiếng Kinh có sự tiếp xúc và vay mượn từ cả tiếng Hán lẫn tiếng Việt hiện đại Những tiếp xúc ấy có dẫn đến sự thẩm thấu các thành phần cũng như các phương thức, thậm chí làm thay đổi những quy tắc, thay đổi ít nhiều hệ thống và cấu trúc, gây nên sự pha trộn giữa hai ngôn ngữ làm nảy sinh ra một vài hiện tượng mới trong sử dụng ngôn ngữ

1.3.4 Thái độ ngôn ngữ của người Kinh

Thái độ ngôn ngữ là sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng hành vi của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ nào đó Thái độ ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong đời sống ngôn ngữ của con người, và có ảnh hưởng sâu rộng đối với năng lực ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ của người sử dụng ngôn ngữ đó Người Kinh ở Quảng Tây có thái độ ngôn ngữ tích cực đối với ngôn ngữ của mình

1.4 Tiểu kết

1 Dân tộc Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc là một trong 55 dân tộc ít người của Trung Quốc Tổ tiên của người Kinh, được cho là người Việt ở Bắc Việt Nam, đã di cư đến Quảng Tây Trung Quốc vào sau thế kỷ XV Tiếng Kinh là công cụ giao tiếp nội bộ của người Kinh Dân tộc Kinh không có chữ viết Latinh, từ xưa đến nay đều sử dụng chữ Nôm và chữ Hán

Trang 5

2 Xã Giang Bình thị xã Cảng Phòng Thành Quảng Tây Trung Quốc mà người dân tộc Kinh sinh sống là một nơi đa dân tộc, tiếng Hán là ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong vùng và trở thành công cụ giao tiếp chung cho các dân tộc ở vùng này Nhưng tiếng Hán ở đây không phải tiếng phổ thông, là tiếng Hán địa phương, được gọi là ―Việt phương ngữ‖ Theo quy luật phát triển chung, Việt phương ngữ sẽ ảnh hưởng đến tiếng Kinh Tiếng Kinh

sẽ vay mượn những yếu tố ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của Việt phương ngữ, khiến cho cấu trúc của mình bị biến đổi

3 Là ngôn ngữ gốc của tiếng Kinh, tiếng Việt còn là ngôn ngữ toàn dân của một quốc gia ở ngay bên cạnh Chính vì thế, sau mấy trăm năm xa cách và lại ở trong môi trường ngôn ngữ khác nhau, tiếng Kinh và tiếng Việt sẽ có sự khác biệt Song, người Kinh ở ba đảo Sơn Tâm, Vạn Vỹ và Vu Đầu luôn có quan hệ mật thiết với người Việt ở gần đấy Vì thế, những từ mới trong vốn từ tiếng Việt chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tiếng Kinh khiến nó

có những ―vay mượn‖ từ tiếng Việt hiện đại

4 Cuối cùng điều cần nhấn mạnh là, trong hoàn cảnh trước khi luận án của chúng tôi hoàn thành, tiếng Kinh đã được mô tả ở những công trình khác nhau suốt từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay Điểm khác biệt mà luận án của chúng tôi thực hiện so với những công trình đã có được thể hiện ở chỗ Thứ nhất, nếu như các công trình trước đó chủ yếu lấy tiếng Kinh làng Vạn Vỹ làm đối tượng mô tả chính thì chúng tôi lấy cả tiếng Kinh làng Vạn Vỹ và Sơn Tâm làm đối tượng mô tả Điều khác biệt này là kết quả của việc bổ sung tư liệu do nghiên cứu điền dã mà có

Thứ hai, sự khác biệt trong miêu tả ngữ âm của chúng tôi là, thay vì các công trình trước đó miêu tả theo cách liệt kê các yếu tố ngữ âm, thì miêu tả trong luận án tuân thủ yêu cầu của miêu tả âm vị học Việc tuân thủ yêu cầu này là sự khác biệt cơ bản của luận án chúng tôi so với những miêu tả ngữ âm đã có

Thứ ba, khi mô tả về từ vựng và ngữ pháp, luận án chỉ lựa chọn thêm những gì mà các công trình có trước chưa đề cập tới Như vậy, ở bình diện này, mô tả của luận án chỉ là sự

bổ sung cho những công trình đã có Điều này là ích lợi vì nó sẽ cung cấp cho các nhà nghiên cứu những thông tin đầy đủ hơn về từ vựng và ngữ pháp tiếng Kinh

CHƯƠNG HAI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC NGỮ ÂM CỦA TIẾNG KINH

2.1 Đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Kinh

Tiếng Kinh là một ngôn ngữ âm tiết tính như nhiều ngôn ngữ âm tiết tính khác ở vùng Đông Nam Á

2.1.1 Cấu trúc âm tiết của tiếng Kinh

Bằng thính giác, người ta có thể cảm nhận âm tiết trong tiếng Kinh bao gồm thanh điệu, âm đầu và vần Ví dụ: fj1 naŋ5 ―phơi nắng‖, ta5 ―sáng‖, kwaŋ1

“quang”

2.1.2 Đặc điểm của âm tiết tiếng Kinh

Những mô tả của luận án cho thấy tiếng Kinh là một ngôn ngữ đơn lập và có cấu trúc

âm tiết gồm thanh điệu, âm đầu và vần Âm tiết tiếng Kinh có những đặc điểm sau: Tính độc lập cao; Có khả năng biểu hiện ý nghĩa; Có cấu trúc chặt chẽ

2.2 Bức tranh ngữ âm hiện nay của tiếng Kinh

2.2.1 Thanh điệu trong tiếng Kinh hiện nay

Thanh điệu là đơn vị siêu đoạn tính có chức năng khu biệt nghĩa Theo kết quả nghiên

cứu của chúng tôi, trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh làng Vạn Vỹ có 5 thanh điệu Đó là

thanh 1 (thanh bằng hay thanh không dấu), thanh 2 (thanh huyền), thanh 3 (thanh hỏi), thanh 5 (thanh sắc) và thanh 6 (thanh nặng)

2.2.2 Hệ thống ngữ âm đoạn tính trong tiếng Kinh

2.2.2.1 Phụ âm đầu

Trang 6

Theo sự thống kê của chúng tôi, phụ âm đầu tiếng Kinh làng Vạn Vĩ gồm 24 âm vị gồm: [  ], [ k ], [ ŋ ], [ ɣ ], [ t ], [ b ] , [ d ] , [ m ] , [ n ] , [ s ], [ h ] , [ v ] , [ r ] , [ l ], [ t], [

c ], [ ɲ ], [ k ], [ f ] , [ j ], [ p ], [ p ], [  ], [ tsh ]

2.2.2.2.Âm đệm trong tiếng Kinh

Về hình thức, trong tiếng Kinh nối âm đầu với vần là âm /zero/ và / -w- / Vì âm /zero/ tồn tại sau tất cả các phụ âm đầu nên thực chất chỉ có âm đệm / -w- /

2.2.2.3 Âm chính trong tiếng Kinh

Cũng như trong tiếng Việt, những âm vị giữ vai trò làm âm chính trong âm tiết tiếng Kinh làng Vạn Vỹ bao giờ cũng là nguyên âm Theo kết quả phân tích của chúng tôi, trong tiếng Kinh làng Vạn Vỹ tổng cộng có 14 nguyên âm làm âm chính Vậy 14 âm nguyên làm

âm chính là: [ ie ], [ ɯɤ], [ uo ], [ i ], [ e ], [ ε ], [ ɯ], [ ɤ ], [ a], [ u ], [ o ], [], [ ɤ], [ a ] Trong đó, có ba nguyên âm đôi là [ ie ], [ ɯɤ], [ uo ] và mười một nguyên âm đơn là [ i ], [

e ], [ ε ], [ ɯ], [ ɤ], [ a ], [ u ], [ o ], [], [ ɤ], [ a ]

2.2.2.4 Âm cuối

Tiếng Kinh làng Vạn Vỹ tổng cộng có 8 âm cuối, trong đó có 6 phụ âm và 2 bán nguyên âm Những phụ âm làm âm cuối là: [ -p ], [ -t ], [ -k ], [ -m ], [ -n ], [ -ŋ ] và 2 bán nguyên âm: [ -w ], [ -j ]

2.3 Tiểu kết

2.3.1 Tóm lược về hệ thống ngữ âm của tiếng Kinh

Theo kết quả khảo sát của luận án như đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng tiếng Kinh là một ngôn ngữ âm tiết tính Âm tiết tiếng Kinh được cấu tạo từ các thành tố là âm đầu, phần vần (âm đệm, âm chính, âm cuối) và thanh điệu Cấu trúc này là cố định với ba thành phần cơ bản đã nói đến

Tính một cách tổng thể, trong hệ thống cấu trúc ấy tiếng Kinh có 52 âm vị Trong đó,

có 05 âm vị siêu đoạn tính và 47 âm vị đoạn tính Trong số 47 âm vị đoạn tính, có 14

nguyên âm, 03 bán nguyên âm; số còn lại là các phụ âm

2.3.2 Một vài lưu ý

Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, tiếng Kinh là một ngôn ngữ thiểu số có một số người quan tâm.Công trình ―Nghiên cứu tiếng Kinh‖ của Vi Thụ Quan xuất bản cuối năm

2009, có thể nói, vừa là công trình có tính kế thừa những gì đã nghiên cứu trước đây về tiếng Kinh, vừa cho ta những hiểu biết mới về ngôn ngữ này Tuy nhiên, hệ thống ngữ âm tiếng Kinh mà chúng tôi xác lập trên đây có những khác biệt nhất định với hệ thống ngữ

âm mà ông xác lập

Nét khác biệt rõ nhất thể hiện ở cách mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Kinh Nếu như, khi xác lập hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ này, ông làm theo cách liệt kê ra danh sách các yếu

tố ngữ âm rồi đưa ví dụ để minh họa, thì đối với chúng tôi, cách làm là khác Để xác lập các yếu tố của hệ thống ngữ âm tiếng Kinh, chúng tôi luôn tôn trọng việc xuất trình thế đối lập

âm vị học bảo đảm cho sự hiện diện của yếu tố đó Nhờ vậy mà trong một vài trường hợp

cụ thể, danh sách các yếu tố ngữ âm trong tiếng Kinh của chúng tôi và Vi Thụ Quan có những chi tiết khác nhau Và đây là khác biệt thứ hai giữa mô tả hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ này mà chúng tôi thực hiện với những tác giả đi trước Những khác biệt như thế tuy không nhiều nhưng là những khác biệt, theo chúng tôi, là rất đáng chú ý

CHƯƠNG BA MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP TIẾNG KINH

3.1 Đặc điểm từ vựng tiếng Kinh hiện nay

3.1.1 Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Kinh hiện nay

Trong tiếng Kinh, từ đơn là từ một hình vị, thường trùng với một âm tiết nhưng không phải lúc nào cũng là một âm tiết; từ phức hợp là do hai hình vị trở lên tổ hợp lại Các từ

phức hợp lại được chia theo phương thức cấu tạo thành từ láy và từ ghép Các từ ghép lại

Trang 7

được chia nhỏ căn cứ vào quan hệ cú pháp thành các từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

3.1.1.1 Từ đơn tiếng Kinh

Từ đơn tiếng Kinh có thể là một âm tiết, cũng có thể là nhiều âm tiết Ví dụ: hiew3

―hiểu‖;ka2

fe1 ―cà phê‖

3.1.1.2 Từ phức hợp tiếng Kinh

Từ phức hợp trong tiếng Kinh là những từ do hai hoặc trên hai hình vị kết hợp với nhau

Từ phức hợp tiếng Kinh có thể chia thành từ láy và từ ghép

(1), Từ láy trong tiếng Kinh

Từ láy là những từ ghép được cấu tạo nên theo phương thức láy Đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức nào đó của âm tiết làm thành một hình vị hay đơn vị có nghĩa Căn cứ vào kết quả của phương phức láy, chúng tôi chia từ láy tiếng Kinh thành từ láy bộ phận và từ láy toàn bộ Ví dụ: n2aj6 ―ngần ngại‖; tan2 lan2 ―tằn lằn‖; ba1

ba1 ―ba ba‖

Từ những ví dụ trên chúng ta có thể nhận thấy, đặc điểm của từ láy bộ phận của tiếng Kinh vẫn kế thừa đặc điểm của từ láy toàn bộ tiếng Việt là: khi âm đầu lặp, thì có thể là âm

giữa đối xứng, chẳng hạn như cặp u- i, o – e; hoặc là âm cuối hay là thanh đối xứng như

cặp  - k, ngang - sắc, huyền – nặng

(2), Từ ghép trong tiếng Kinh

Chúng tôi dựa vào quan hệ cú pháp, phân chia các từ ghép tiếng Kinh thành hai tiểu loại

là từ ghép liên hợp, từ ghép chính phụ Ví dụ:

tw1 b2

trâu bò à hat5

nhà hát

3.1.2 Những lớp từ vay mượn trong tiếng Kinh hiện nay

Ngoài những từ kế thừa từ nguồn gốc ban đầu, tiếng Kinh có những vay nượn

3.1.2.1 Vay mượn từ tiếng Hán Ví dụ: kaw3 ci5 ―sủi cảo‖ , jin2

ci1 pat5 ―bút bi‖

3.1.2.2 Đặc điểm cấu tạo của từ vay mượn trong tiếng Kinh

Đặc điểm cấu tạo từ của từ vay mượn trong tiếng Kinh có ba kiểu Ngoài kiểu ―chính + phụ‖ ra (Ví dụ: ku3 kaj3 d3 ―cà rốt‖;voj1 da5 ―vôi‖), còn có kiểu tạo từ ―phụ + chính‖ là mượn của ngôn ngữ cho vay, cụ thể là tiếng Hán (Ví dụ: ma5

le2

si2 ―khoai tây‖; taj5

pw5 ―nồi nhôm‖ )

3.1.3 Về một số kiểu từ trong tiếng Kinh

3.1.3.1 Từ đồng âm

Từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức hay vỏ ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa Đại bộ phận từ đồng âm tiếng Kinh đều là những từ đơn tiết và chúng đồng âm khi chúng kết hợp với một yếu tố khác để tạo ra một đơn vị mới Chúng đồng âm là do sự biến đổi ngữ âm của từ Ví dụ: ta: ta5

tm5 ―sáng sớm‖ / nam1 ta5

―năm tháng‖; do3:

do3 rak5 ―đổ rác‖ / ti1 do3 ―thi đỗ‖

3.1.3.2 Từ đồng nghĩa

Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh Quan sát những từ đồng nghĩa, chúng tôi nhận thấy rất có thể có những nguyên nhân sau đây tạo nên nhóm từ đồng nghĩa trong tiếng Kinh: 1), Các từ địa phương cùng tạo nên nhóm đồng nghĩa Ví dụ: tôi: Sơn Tâm – /o6/, Vạn Vỹ, Vu Đầu – /toj1/; 2), Từ bản ngữ và

từ ngoại lai cùng được sử dụng tạo nên nhóm từ đồng nghĩa Ví dụ: máy: maj5 - ki5hi1; 3), Các từ ngoại lai cùng du nhập vào tiếng Kinh tạo nên nhóm từ đồng nghĩa Ví dụ: xi măng: suj3 naj2 - si1 ma1

; 4), Để diễn đạt sự khác biệt rất nhỏ của sự vật, tiếng Kinh có những

từ cùng ý nghĩa nhưng có khác biệt chút ít Ví dụ: bien3 ―biển‖, be3 ―bể‖, kj1 ―khơi‖

3.1.3.3 Từ trái nghĩa

Trang 8

Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập, trái ngược nhau về nghĩa Từ trái nghĩa chia làm trái nghĩa tuyệt đối (Ví dụ: cet5

―chết‖— toŋ5

―sống‖) và trái nghĩa tương đối (Ví dụ: t1―to‖ — b5

―bé‖)

3.1.4 Ngữ cố định tiếng Kinh

Ngữ cố định tiếng Kinh được chia làm thành ngữ và quán ngữ

3.1.4.1 Theo nguồn gốc, thành ngữ tiếng Kinh chia làm hai loại là có trong dân gian (Ví dụ: tŋ5a2 tŋ5

vit6 ―trứng gà trứng vịt‖ ) và mượn trực tiếp hoặc dịch thành ngữ tiếng Hán (Ví dụ: bat5 fat5 bat5 tuŋ5 ―bách phát bách trúng‖)

3.1.4.2 Quán ngữ trong tiếng Kinh

Quán ngữ cũng là ngữ cố định nhưng thiên về cách dùng khác nhau: một là dùng trong hội thoại hàng ngày (Ví dụ: ku3

dag5 toj6 ―của đáng tội‖), hai là dùng trong sách vở (Ví dụ: mot6 mat6 ti2 ―một mặt thì‖)

3.1.5 Tiểu kết về đặc điểm từ vựng tiếng Kinh hiện nay

Đặc điểm từ vựng tiếng Kinh, về cơ bản, phản ánh sự kế thừa nguồn gốc từ tiếng Việt trung cổ của nó Một vài hiện tượng khác biệt thấy có trong tiếng Kinh là do vay mượn từ tiếng Hán (Việt phương ngữ) mà có Tuy nhiên, sự vay mượn làm nên sự khác biệt này là không nhiều

3.2 Đặc điểm cấu trúc của ngữ pháp tiếng Kinh

3.2.1 Phân loại từ tiếng Kinh thành từ loại

Vì đặt nhiệm vụ là mô tả tiếng Kinh nên chúng tôi không đặt ra vấn đề lý thuyết từ loại Cho nên, ở đây, trên đại thể chúng tôi tạm thời chia từ loại thành danh từ, động từ, tính

từ, từ tượng thanh, số từ, đơn vị từ, đại từ, phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ và thán từ theo cách chia của ngữ pháp truyền thống Việt

3.2.2 Đặc điểm cấu tạo cụm từ trong tiếng Kinh hiện nay

Cụm từ là đơn vị ngôn ngữ do hai từ trở lên tổ hợp lại theo quy tắc ngữ pháp nhất định Dựa vào quan hệ ngữ pháp, chúng tôi nhận thấy cụm từ tiếng Kinh hiện nay gồm có các loại sau: cụm từ liên hợp, cụm từ chính phụ, cụm từ chủ vị, cụm từ động bổ, cụm từ bổ sung, cụm từ đồng vị, cụm từ liên vị, và cụm từ kiêm ngữ Như vậy, tiếng Kinh cũng có đầy

đủ các kiểu cụm từ như tiếng Việt hiện đại

3.2.3 Đặc điểm cấu tạo câu trong tiếng Kinh hiện nay

3.2.3.1 Thành phần câu đơn

Thành phần câu đơn trong tiếng Kinh có thể chia thành: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ Câu sau đây là câu có đầy đủ những thành phần ấy: hom1 naj1 bo5 ci6j5

di1 viet6 nam1 ―Hôm nay bố chị ấy đi Việt Nam.‖

3.2.3.2 Phân loại câu

(1) Phân loại câu căn cứ vào mục đích nói

Căn cứ vào mục đích nói, ngữ pháp truyền thống chia câu thành 4 loại là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến (còn gọi là câu mệnh lệnh), câu cảm thán Tiếng Kinh đều có bốn loại câu này

(2) Phân loại câu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc

Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc, người ta thường chia câu thành ba loại là câu đơn, câu ghép và câu tỉnh lược Ví dụ về câu ghép: -an1j5 la2 ko1n1, toj1 la2 no1

jn1

―Anh ấy là công nhân, tôi là nông dân.‖; ví dụ về câu tỉnh lược: -can5

kwa5! ―Chán quá!‖

3.2.4 Tiểu kết

Với những gì mô tả về đặc điểm cấu trúc của ngữ pháp tiếng Kinh hiện có, nhìn theo ngữ pháp truyền thống, hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ này về cơ bản giống như hệ thống ngữ pháp tiếng Việt hiện đại đã được mô tả Nói một cách khác, khi tách ra thành một ngôn ngữ độc lập trong môi trường tiếng Hán, dường như tiếng Kinh đại thể vẫn lưu giữ một khung cảnh ngữ pháp giống như tiếng Việt

Trang 9

CHƯƠNG BỐN TIẾNG KINH Ở QUẢNG TÂY TRUNG QUỐC TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI

TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI VÀ TIẾNG HÁN KHU VỰC

4.1 Những khác biệt của tiếng Kinh so với tiếng Việt hiện đại

4.1.1 Những khác biệt của ngữ âm tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại

4.1.1.1 Những khác biệt về thanh điệu tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại

Về số lượng, tiếng Kinh hiện có 5 thanh, nhưng tiếng Việt hiện đại có 6 thanh Theo

đó, thanh hỏi tiếng Kinh là một thanh tương ứng với hai thanh ngã và hỏi của tiếng Việt (Ví

dụ: ko3 cổ/cỗ) Sự khác biệt này là khác biệt ngữ âm rõ nhất giữa tiếng Kinh và tiếng Việt hiện đại Chính sự khác biệt này cho thấy tiếng Kinh rõ ràng giống như một thổ ngữ năm thanh hiện nay của tiếng Việt hiện nay

4.2.1.2 Những khác biệt của âm đầu tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại

Xét về số lượng, theo mô tả của chúng tôi tiếng Kinh làng Vạn Vỹ có 24 phụ âm làm

âm đầu là: /p, p, b, m, f ,v, t, t, d, n, l, , r, tsh, s, c, , j, k, k, , , , h/ So sánh với miêu tả của Đoàn Thiện Thuật thì theo đó tiếng Việt có 22 âm đầu /b, m, f ,v, t, t, d, n, l,

z, , , s, c, , , k, k, , , , h/ Như vậy, về số lượng tiếng Kinh nhiều hơn tiếng Việt hiện đại hai đơn vị Còn xét về tính chất cấu âm, những âm /p, ph, , tsh, j, k, r/ trong tiếng Kinh không thấy có trong tiếng Việt hiện đại; ngược lại những âm /z, , , , / của tiếng Việt hiện đại lại không thấy có trong tiếng Kinh Những khác biệt về số lượng và tính chất cấu âm ấy là những khác biệt giữa hai ngôn ngữ Nó phản ánh sự phát triển hay vay mượn của riêng tiếng Kinh so với tiếng Việt

4.1.1.3 Những khác biệt của phần vần tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại

a, Phần vần tiếng Kinh mà chúng tôi xác lập ở chương 2 gồm âm đệm, âm chính và âm cuối

Trong tiếng Kinh, làm chức năng của âm đệm là một bán nguyên âm /w/ Theo mô tả nói trên, so sánh với mô tả của Đoàn Thiện Thuật, trong tiếng Kinh và tiếng Việt âm đệm hoàn toàn giống nhau

Tiếng Kinh có 14 nguyên âm, trong đó là 9 nguyên âm đơn dài, 2 nguyên âm đơn ngắn

và 3 nguyên âm đôi Chúng đảm nhiệm chức năng làm hạt nhân (âm chính) của phần vần Tiếng Việt, theo phân xuất của Đoàn Thiện Thuật, có 16 nguyên âm là âm chính Tiếng Việt hiện đại nhiều hơn tiếng Kinh 2 nguyên âm nhờ nó có sự đối lập dài/ngắn của hai trường hợp [ ε ] và [  ] mà tiếng Kinh không có

Còn làm chức năng âm cuối ở tiếng Kinh, như mô tả của chúng tôi, có 8 âm cuối, trong đó có 6 phụ âm và 2 bán nguyên âm Trong tiếng Việt hiện đại, theo mô tả của Đoàn Thiện Thuật, cũng có 8 âm cuối Từ đó cho thấy, về số lượng, âm cuối tiếng Việt và tiếng Kinh giống nhau

4.1.2 Những khác biệt của từ vựng và ngữ pháp tiếng Kinh với tiếng Việt hiện đại

4.1.2.1 Những khác biệt của từ vựng

Ở khía cạnh từ vựng khi quan sát giữa tiếng Kinh và tiếng Việt hiện đại chúng ta nhận thấy tình hình như sau Bên cạnh việc duy trì cách cấu tạo từ mới vốn đã có trước đây, tiếng Kinh có một sự khác biệt Đó là việc nó vay mượn những yếu tố vốn có trong tiếng Việt và Việt phương ngữ để cấu tạo từ mới Ví dụ: b2

na3 ―bò cái‖

4.1.2.2 Về trật tự câu

Tuy tiếng Kinh đã tiếp nhận một số thành phần ngữ pháp của tiếng Hán (như cách diễn đạt thuật ngữ chuyên môn, thời gian và địa điểm theo quan hệ ―chính phụ‖) nhưng những vay mượn ấy chỉ thể hiện ở cấp độ ngữ đoạn (hay đoản ngữ) Ví dụ:

-/ f2

tan2 ka3

/ (tiếng Kinh) Cảng Phòng Thành (tiếng Việt) Còn ở cấp độ câu, trật tự của tiếng Kinh vẫn tuân thủ theo quan hệ ‖chính phụ‖ Ví dụ:

Trang 10

- /toj1 da13a2an1 hu2/ Tôi đang ở nhà anh Hùng

4.1.2.3 Về một vài yếu tố ngữ pháp được mượn từ tiếng Hán

Những yếu tố ngữ pháp được mượn từ tiếng Hán trong tiếng Kinh là đại từ xựng hô

Ví dụ: /o6/ , /ni6/ Trường hợp này đều không thấy có mặt trong vốn từ tiếng Việt hiện nay Xin lưu ý là việc vay mượn nói trên không loại trừ những từ tương đương trong vốn từ tiếng Kinh trước đây Cả hai đều vẫn được sử dụng Vì vậy, sự có mặt của những từ nói trên chỉ làm phong phú thêm vốn từ của tiếng Kinh mà thôi

4.2 Tình hình sử dụng hiện nay và việc bảo tồn và phát triển tiếng Kinh ở Quảng Tây Trung Quốc

4.2.1 Một vài nét chính về tình hình sử dụng

Như đã biết, người Kinh hiện nay sống đan xen với người dân tộc Hán, để giao tiếp với nhau, đã hình thành một xã hội song ngữ Hiện tượng song ngữ này hình thành từ bao giờ, vì dân tộc Kinh không có chữ viết nên không thể xác định được thời gian cụ thể Người Kinh trong 3 đảo đại thể có hai trạng thái sử dụng ngôn ngữ chủ yếu Trạng thái thứ nhất là đơn ngữ (tiếng Kinh) Trạng thái này dùng chủ yếu trong đời sống nội bộ cộng đồng Trạng thái thứ hai là trạng thái song ngữ (tiếng Kinh và Việt phương ngữ), trạng thái này dùng chủ yếu trong cả nội bộ cộng đồng lẫn khi người Kinh giáo tiếp với cộng đồng người khác trong khu vực mà họ sinh sống

4.2.2 Việc bảo tồn và phát triển tiếng Kinh

Tiếng Kinh Trung Quốc nói chung và tiếng Kinh làng Vạn Vỹ nói riêng từng đang trên

bờ vực bị đồng hóa Tuy nhiên, chính phủ nhà nước Trung Quốc cũng đã đưa ra nhiều chính sách và phương án để trợ cứu thứ ngôn ngữ này Cùng với những kêu gọi của các nhà nghiên cứu, học giả và ý muốn của dân làng, người ta đang tìm mọi cách nhằm giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc Kinh Trung Quốc trong đó có tiếng Kinh Những sự nỗ lực

ấy cũng đã giành được một số thành tựu đáng kể Chính vì thế, chúng ta có thể nói như sau 4.2.2.1 Văn hóa dân tộc Kinh đang được bảo tồn

Văn hóa dân tộc Kinh được chính phủ Trung Quốc bảo tồn nên trạng thái sử dụng đơn ngữ (tiếng Kinh) được khuyến khích Trạng thái này được tạo điều kiện là công cụ giao tiếp chủ yếu trong đời sống nội bộ cộng đồng

4.2.2.2 Việc bảo tồn và phát triển tiếng Kinh

Chính phủ Trung Quốc tạo mội điều kiện để người Kinh truyền bá ngôn ngữ của mình

4.3 Tiểu kết cho chương 4

Trong chương 4, chúng tôi đã phân tích để thấy cách mô tả ngữ âm của chúng tôi là khác với cách mô tả hiện có của Vi Thụ Quan; qua đó cũng đã nêu ra ngữ âm tiếng Kinh

mà chúng tôi mô tả khác biệt như thế nào so với tiếng Việt hiện đại Những khác biệt ngữ

âm giữa tiếng Kinh và tiếng Việt hiện đại rõ ràng mang dấu ấn ảnh hưởng của tiếng Hán trong tiếng Kinh

Ngoài ra, chúng tôi cũng chỉ ra tiếng Kinh đã có vay mượn cách tạo từ của tiếng Hán Nếu như những từ hai âm tiết hoặc đa âm tiết trong tiếng Kinh phần lớn đều được cấu tạo theo kết cấu ―chính phụ‖ theo kiểu truyền thống của tiếng Việt thì tiếng Kinh đã vay mượn nghĩa tố của tiếng Hán để tạo ra từ mới Có một số từ tiếng Kinh vay mượn nghĩa tố của tiếng Hán để tạo từ, nhưng cách tạo từ vẫn theo kết cấu chính phụ Cho nên người ta chỉ nhận thấy những khác biệt của tiếng Kinh so với tiếng Việt hiện nay chỉ là những khác biệt

lẻ tẻ

Như vậy, về cơ bản, tiếng Kinh vẫn lưu giữ những nét chính về hệ thống ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của tiếng Việt Nhìn ở cứ liệu ngôn ngữ, nói rằng tiếng Kinh hiện nay là một thổ ngữ hay phương ngữ của tiếng Việt được tách ra sau thế kỷ XV, tức là giai đoạn

mà các nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt gọi là giai đoạn tiếng Việt trung cổ, là một thực

tế Trong khoảng thời gian tách ra ấy, ở một môi trường giao tiếp có tiếng Việt phương ngữ

Ngày đăng: 24/01/2014, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w