Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý du lịch làm cơ sở đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.. Du lị
Trang 1Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức
Hà Nội Bùi Thị Thanh Huyền
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch Chuyên ngành: Du lịch học; Mã số: Ngành thí điểm đào tạo
Người hướng dẫn: TS Trịnh Xuân Dũng
Năm bảo vệ: 2011
Abstract Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý
du lịch làm cơ sở đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội Làm rõ tiềm năng, thực trạng khai thác du lịch, khách du lịch đến với Hương Sơn và công tác quản lý tại đây Đưa ra định hướng và hướng giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Keywords Du lịch; Quản lý du lịch ; Hương Sơn; Hà Nội; Công tác quản lý
Trong những năm qua, hoạt động du lịch ở Hương Sơn phát triển rất mạnh đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở Hương Sơn nói riêng và huyện Mỹ Đức nói chung Tuy vậy, sự phát triển du lịch ở Hương Sơn đang dần bộc lộ ra
Trang 2vệ sinh môi trường, hàng quán phát triển tràn lan không theo quy hoạch, hoạt động thuyền
đò thiếu tổ chức tất cả đang ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Hương Sơn và
cho thấy cần có những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tại điểm đến du lịch
Hương Sơn
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu về công tác quản lý điểm đến du lịch, đưa ra những
đề xuất và giải pháp cho công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn phát triển
tương xứng với tiềm năng
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công tác
quản lý du lịch làm cơ sở đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý điểm đến du lịch
Hương Sơn
Thứ hai: Làm rõ tiềm năng, thực trạng khai thác du lịch, khách du lịch đến với
Hương Sơn và công tác quản lý tại đây
Thứ ba: Đưa ra định hướng và hướng giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý điểm đến du lịch Hương Sơn
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần phát triển lý thuyết trong lĩnh vực quản lý nhà
nước cũng như tổ chức hoạt động kinh doanh
- Về mặt thực tiễn: Giúp cho du lịch Hương Sơn có những định hướng trong quá
trình quản lý xây dựng và phát triển điểm đến của mình
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn
* Phạm vi nghiên cứu
góp phần hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức,
Hà Nội
Trang 3- Phạm vi về không gian: Gồm toàn bộ các điểm tham quan du lịch trong điểm
đến du lịch trên địa bàn 4 xã Hương Sơn, An Tiến, An Phú, Hùng Tiến với tổng diện tích tự nhiên là 8.328 ha
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được sử dụng
từ năm 2006 - 2010 Giải pháp đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
- Phương pháp khảo sát điều tra thực tế
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp xã hội học thông qua phỏng vấn
6 Bố cục của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch và công tác quản lý điểm đến du
lịch
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà
Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động du lịch
tại Hương Sơn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1 Điểm đến du lịch
1.1.1 Khái niệm về điểm đến du lịch
1.1.1.1 Quan niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination)
Theo Luật Du lịch « Điểm đến du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch »
1.1.1.2 Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực
1.1.1.3 Điểm đến du lịch mang tính phạm vi quốc gia
Trang 41.1.1.4 Điểm đến du lịch mang tính địa phương
1.1.1.5 Hậu cần phục vụ khách du lịch tại một điểm đến du lịch bao gồm:
+ Cơ sở hạ tầng đón tiếp khách
+ Các loại phương tiện vận chuyển khách du lịch
+ Các loại cơ sở lưu trú du lich
+ Các loại cơ sở phục vụ ăn, uống
+ Các loại cơ sở tham quan, giải trí
Vị trí điểm đến du lịch nằm ngoài quốc gia của điểm suất phát, cho chúng ta loại hình, hình thức du lịch là đi quốc tế (như các điểm đến là Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, singapor )
1.1.2.2 Vai trò của điểm đến du lịch: Điểm đến du lịch đóng vai trò rất lớn trong
việc tạo ra sản phẩm du lịch; tạo ra các giá trị khai thác du lịch, dịch chuyển kinh tế, vật chất, tinh thần và nguồn lao động cho nơi có điểm đến; tạo ra gía trị hưởng thụ và
ý nghĩa cho du khách sử dụng chuyến đi
1.1.3 Phân loại các điểm đến du lịch:
1.1.3.1 Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên:
Là các di sản thiên nhiên thế giới, các thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng thiên nhiên, các địa danh khác, các suối nước khoáng nóng, các Vườn Quốc Gia như: Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - là điểm đến yêu thich và đăc biệt của du khách quốc tế mỗi khi đến Việt Nam
1.1.3.2 Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể
Đó là các lễ hội truyền thống, các di tích lich sử vật thể Tiêu biểu ở Việt Nam như Cố Đô Huế, kinh thành Thăng Long, Thánh Địa Mỹ Sơn, Phố Cổ Hội An, Thành Nhà Hồ , Làng Cổ Đường Lâm, Phố Cổ Hà Nội
1.1.3.3 Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch phi vật thể
Trang 5Là các làn điệu nghệ thuật của dân tộc thiểu số, nghệ thuật của người Kinh, các bài hát, các tác phẩm trường ca Chính các tài nguyên này đã là sản phẩm, điểm đến
để khai thác vào hoạt đông du lịch, làm điểm đến du lịch tiêu biểu: Nhã Nhạc Cung Đình Huế đã thành sản phẩm du lich văn hóa phi vật thể tiêu biểu khi du khách tới tham quan Huế
Như vậy, mỗi một tài nguyên cho chúng ta một loại hình du lịch tương xứng, và kết hợp cùng nhau tao nên sản phẩm du lich đa dạng hấp dẫn du khách, điểm đến yêu thích của du khách
1.2 Những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại Việt Nam
1.2.1 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam để thành điểm đến du lịch
1.2.1.1 Khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên của nước ta vô cùng phong phú và đa dạng Các tỉnh ven biển và các đảo của nước ta có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, bãi cát mịn và hoang sơ, nước biển trong xanh Một số địa danh đã nổi tiếng trên thế giới và khu vực như: Vịnh Hạ Long vừa vinh dự được lọt vào danh sách bẩy kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Nha Trang được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất hành tinh Số lượng khách du lịch hàng năm đến các bãi biển, các khu
du lịch biển chiếm trên 60% số lượng khách du lịch trong cả nước Nhiều điểm du lịch nổi tiếng ở vùng biển như: Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Lăng
Cô, Đà Nẵng, Nha Trang, Ninh Thuận, Vũng Tàu, Phú Quốc v.v
Trên đất liền với 3/4 diện tích là rừng, núi, đồi với khí hậu trong lành phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, các loại động, thực vật phong phú và đa dạng là cơ sở để xây dựng thành các điểm du lịch nổi tiếng thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và khách nước ngoài như: Tam Đảo, SaPa, Rừng Cúc Phương, Đà Lạt v.v Bên cạnh đó, nước
ta được UNESCO đã công nhận 2 di sản thiên nhiên thế giới, 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới1
1.2.1.2 Khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể để trở thành các điểm tham quan hấp dẫn thu hút khách du lịch
Trang 6
Cả nước có trên 4 vạn di tích, trong đó có 2.873 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 6 di tích, thắng cảnh đuợc UNESCO công nhận là di sản thế giói Có 115 viện bảo tàng, 2.971 làng nghề truyền thống, 8.902 lễ hội và nhiều loại hình văn hoá phi vật thể
có giá trị khác Là điều kiện tốt để phát triển du lịch
1.2.1.3 Khai thác các tài nguyên du lịch phi vật thể để trở thành các điểm du lịch phục vụ khách du lịch
Văn hóa phi vật thể của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, trong những năm vừa qua UNESCO đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian Cồng Chiêng Tây Nguyên, Ca Trù, Quan Họ, Hội Gióng là di sản văn hóa thế giới Nhiều nhà hát đã trở thành điểm du lịch mà khách nước ngoài không thể không đến tham quan và thưởng thức nghệ thuật như các nhà hát (múa rối nước, chèo, quan họ ), các
lễ hội truyền thống tổ chức tại các địa phương
1.2.1.4 Khai thác các nội dung văn hoá dân tộc khác đưa vào hoạt động du lịch
1.2.2 Những quan điểm về đầu tư phát triển điểm du lịch
Thứ nhất: Các chủ thể tham gia vào việc phát triển điểm du lịch phải tham gia
đầu tư vào điểm này với mục tiêu phát triển bền vững
Thứ hai: Nhà nước phải có những cơ chế, chính sách và những kế hoạch phát
triển các điểm du lịch một cách đồng bộ nhằm khuyến khích mọi chủ thể tham gia
Thứ ba: Phải có cơ chế phân công, phân trách nhiệm rõ rằng giữa các chủ thể
tham gia vào việc đầu tư, kinh doanh và phát triển các điểm du lịch
Thứ tư: Phải có cơ chế phân chia lợi ích hài hoà giữa các chủ thể đầu tư và kinh
doanh tại các điểm du lịch( kể cả cộng đồng dân cư địa phương)
1.2.3 Về khung chính sách đầu tư phát triển điểm du lịch
Việc đầu tư phát triển điểm du lịch phải căn cứ vào các chính sách của Nhà nước
và các văn bản Luật pháp hiện hành Đó là Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Thuế, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Di tích
Trang 7và Danh thắng, Luật Xây dựng, Luật Đất đai v.v và các văn bản hướng dẫn việc thực hiện các Luật này
Trên cơ sở của các lĩnh vực đầu tư và các chính sách, Luật pháp của nhà nước về đầu tư và phát triển cần nghiên cứu cụ thể cho từng điểm du lịch để có những kiến nghị cụ thể về các chính sách đầu tư
1.3 Quản lý nhà nước về du lịch
1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch
Theo Điều 10 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 quản lý nhà nước về du lịch gồm
các nội dung sau:
Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch
- Xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch
Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu; ứng dụng khoa học và công nghệ
-Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài
- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch sự phối hợp của các cơ quan nà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch
1.3.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch
Theo Điều 11 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước
về du lịch gồm nhưng
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chiuụ trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch
Trang 8Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch Đô thị du lịch
1.3.3 Quản lý điểm du lịch
Theo Điều 29 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 quy định quản lý điểm du lịch phải đảm bảo các nội dung sau:
- Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch; bảo đảm vệ sinh môi trường;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan;
- Bảo đảm sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch;
- Giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an toàn cho khách du lịch
1.4 Kinh nghiệm quản lý điểm đến du lịch của một số nước
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của Bungari
Đầu những năm 60, Bungari xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa với mô hình nông - công nghiệp Sản phẩm nông nghiệp của nước này không chỉ đủ nuôi 8 triệu dân, xuất khẩu sang các nước trong khối cộng đồng kinh tế chung (SEV), mà còn thừa sản phẩm Chính vì vậy, họ đã xác định phải phát triển du lịch quốc tế để thực hiện
“xuất khẩu tại chỗ” các sản phẩm nông nghiệp Họ đã quy hoạch và xây dựng 5 khu
du lịch lớn, trong đó có 3 khu du lịch ở vùng biển và 2 khu du lịch ở vùng núi Đặc điểm của những khu du lịch này là có một diện tích lớn (trên 1.000 ha), xa nơi dân cư, nhưng điều kiện về hạ tầng cơ sở kỹ thuật rất hoàn chỉnh Trong các khu này có đầy đủ các cơ sở dịch vụ phục vụ khách Về thu hút khách nước ngoài đến các khu du lịch này, ngoài việc họ có các đại diện du lịch tại các nước có nguồn khách lớn như: Đức, Anh, Pháp v.v, thì việc khách muốn nghỉ tại các khu du lịch này rất dễ dàng Chúng ta
có thể hình dung những khu du lịch này là những nơi chứa khách lớn (hồi đó dân số của Bungari là 8 triệu người, nhưng số lượng khách du lịch quốc tế đến hàng năm cũng gần 8 triệu lượt người)
Trang 91.4.2 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của Indonexia
Trong những năm 70-80 của thế kỷ trước, Inđônêxia đã có chủ trương phát triển
du lịch quốc tế tại hòn đảo Bali để làm điểm nhấn cho sự phát triển du lịch của cả nước Họ đã nhờ Tổ chức du lịch quốc tế (WTO), quy hoạch hòn đảo này thành một trung tâm du lịch, trung tâm hội nghị quốc tế lớn không chỉ của khu vực mà cả thế giới., Chính phủ đã quyết định miễn thị thực cho công dân của 40 nước đến du lịch và nghỉ dưỡng tại Bali và nơi đây đã thực sự trở thành một nơi chứa khách lớn của Inđônêxia Hàng năm, Bali đã đón tiếp và phục vụ trên 2 triệu khách du lịch quốc tế, đồng thời Bali là niềm tự hào về du lịch của người dân Inđônêxia
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Toàn bộ chương 1, đi đến một số kết luận cơ bản sau:
Thứ nhất: Điểm đến du lịch (Tourism Destination) là một khái niệm rất rộng
trong hoạt động kinh doanh du lịch, là nơi có sức hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch dựa vào tài nguyên du lịch, nhưng không phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác để trở thành điểm đến du lịch
Thứ hai: Nêu lên những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại Việt Nam được thể hiện ở việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên; khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và phi vật thể; khai thác các nội dung văn hóa khác
để thấy được các mặt tích cực và hạn chế trong quá trình khai thác và phát triển du lịch
Thứ ba: Đưa ra những quan điểm về đầu tư phát triển điểm du lịch; khung chính sách phát triển điểm du lịch và những lĩnh vực đầu tư cho điểm đến du lịch theo từng cấp độ
Thứ tư: Kinh nghiệm của một số nước đã thành công trong việc xây dựng và quản
lý điểm đến Trên cơ sở đó có thể học tập kinh nghiệm để áp dụng trong quá trình xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của đất nước
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HƯƠNG SƠN - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI
2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển điểm đến du lịch Hương Sơn
2.1.1.Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch
Trang 102.1.1.1.Vị trí địa lý
Khu du lịch thắng cảnh Hương Sơn thuộc địa phận 4 xã Hương Sơn, An Tiến, An Phú, Hùng Tiến huyện Mỹ Đức, cách trung tâm Hà Nội khoảng 50 km Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của Hà Nội, Hương Sơn thuộc khu vực trọng điểm phát triển du lịch Hương Sơn - Quan Sơn
2.1.1.2.Tài nguyên du lịch tự nhiên
Khu vực Hương Sơn có diện tích hơn 8.000 ha là khu vực thuộc về phần cuối của dải đá vôi kéo dài từ cao nguyên Mộc Châu, vùng đá vôi Ninh Bình, Hoà Bình đến tận
bờ biển Nga Sơn, Thanh Hoá Hương Sơn có một hệ thống hang động đẹp hiếm có với những hang động nổi tiếng như Hinh Bồng, Long Vân và đặc biệt là Hương Tích - động đã được chúa Trịnh Sâm phong "Nam thiên đệ nhất động" cùng những cảnh quan
tự nhiên như thung, suối đã đưa Hương Sơn trở thành một vùng cảnh quan hiếm có giữa vùng đồng bằng Sông Hồng Hương Sơn còn có một hệ sinh thái rất đa dạng, trong đó có những loài quý hiếm được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi trắng, trăn đất, ô rô vẩy, kỳ đà mốc
Như vậy tiềm năng du lịch tự nhiên của Hương Sơn rất đa dạng phong phú phù hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan, leo núi, câu cá
2.1.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn
Nổi bật nhất trong tiềm năng du lịch nhân văn của Hương Sơn là lễ hội chùa Hương
Lễ hội đã có từ rất lâu, bắt đầu từ tháng giêng đến cuối thang 3 âm lịch thu hút hàng vạn lượt khách Hiện nay, lễ hội Chùa Hương được coi là lễ hội dài nhất và lớn nhất ở Việt Nam
Hệ thống các đền chùa trong khu vực Hương Sơn thể hiện rõ nét nhất sức sáng tạo vô hạn của con người đồng thời đưa Hương Sơn trở thành một trong những thánh địa phật giáo lớn nhất của Việt Nam
Đây là một nguồn lực quý giá cho việc phát triển du lịch văn hoá, tâm linh, lễ hội
Trang 112.1.2.Các điều kiện để phát triển các loại hình du lịch dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch
Với những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, Hương Sơn đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng không chỉ của huyện Mỹ Đức mà còn đối với thành phố Hà Nội Đặc biệt điểm đến du lịch Hương Sơn đang gặp được những điều kiện thuận lợi trên cả phạm vi quốc tế lẫn trong nước
Thứ nhất, xu hướng phát triển du lịch sinh thái, văn hoá đang là một trong những
xu thế phát triển chính của du lịch thế giới
Thứ hai, đối với phạm vi quốc gia, với tiềm năng phong phú của mình, Tổng cục
Du lịch đã đưa Hương Sơn vào danh mục các điểm du lịch chuyên đề quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam
Dựa vào các tài nguyên du lịch của điểm đến du lịch Hương Sơn những loại hình
du lịch với các mục đích sau có thể coi là phù hợp với điểm đến du lịch Hương Sơn:
Du lịch lễ hội; Du lịch tham quan; Nghỉ dưỡng: Thám hiểm; Thể thao; Vui chơi giải trí
2.1.3.Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tại điểm đến du lịch Hương Sơn
2.13.1.Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông ở điểm đến du lịchHương Sơn khá phát triển với khoảng 50km đường, 2 cầu và khá nhiều cống Hệ thống giao thông nội bộ của Hương Sơn cũng được nâng cấp để phục vụ du lịch Từ năm 2001, đã có các dự án cải tạo, nâng cấp hạ tầng du lịch thông qua việc làm đường, mở rộng và nâng cấp bến xe; nâng cấp cải tạo cơ sở hạ tầng suối Yến từ nguồn vốn chương trình đầu tư hạ tầng du lịch, Suối Yến và bến Trò đã được cải tạo nhằm tránh ách tắc trên suối trong mùa lễ hội Tuy nhiên trong khu vực di tích hệ thống đường mòn nối giữa các đền chùa, hang động do thiếu sự đầu tư có quy mô nên vấn đề an toàn cho khách du lịch chưa được bảo đảm
Hệ thống cung cấp nước sạch đúng tiêu chuẩn cho toàn khu vực chưa được xây dựng, tại các điểm tham quan, lưu trú chủ yếu là nước ở các nguồn tự nhiên và giếng khoan
Hệ thống xử lý chất thải chưa phát triển là vấn đề đang ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của điểm đến du lịch Hương Sơn Rác thải vẫn được tập trung để
Trang 12đốt hoặc chôn ngay trong khu vực di tích, nước thải chủ yếu được thải trực tiếp ra tự nhiên gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường
CSHT khác của khu vực khá phát triển so với các địa phương khác trong tỉnh nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách
Nhìn chung, hệ thống hạ tầng tương đối phát triển, tuy nhiên còn một số vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường du lịch như hệ thống cấp nước sạch, thoát nước và xử lý chất thải
2.1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Do tính chất đặc thù của điểm đến du lịch Hương Sơn nên cơ sở vật chất du lịch chỉ tập trung ở các dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ vận chuyển, và bán hàng lưu niệm Sau đây ta nghiên cứu cụ thể từng loại dịch vụ
a Dịch vụ lưu trú:
Cơ sở lưu trú tại Hương Sơn hiện tại chỉ có một số khách sạn đạt tiêu chuẩn như: Nhà nghỉ Công đoàn chùa Hương còn lại hầu hết là các nhà nghỉ, nhà trọ do tư nhân quản lý; số lượng các cơ sở lưu trú thì nhiều song về chất lượng còn chưa cao,
Bảng 2.1: Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010
Trang 13Bảng 2.2: Thống kê cửa hàng - dịch vụ ăn uống tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010
hàng
Diện tích (m 2 )
Số lượng đò này ngày một gia tăng cùng với sự gia tăng của khách du lịch, đến năm 2010 có khoảng 3.500 đò và đã được gắn biển đăng ký tham gia vận chuyển Tuy nhiên, những con đò này vẫn hết sức đơn giản, chỉ là những thuyền nhỏ bằng sắt hoặc
gỗ, trung bình mỗi đò chở được khoảng 8 người, vào những ngày nghỉ cuối tuần đông khách có đò chở quá số lượng khách cho phép gây nguy hiểm cho khách, có hôm còn gây tắc nghẽn trên dòng suối Yến cả giờ đồng hồ
Bên cạnh đó từ năm 2005 đã có tuyến cáp treo vận chuyển khách du lịch từ Thiên Trù lên động Hương Tích
2 2 Công tác quy hoạch tại điểm đến du lịch Hương Sơn
Trước đây công tác quy hoạch tại điểm đến du lịch Hương Sơn chưa được chú trọng, chưa thấy được những giá trị to lớn do khu di tích này mang lại nếu được sử dụng một cách hợp lý Năm 1998 UBND tỉnh Hà Tây cũ đã có quyết định phê duyệt
"Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch thắng cảnh Hương Sơn"
Trang 142.3 Công tác quản lý hoạt động du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn
2.3.1.Quan điểm, của chính quyền địa phương đối với sự phát triển du lịch Hương Sơn:
Quan điểm của thành phố Hà Nội:
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội thành phố Hà Nội, du lịch
được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế Trong đó, điểm đến
du lịch Hương Sơn cũng sẽ được tập trung phát triển trong thời gian tới
Quan điểm của huyện Mỹ Đức
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Đức đã xác định xây dựng Hương Sơn trở thành cụm kinh tế trọng điểm với định hướng phát triển tập trung vào các hoạt động dịch vụ du lịch
Như vậy có thể thấy, trong điều kiện du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội cũng như của huyện
đã nhận thức được tiềm năng du lịch của Hương Sơn cũng như vị trí vai trò làm động lực phát triển kinh tế xã hội và du lịch của huyện Mỹ Đức Đây là một trong những điều kiện thuận lợi không nhỏ đối với sự phát triển các hoạt động du lịch ở Hương Sơn
2 3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn
2.3.2.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý:
Năm 1962, Hương Sơn đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là khu du tích lịch sử danh lam thắng cảnh Từ đó đến nay bộ máy tổ chức ở đây cũng được hình thành và hoạt động qua nhiều giai đoạn Từ tháng 6/2000 đến nay thành lập Ban quản
lý Di tích và thắng cảnh Hương Sơn thuộc UBND huyện Mỹ Đức là đơn vị sự nghiệp
có nhiệm vụ: Quản lý khách tham gia xuân hội chùa Hương và khách du lịch ngoài lễ hội thông qua vé thắng cảnh và bảo vệ khu di tích ngoài khuôn viên của nhà chùa
Vào mùa lễ hội hàng năm tỉnh Hà Tây cũ và thành phố Hà Nội hiện nay đều có quyết định thành lập Ban chỉ đạo hội chùa gồm thành viên của một số ngành như: Công an , VHTT&DL , UBND huyện Mỹ Đức để cùng quản lý tại khu vực này
2.3.2.2.Phương diện tổ chức quản lý tại điểm đến du lịch Hương sơn:
- Chưa có một cơ chế, mô hình tổ chức quản lý điều hành thống nhất gồm thành phố, huyện và xã Hoạt động quản lý bị chia cắt, mỗi cấp chỉ chịu trách nhiệm một mảng nên
Trang 15dẫn đến thực trạng nhiều cấp chỉ huy quản lý nhưng không đủ mạnh, đủ quyền lực và sức thuyết phục
2.3.2.3 Phương diện hoạt động khai thác kinh doanh du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn
Do tính chất sở hữu, quyền sử dụng đất, tài nguyên du lịch, cộng với cơ chế chính sách kinh tế mở nhiều thành phần nhưng lại chưa được thống nhất quản lý nên thực trạng khai thác kinh doanh du lịch ở đây cũng nảy sinh những bất cập đáng quan tâm
- Mọi hoạt động du lịch ở đây là thuần tuý khai thác, cạnh tranh tối đa, ít quan tâm đến nghĩa vụ đầu tư để đảm bảo sự bền vững của thắng cảnh, di tích và môi trường du lịch
2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn
2.3.3.1 Khách du lịch tại điểm đến du lịch Hương sơn
a Khách du lịch: Trung tâm Hà Nội là nơi phân phối khách du lịch lớn của phía
Bắc, nên hiện nay khách du lịch quốc tế đến khu vực Hương Sơn chủ yếu là khách du lịch đến từ trung tâm Hà Nội
Khách du lịch quốc tế đến k Hương Sơn cũng chủ yếu là khách đi trong ngày, thông qua các công ty lữ hành tại trung tâm Hà Nội Khách du lịch nội địa đến khu vực Hương Sơn chủ yếu từ trung tâm Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
Bảng 2.3: Thống kê số liệu khách du lịch đến Hương Sơn từ năm 2006 -
Nguồn:Ban QLDTTC Hương Sơn
Tuy nhiên, số lượt khách nghỉ lại qua đêm tại khu vực Hương Sơn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số lượt khách đến khu vực Giai đoạn 2006 - 2010 tỷ lệ này vào khoảng 1,9-2,0% đối với cả khách quốc tế và khách nội địa
Trang 16b Doanh thu du lịch: Trong thời kỳ 2006 - 2010, theo điều tra sơ bộ, trung bình
một khách du lịch quốc tế chi tiêu trong một ngày ở Hương Sơn là 1.300.000 đồng, còn khách nội địa là 310.000 đồng
Bảng 2.4 : Doanh thu xã hội từ du lịch ở ĐĐDL Hương Sơn
a.Tình hình dân cư và lao động khu vực Hương Sơn
Dân cư: Hương Sơn có số dân khoảng 40.000 người chiếm hơn 21% so với dân
số huyện Mỹ Đức Dân số khu vực phân bố không đều, xã Hương Sơn có diện tích lớn nhất (chiếm 50% diện tích khu vực) tập trung gần 50% dân số
Lao động:Tổng số người trong độ tuổi lao động ở Hương Sơn tính đến năm
2010 đạt hơn 15.000 người chiếm tỷ trọng hơn 36% so với dân số khu vực Nông nghiệp vẫn là khu vực kinh tế thu hút nhiều lao động nhất với hơn 70% số lao động Trong các xã, Hương Sơn có tỷ trọng lao động trong khu vực phi nông nghiệp cao nhất khu vực với hơn 8% lao động trong tiểu thủ công nghiệp và hơn 40% lao động trong
thương mại dịch vụ
Chất lượng lao động ở Hương Sơn rất thấp đặc biệt về chuyên môn và ngoại ngữ Đây chính là những nguyên nhân làm chất lượng phục vụ khách kém, văn minh du lịch thấp và nó đang ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của du lịch ở Hương Sơn trong giai đoạn phát triển tương lai
Công tác quản lý lao động: Công tác quản lý lực lượng lao động tham gia vào
hoạt động du lịch ở đây chưa được quan tâm nhiều, mạnh ai người ấy làm, chưa giao quyền hạn cụ thể cho một cơ quan đơn vị nào quản lý, đây chính là vấn đề cần có một
kế hoạch cụ thể trong công tác quản lý lao động, đào tạo và bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ du lịch thì du lịch ở đây mới phát triển được